1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nét văn hóa của đất nước ấn độ

55 753 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hó

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP HỒ CHÍ MINH

KHOA THƯƠNG MẠI DU LỊCH

BÀI TIỂU LUẬN Văn hóa đất nước Ấn Độ

Giảng viên hướng dẫn: Mai Thanh Hùng

Môn học: Văn hóa đa quốc gia

Trang 2

Hồ chí minh, ngày 20 tháng 10 năm 2015

DANH SÁCH NHÓM

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG

1.1. Một số nét về Ấn Độ

1.2. Lịch sử Ấn Độ

1.3. Vị trí địa lý

CHƯƠNG 2: NÉT VĂN HÓA CỦA ĐÂT NƯỚC ẤN ĐỘ

2.1 Chử viết

2.2 Tôn giáo

2.3 Lễ hội

2.4 Hoạt động sinh hoạt

2.5 Văn học

2.6 Ẩm thực

2.7 Kiến trúc

2.8 Trang phục

2.9 Các đặc trưng khác

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 5

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG

đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan vàIndonesia

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình.[8] Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ

18, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ 19 Ấn

Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 11 thế giới xét theo GDP danh nghĩa và lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP).[9]Sau các cải cách kinh tế dựa trên

cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất; và được nhận định là một nước công nghiệp mới Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, tham nhũng, kém dinh dưỡng, y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố Ấn Độ là một quốc gia vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang Ấn Độ là một xã hội đa nguyên,

đa ngôn ngữ và đa dân tộc Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ

Trang 6

Quốc kỳ Quốc huy

- Tên nước : Cộng hoà Ấn Độ

- Thủ đô : Niu Đê-li

- Ngày Cộng hoà (Quốc khánh) : 26/1/1950

- Ngôn ngữ : Tiếng Anh, tiếng Hindi

-Đơn vị tiền tệ : Rupee Ấn Độ (IRN)

đồ đá giữa, bao gồm các chỗ ở hang đá Bhimbetka tạiMadhya Pradesh Khoảng năm 7000 TCN, các khu định cư thời đại đồ đá mới đầu tiên được biết đến đã xuất hiện trên tiểu lục địa, tại Mehrgarh và các di chỉ khác ở đông bộ Pakistan Chúng dần phát triển thành văn minh thung lũng sông Ấn,[] là nền văn hóa đô thị

Trang 7

đầu tiên tại Nam Á; và phát triển hưng thịnh trong khoảng thời gian 2500–1900 TCN tại Pakistan và tây bộ Ấn Độ Nền văn minh này tập trung quanh các thành thị như Mohenjo-daro, Harappa, Dholavira, và Kalibangan, và dựa trên các hình thức sinh kế đa dạng, nền văn minh này có hoạt động sản xuất thủ công nghiệp mạnh cùng với mậu dịch trên phạm vi rộng

Trong giai đoạn 2000–500 TCN, xét theo khía cạnh văn hóa, nhiều khu vực tại tiểu lục địa chuyển đổi từ thời đại đồ đồng đá sang thời đại đồ sắt Vệ-đà là những thánh kinh cổ nhất của Ấn Độ giáo, chúng được soạn trong giai đoạn này,

và các nhà sử học phân tích chúng để thừa nhận về một nền văn hóa

Vệ-đà ở vùng Punjab và phần thượng của đồng bằng sông Hằng Hầu hết các sử gia cũng nhận định trong giai đoạn này có một vài làn sóng người Ấn-Arya nhập cư đến tiểu lục địa từ phía tây-bắc Chế độ đẳng cấp xuất hiện trong giai đoạn này, tạo nên một hệ thống thứ bậc gồm các tăng lữ, quân nhân, nông dân tự do, tuy nhiên loại trừ người dân bản địa bằng cách gán cho công việc của họ là thứ ô

uế Trên cao nguyên Deccan, bằng chứng khảo cổ từ thời kỳ này khẳng định sự tồn tại của tổ chức chính trị ở một giai đoạn tù bang Tại nam bộ Ấn Độ, một lượng lớn các bia kỷ niệm cự thạch có niên đại từ thời kỳ này cho thấy có một

sự tiến triển lên cuộc sống định cư, ngoài ra còn có các dấu vết về nông nghiệp,

bể tưới tiêu, và thủ công truyền thống nằm không xa đó

Bức họa tại Các hang Ajanta,Aurangabad, bang tây bộ Maharashtra

Vào cuối giai đoạn Vệ-đà, khoảng thế kỷ 5 TCN, các tù bang nhỏ ở đồng bằng sông Hằng và tây-bắc thống nhất thành 16 quả đầu quốcvà quân chủ quốc lớn,

chúng được gọi là các mahajanapada Đô thị hóa nổi lên và các tính chất chính

thống trong thời kỳ này cũng hình thành nên các phong trào tôn giáo không chính thống, hai trong số đó trở thành các tôn giáo độc lập Phật giáo dựa trên lời dạy củaTất-đạt-đa Cồ-đàm, thu hút các môn đồ từ tất cả các tầng lớp xã hội trừ tầng lớp trung lưu; ghi chép biên niên sử về cuộc đời của Phật là trung tâm trong việc khởi đầu lịch sử thành văn tại Ấn Độ Đạo Jaina nổi lên trong thời kỳ của người mô phạm của nó làMahavira Tại một thời kỳ mà đô thị thêm phần thịnh vương, cả hai tôn giáo đều duy trì sự từ bỏ như một tư tưởng, và cả hai đều

Trang 8

hình thành các truyền thống tu viện lâu dài Về mặt chính trị, vào thế kỷ 3 TCN, Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) sáp nhập hoặc chinh phục các quốc gia khác để rồi nổi lên thành Đế quốc Maurya (Khổng Tước) Đế quốc Maurya từng kiểm soát hầu hết tiểu lục địa ngoại trừ vùng viễn nam, song các khu vực lõi của

nó nay bị phân ly bởi các khu vực tự trị lớn Các quốc vương của Maurya được biết đến nhiều với việc xây dựng đế quốc và quản lý sinh hoạt công cộng một cách quả quyết, như Ashoka từ bỏ chủ nghĩa quân phiệt và ủng hộ rộng rãi "Phật pháp"

Văn học Sangam viết bằng tiếng Tamil tiết lộ rằng vào giai đoạn từ 200 TCN đến 200 CN, nam bộ bán đảo nằm dưới quyền quản lý của các triều đại Chera, Chola, và Pandya, các triều đại này có quan hệ mậu dịch rộng rãi với Đế quốc La Mã cũng như với khu vực Tây vàĐông Nam Á Ở bắc bộ Ấn

Độ, Ấn Độ giáo khẳng định quyền kiểm soát phụ quyền trong gia đình, khiến phụ nữ tăng thêm tính lệ thuộc Đến thế kỷ 4 và 5, Đế quốc Gupta được hình thành tại đồng bằng sông Hằng với một phức hệ về hành pháp và phú thuế, trở thành hình mẫu cho các vương quốc sau này tại Ấn Độ Dưới chế độ Gupta, Ấn

Độ giáo hồi phục dựa trên cơ sở lòng sùng đạo thay vì quản lý lễ nghi và bắt đầu khẳng định được mình Sự phục hồi của Ấn Độ giáo thể hiện qua việc nở rộ các công trình điêu khắc và kiến trúc, những thứ trở nên quen thuộc trong một giới tinh hoa đô thị Văn học tiếng Phạn cổ điển cũng nở rộ, và khoa học, thiên văn học, y học, toán học Ấn Độ có các tiến bộ đáng kể

Trang 9

ta chiến bại trước quân chủ của Pala ngự trị tại Bengal Khi triều Chalukya nỗ lực khoách trương về phía nam, họ chiến bại trước triều Pallava ở xa hơn về phía nam, triều Pallava lại đối đầu với triều Pandya và triều Chola ở xa hơn nữa

về phía nam Không quân chủ nào trong giai đoạn này có thể thiết lập nên một

đế quốc và kiểm soát liên tục các vùng đất nằm xa vùng lãnh thổ lõi của mình Trong thời kỳ này, các mục dân có đất đai bị phát quang để phát triển kinh

tế nông nghiệp được thu nhận vào trong xã hội đẳng cấp, trở thành tầng lớp thống trị phi truyền thống mới Hệ thống đẳng cấp do đó bắt đầu thể hiện những khác biệt giữa các vùng

Trong thế kỷ 6 và 7, các bài thánh ca cầu nguyện đầu tiên được sáng tác bằng tiếng Tamil Toàn Ấn Độ mô phỏng theo điều đó và khiến cho Ấn Độ giáo tái khởi, và toàn bộ các ngôn ngữ hiện đại trên tiểu lục địa có sự phát triển Các vương thất lớn nhỏ tại Ấn Độ cùng các đền thờ mà họ bảo trợ thu hút một lượng rất lớn các thần dân đến kinh thành, các kinh thành cũng trở thành những trung tâm kinh tế Các đô thị thánh đường với kính cỡ khác nhau bắt đầu xuất hiện khắp nơi khi Ấn Độ trải qua một quá trình đô thị hóa nữa Đến thế kỷ 8 và 9, các ảnh hưởng của Ấn Độ được nhận thấy tại Đông Nam Á, khi mà văn hóa và hệ thống chính trị Nam Á được truyền bá ra các vùng đất mà nay là một phần của Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Malaysia, và Java Các thương nhân, học giả, và đôi khi là quân nhân Ấn Độ tham gia vào sự truyền bá này; người Đông Nam Á cũng có sự chủ động, nhiều người lưu lại một thời gian trong các trường dòng Ấn Độ và dịch các văn bản Phật giáo và Ấn Độ giáo sang ngôn ngữ của họ

Các thị tộc du cư Trung Á sử dụng kỵ binh và có các đội quân đông đảo được thống nhất nhờ dân tộc và tôn giáo, sau thế kỷ 10 họ liên tiếp tràn qua các đồng bằng ở tây-bắc của Nam Á, cuối cùng hình thành nên Vương quốc Hồi giáo Delhi vào năm 1206 Vương quốc này kiểm soát phần lớn bắc bộ Ấn Độ, tiến hành nhiều hoạt động đánh phá xuống nam bộ Ấn Độ Mặc dù chính quyền Hồi giáo ban đầu phá vỡ giới tinh hoa Ấn Độ, song các thần dân phi Hồi giáo của vương quốc này phần lớn vẫn duy trì được luật lệ và phong tục riêng của

họ Vương quốc Hồi giáo Delhi nhiều lần đẩy lui quân Mông Cổ trong thế kỷ

13, cứu nguy Ấn Độ khỏi cảnh tàn phá giống như ở Trung và Tây Á Vương quốc trở thành nơi định cư của những quân nhân bỏ trốn, người có học, pháp sư, thương gia, nghệ sĩ, thợ thủ công từ khu vực Trung và Tây Á, tạo nên một nền văn hóa Ấn-Hồi hổ lốn ở bắc bộ Ấn Độ Các cuộc đột kích của Vương quốc Hồi giáo Delhi và sự suy yếu của các vương quốc khu vực ở nam bộ Ấn Độ tạo điều kiện cho Đế quốc Vijayanagara bản địa hình thành Đế quốc phương nam này theo một truyền thống Shiva giáo mạnh mẽ và xây dựng nên kỹ thuật quân sự vượt lên trên Vương quốc Hồi giáo Delhi, kiểm soát được phần nhiều Ấn Độ Bán đảo, và có ảnh hưởng đến xã hội nam bộ Ấn Độ trong một thời gian dài sau

đó

Trang 10

sự bảo trợ lớn hơn đối với hội họa, các loại hình văn chương, dệt, và kiến trúc Các nhóm xã hội mới kết hợp tại bắc bộ và tây bộ Ấn Độ, như Maratha, Rajput, và Sikh, giành được tham vọng về quân sự và quản trị dưới chế

độ Mogul, và thông qua cộng tác hoặc tai họa, họ thu được cả sự công nhận và kinh nghiệm quân sự Sự mở rộng thương mại dưới chế độ Mogul giúp cho giới tinh hoa thương mại và chính trị Ấn Độ mới dọc theo các bờ biển nam bộ và đông bộ nổi bật lên Khi đế quốc tan rã, nhiều người trong giới tinh hoa này có thể theo đuổi và kiểm soát được công việc của họ

Trang 11

Đầu thế kỷ 18, khi mà ranh giới giữa thống trị thương mại và chính trị ngày càng bị lu mờ, một số công ty mậu dịch phương Tây, bao gồm Công ty Đông Ấn Anh, thiết lập nên các tiền đồn ven biển Công ty Đông Ấn Anh có quyền kiểm soát đối với các vùng biển, tiềm lực lớn hơn, có khả năng huấn luyện quân sự cùng công nghệ tiến bộ hơn, do vậy thu hút một bộ phận giới tinh hoa Ấn Độ Nhờ đó, Công ty Đông Ấn Anh gặp thuận lợi trong việc giành quyền kiểm soát đối với vùng Bengal vào năm 1765 và gạt các công ty châu Âu khác ra ngoài lề Công ty Đông Ấn Anh tiếp tục tiếp cận được sự giàu có của Bengal, và sau khi tăng cường sức mạng và quy mô quân đội thì Công ty có năng lực thôn tính hoặc khuất phục hầu hết Ấn Độ vào thập niên 1820 Ấn Độ sau đó không còn là nhà xuất khẩu hàng hóa chế tạo như một thời gian dài trước đó, mà trở thành một nơi cung cấp nguyên liệu cho Đế quốc Anh, và nhiều sử gia xem đây là lúc thời kỳ thực dân tại Ấn Độ bắt đầu Đương thời, do quyền lực kinh tế bị Nghị viện Anh Quốc tước bỏ một cách nghiêm trọng và do bản thân trên thực tế là một cánh tay nối dài của chính phủ Anh Quốc, Công ty Đông Ấn Anh bắt đầu có

ý thức hơn trong việc tiến vào các hoạt động phi kinh tế như giáo dục, cải cách

xã hội, và văn hóa

Ấn Độ hiện đại

Ấn Độ thuộc Anh, từ bản năm 1909 của The Imperial Gazetteer of India Các khu vực do Anh Quốc trực tiếp quản lý được tô màu màu hồng bóng; các phiên vương quốc nằm dưới quyền tông chủ của Anh Quốc được tô màu vàng.

Các sử gia xem thời kỳ hiện đại của Ấn Độ bắt đầu từ giai đoạn 1848-1885 Việc

bổ nhiệm James Broun-Ramsay làm Toàn quyền của Công ty Đông Ấn Anh vào năm 1848 chuẩn bị cho những thay đổi cốt yếu đối với một quốc gia hiện đại Chúng bao gồm củng cố và phân ranh giới chủ quyền, sự giám sát của người dân, và giáo dục cho công dân Các biến đổi về công nghệ như đường sắt, kênh đào, và điện báo được đưa đến Ấn Độ không lâu sau khi chúng được giới thiệu tại châu Âu Tuy nhiên, sự bất mãn đối với Công ty cũng tăng lên trong thời kỳ này, và Khởi nghĩa Ấn Độ 1857 bùng nổ Cuộc khởi nghĩa bắt nguồn từ những oán giận và nhận thức đa dạng, bao gồm cải cách xã hội kiểu Anh, thuế đất khắc nghiệt, và đối đãi tồi của một số địa chủ giàu có và phiên vương, nó làm rung

Trang 12

chuyển nhiều khu vực ở bắc bộ và trung bộ Ấn Độ và làm lung lay nền móng của Công ty Đông Ấn Anh Mặc dù cuộc khởi nghĩa bị đàn áp vào năm 1858, song nó khiến cho Công ty Đông Ấn Anh giải thể và chính phủ Anh Quốc từ đó trực tiếp quản lý Ấn Độ Những người cai trị mới công bố một nhà nước nhất thể và một hệ thống nghị viện từng bước theo kiểu Anh song có hạn chế, nhưng

họ cũng bảo hộ các phó vương và quý tộc địa chủ nhằm tạo ra một thế lực hộ vệ phong kiến để chống lại bất ổn trong tương lai Trong các thập niên sau đó, hoạt động quần chúng dần nổi lên trên khắp Ấn Độ, cuối cùng dẫn đến việc thành lập Đảng Quốc đại Ấn Độ vào năm 1885

1947 Mahatma Gandhi (phải) là người lãnh đạo phong trào độc lập.

Sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật cùng với thương mại hóa nông nghiệp trong nửa sau thế kỷ 19 gây nên các khó khăn kinh tế: nhiều nông dân nhỏ trở nên phụ thuộc vào các nhu cầu của các thị trường xa xôi Số lượng nạn đói quy

mô lớn gia tăng, và có ít công việc công nghiệp được trao cho người Ấn Độ Tuy nhiên, nó cũng có những tác động tích cực: trồng trọt mang tính thương mại, đặc biệt là ở vùng Punjab mới được khơi kênh, khiến sản lượng lương thực dành cho tiêu dùng nội địa gia tăng Hệ thống đường sắt giúp cung cấp đồ cứu tế đến những nơi bị nạn đói nguy cấp, giảm đáng kể chi phí vận chuyển hàng hóa, và giúp ích cho ngành công nghiệp non trẻ của Ấn Độ Có khoảng một triệu người

Ấn Độ phục vụ cho Anh Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và sau cuộc chiến này là một thời kỳ mới Thời kỳ này mang dấu ấn với các cải cách của Anh Quốc song cũng có các áp chế về luật pháp, với việc người Ấn Độ mãnh liệt hơn trong việc yêu cầu quyền tự trị, và với việc bắt đầu một phong trào bất bạo động bất hợp tác - trong đó Mohandas Karamchand Gandhi trở thành lãnh tụ

và biểu tượng Trong thập niên 1930, Anh Quốc ban hành các cải cách lập pháp một cách chậm chạp; Đảng Quốc đại Ấn Độ giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử Thập niên tiếp theo chìm trong các cuộc khủng hoảng: Ấn Độ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Quốc đại kiên quyết bất hợp tác, và một đợt bột phát chủ nghĩa dân tộc Hồi giáo Tất cả đều bị ngăn lại với việc Ấn Độ giành được độc lập vào năm 1947, song bị kiềm chế do thuộc địa này phân chia thành hai quốc gia: Ấn Độ và Pakistan

Trang 13

Để khẳng định hình ảnh là một quốc gia độc lập, hiến pháp Ấn Độ được hoàn thành vào năm 1950, xác định Ấn Độ là một nền cộng hòa thế tục và dân chủ Trong 60 năm kể từ đó, Ấn Độ trải qua cả những thành công và thất bại Đất nước này vẫn duy trì một chế độ dân chủ với các quyền tự do dân sự, một Tòa án tối cao hoạt động tích cực, và một nền báo chí độc lập ở mức độ lớn Tự do hóa kinh tế bắt đầu từ thập niên 1990, và tạo ra một tầng lớp trung lưu thành thị có quy mô lớn, biến Ấn Độ thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, và tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của mình Phim,

âm nhạc, và giảng đạo của Ấn Độ đóng một vai trò ngày càng lớn trong văn hóa toàn cầu Tuy nhiên, Ấn Độ phải đương đầu với các vấn đề như nghèo nàn ở cả thành thị lẫn nông thôn; từ xung đột liên quan đến tôn giáo và đẳng cấp; từ quân nổi dậy Naxalite được truyền cảm hứng từ tư tưởng Mao Trạch Đông; từ chủ nghĩa ly khai tại Jammu và Kashmir và tại Đông Bắc Có tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết với Trung Quốc, từng leo thang thành Chiến tranh Trung-

Ấn vào năm 1962; và các cuộc chiến tranh biên giới với Pakistan bùng phát vào các năm 1947, 1965, 1971, và 1999 Sự đối đầu hạt nhân Ấn Độ–Pakistan lên đến đỉnh vào năm 1998

1.2. Vị trí địa lý Ấn Độ

Ấn Độ là một bán đảo ở Nam Á, , chiếm hầu hết bán đảo Ấn Độ Ấn Độ có ranh giới với Pakistan, Trung Quốc, Myanma, Bangladesh, Nepal, Bhutan và Afghanistan Ấn Độ là nước đông dân thứ nhì trên thế giới, với dân số trên Bắc

có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya nổi tiếng Ấn Độ chia làm hai miền Nam, Bắc lấy dãy Vindya làm ranh giới Miền Bắc Aassn Độ có hai con sông lớn là sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) Sông Ấn chia làm năm nhánh, nên đồng bằn lưu vực sông Ấn được gọi là vừng Punjab ( vùng năm sông) Tên nước Ấn Độ gọi theo tên con sông này Sông Hằng ở phía Đông được coi là sông thiêng Từ xưa nhân dân Ấn Độ thường đến khúc sông ở thành phố Varanadi (Benares) để cử hành lễ tắm mang tính chất tôn giáo Cả hai dòng sông này đều bồi đắp thành hai đồng bằng màu mỡ ở miền Bắc Ấn Độ, vì vậy nơi đây

đã trở thành cái nôi của nền văn minh nước này

Cộng hoà Ấn Độ xuất hiện trên bản đồ thế giới vào ngày 15 tháng 8 năm 1947

Sự thiết lập nhà nước Ấn Độ là đỉnh cao của cuộc đấu tranh của những người tại Nam Á để thoát khỏi ách thống trị của Đế quốc Anh Ấn Độ có nền văn minh sông Ấn (Indus) phát triển rực rỡ cách đây 5 nghìn năm Ấn Độ là nơi sinh trưởng của bốn tôn giáo quan trọng trên thế giới: Ấn Độ giáo (Hindu), Phật giáo, đạo Jaini và đạo Sikh,…

Cư dân Ấn Độ, về thành phần chủng tộc, gồm hai loại chính: Người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư chú ở miền Bắc Ngoài ra còn nhiều chủng người khác như người Hy Lạp, người Hung Nô, người Ả rập… Họ

Trang 14

dần dần đồng hóa với các thành phần cư dân khác, do đó vấn đề bộ tộc ở Ấn Độ

sĩ S.R.Rao đã khám phá được sự bí ẩn của loại chữ này

Bảng chữ viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit)

Theo ông Rao đây là một loại chữ dùng hình để ghi âm và ghi vần Trong hơn

3000 con dấu ấy có hơn 22 dấu cơ bản Loại chữ này chủ yếu viết từ phải sang trái Những con dấu đã phát hiện là những con dấu dùng để đống trên các kiện hàng để xác nhận hàng hóa và chỉ rõ xuất xứ của những hàng hóa đó

Đến khoảng thế kỉ V TCN, ở Ấn Độ xuất hiện một loại chữ khác gọi là chữ Kharosthi Đây là một loại chữ phỏng theo chữ viết của vùng Lưỡng Hà Sau đó lại xuất hiện ở Brahmi, một loại chữ được sử dụng rộng rãi Các văn bia của Ashoka đều viết bằng loại chữ này Trên cơ sở của chữ Brahmi, người Ấn Độ lại đặt ra những Devanagari có cách viết đơn giản và thuận tiện hơn Đó là thứ chữ mới để vueuets tiếng Sanskirt Đến nay ở Ấn Độ và Nepan vẫn dùng loại chữ này

Trang 15

2.2 Tôn giáo

Thi hào Tagore đã có lần ca ngợi đất nước Ấn Độ của ông qua mấy câu thơ:

“Khi anh cất lên tiếng gọi thì Họ đến

Ấn Độ Giáo và Phật Giáo, Kỳ Na Giáo và đạo Sikh,

Đạo Parsi, Hồi Giáo và Thiên Chúa.

Đông và Tây gặp nhau

Thể xác đồng nhất với tình yêu nơi linh thiêng của anh

Chiến thắng thuộc về kẻ tạo ra tâm hồn nhân loại

Chiến thắng thuộc về kẻ kiến tạo định mệnh của Ấn Độ.”

(Rabindranath Tagore)

Người ta nói “Địa linh sinh nhân kiệt,” quả không sai Đất nước Ấn Độ có một

vị thế địa lý rất đặc biệt Đó là lưng dựa vào dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ nhất thế giới, mặt nhìn ra Ấn Độ Dương biển cả mênh mông, lại còn có 2 con sông lớn là Ấn Hà và Hằng Hà như hai dòng sữa tươi nuôi một bình nguyên bao la và cũng là cái nôi của nền văn minh nông nghiệp định cư vào thời cổ đại Chính ở chốn địa linh nhân kiệt đó nhiều vĩ nhân ra đời như đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Thánh Mahatma Gandhi, hiền triết Jiddu Krishnamurti, thi hào Rabindranath Tagore, v.v… và các tôn giáo, trường phái triết học lớn và lâu đời nhất thế giới được hình thành như Vệ Đà, Áo Nghĩa Thư, Ấn Độ Giáo, Phật Giáo, Kỳ Na Giáo, Đạo Sikh, v.v…

2.2.1 Ấn Độ Giáo

Ân Độ Giáo không những là truyền thống tôn giáo lớn và lâu đời nhất của Tiểu Lục Địa Ấn Độ mà còn của cả thế giới Ấn Độ Giáo không phải được khai sáng bởi một vị giáo chủ độc nhất hay có một hệ thống thống nhất về niềm tin hay tín điều, mà chỉ là một hiện tượng tôn giáo bắt nguồn và dựa vào các truyền thống

Vệ Đà Ấn Độ Giáo có đặc tính cởi mở và bao dung được tất cả các niềm tin khác nhau Người ta cũng có thể định nghĩa Ấn Độ Giáo như là một phương thức sống

Ấn Độ Giáo thường được biết có nhiều hệ phái khác nhau Theo lịch sử, Ấn Độ Giáo có 6 trường phái tư tưởng chính, nhưng chỉ có 2 trường phái Vedanta và Yoga là phát triển lâu dài Hiện nay, Ấn Độ Giáo có các trường phái chính như Vaishnavism, Shaivism, Smartism, và Shaktism

Trang 16

Các giáo thuyết chủ đạo của Ấn Độ Giáo gồm Dharma (Pháp, nguyên lý đạo đức và chức phận), Samsàra (Luân hồi, sống, chết và tái sinh), Karma (Nghiệp, hành động tạo tác và kết quả của hành động tạo tác), Moksha (Giải thoát khỏi luân hồi), và Yoga (các phương pháp tu tập) Những giáo thuyết này có vẻ trùng hợp với giáo thuyết của Phật Giáo và Kỳ Na Giáo, nhưng thực tế có nhiều khác biệt trong nhận thức và thực hành chúng trong Ấn Độ Giáo so với Phật Giáo và

Kỳ Na Giáo

Theo các trường phái nhị nguyên trong Ấn Độ Giáo như Dvaita và Bhakti thì Brahma là đấng tối thượng, và họ lễ bái, như Thần Vishnu, Thần Brahma, Thần Shiva, hay Thần Shakti, tùy theo trường phái Ngược lại, các giáo nghĩa vô thần trong Ấn Độ Giáo như Samkhya và Mimamsa thì cho rằng người ta không thể chứng minh sự hiện hữu của Thượng Đế Samkhya biện minh rằng một Thượng

Đế bất biến không thể là nguồn gốc sinh ra thế giới biến đổi không ngừng Giáo phái thuộc Ấn Độ Giáo như Vaishnava thờ Thần Vishnu; còn giáo phái Shaivite thờ Thần Shiva; và Shakta thờ Thần Shakti

Về mặt thực nghiệm, Ấn Độ Giáo cho rằng để đạt tới mục đích cứu cánh giải thoát của cuộc sống người ta phải thực hành các phương pháp tu tập được gọi là Yoga Các giáo nghĩa dạy về Yoga gồm có Bhagavad Gita, Kinh Yoga Sutra, Hatha Yoga Pradipika, Áo Nghĩa Thư Yoga gồm có:

- Bhakti Yoga (tình yêu và hiến dâng),

- Karma Yoga (chánh nghiệp),

- Raja Yoga (thiền định), và

- Jnana Yoga (trí tuệ)

Các thần cũng được dùng như những phương pháp để xưng tụng và cầu nguyện giúp tập trung tư tưởng và bày tỏ sự hiến dâng lên Thượng Đế hay thần linh.Theo thống kê dân số năm 2001, Ấn Độ Giáo là tôn giáo lớn nhất tại Ấn Độ với 80% dân số là tín đồ Ấn Độ Giáo Ngoài ra, tại những quốc gia khác như Nepal,

Ấn Độ Giáo có 23 triệu tín độ, tại Bangladesh có 14 triệu, và Đảo Bali có 3.3 triệu Trên thế giới, Ấn Độ Giáo có số tín đồ đông đứng hàng thứ 3 sau Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo

2.2.2 Phật Giáo

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni Buddha), người khai sáng ra Phật Giáo, sinh vào năm 624 trước công nguyên tại Thành Phố Lâm Tỳ Ni (Lumbini)

Trang 17

mà ngày nay là nước Nepal, phía bắc Ấn Độ Ngài nguyên là Thái Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhartha) của dòng họ Cồ Đàm (Gautama) thuộc nước Ca Tỳ La Vệ (Capilavastu) Phụ vương của Thái Tử là Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và mẫu hậu là Hoàng Hậu Maya Năm 16 tuổi Thái Tử kết hôn với Công Chúa Da Du

Đà La (Yasodhara) Năm 29 tuổi Thái Tử vào Hy Mã Lạp Sơn để xuất gia tầm đạo tìm con đường giải thoát khổ đau cho mình và chúng sinh

Trải qua 6 năm tầm sư học đạo, nhưng Thái Tử Sĩ Đạt Ta vẫn không thỏa mãn với những giáo thuyết và pháp môn tu của những vị đạo sư mà Ngài theo học Cuối cùng vì tu theo khổ hạnh ép xác, Ngài đã kiệt sức và ngã quỵ bên giòng sông Ni Liên Thiền (Nairanjana) và nhờ bác sữa của nữ thí chủ Tu Xà Đa (Sujata) mà Ngài hồi phục Sau Đó Thái Tử quyết định từ bỏ lối tu khổ hạnh và bắt đầu pháp môn riêng của Ngài Ngài đến dưới gốc cây Bồ Đề (Bodhi Tree) ngồi thiền định Sau 49 ngày đêm thiền tọa, cuối cùng Thái Tử đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn và trở thành vị Phật có tên là Phật Thích Ca Mâu Ni, vào năm Ngài 35 tuổi Sau khi giác ngộ, đức Phật đến Vườn Lộc Uyển gặp lại 5 người bạn đồng tu lúc trước và dạy cho họ pháp môn giác ngộ mà Ngài đã thành tựu để họ được chứng đạo

Nội dung giáo nghĩa Phật Giáo có thể tóm lược trong 4 điểm chính (thường được gọi là Bốn Pháp Ấn)

Vô Thường (Anitya): Vô thường là bản chất của mọi hiện tượng tâm lý và vật

lý Không một hiện tượng nào trên thế gian này thoát khỏi sự chi phối của vòng sinh, trụ, dị và diệt Chính vì các hiện tượng chung quanh chúng ta đều vô thường nên làm cho đời sống của con người trở nên đau khổ

Khổ (Duhkha): Khổ vì sinh, già, bệnh, chết; khổ vì mọi thứ đều tuột khỏi tầm tay kiểm soát của con người, ngay cả chính sinh mệnh của chúng ta nữa

Không (Sunya): Mọi hiện tượng đều vô thường và khổ não như thế nói lên một

sự thật rất căn bản là tất cả mọi sự tồn tại đều là giả, không thật, là Không ngay

Trang 18

đạo, sống, hoằng pháp, và nhập Niết Bàn dưới gốc cây, trong rừng núi của đức Phật là hình ảnh biểu thị lòng từ bi, bất bạo động và bao dung của Phật Giáo.Dựa vào nội dung giáo nghĩa và lịch sử phát triển người ta phân Phật Giáo ra làm 3 truyền thống: Nguyên Thủy, Tiểu Thừa Bộ Phái và Đại Thừa Nguyên Thủy Phật Giáo là thời kỳ đức Phật còn tại thế hàng đệ tử Phật nương oai đức và lời dạy trực tiếp của đức Phật làm kim chỉ nam cho sự tu tập, thời kỳ này nội dung giáo nghĩa của Phật vẫn còn ở dạng thức truyền khẩu, nghĩa là học thuộc lòng chứ chưa viết thành văn tự Tiểu Thừa Bộ Phái là thời kỳ sau khi đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 100 năm với sự giải thích dị biệt về giới luật và giáo nghĩa đưa tới sự phân chia làm nhiều bộ phái có ít nhất trên 20 bộ phái được biết tới – trong thời kỳ này, những lời dạy của đức Phật đã được kết tập và viết thành văn tự trong 4 bộ Nikaya hay 5 bộ Kinh A Hàm mà sau này được dịch sang Hán văn Phật Giáo Đại Thừa bắt đầu với phong trào vận động để đưa đạo Phật phổ cập vào xã hội với bộ phái Đại Chúng Bộ thuộc thành phần đại đa số

và cấp tiến Tuy nhiên, Phật Giáo Đại Thừa được khởi phát rõ rệt vào khoảng

600 năm sau Phật nhập diệt từc đầu công nguyên nhờ cuộc vận động của chư Bồ Tát Mã Minh (Asvaghosa), Long Thọ (Nagarjuna), Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu) với sự xuất hiện của Kinh Điển Đại Thừa và các bộ Luận xiển dương Đại Thừa như các bộ Kinh Bát Nhã, Pháp Hoa, Duy Ma Cật, v.v…,

và các bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín, Trung Luận, Đại Trí Độ Luận, Duy Thức, v.v…

2.2.3 Kỳ Na Giáo

Kỳ Na Giáo cũng giống như Ấn Độ Giáo vốn không do một vị giáo chủ Tirthakar, bậc giác ngộ độc nhất nào khai sáng mà do sự đóng góp của nhiều đời những nhà lãnh đạo, một phần vì lịch sử cổ đại Ấn Độ không được ghi chép đầy đủ do đặc tính của dân tộc này không xem trọng việc ghi chép sử Người ta chỉ biết là theo những gì còn lưu truyền thì vào thế kỷ thứ 9 trước công nguyên

có một vị đạo sĩ tên là Parshvanatha là một trong số các vị có công phát triển Kỳ

Na Giáo

Đến thế kỷ thứ 6 lại xuất hiện một nhân vật lịch sử uy tín nổi bật khác cũng có công rất lớn trong việc phát dương Kỳ Na Giáo là Vardhamana Mahavira (truyền thuyết cho rằng ông sinh năm 599 và mất năm 527 trước công nguyên), là vị thánh thứ 24 của Kỳ Na Giáo Chính Mahavira là vị đạo sư hệ thống hóa giáo nghĩa Kỳ Na Giáo, thành lập tăng đoàn lớn và đưa ra chủ trương tu tập khổ hạnh

và đạt mục tiêu giác ngộ Các đệ tử của Mahavira đã tôn xưng ngài là Jina, có nghĩa là “người chiến thắng” và những đệ tử sau này đã dùng danh hiệu này để

Trang 19

đặt tên cho chính họ là Jain, là người đi theo đấng Jina Chữ Jain dùng để gọi tên cho Kỳ Na Giáo bắt đầu xuất hiện từ đó.

Thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vào thời đại đế quốc Kharavela, Kỳ Na Giáo

đã bắt đầu phát triển rộng tại miền Nam Ấn Độ Nhưng phải đợi tới vị lãnh đạo thứ 23 là Parshavanatha thì sử liệu mới ghi Tuy nhiên, sự truyền thừa có tính lịch sử và liên tục về sau này thì phải đợi tới thời vị lãnh đạo Rishabhdeva Hoàng đế Chandragupta Maurya lúc tuổi già đã từ bỏ ngôi vua và gia nhập vào tăng đoàn Kỳ Na Giáo Hoàng đế Chandragupta là đệ tử của vị lãnh đạo Bhadrabahu

Kỳ Na Giáo chủ trương bất bạo động đối với tất cả chúng sinh Triết lý Kỳ Na Giáo tập trung vào việc nỗ lực thực nghiệm tự thân để chuyển tâm hồn đến sự tỉnh thức và giải thoát Bất cứ người nào tự chế được tâm thoát khỏi những kẻ thù tham lam, sân hận thì đạt tới cảnh giới tối thượng gọi là jina tức là vị chinh phục hay chiến thắng

Kỳ Na Giáo không tin vào đấng sáng tạo và bảo hộ vũ trụ vạn vật Đối với Kỳ

Na Giáo vũ trụ luôn luôn thay đổi theo luật tự nhiên và tin rằng có nhiều đời sống của nhiều loại chúng sanh khác, hữu tình và vô tình, trong và ngoài trái đất này Kỳ Na Giáo cho rằng sân si và tham dục là kẻ thù độc hại của con người Nguyên lý bất bạo động dùng để giảm trừ nghiệp lực của tham sân si là thế lực hạn chế khả tính giải thoát của tâm con người Kỳ Na Giáo cũng nhấn mạnh đến

sự bìng đẳng của tất cả chúng sinh, cổ võ đời sống không xâm hại đối với tất cả muôn loài, dù là nhỏ hay lớn Để thực hành đời sống bất hại đến mọi loài, tín đồ

Kỳ Na Giáo ăn chay trường, nhưng không được chặt hay nhổ rễ cây vì sẽ làm hại các sinh vật nhỏ sống dưới đó Kỳ Na Giáo cũng không cho tín đồ ăn sau khi mặt trời lặn

Hiện nay, tại Ấn Độ có khoảng 4.2 triệu tín đồ Kỳ Na Giáo Bên ngoài Ấn Độ, trên thế giới, hiện thời có khoảng 12 triệu tín đồ Kỳ Na Giáo Các cộng đồng Kỳ

Na Giáo có mặt khắp nơi trên thế giới tại Hoa Kỳ, Anh Quốc, Gia Nã Đại, Kenya, Tanzania và Uganda, Nepal, South Africa, Nhật, Tân Gia Ba, Mã Lai Á,

Úc Đại Lợi, Fiji, Suriname, Bỉ, v.v

2.2.4 Đạo Sikh

Đạo Sikh được sáng lập vào thế kỷ thứ 15 tại khu vực Punjab thuộc Ấn Độ bởi Đạo Sư Nanak Chữ Sikh bắt nguồn từ tiếng Phạn, có nghĩa là “đệ tử” hay sự giáo huấn

Trang 20

Truyền thống Đạo Sikh kể rằng vào khoảng năm 1499, Đạo sư Nanak (sinh ngày

15 tháng 4 năm 1469 và mất ngày 22 tháng 9 năm 1539 trong một gia đình Ấn

Độ Giáo ở làng Rai Bhoi di Talwandi mà ngày nay gọi là Nankana Sahib) ở tuổi

30, đã đắc đạo Sau khi cử hành lễ tắm gội, ngài đã biến mất Người ta phát hiện

y áo trên bờ một con sông ở địa phương có tên là Kali Bein Người dân địa phương cho rằng ngài đã chết đuối dưới sông Họ cùng nhau lặn xuống sông để tìm thi thể của ngài, nhưng không ai thấy gì cả Ba ngày sau, Đại Sư Nanak lại trở về và im lặng không nói gì Ngày hôm sau, ngài tuyên bố: “Không có con đường nào của Ấn Độ Giáo hay Hồi Giáo để ta theo Ta chỉ đi theo con đường của Thượng Đế Thượng Đế không phải Ấn Độ Giáo hay Hồi Giáo và con đường mà ta đi theo chính là của Thượng Đế.” Đạo sư Nanak kể rằng ngài đã được dẫn đến gặp Thượng Đế Ở đó, ngài đã được trao cho một ly rượu tiên và được bảo rằng “Đây là tách rượu yêu quý của Thượng Đế Hãy uống đi Ta sẽ ở với ngươi Ta gia hộ ngươi và dưỡng dục ngươi Bất cứ ai tưởng nhớ đến ngươi thì là được lòng ta Hãy đi, vinh danh ta và giáo hóa người khác cũng làm vậy

Ta đã ban cho ngươi món quà của ta cho ngươi Hãy để cho điều này là của ngươi.” Kể từ lúc đó trở đi, Nanak được tôn xưng là Đạo Sư, và Đạo Sikh được khai sinh

Đạo Sikh chủ trương đồng nhất thể tâm với Thượng Đế Tín đồ Sikh tu tập để tư tưởng và hành động thoát khỏi sự ô nhiễm của tham lam, giận dữ, dục vọng, vật chất, và bản ngã và từ đó hợp nhất tâm với Thượng Đế Đạo Sikh tin rằng vòng sanh tử luân hồi là thoát ra từ đồng nhất thể này Đạo Sikh cho rằng tất cả mọi người đều bình đẳng, và tình huynh đệ bao trùm khắp vũ trụ giữa con người và Thượng Đế Tối Cao Năm nguyên lý căn bản mà tín đồ Đạo Sikh đặt niềm tin và thực hành là Sự Thật, Bình Đẳng, Tự Do, Công Lý, và Nghiệp

Tín đồ Đạo Sikh được nhận dạng dựa vào 5 chữ K:

1) Kesh là tóc để dài và quấn lại;

2) Kara là vòng đeo tay bằng sắt tượng trưng cho sự bất diệt;

3) Kirpan là cây kiếm nhỏ mang theo người;

4) Kashera là cái quần lót làm bằng bông vải đặc biệt để nhắc nhở giữ gìn trinh bạch

5) Kanga là cái lược bằng gỗ thường để ở dưới chiếc khăn

Bảo vệ quyền tự do tôn giáo và chính trị của tất cả mọi người và ngăn chận sự

kỳ thị là một trong những phần quan trọng của niềm tin trong Đạo Sikh

Trang 21

Đạo Sikh còn bênh vực quyền bình đẳng và tôn trọng phụ nữ nữa Đó là điểm ưu việt của Đạo Sikh trong bối cảnh xã hội của thế kỷ thứ 15 sau công nguyên, khi

mà xã hội loài người và đặc biệt xã hội Ấn Độ còn nhiều kỳ thị bất công đối với

nữ giới

Đạo Sikh chỉ chiếm 1.87% dân số Ấn Độ, nhưng lại rất có thế lực trong quân đội

Ấn Độ Số quân nhân và sĩ quan theo Đạo Sikh chiếm tới 15% quân số Ấn Độ,

đó là tỉ lệ nhiều gấp 10 lần so với tất cả các tôn giáo khác tại Ấn

2.2.5 Hồi Giáo Ở Ấn Độ

Hồi Giáo là nhất thần giáo, là tôn giáo cũng từ tổ phụ Abraham nhưng dựa trên Kinh Quran, mà tín đồ Hồi Giáo tin là lời mặc khải của Thượng Đế cho Giáo Chủ Muhammad – sinh năm 570 tại Thành Phố Mecca của nước Ả Rập Saudi, Trung Đông, và mất năm 632 sau công nguyên

Hồi Giáo tin rằng Thượng Đế là độc nhất và Hồi Giáo giữ được thông điệp nguyên thủy dù những thiên khải cũng từng bị đổi thay một phần nào đó qua thời gian, nhưng Kinh Quran thì được xem như là lời mặc khải tối hậu từ Thượng Đế Những thực hành của tín đồ Hồi Giáo gồm có cầu nguyện mỗi ngày, ăn chay trong thời gian mùa lễ Ramadan, giúp đỡ người nghèo, và hành hương vùng Thánh Địa Mecca ít nhất một lần trong đời

Tại Ấn Độ hiện có khoảng 150 triệu tín đồ Hồi Giáo Chính vì có dân số Hồi Giáo đông như vậy nên, Ấn Độ là nước có tín đồ Hồi Giáo đông hạng thứ 2 trên thế giới, sau Nam Dương (Indonesia)

Từ thế kỷ thứ 7 tới thế kỷ thứ 13, Hồi Giáo dựa vào thế quyền trong và ngoài nước đã thực hiện nhiều cuộc phá hoại chùa chiền, tàn sát tu sĩ, trấn áp tín đồ của Phật Giáo và Ấn Độ Giáo Sau thế kỷ thứ 13, Phật Giáo tại Ấn Độ đã bị mai một hoàn toàn cho đến gần đây mới bắt đầu hồi phục lại phần nào Trong thời kỳ xâm nhập vào Ấn Độ, Hồi Giáo đã thực hiện phương pháp cải đạo rất tàn ác Đó

là bắt người Ấn phải chọn lựa 1 trong 3 cách: theo Hồi Giáo, bị giết chết, hay bị đóng thuế nặng nề Công cuộc cải đạo chính thức bắt đầu có hệ thống vào thế kỷ thứ 8 khi mà đoàn quân Ả Rập xâm lăng miền Bắc Ấn và lãnh thổ thuộc Pakistan ngày nay

2.2.6 Cơ đốc giáo

Với hơn 71 triệu người theo như tuyên bố rằng đang theo Cơ Đốc giáo, Ấn Độ hiện tại đang là quốc gia đứng thứ 8 trong danh sách những quốc gia Cơ Đốc của Thế Giới

Trang 22

Các cơ đốc nhân tin vào một Đức Chúa Trời yêu thương là Đấng đã bày tỏ về chính Ngài và có thể được nhận biết một cách cá nhân trong đời sống này Với Chúa Giê-xu, thì sự tập trung của con người không phải là các lễ nghi tôn giáo hay thể hiện các việc làm lành, nhưng là sự vui thích về mối quan hệ với Đức Chúa Trời và tăng trưởng trong sự nhận biết Ngài nhiều hơn.

Đức tin nơi Chúa Giê-su, không chỉ tin những điều dạy dỗ của Ngài, là cách mà

cơ đốc nhân có thể kinh nghiệm được niềm vui và một đời sống ý nghĩa Trong đời sống của Ngài ở trên đất, Chúa Giê-su đã không chứng tỏ Ngài là Đấng tiên tri được Đức Chúa Trời chỉ định hay là một giáo sư đem đến sự khai sáng Hơn thế, Chúa Giê-su xác nhận Ngài là Đức Chúa Trời trong hình thể con người Ngài làm phép lạ, tha thứ tội lỗi và nói rằng hễ ai tin Ngài sẽ được sự sống đời đời Ngài đã công bố thế này, “Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.”

Người cơ đốc xem Kinh thánh là sứ điệp được viết ra của Đức Chúa Trời dành cho loài người Ngoài việc đó là sự ghi chép mang tính lịch sử về đời sống và những phép lạ của Chúa Giê-xu, Kinh thánh bày tỏ về tính cách của Đức Chúa Trời, tình yêu và lẽ thật của Ngài, và làm thế nào để một người có thể có mối quan hệ với Ngài

Dù một Cơ đốc nhân đang đối diện với bất cứ hoàn cảnh nào trong đời sống của mình, họ vẫn có thể tự tin quay về với Đức Chúa Trời quyền năng và khôn ngoan, Đấng hoàn toàn yêu mến họ Họ tin rằng Đức Chúa Trời đáp lời cầu nguyện và đời sống đó có ý nghĩa khi họ sống tôn thờ Ngài

Đạo Ja-in là một tôn giáo rất kỷ cương và nghiêm khắc, chủ trương bất bạo động, thực thi bố thí và kính trọng sự sống dưới bất cứ hình thức nào Giáo lý gồm có năm nguyên tắc căn bản là :

Trang 23

-Cấm mọi hành vi hung bạo đối với tất cả sinh vật (cấm sát sinh và tuyệt đối phải ăn chay)

-Không nói dối

-Không trộm cắp

-Không phạm vào hành vi tình dục ô nhiễm

-Không bám víu vào của cải vật chất

Phương pháp tu tập thì gồm có việc nhịn ăn (bốn ngày trong một tháng), luyện tập du-già (chịu đựng các cảm giác đau đớn), tránh mọi lời nói và hành động vô

bổ, nghiên cứu kinh sách và tôn vinh các vị thầy tiền bối mà họ gọi chung là các

vị Thirthakara Tín đồ Ja-in được phân chia thành hai thành phần : tu sĩ và người thế tục, thành phần tu sĩ được chia ra làm hai tập thể riêng biệt là nam phái và nữ phái

Đạo Ja-in chủ trương sự hiện hữu của một cái ngã mang tính cách thực thể gọi là atman, cái ngã đó bị trói buộc và giam hãm bởi nghiệp tạo ra trong kiếp sống trước Quan niệm của đạo Ja-in về sự hiện hữu của cái ngã là một trong những quan điểm khác biệt căn bản và quan trọng hơn hết so với Phật giáo Đạo Ja-in chủ trương cần phải tu tập khổ hạnh để giúp cho cái ngã tự "cởi trói" và vượt thoát ra khỏi sự giam hãm của nghiệp và nhờ đó sẽ tự phát hiện được bản thể đích thực của mình để tự giải thoát thoát cho mình ra khỏi chu kỳ tái sinh Như vừa được trình bày trên đây Phật giáo và đạo Ja-in có một số quan điểm bề ngoài khá gần nhau nhưng thật ra thì hoàn toàn khác biệt trên căn bản Bài viết dưới đây sẽ trình bày các mối tương quan và sự phát triển song hành giữa hai tôn giáo ấy trong thung lũng sông Hằng

2.3 LỄ HỘI

Lễ hội là một nét tiêu biểu đầy màu sắc về các truyền thống của người Ấn Độ Những lễ hội của người Ấn Độ rất đa dạng và phong phú, hầu hết những lễ hội đều có những nhân vật liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, một số lễ hội có sự kết hợp độc đáo của rất nhiều đạo Một số lễ hội được tổ chức để chào đón các

sự kiện xã hội, lịch sử, cũng như những tưởng nhớ những vị thần trong truyền thuyết hay trông cổ tích

2.3.1 Lễ hội Ánh sáng – Diwali festival

Đây là một lễ hội phổ biến nhất ở Ấn Độ và cũng là lễ hội chính của đạo Hindu được diễn ra trong 5 ngày để chào đón một năm mới trong đạo Hindu và cũng

Trang 24

thể hiện sức mạnh của chính nghĩa, đặc biệt là chiến thắng của anh hùng Lord Rama và nàng Sita-vợ anh trước những kẻ xấu.Theo một niềm tin khác, lễ hội Diwali lại được tổ chức cho nữ thần Lakshmi, vị thần của sự giàu có và thịnh vượng, đã ban ơn cho nhà cửa của những tín đồ của mình trongngày thiêng liêng này Dù bất kì truyền thuyết nào, đây cũng là ngày toàn Ấn Độ có thể vui chơi tự do.Các ngôi nhà, cửa hàng và những tòa cao ốc được lau chùi sạch sẽ và trang hoàng rực rỡ với đèn và nến Một vài ngày trước lễ hội, mọi người bắt đầu làm kẹo, mua quần áo và trang sức mới Pháo bông thu hút trẻ em và nhiều người lớn nhất Các tín đồ đi thăm các đền thờ, những người trẻ thì nhận được lời chúc tốt lành từ người lớn tuổi hơn Lễ hội này diễn ra vào khoảng giữa tháng 10 hoặc tháng 11 trong năm Sự kiện chính được tổ chức vào ngày thứ ba của lễ hội Những chiếc đèn bằng đất sét Diyas được thắp sáng thể hiện sự chiến thắng của chính nghĩa Ánh sáng rực rỡ của nó lan rộng mang đến cho lễ hội một tên gọi khác – “lễ hội của những chiếc đèn” Ngày thứ 4 là ngày của năm mới và cũng được coi là ngày đẹp nhất để bắt đầu những công việc mới.

2.3.2 Lễ hội màu sắc – Holi festival

Theo truyền thuyết, những đống lửa được thắp sáng để tưởng nhớ đến cuộc trốn thoát kỳ diệu của Prahlad khi bị Holika, em gái của Hiranyakashipu, một con quỷ cái ném ông ta vào lửa Là một tín đồ trung thành của Vishnu, với sự tôn thờ tận tâm và tinh thần mạnh mẽ, những ngọn lửa của Holika đã không thiêu cháy

Trang 25

được Prahlad Do đó, ông đã trốn thoát mà không có bất kỳ sự tổn thương nào Những đống lửa lớn được đốt cháy trong đêm trước ngày lễ Holi như đánh dấu việc tiêu diệt cái ác Những ngày này người ta đi thăm bạn bè, họ hàng và ăn rất nhiều bánh kẹo.

2.3.3 Lễ hội Ganesha

Lễ hội Ganesha là lễ hội ở Ấn Độ được diễn ra từ giữa tháng 8 đến giữa tháng 9 hàng năm Đây là một trong những lễ hội quan trọng nhất trong năm của người theo đạo Hindu ở Ấn Độ, kỷ niệm ngày sinh của của thần Ganesh đầu voi thân người Trong thần thoại Ấn Độ, Ganesha là con của thần Siva và nữ thần Parvati Theo tín đồ Ấn Độ giáo thì Ganesha là vị thần thông thái, luôn mang lại may mắn và hạnh phúc cho con người Vì vậy Ganesha được yêu mến nhất Ấn

Độ Theo Ấn giáo, đầu (voi) của thần Gagesha tượng trựng cho tự ngã (atman), thực tại tối hậu của con người; còn thân (người) của Thần tượng trưng cho maya, là sự hiện hữu của con người nơi cõi đời trần tục Đầu voi của Thần cũng tượng trưng cho trí tuệ, với vòi tượng trựng cho âm Om, biểu tượng âm thanh của thực tại vũ trụ Thần Ganesha cũng được xem là vị Thần có khả năng đoạn trừ những chướng ngại, là vị Thần của may mắn, tài sản và trí tuệ.Lễ hội Ganesha được chuẩn bị khá sớm Trước khi lễ hội bắt đầu, người ta cho dựng những lễ đài tại các con phố và tôn trí tượng thần Ganesha ở đó Người Ấn không coi trọng lắm hình thức, nên lễ đài cũng không có gì cầu kỳ hay “hoành tráng.” Không có cảnh cơ quan đoàn thể đến tặng hoa, chúc mừng và phát biểu này nọ Vào những ngày lễ, người Hindu thường lui tới các nơi thờ tượng thần Ganesha để dâng thức ăn và nước Thức ăn thường là những thứ bánh ngọt, nước thì thường là nước dừa Họ cũng cầu nguyện Thần giúp họ giải trừ những chướng ngại và rủi ro, và tất nhiên nhớ giúp họ đạt được may mắn và thịnh vượng trong đời sống Nhưng trước khi cầu nguyện thì phải đọc kinh, vì vậy những thánh tụng từ các Veda và Upanishad thường được tụng đọc vào dịp này Vào những ngày lễ, người ta cũng khuyên các tín đồ không nên nhìn trăng (trong khi có đông người đang ngắm trăng Trung thu), bởi làm như vậy là hành

xử không thích hợp với Thần, nếu không muốn nói là xúc phạm đến ngài Điều này hẳn nhiên là có nguyên nhân của nó Bên cạnh đó người ta cũng khuyên rằng không nên kết bạn với những người không có niềm tin vào Thần (ít nhất vào những ngày lễ) Âm nhạc và nhảy múa là những yếu tố không tách rời khỏi các lễ hội của Ấn; và cả hai đã được sử dụng tối đa trong dịp này Cách sử dụng

âm nhạc với tiếng trống mạnh được phóng đi trên những dàn loa công suất lớn, khiến người chưa quen mỗi khi đi ngang những nơi tổ chức lễ hội cảm giác như tim muốn rơi ra khỏi lồng ngực Nhìn những đám người nhảy múa, bột màu bôi đầy mình mẩy, mồ hôi nhễ nhại dưới trời nắng, mới thấy sự nhiệt tâm của họ với

Trang 26

lễ hội Tượng thần Ganesha được đặt ở các lễ đài mười ngày liền cho dân chúng

lễ bái Vào ngày thứ 11, tượng được đặt trên xe và đưa đi khắp các đường phố Người ta cũng chẳng cần đến xe hoa xe bông lộng lẫy Tượng được đặt trên những chiếc xe tải to kềnh, trang trí sơ sài với vài vòng hoa vạn thọ Sau khi được mang đi dạo qua nhiều nơi, tượng sẽ được nhúng xuống một dòng sông nào đó, tượng trưng cho sự chia tay giữa dân chúng với Thần Trong suốt những ngày lễ hội, các gia đình mang một tượng thần Ganesha nhỏ, cùng với một ít hoa

và nước, đến một ngôi đền hay nơi có lễ đài thờ tượng thần Ganesha Đến đó, sau khi thực hành một vài nghi thức tôn giáo và nhận lấy sự chú nguyện, họ mang tượng thần về nhà phụng thờ, cầu mong một năm an vui, thịnh vượng

2.3.4 Lễ hội Ugadi ở Hyderabad

Đây là lễ hội nhỏ của người dân ở Tarnaka, thuộc thủ phủ bang Andra Pradesh

Lễ hội độc đáo ở Ấn Độ này những người tham gia sẽ hóa trang thành những vị thần, vị đeo vòng hoa, vị cầm vũ khí và nhảy múa, mỗi điệu nhảy đều mang ý nghĩa xua đuổi cái xấu và đón những điều may mắn cho người dân Lễ hội được

tổ chức vào những ngày đầu tiên của tháng Chaitra (ngày 15 tháng 3) Mọi nhà được vệ sinh sạch sẽ, mặc quần áo mới và các thành viên thân thuộc của gia đình được mời tới dự một bữa cơm thịnh soạn Một ngày mới sẽ bắt đầu với nghi lễ tắm vòi sen (có dầu tắm) và sau đó là cầu nguyện, ăn uống với một món

ăn thập cẩm có các hương vị đặc trưng có tên là Neem Buds, bao gồm Hoa có vị cay đắng, Xoài xanh biểu trưng cho vị chua nhẹ, Me ép đặc trưng cho hương vị chua đậm, ớt xanh cho vị nóng, đường thốt lốt & chuối chín cho vị ngọt, một nhúm muối cho vị mặn Món ăn này mang thông điệp rằng cuộc sống là một hỗn hợp của những trải nghiệm khác nhau (nỗi buồn, hạnh phúc, giận dữ, sợ hãi, ghê

sợ, bất ngờ) và phải được kết hợp cùng với nhau một cách hài hoà

2.3.5 Hội chi lạc đà Pushkar

Trong khi tôn giáo và tâm linh là nền tảng của những lễ hội lớn ở Ấn thì̀ một vài lễ hội khác lại mang tính văn hóa như lễ hội lạc đà Pushkar (bang Rajasthan), nơi có đến 50,000 con lạc đà được đưa đến Lễ hội này bắt nguồn từ hội chợ kinh doanh bởi những thương nhân địa phương buôn bán lạc đà và gia súc thường quy tụ tại đây trong suốt ngày lễ Kartik Purnima Ngày nay, hội chợ lạc đà là điểm cuốn hút khách du lịch chính và có nhiều hoạt động thú vị hơn ngày lễ Kartik Purnima Trong 5 ngày, lạc đà được trang điểm để tham gia vào cuộc thi “sắc đẹp”, chạy đua và mua bán Các nhà ảo thuật, ca sĩ, vũ công, diễn viên nhào lộn và nhà thôi miên rắn cũng đến góp vui Lễ hội này bắt nguồn từ những thương nhân địa phương buôn bán lạc đà Hội chợ lạc đà Pushkar kéo dài 5 ngày trong tháng 11 Nhưng các hoạt động lễ hội thường bắt đầu từ mấy ngày trước

Trang 27

đó nên bạn hãy bớt chút thời gian đến đây sớm để được thưởng thức tất cả̉ điều thú vi nơi đây.

2.3.6 Lễ hội gió mùa

Lễ hội Gió mùa là một trong những lễ hội quan trọng nhất của người Ấn Độ (đặc biệt ở vùng Rajasthan), bao gồm hai lễ hội chính là lễ hội Teej và lễ hội đánh đu Lễ hội Teej được tiến hành vào ngày thứ 3 của tuần trăng sáng trong tháng lễ hội Shravan (tháng 7-8) Đây là một trong những lễ hội quan trọng và hứa hẹn nhiều điều tốt đẹp nhất trong năm của vùng Rajasthan, Bihar và nhiều phần của Uttar Pradesh thuộc Ấn Độ Lễ hội Teej chủ yếu dành cho những người con gái trong gia đình và họ cũng chính là người thực hiện các nghi thức chính trong lễ hội Teej phản ánh sự huyền diệu của ngọn gió mùa vùng Nam châu Á, nhất là ở Ấn Độ Dương, thổi từ hướng Tây Nam từ tháng 4 đến 10 và từ hướng Đông Bắc từ tháng 10 đến 4 Nó báo hiệu thời gian bắt đầu của hàng loạt các lễ hội và chợ phiên sẽ diễn ra trong suốt những tháng mùa thu và mùa đông đến cao điểm là lễ hội mùa xuân Gangaur Theo lễ nghi, những thiếu nữ trẻ, những cô dâu mới cưới và những phụ nữ lớn tuổi trang điểm rất cầu kỳ bằng nhiều loại trang sức sặc sỡ, mặc những trang phục truyền thống nhiều màu sắc lộng lẫy tham dự lễ hội Teej Những phụ nữ đã có gia đình tự nguyện trải qua một ngày ăn chay để cầu tuổi thọ cho các ông chồng Lễ cầu kinh Pooja (tiếng địa phương mang ý nghĩa biểu hiện tôn giáo) được cử hành vào buổi sáng với mâm vật bao gồm 4 kachoris (loại bánh làm từ một thứ củ như khoai lang), 4 puris (kiểu bánh mì của người Ấn), hai thứ trái cây cùng một số kẹo mứt được đặt phía trước nữ thần Mâm vật này sau đó được dâng tặng cho mẹ chồng của người phụ nữ thực hiện nghi lễ puja Tiếp đó, cô sẽ mang chiếc rổ có đựng quần

áo mới, đồ trang sức và kẹo mứt do mẹ ruột tặng đến đặt bên cạnh nơi biểu diễn nghi thức pooja Cô cũng đến xin được ban phúc lành từ những người già cả trong nhà Rồi nghi thức dâng trái cây và thức ăn ngọt cho nữ thần được tiến hành.Vài ngày trước khi lễ hội bắt đầu, người ta sơn lại tượng nữ thần Parvati Đến hôm diễn ra lễ Teej, tượng thần được trang hoàng bằng đồ trang sức truyền thống và quần áo mới Ngày nay, tượng nữ thần Parvati do những người phụ nữ trong các gia đình hoàng tộc ở Rajasthan thờ phượng được rước bởi một đoàn diễu hành với đầy đủ nghi thức của một buổi lễ long trọng.Tiến trình nghi lễ được bắt đầu ngay thời điểm thuận lợi do một thầy tế quyết định, lễ rước bao gồm nhiều con voi được trang trí bằng những tấm thảm đầy màu sắc đắp trên lưng cùng với xe bò và xe ngựa được một con voi lớn có gắn cờ dẫn đầu ra khỏi cổng chính Thời điểm được nhiều người nóng lòng chờ đợi nhất là khi Teej Mata (nữ thần) xuất hiện ngồi trên một chiếc kiệu truyền thống Đám đông hàng ngàn người bắt đầu cố nhô lên cao hơn để có thể nhìn thấy nữ thần với hy vọng

Ngày đăng: 05/01/2016, 16:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành các truyền thống tu viện lâu dài. Về mặt chính trị, vào thế kỷ 3 TCN,  Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) sáp nhập hoặc chinh phục các quốc gia  khác để rồi nổi lên thành Đế quốc Maurya (Khổng Tước) - Nét văn hóa của đất nước ấn độ
Hình th ành các truyền thống tu viện lâu dài. Về mặt chính trị, vào thế kỷ 3 TCN, Vương quốc Magadha (Ma Kiệt Đà) sáp nhập hoặc chinh phục các quốc gia khác để rồi nổi lên thành Đế quốc Maurya (Khổng Tước) (Trang 8)
Bảng chữ viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit) - Nét văn hóa của đất nước ấn độ
Bảng ch ữ viết bằng tiếng Phạn (Sanskrit) (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w