Trong việc chẩn đoán Y học cổ truyền, việc phán đoán suy luận cần phải dựa vào những học thuyết cơ bản như: học thuyết Âm dương, Ngũ hành, Kinh lạc, Dinh vệ khí huyết, đồng thời còn xuất
Trang 1PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN Y HỌC CỔ TRUYỀN
A- ĐẠI CƯƠNG:
Chẩn đoán là dò xét và phán đoán bệnh tật nhằm đưa ra được cách chữa thích ứng với bệnh tật ấy
Trong việc chẩn đoán Y học cổ truyền, việc phán đoán suy luận cần phải dựa vào những học thuyết cơ bản như: học thuyết Âm dương, Ngũ hành, Kinh lạc, Dinh vệ khí huyết, đồng thời còn xuất phát từ quan niệm chỉnh thể (tất cả những chứng trạng sinh ra đều được xem xét trong mối tương quan với mọi yếu tố như: yếu tố khí hậu, thời tiết, phong thổ địa phương nơi bệnh tật xuất hiện, hoàn cảnh sinh hoạt, thể chất người bệnh trước đó …), mới có thể phân tích một cách có
hệ thống và phán đoán đúng đắn về bệnh
Phương pháp chẩn đoán Y học cổ truyền trước tiên được dựa vào 4 kỹ thuật khám bệnh y học cổ truyền, được gọi là Tứ chẩn gồm: Vọng, Văn, Vấn, Thiết Những kỹ thuật khám bệnh này phải được phối hợp, liên hệ chặt chẽ với nhau trong suốt quá trình thực hiện
B- TỨ CHẨN:
1- Vọng chẩn:
Là dùng phương pháp nhìn mà phát hiện chứng trạng, nhận định sự biến hóa của bệnh tình Phương pháp này trước tiên là xem xét “Thần”, “Sắc”, “Hình”,
“Thái” của người bệnh, sau đó là quan sát, xem xét chi tiết hơn ở những bộ phận
cụ thể hơn như đầu, ngực, bụng, rêu lưỡi, tay chân …
a- Vọng Thần, Sắc, Hình, Thái:
“Thần” là biểu hiện của hoạt động tinh thần, có ý thức
Việc khảo sát sự biến hóa của thần giúp nhận biết:
- Tình trạng hư vượng của cơ thể
- Tình trạng bệnh nặng hay nhẹ
- Tiên lượng được bệnh tốt hay xấu
Theo Y học cổ truyền, chứng trạng bệnh tuy trầm trọng nhưng thần khí còn tốt
thì tiên lượng còn tốt Sách Linh khu, chương Thiên niên có đoạn “Mất thần thì
chết, còn thần thì sống”
“Sắc” là biểu hiện ra bên ngoài của ngũ tạng, khí huyết, đồng thời cũng là biểu hiện của tật bệnh biến hóa, xem sắc thật sự bao gồm cả sắc và trạch
Căn cứ vào sắc trạch khác nhau, có thể định được sự thịnh suy của khí huyết và
sự phát triển của bệnh tật
Sắc là nói về màu như màu xanh, vàng, đỏ, đen … Để chẩn đoán, khi xem xét
về màu sắc, người thầy thuốc phải:
Trang 2- Dựa vào màu sắc khác nhau của những triệu chứng để xét đoán nguyên nhân
bệnh Thiên Ngũ sắc, Linh khu nêu: “Sắc đen, sắc xanh là đau; sắc vàng, sắc đỏ
là nhiệt; sắc trắng là hàn”
- Liên hệ với “mối quan hệ của ngũ sắc với 5 tạng và 4 mùa, mối quan hệ về tương sinh và tương khắc của chúng”, Kim quỹ yếu lược có nêu: “Can vượng sắc xanh … Can sắc xanh mà lại sắc trắng là sắc mạch trái mùa, đều là có bệnh”
…
“Trạch” là nói về vẻ tươi nhuận, khô ráo, sáng sủa hay mờ tối Ví dụ như bệnh Hoàng đản có phân biệt ra dương hoàng, âm hoàng Dương hoàng là vàng
mà sắc tươi, âm hoàng là vàng mà sắc tối
“Hình” là trạng thái hoạt động của người bệnh Khi xem xét “Hình” thường kết hợp với xem xét cả “Thái” Cả 2 nội dung này có liên quan mật thiết với nhau và giúp rất nhiều cho người thầy thuốc
b- Vọng từng bộ phận:
+ Vùng mặt, mắt:
Khi quan sát ở vùng mặt, mắt: thường người thầy thuốc kết hợp giữa màu sắc quan sát được và vùng cơ thể nơi sắc ấy xuất hiện chủ yếu:
Vùng cơ thể: Hai gò má → Phế
Đầu mũi → Tỳ Màu sắc: tuân thủ theo những quy định về quan sát màu sắc như trên đã nêu
Ví dụ: Người bệnh ở Phế thường 2 gò má xanh nhợt, nếu thấy xuất hiện 2 gò
má hồng đỏ vào quá trưa thì đó là “Thủy suy hỏa vượng”, “Hỏa hình Phế kim”
Vùng mắt: Tròng đen → Tâm
Tròng trắng → Phế Con ngươi → Thận
Mạch máu ở mắt → Can + Mũi:
- Lỗ mũi khô ráo, đen như than khói là chứng Dương độc, nhiệt thâm
- Lỗ mũi lạnh trơn mà đen là chứng âm cực thịnh
- Mũi nghẹt, chảy nước đục là ngoại cảm phong nhiệt, chảy nước trong là ngoại cảm phong hàn
- Đầu mũi sắc hơi đen là trong ngực có đờm ẩm, sắc trắng là khí hư hoặc mất huyết
Trang 3- Cánh mũi phập phồng, nếu bệnh mới mắc thì thuộc về Thực nhiệt, phong hỏa làm bế tắc Phế khí; nếu bệnh đã lâu, thường là Suyễn hư
+ Miệng (môi, răng, lưỡi):
Môi:
- Môi đỏ hồng, sưng mà khô là cực nhiệt
- Môi xanh đen mà nhuận là cực hàn
- Môi dộp, khô là tích nhiệt
- Môi xanh tím là ứ huyết
- Môi trắng nhợt là huyết hư, đỏ tươi là âm hư hỏa vượng
- Môi miệng méo lệch là trúng phong …
Răng:
- Răng khô ráo là âm dịch hư tổn
- Răng sáng mà khô như hòn đá là Vị nhiệt cực độ
- Sắc răng như xương khô là Thận âm sắp cạn
- Răng khô có cáu là Thận hư Vị nhiệt, răng khô không cáu là tân dịch ở Thận và
Vị khô cạn
- Cáu răng dày vàng là thấp nhiệt xông bốc lên
- Răng cắn chặt, nghiến răng là nhiệt cực sinh phong …
Lưỡi:
Xem xét về lưỡi gồm 2 bộ phận: Chất lưỡi và rêu lưỡi
Bình thường, lưỡi đỏ nhuận, hơi đầy, khô ướt vừa phải, không ráo không trơn, giữa lưỡi có một lớp rêu lưỡi mỏng, trắng (có thể vàng) hoặc không có rêu
Chất lưỡi:
Xem chất lưỡi có thể biết được hư thực của ngũ tạng và gồm:
- Khảo sát về hình thái của lưỡi như mềm mại hay cứng rắn
- Lưỡi sưng to, dày hay mỏng
- Lưỡi thè ra ngoài hay co rút, thụt vào bên trong
- Cử động lưỡi
- Màu sắc lưỡi tươi sáng hay khô tối …
Rêu lưỡi:
Xem rêu lưỡi có thể biết được tình trạng bệnh tật, chẩn đoán được sự nông sâu
của Lục dâm “Rêu lưỡi là do ở Vị khí xông bốc lên, ngũ tạng đều bẩm khí ở Vị,
Trang 4cho nên có thể lấy đó để xét hàn nhiệt, hư thực của Ngũ tạng” (Hình sắc ngoại
chẩn giáng ma)
Những nội dung cần chú ý khi xem rêu lưỡi:
- Vị trí phân phối của rêu lưỡi:
Có thể xét theo Ngũ tạng:
Đầu lưỡi thuộc Tâm
Cuống lưỡi thuộc Thận
Giữa lưỡi thuộc Tỳ Vị
Hai bên lưỡi thuộc Can Đởm
Hoặc xét theo Tam tiêu:
Rêu ở đầu lưỡi thuộc Thượng tiêu
Rêu ở giữa lưỡi thuộc Trung tiêu
Rêu ở gốc lưỡi thuộc Hạ tiêu
- Rêu lưỡi nhuận hay táo (khô)
- Rêu lưỡi có gốc hay không có gốc (tức là có bám chặt lên trên lưỡi hay không)
- Sự thay đổi về màu sắc của rêu lưỡi theo thời gian diễn tiến của bệnh: rêu mỏng biến thành dày, rêu sống biến ra rêu chết như trắng → xám tro → đen Đây là hiện tượng nghịch → bệnh diễn biến xấu
Cần chú ý những yếu tố bên ngoài làm sai lệch việc nhận định các triệu chứng:
- Ánh sáng sử dụng: khi xem xét rêu lưỡi tốt nhất là ánh sáng tự nhiên, vì nếu soi đèn thường dễ nhìn rêu vàng thành rêu trắng
- Tình trạng ăn uống: Sách Mạch lý chính nghĩa có nêu: “Hễ thấy rêu lưỡi đen
cần hỏi xem có ăn thức ăn chua, ngọt, mặn gì không Nếu mới ăn thì có thể nhuốm thành sắc đen chứ không phải vì bệnh mà sinh ra” Thông thường rêu
loại này nhuận mà không ráo và cạo đi là sạch ngay
- Tình trạng lưỡi có vết thương không? Nếu thấy lưỡi có vết thương dính máu thì cần hỏi xem người bệnh có bị vật gì bên ngoài làm tổn thương không, trước khi nghĩ đến chứng âm huyết khô hoặc chứng nhiệt dữ hại Tâm bào
Một số triệu chứng ở lưỡi:
• Lưỡi mềm mại chứng tỏ khí dịch đầy đủ
• Lưỡi cứng rắn là mạch lạc thất dưỡng hoặc vì phong đàm tắc trở kinh lạc
• Lưỡi sưng to “thiệt trướng” là vì đờm hoặc vì thấp tà kết lại ở trên
Trang 5• Lưỡi mỏng, gầy “thiệt khô” là Tâm hư hoặc huyết thiếu, hoặc vì nóng ở trong
• Lưỡi rụt là bệnh vào kinh Quyết âm, thường là nặng
• Lưỡi sưng đầy miệng, không chuyển động được là “Mộc thiệt”, dưới đáy lưỡi lại mọc thêm ra một cái nữa, nói năng không rõ, ăn uống không được “Trùng thiệt” Cả 2 đều do Tâm hỏa thịnh bốc lên trên mà thành
• Lưỡi thè ra ngoài có thể vì khí hư hoặc vì nhiệt bên trong
• Lưỡi di động luôn là do phong ở Can
• Lưỡi hồng nhợt, không có sắc là khí huyết hư
• Lưỡi khô mà sắc kém là tân dịch và khí ở trong Vị cạn suy
• Lưỡi hồng tươi ở bệnh thực tà là nhiệt hóa, ở bệnh hư là âm hư hỏa vượng
• Lưỡi hồng mà ra máu là nhiệt tà nhập sâu đến Tâm bào, nếu hồng mà thấy
có điểm tía là bệnh sắp phát ban, nếu hồng nhợt mà thấy có điểm đỏ xẫm là sắp phát vàng da
• Nhiệt tà truyền vào phần dinh thì sắc lưỡi đỏ xẫm
• Nếu sắc đỏ xẫm mà giữa lưỡi lại khô là hỏa ở Tâm, ở Vị Lưỡi đỏ xẫm mà
có điểm đỏ chói là nhiệt độc phạm vào Tâm Lưỡi đỏ xẫm mà sáng bóng là
Vị âm đã cạn Lưỡi đỏ xẫm, không tươi mà khô héo là Thận âm đã cạn khô
• Rêu lưỡi trắng phần nhiều ở chứng biểu, mỏng trắng mà trơn là ngoại cảm phong hàn, trắng trơn nhờn dính là đờm thấp
• Rêu trắng mà cuống lưỡi đỏ xẫm là thấp nhiệt ở trong
• Rêu trắng mà rìa đỏ là phong ôn ở Phế
• Rêu trắng dày mà không trơn, không có tân dịch mà ráo là do thực nhiệt
• Lưỡi trắng mềm trơn, cạo đi thì sạch, thuộc chứng lý hư hàn
• Rêu trắng như trát phấn là chứng ôn dịch uế trọc nặng
• Rêu vàng nói chung thuộc về chứng nhiệt
Rêu vàng xẫm mà trơn nhờn là do thấp nhiệt ở trong Rêu vàng mà khô là hỏa bốc ở trong Rêu vàng khô mà sinh ra gai đen hoặc giữa có vết nứt là nhiệt kết nặng, khí huyết đều hao
+ Tay chân:
Việc xem xét ở tay chân bao gồm:
- Tình trạng chung như độ phát triển của cơ, tình trạng vận động của chi
Tay chân co quắp, co duỗi khó khăn phần nhiều là do hàn trệ ở kinh lạc
Trang 6Tay chân co rút, giật là nhiệt vào sâu mà sinh ra bệnh kinh
Tay chân nhão, mềm yếu mà không đau là chứng nuy
- Móng tay, móng chân:
Cần khảo sát màu sắc của móng, trạch của móng, đồng thời cũng phải dùng ngón tay ấn vào móng của người bệnh và sau đó bỏ tay ra để quan sát sự thay đổi
Móng tay, móng chân đỏ tươi (kèm hình thể gầy) là do âm hư Móng trắng, sắc không nhuận là huyết hư Móng tay, chân xanh đen là chứng trạng nặng
- Chỉ tay của trẻ (thường áp dụng với trẻ dưới 3 tuổi):
Chỉ tay của trẻ nằm ở phía trong ngón trỏ của 2 tay Từ hổ khẩu trở ra, chia ngón tay ra làm 3 phần (tam quan):
• Đốt thứ 1 gọi là Phong quan
• Đốt thứ 2 gọi là Khí quan
• Đốt thứ 3 gọi là Mệnh quan
Khi khám, nên bế trẻ ra ngoài chỗ sáng, thầy thuốc lấy tay trái nắm ngón tay trỏ của trẻ, dùng ngón tay cái bàn tay phải nhúng vào nước lạnh rồi miết từ mệnh quan xuống khí quan và phong quan Chỉ tay càng xát càng hiện rõ, người thầy thuốc theo đó mà quan sát và xem xét bệnh tình
Những điểm cần quan sát khi xem chỉ tay trẻ em:
• Vị trí xuất hiện của chỉ tay: chỉ tay hiện ra ở phong quan là nhẹ, hiện ra ở khí quan là nặng và ở mệnh quan là bệnh khó chữa
• Hình dạng của chỉ tay: chỉ tay thẳng thì nhiệt, cong là hàn, chỉ tay xuất hiện nhiều tương đương như mạch sác, chỉ tay xuất hiện ít tương đương như mạch trì
• Màu sắc của chỉ tay: sắc tía là nhiệt, đỏ là thương hàn, vàng là thương Tỳ, xanh là kinh phong, trắng lá cam tích
+ Da:
Những nội dung khi quan sát da gồm:
- Màu sắc và trạch của da
- Những dấu hiệu bất thường mới xuất hiện ngoài mặt da như ban chẩn, nốt ngoài da … mà riêng việc khảo sát chúng cũng giúp rất nhiều cho người thầy thuốc trong việc chẩn đoán bệnh tật (nhất là ở trẻ em)
Ngoài ra trong phần Vọng chẩn còn chú ý đến những dấu hiệu quan sát được ở những chất bài tiết, chất thải như chất nôn, nước tiểu, phân (sẽ được đề cập trong phần Văn chẩn)
Trang 72- Văn chẩn:
Phương pháp khám này bao gồm 2 phương diện:
* Nghe âm thanh (thính giác)
* Ngửi mùi vị (khứu giác)
a- Nghe âm thanh:
Việc khám bao gồm: xem xét tiếng nói, hơi thở và những dấu hiệu bất thường mới xuất hiện như tiếng ho, tiếng khò khè, tiếng ợ nấc …
- Tiếng nói bao gồm những nội dung sau:
* Sự thay đổi âm thanh ở lời nói của người bệnh: nói thấp nhỏ, phần nhiều là nội thương hư chứng; nói sang sảng, phần nhiều là chứng thực
* Sự thay đổi về thói quen nói: nói nhiều hoặc nói mê phần nhiều là nhiệt chứng, nói ít, nói thì thào phần nhiều là hàn chứng, hư chứng
- Hơi thở: Cần xem xét có dấu ngắn hơi, đoản khí (bệnh nội thương, hư yếu)
- Những dấu hiệu bất thường như tiếng ho, tiếng khò khè, tiếng ợ nấc …
* Tiếng ho: Ho có tiếng mà không có đờm là khái, ho có đờm không có tiếng là thấu, ho có tiếng có đờm là khái thấu Khi xem xét những vấn đề này, cần chú ý những điểm sau:
Ho rầm rộ, ồn ào (thực chứng)
Tiếng ho không rõ rệt (hư chứng)
Đờm khạc ra dễ hay khó
Màu sắc của đờm: đờm khó khạc, vàng dính hoặc có lẫn máu, phần nhiều
là nhiệt chứng; đờm trắng trong, dễ khạc là hàn chứng
* Tiếng ợ, tiếng nấc:
Cần chú ý đánh giá cường độ của tiếng ợ, tiếng nấc: tiếng to, vang phần nhiều thuộc thực chứng và ngược lại
Thời gian đứt quãng hay liên tục: nấc liên tục phần nhiều thuộc thực chứng
và ngược lại
b- Ngửi mùi vị:
Mùi vị từ hơi thở của người bệnh cũng như từ những chất thải, khi kết hợp lại với những kiêm chứng khác có giá trị rất lớn trong việc chẩn đoán bệnh Nói chung, mùi thối khắm phần lớn thuộc về nhiệt, mùi tanh phần lớn thuộc về hàn
Ví dụ như đại tiện có hơi chua thối, phần nhiều tích nhiệt trong ruột, đại tiện tanh hôi mà đi lỏng phần nhiều là chứng hàn ở trong ruột Tiểu tiện khai nồng mà đục phần nhiều là thấp nhiệt ở Bàng quang
Trang 83- Vấn chẩn:
Vấn chẩn là người thầy thuốc nói chuyện với người bệnh hoặc thân nhân của người bệnh về mọi vấn đề có liên quan đến người bệnh như tinh thần, sinh hoạt,
ăn uống và tình hình bệnh tật có liên quan nhằm khai thác được tối đa những dữ kiện cần thiết cho việc nhận định bệnh
Vấn chẩn về cơ bản không có gì khác với phương pháp hỏi bệnh theo Y học hiện đại Những điểm gợi ý về thứ tự cho việc hỏi bệnh:
a- Phần hành chính:
- Tên, tuổi, phái
- Quê quán (bao gồm những địa phương khác mà người bệnh cư trú lâu ngày) Yếu tố thiên thời, địa lý, phong tục, tập quán khác nhau đều có quan hệ mật thiết với tật bệnh
- Tình hình sinh hoạt, tập quán, nghề nghiệp và sức khỏe thường ngày Sinh hoạt và ăn uống thường ngày có ảnh hưởng đến trung tiêu, mà khí ở trung tiêu mạnh hay yếu có thể ảnh hướng đến sự truyền biến của bệnh tật
Ngoài ra, nếu có sở thích về loại thức ăn gì thì có thể giúp đoán biết được chứng hậu thiên về tạng phủ nào bị ảnh hưởng như ăn nhiều chất béo ngọt dễ sinh đờm
Thể chất vốn khỏe mạnh từ trước thì sức đề kháng cũng mạnh
Những điều nói trên rất có quan hệ với dự đoán bệnh tình, cần chú ý đến
- Hoàn cảnh tinh thần: Điều này có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát sinh, phát triển
và dự đoán về sau của một số tật bệnh Y học nhập môn: “Nên hỏi hoàn cảnh
của người bệnh có thuận hòa hay không, hoàn cảnh thuận hòa thì tính tình hòa
mà khí huyết cũng dễ điều hòa, hoàn cảnh ngang trái thì khí huyết bị uất ức”
b- Bệnh sử:
Cần chú ý phần này là phần khai thác về lịch sử bệnh và diễn tiến của bệnh Phần này cần được thực hiện như sau:
- Trước tiên là khai thác những dấu chứng cơ năng mà bệnh nhân than phiền (còn được gọi là triệu chứng đến khám) Đưa từng dấu chứng ấy vào khai thác những tính chất sau:
* Khởi phát: Khởi phát từ khi nào ? Yếu tố gây khởi phát ? (có hay không, và là yếu tố gì ?)
* Vị trí xuất hiện của từng triệu chứng: Nơi nào trên cơ thể ? (vị trí càng khu trú, càng cụ thể càng tốt), có lan đi đâu không ? (mô tả cụ thể vùng lan)
* Tính chất của triệu chứng ấy: dữ dội, ồn ào hay kín đáo, nhẹ nhàng? …
Trang 9* Những yếu tố làm triệu chứng ấy tăng lên, giảm xuống ? Yếu tố thời gian trong ngày ? Yếu tố trị liệu ? Yếu tố sinh hoạt ? Yếu tố ăn uống ? …
* Những triệu chứng kèm theo: Những triệu chứng kèm theo này khi cần thiết lại phải được tiến hành khảo sát tuần tự như trên
- Tình hình hiện tại
- Trong phần bệnh sử y học cổ truyền, cần chú ý hỏi thêm những nội dung sau: cảm giác nóng lạnh và tình trạng đại tiểu tiện của người bệnh
c- Hoàn cảnh bệnh tật trước đó (tiền căn):
- Của người bệnh: Đặc biệt đối với trẻ em, cần chú ý hỏi cha mẹ về tình trạng của trẻ khi sinh, bệnh tật lúc nhỏ, tình trạng chủng ngừa Đối với phụ nữ, cần khai thác thêm những vấn đề có liên quan đến kinh nguyệt, đới hạ, thai nghén, sản hậu
- Của gia đình người bệnh
4- Thiết chẩn:
Thiết chẩn tức là người thầy thuốc dùng tay ấn vào hoặc sờ gõ vào những chỗ nhất định trên cơ thể người bệnh để chẩn đoán bệnh
Phương pháp thiết chẩn bao gồm: mạch chẩn, xúc chẩn
a- Mạch chẩn:
Để chẩn mạch, người thầy thuốc trước tiên cần nắm rõ về những bộ vị chẩn mạch và tạng phủ được quy định tương ứng với những bộ vị ấy
- Bộ vị chẩn mạch và tạng phủ tương ứng:
Thốn P: Phế - Đại trường Thốn T: Tâm - Tiểu trường Quan P: Tỳ - Vị
Quan T: Can - Đởm Xích P: Mệnh môn - Bàng quang Xích T: Thận âm - Bàng quang
Để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, sách Trung y học khái luận
có trình bày những bộ vị chẩn mạch của Tố Vấn và Nạn kinh cũng như sắp xếp tạng phủ tương ứng với những bộ vị qua nhiều tác giả khác nhau
Xin nêu ra một số sau đây để tham khảo:
Trang 10* Bộ vị chẩn mạch theo Tố Vấn: Trong thiên Tam bộ cửu hậu luận, sách Tố Vấn
thì bộ vị chẩn mạch được chia khắp cơ thể, như sau:
Thiên (hai bên trán: huyệt Thái dương)
Thượng bộ Địa (hai bên má : huyệt Cự liêu)
Nhân (trước 2 tai : từ huyệt Hòa liêu đến Nhĩ môn)
Thiên → 2 mạch Thủ thái âm (bộ thốn khẩu)
Trung bộ Địa → 2 mạch Thủ dương minh (Hợp cốc)
Nhân → 2 mạch Thủ thiếu âm (Thần môn)
Thiên (huyệt Ngũ lý, đàn bà lấy huyệt Thái xung)
Hạ bộ Địa (huyệt Thái khê)
Nhân (huyệt Cơ môn (xem Vị khí lấy huyệt Xung dương) Tam bộ cửu hậu của sách Tố Vấn là khảo sát huyết quản ở tầng lớp nông của toàn thân để phân tích sự biến hóa về khí huyết thịnh suy trong cơ thể
Hiện nay, trên lâm sàng cũng ít sử dụng, nhưng trong trường hợp bệnh tật nguy hiểm thì thường xem mạch ở 3 bộ Thái xung, Thái khê và Xung dương
* Bộ vị chẩn mạch theo Nạn kinh: Là đem mạch thốn khẩu ở cánh tay trước chia
thành 3 bộ: thốn, quan, xích Mỗi bộ lại chia làm 3 hậu: phù, trung, trầm, đem hợp lại cũng là 3 bộ 9 hậu
Cơ sở lý luận của Nạn kinh khi sử dụng một bộ thốn khẩu là “Thốn khẩu là chỗ
đại hội của mạch, là động mạch của Thủ thái âm … là thủy chung của ngũ tạng, lục phủ, cho nên phương pháp là lấy ở thốn khẩu”
* Bảng phân phối Tạng phủ qua các tài liệu:
Tiểu trường
Tâm Tiểu trường
Tâm Tiểu trường
Tâm Chiên trung Quan Can Đởm Can Đởm Can Đởm Can Đởm Tay T
Xích Thận
Bàng quang
Thận Bàng quang
Thận Bàng quang
Thận Tiểu trường
Đại trường
Phế Đại trường
Phế Đại trường
Phế Hung trung
Tay P
Xích Mệnh môm
Bàng quang
Mệnh môn Tam tiêu
Tam tiêu Tâm bào lạc
Thận Đại trường