1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp dạy học tiếng việt

108 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 909,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC TIÊU CỦA MÔN TIẾNG VIỆT - Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt nghe, nói, đọc, viết để từng bước làm chủ phương tiện tiếp nhận kiến thức cơ bản và giao

Trang 1

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT Phần LÍ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

(TÀI LIỆU TƯƠNG TÁC CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM TIỂU HỌC)

Năm: 2010

Trang 2

ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT: Người học phải đọc kỹ tài liệu và chuẩn bị các câu

hỏi, các nội dung yêu cầu giải quyết trước khi tham gia tương tác Nội dung trình

bày có thể còn nhiều hạn chế Tập tài liệu này là cơ sở ban đầu để cùng bàn luận

Người tương tác có thể tham khảo thêm một số tài liệu khác

§1 CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

I MỤC TIÊU CỦA HÀNH ĐỘNG HỌC

1, Thế kỉ 21 việc học được xác định bởi 4 mục đích:

- Học để biết: học để thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người

- Học để lao động: học để có được kĩ năng lao động

- Học để làm người: học để trở nên văn minh hơn

- Học để sống với nhau: học để có kiến thức, kĩ năng nhằm hòa nhập với cộng đồng

(trong một thế giới mà con người ngày càng phụ thuộc vào nhau)

2, Học là một việc làm phải tiến hành suốt đời:

- Do bùng nổ thông tin Đặc trưng thời đại quy định yêu cầu của con người đối với hoạt

động học tập Thời đại ngày xưa tăng trưởng chậm, thời đại ngày nay kiến thức và thông

tin tăng theo cấp số nhân nên mỗi người cần học tập không ngừng và học một cách có

lựa chọn (phải sàng lọc thông tin để tiếp nhận)

- Do nhu cầu tự khẳng định mình của mỗi cá nhân Mỗi cá nhân đều có nhu cầu thể hiện

vai trò, vị trí của mình ngày càng cao trong một xã hội phát triển và ngày càng văn minh

hơn

3, Quan niệm dạy học hiện đại là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo

Từ đây người ta xây dựng lý thuyết về phát huy tính tích cực của học sinh trong quá

trình tiếp nhận, chiếm lĩnh tri thức Như vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của dạy học là

dạy tự học Ở trên lớp người học chỉ được học các nguyên lý chung, kiến thức sẽ có

được từ việc tiếp nhận trong thực tế đời sống (lĩnh vực mà mình hoạt động)

II MỤC TIÊU CỦA MÔN TIẾNG VIỆT

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc,

viết) để từng bước làm chủ phương tiện tiếp nhận kiến thức cơ bản và giao tiếp thuận lợi

trong môi trường hoạt động của lứa tuổi Từ đó rèn luyện và phát triển các thao thác tư

duy và năng lực tư duy đủ sức làm chủ ngôn ngữ mẹ đẻ, nền văn hóa Việt Nam và đi

vào các nền văn hóa có trình độ phát triển cao khác thông qua ngôn ngữ

- Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản ban đầu về tiếng Việt và những

kiến thức về tự nhiên, về văn hóa xã hội được hàm chứa trong các đơn vị cấp độ ngôn

ngữ (từ, câu, văn bản)

- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thói quen sử dụng tiếng Việt một cách

có văn hóa và tiến dần tới tính chuẩn mực, làm cho ngôn ngữ mẹ đẻ ngày càng phát

triển theo hướng phong phú đa dạng

III YÊU CẦU VỀ KĨ NĂNG VÀ KIẾN THỨC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT

Trang 3

Chương trình tiếng Việt tiểu học phải đạt được các mục tiêu về kĩ năng và kiến thức

ngôn ngữ sau:

1 Yêu cầu về kĩ năng

a, Kĩ năng đọc

- Đọc đúng, trôi chảy tiến tới đọc diễn cảm một đoạn văn cho đến một bài văn ngắn

- Hiểu được ý cơ bản của đoạn hoặc của bài

- Thuộc lòng một số bài thơ và đoạn văn ngắn trong chương trình sgk

b, Kĩ năng viết

- Biết viết chữ thường cỡ nhỏ, chữ hoa cỡ nhỏ và cỡ vừa; từ viết riêng lẻ đến viết

liền mạch

- Viết đúng chính tả các từ ngữ mang các phụ âm đầu, phần vần, thanh điệu hay

diễn ra hiện tượng lệch chuẩn

- Viết các đoạn văn theo các phong cách chức năng nhất định

c, Kĩ năng nghe

- Nghe hiểu và trả lời các câu hỏi của giáo viên; biết cách đặt câu hỏi cho vấn đề

chưa hiểu với điệu bộ, cử chỉ lịch sự, văn minh phù hợp với văn hóa giao tiếp hiện đại

của người Việt

- Nghe hiểu những đoạn văn, văn bản có độ dài thích hợp

- Nghe kết hợp nhìn và thuật lại, kể lại được nội dung cơ bản của một tình tiết, một

câu chuyện

d, Kĩ năng nói

- Thực hiện được các hành vi ngôn ngữ thông thường như chào hỏi, mời, cảm ơn,

xin lỗi, tự giới thiệu và những lời đáp các hành vi trên

- Nói rõ ràng, mạch lạc các ý nghĩ của mình cho người khác nghe

- Kể về bản thân, gia đình, lớp học, bạn bè theo những định hướng nhất định của

- Nắm vững bảng chữ cái: tên gọi của chữ cái

- Nắm vững các yếu tố ngữ âm thường xảy ra lệch chuẩn trong các vùng phương

ngữ

b, Về từ vựng

- Nắm được vốn từ cơ bản cũng như cách dùng của chúng trong những hoàn cảnh

giao tiếp thông thường

- Nắm được ý nghĩa của các từ Hán - Việt thông dụng

- Nắm được một số tục ngữ, thành ngữ cơ bản

Trang 4

- Nhận biết các đoạn văn, khổ thơ

- Nhận biết cốt truyện, nhân vật

e, Về ngữ liệu

- Các văn bản văn học (văn học Việt Nam và văn học nước ngoài)

- Các văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác (báo chí, khoa học, hành chính)

- Các từ ngữ, câu chuyện trong đời sống hàng ngày

- Thể hiện các kỹ năng diễn đạt ngữ liệu (điệu bộ, cử chỉ )

IV NGUYÊN TẮC BIÊN SOẠN SÁCH GIÁO KHOA TIẾNG VIỆT TIỂU

HỌC

1 Nguyên tắc giao tiếp

Xuất phát từ nguyên lí ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người,

năng lực ngôn ngữ có thể được hoàn thiện một cách tự nhiên thông qua con đường giao

tiếp (học ngôn ngữ một cách vô thức), vì vậy người ta xác định rằng dạy học tiếng phải

đứng trên quan điểm chủ đạo là quan điểm giao tiếp Dạy tiếng là để giao tiếp và hoạt

động dạy học tiếng phải diễn ra trong các quá trình giao tiếp có định hướng và được

thiết kế, tiên liệu kết quả

1.1 Nội dung dạy học

- Dạy các nghi thức lời nói, các kĩ năng giao tiếp cộng đồng cơ bản thông qua các hành

vi ngôn ngữ trong giao tiếp đời thường

- Dạy các hành vi ngôn ngữ, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ văn hóa thông qua các phân môn

tiếng Việt: Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu

1.2 Phương pháp dạy học

Dạy học thông qua các tình huống giao tiếp gắn với đời sống thực tế mang tính tự

nhiên

2 Nguyên tắc tích hợp

Tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị dạy học, thậm chí một tiết học hay một bài

tập nhiều mảng kiến thức và kĩ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo

dục (các kiến thức và kỹ năng liên hệ chặt chẽ với nhau, cái này gợi ra cái kia giúp cho

Trang 5

việc ghi nhớ dễ dàng hơn) và tiết kiệm thời gian học tập cho người học (kiến thức và kĩ

năng thừa kế cho nhau)

2.1 Tích hợp ngang (chiều đồng đại)

Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức tiếng Việt với các mảng kiến thức

về văn học, thiên nhiên, con người và xã hội theo nguyên tắc đồng quy Ví dụ, tiếng

Việt 3 tích hợp thông qua hệ thống các chủ điểm Các phân môn tiếng Việt gắn bó chặt

chẽ với nhau và xoay xung quanh một trục nhằm cung cấp kiến thức và kĩ năng tiếng

Việt cho học sinh một cách tập trung và có định hướng

- Tích hợp là quá trình tích lũy kiến thức theo nguyên tắc đồng quy

- Sự thể hiện

+ Tất cả các phân môn tiếng Việt đều có chung xu hướng vận động và cùng hướng

tới một cái đích duy nhất

+ Các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng gắn bó chặt chẽ với nhau

2.2 Tích hợp dọc (chiều lịch đại)

Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp kiến thức và kĩ năng tiếng Việt mới từ những

kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể kiến thức lớp

trên bao hàm kiến thức lớp dưới Đó là sự lặp lại ở một trình độ cao hơn Tích hợp kiến

thức theo nguyên tắc đồng tâm trong tất cả các lĩnh vực: kĩ năng, kiến thức và phân bố

các chủ điểm

3 Nguyên tắc tích cực hóa hoạt động của học sinh

Sgk mới chủ trương chuyển từ phương pháp truyền thụ sang phương pháp tích cực

hóa hoạt động của người học Vì vậy các thao tác dạy học cũng đồng thời phải thay đổi

theo

3.1 Nội dung hoạt động

- Hoạt động giao tiếp (đặc thù của môn tiếng Việt)

- Hoạt động phân tích, tổng hợp, thực hành lí thuyết (như các môn học khác)

3.2 Hình thức hoạt động

- Sử dụng phương pháp đàm thoại trong dạy học tiếng

- Làm việc độc lập (với bảng con, phiếu học tập, vở bài tập)

- Trả lời câu hỏi có gợi mở, thuyết trình hoặc làm mẫu trước lớp

- Làm việc theo nhóm (nhóm từ 2 - 6 học sinh), (đóng vai, trao đổi, thuyết trình, kiểm

tra)

- Làm việc theo lớp (tổ chức các hoạt động để học sinh tự tìm kiếm, thảo luận)

- Làm việc tiếp sức, nối tiếp (vd: giải tiếp sức trong bài Luyện từ và câu, Thuộc lòng,

Tập đọc )

- Đánh giá lẫn nhau

- Tự đánh giá (qua hoạt động sửa bài của giáo viên)

Yêu cầu: Tìm hiểu và nhận xét chương trình và sách giáo khoa tiếng Việt tiểu học

Trang 6

V CẤU TRÚC BÀI HỌC TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC THEO HÌNH THỨC MÔ

ĐUN

1 Khái niệm

Khái niệm mô đun từ trước đến nay chủ yếu được sử dụng trong khoa học kĩ thuật

Mô đun được hiểu là những hệ thống độc lập hoàn chỉnh có thể lắp ghép với các hệ

thống khác một cách linh hoạt để tạo thành một hệ thống mới thuộc cấp độ cao hơn

Trong mỗi mô đun bao hàm nhiều tiểu mô đun (mỗi mô đun như là một cấu trúc bao

nhau gồm nhiều tầng bậc) Mô đun có tính hệ thống và tính lắp ghép Nhờ vào các thuộc

tính này mà hệ thống trở nên chặt chẽ, lô gíc, linh hoạt và đa dụng

Khi được sử dụng trong giáo dục, khái niệm này dùng để chỉ một kết cấu nội dung,

một đơn vị kiến thức, hay một quy trình dạy học Hiện nay, mô đun chủ yếu được sử

dụng để xây dựng nội dung một quy trình dạy học

2 Cấu trúc bài học tiếng Việt theo hình thức mô đun

Một bài học được cấu trúc theo hình thức mô đun là một bài học bao gồm 3 tiểu hệ

thống có quan hệ chặt chẽ với nhau: yêu cầu tri thức cần lĩnh hội - hoạt động chiếm lĩnh

tri thức - đánh giá kết quả của quá trình chiếm lĩnh tri thức Mỗi mục tiêu tương ứng với

một hoặc một số hoạt động chiếm lĩnh tri thức và một hoạt động đánh giá Theo đó, một

bài học có thể được chia làm nhiều mô đun khác nhau nếu bài học đó chứa nhiều mục

tiêu chiếm lĩnh tri thức

Ví dụ: xây dựng mô đun Phát triển ngôn ngữ cho học sinh tiểu học trên bình diện từ

đồng nghĩa:

I Mục tiêu: Liệt kê và phân biệt ý nghĩa của các từ trong cặp đồng nghĩa đã được

lựa chọn (ưu tiên các cặp từ đồng nghĩa khó phân biệt)

II Hoạt động: Tìm các cặp đồng nghĩa, lựa chọn các từ tiêu biểu và phân biệt

nghĩa các từ trong cặp

1 Hoạt động 1: Cá nhân liệt kê 10 cặp từ đồng nghĩa trở lên và chỉ ra những

nét nghĩa phân biệt giữa các cặp từ đó

2 Hoạt động 2: Các nhóm thảo luận và chọn 10 cặp đồng nghĩa tiêu biểu, phân

biệt nghĩa giữa các từ trong cặp đã được lựa chọn

3 Hoạt động 3: Các nhóm thi đua trình bày đồng thời các kết quả lên bảng lớp

dưới sức ép của thời gian và chất lượng của sự lựa chọn từ cũng như phân biệt nghĩa

Trang 7

Thời gian thực hiện 10 11 - 12 13 - 14

15

Hệ số 1 Xếp loại Tính điểm trung bình chung theo hệ số và xếp loại

Giáo án Tiếng Việt tiểu học có thể soạn theo hướng tương tác Nó phải là công cụ cơ

bản cần thường xuyên được bổ sung để hoàn thiện và phù hợp với điều kiện thực tế của

từng đối tượng thuộc từng vùng miền khác nhau Giáo án có thể là dụng cụ dạy học

chung cho tất cả các giáo viên trong một khối lớp trong một trường hoặc tất cả các

trường Phải kiểm soát chặt kết quả dạy học thay vì kiểm soát giáo án (thứ công cụ ban

đầu) như lâu nay Một giáo án tiếng Việt soạn theo hình thức mô đun có thể có các phần

sau:

Thời

gian

Yêu cầu Hoạt động dạy học Kết quả dự kiến

Ví dụ về phương tiện và phương pháp đánh giá bài tập đọc Hai bàn tay em:

Tiêu chuẩn đánh giá Điểm Xếp loại

Thuộc bài, đọc hay, ngắt nhịp đúng 9-10 Giỏi

Thuộc bài, ngắt nhịp chưa đúng 7-8 Khá

Thuộc 1-2 khổ thơ hay không thuộc bài 4 Chưa đạt

Đánh giá mô-đun Hai bàn tay em bằng việc yêu cầu Hs giơ thẻ

1 Bàn tay em có ích như thế nào ?

a Tay giúp bé, làm chữ nở hoa đẹp trên giấy

b Tay như người bạn biết tâm tình, thủ thỉ

c Tay giúp bé đánh răng, chải đầu

d Tất cả các ý trên

2 Ý nghĩa của bài thơ là:

a Hai bàn tay rất đẹp

b Hai bàn tay thật siêng năng

c Hai bàn tay rất đẹp, rất có ích và đáng yêu

(Đáp án đúng: 1: d 2: c)

Yêu cầu: Soạn 1 giáo án Tiếng Việt theo hình thức mô đun và trình bày vắn tắt trên

lớp (ví dụ, dạy từ theo tập hợp – trường nghĩa)

§2 NGUYÊN TẮC, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

Trang 8

Phương pháp dạy học tiếng Việt với tư cách là một khoa học mới chỉ được chú ý từ

những năm 80 của thế kỷ 20

1 Đối tượng của Phương pháp dạy học tiếng Việt tiểu học

Đối tượng của phương pháp dạy học tiếng Việt là toàn bộ hoạt động dạy học tiếng

Việt ở trường tiểu học Bao gồm:

- Môn học (các loại hình bài học tiếng Việt được xây dựng dưới hình thức các phân

môn chuyên biệt)

- Hoạt động dạy cho từng bài hoặc từng loại hình bài học (phân môn) của từng khối

b, Rèn luyện cho người học những kỹ năng cơ bản về dạy học môn tiếng Việt

- Kỹ năng tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa và các tài liệu khác

- Kỹ năng tìm hiểu năng lực ngôn ngữ của học sinh: về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp → để

có phương pháp, thao tác giáo dục thích hợp (đối tượng: trình độ, địa lý, phương ngữ )

Tùy đối tượng cụ thể để sử dụng sách giáo khoa một cách linh hoạt

Ví dụ: chính tả âm vần phải lựa chọn tư liệu phù hợp với đối tượng học sinh bị lệch

chuẩn phương ngữ

- Kỹ năng lập kế hoạch dạy học và chuẩn bị từng tiết lên lớp môn tiếng Việt

- Kỹ năng tiến hành giờ dạy, kiểm tra đánh giá học sinh

Ví dụ: Các bước dạy Tập đọc:

Kỹ năng ổn định lớp: (cá nhân tự rèn luyện)

Kỹ năng kiểm tra bài cũ: (cá nhân tự rèn luyện)

Kỹ năng giới thiệu bài mới: (cá nhân tự rèn luyện)

Kỹ năng đọc mẫu: (cá nhân tự nhận xét sự phù hợp về giọng đọc và cách đọc của mình đối với một hoặc một số bài học cụ thể)

Kỹ năng gợi ý: (cá nhân tự rèn luyện và thể hiện mẫu ở trên lớp)

Kỹ năng điều khiển hoạt động học: (cá nhân tự rèn luyện)

- Kỹ năng tiến hành hoạt động ngoại khoá, giúp đỡ học sinh yếu kém, bồi dưỡng học

sinh khá, giỏi

Trang 9

- Kỹ năng vận dụng công tác chủ nhiệm, công tác đội sao hỗ trợ cho việc dạy học tiếng

Việt (rèn luyện gián tiếp, kiểm tra điều kiện học tập tiếng Việt)

c, Bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức cho người giáo viên

d, Phát triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu cho người học về phương pháp

dạy học tiếng Việt

3 Mối quan hệ giữa Phương pháp dạy học tiếng Việt với các khoa học khác

a, Phương pháp dạy học tiếng Việt với Ngôn ngữ học

Phương pháp dạy học tiếng Việt tiếp thu những thành tựu của ngôn ngữ học nói

chung và Việt ngữ học nói riêng vào lĩnh vực dạy tiếng Ngôn ngữ học là cơ sở cho nội

dung và phương pháp dạy học của môn tiếng Việt trong nhà trường Ngôn ngữ học góp

phần trả lời câu hỏi dạy cái gì và dạy như thế nào của phương pháp dạy học tiếng Việt

Ứng dụng những thành tựu nghiên cứu của ngôn ngữ vào dạy học tiếng Việt được thể

hiện qua các mặt sau:

* Nhà sư phạm chọn lựa những kiến thức ngôn ngữ và những lý thuyết ngôn ngữ

thích hợp để đưa vào chương trình tiếng Việt cho một đối tượng người học nhất định

Ví dụ, nếu chọn lý thuyết đề - thuyết của trường phái ngữ pháp chức năng thì câu

sau sẽ được phân tích:

Quyển sách này// tôi/ đã đọc rồi

Đề Thuyết

Đề Thuyết

Nếu chọn lý thuyết ngữ pháp cấu trúc thì đơn vị ngôn ngữ trên sẽ được phân tích:

Quyển sách này/ tôi/ đã đọc rồi

Đề ngữ CN VN

Theo cách dạy lâu nay thì Quyển sách này là thành phần phụ

* Nhà sư phạm vận dụng các kiến thức và phương pháp của ngôn ngữ học để dạy

tiếng Việt hiệu quả

Ví dụ, dạy cho học sinh cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với tình huống giao tiếp cụ thể

(dạy tiếng Việt theo hướng ngữ dụng):

- Mấy giờ rồi? Có thể có rất nhiều câu trả lời:

→ 4 giờ (người hỏi muốn hỏi giờ đơn thuần)

→ Xe tôi bị hỏng (người hỏi có ý chất vấn nguyên nhân chậm trễ với sắc thái

trách móc tế nhị, nhẹ nhàng)

→ Chào bác cháu về (người hỏi muốn nhắc khéo về sự cần thiết phải chấm dứt

một hành động nào đó)

* Kết quả nghiên cứu của ngôn ngữ học tạo cơ sở phương pháp luận cho chương

trình tiếng Việt Ví dụ, Tiếng Việt cải cách xem cây ổi, con gà, cục đá là từ còn tiếng

Việt 2000 xem là cụm từ

TVCC: Cây ổi (từ)

TV 2000: Cây ổi (cụm từ)

Trang 10

Quan niệm 1: Cây ổi Æ từ

Quan niệm 2: Cây ổi

Quan niệm 3: Cây ổi (Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp)

Quan niệm 4: Cây ổi

Æ Quan niệm 3 là giải pháp hợp lý hơn cả Vì Tôi mua tất cả những cây này (loại từ

lúc này thay thế tạm thời cho yếu tố chính)

Ví dụ: Cây bưởi (mà) mẹ trồng năm xưa / đã ra bói

C định tố V

CN VN

- Phan Thiều gọi là câu ghép lồng

- Sách Tiểu học gọi là câu đơn

- Cấp 2 (Diệp Quang Ban) gọi là câu phức; ghép

- Cấp 3 gọi là câu đơn

* Từ mối quan hệ này người giáo viên dạy tiếng Việt cần nắm vững những tri thức

Quan niệm2: Từ đơn là từ đơn hình vị (hình vị có thể là 1 âm tiết, nhiều âm tiết: Tắc kè,

bồ hóng, a xít )

Tiếng: 3 nghĩa được sử dụng trong tiếng Việt tiểu học

ngôn ngữ âm tiết hình vị

Người giáo viên phải cập nhật những tri thức mới và không ngừng nâng cao trình

độ về ngôn ngữ học và Việt ngữ học để đáp ứng được những yêu cầu mới của chương

trình và của người học Hiệu quả của việc dạy học tiếng Việt trong nhà trường phần lớn

phụ thuộc vào năng lực ngôn ngữ và những tri thức về ngôn ngữ, ngôn ngữ học của

người giáo viên

b, Phương pháp dạy học tiếng Việt với tâm lý học

Tâm lý học giúp phương pháp dạy học tiếng Việt trả lời câu hỏi trong vấn đề: dạy

cái gì? dạy như thế nào? tại sao lại dạy như thế?

Ví dụ: giải nghĩa từ ở 3 cấp học là khác nhau vì khác nhau về năng lực nhận thức và tâm

lý lứa tuổi

Trang 11

c, Phương pháp dạy học tiếng Việt với giáo dục học

Phương pháp dạy tiếng Việt vận dụng những quy luật chung của giáo dục học vào

lĩnh vực dạy học tiếng hay nói cách khác: Phương pháp dạy học tiếng Việt vận dụng

những thành tựu của lý luận dạy học vào lĩnh vực dạy học tiếng Việt

d, Phương pháp dạy học tiếng Việt với triết học Mác - Lênin

- Quan niệm của Lê nin về nhận thức: trực quan sinh động → tư duy trừu tượng → thực

tiễn

≈ Tìm hiểu bài (dẫn chứng) → bài học (quy tắc, khái niệm) → luyện tập

(thực tiễn) <=> quy tắc xây dựng một bài học

- Phải giúp học sinh phân biệt được lô gíc hình thức với lô gíc ngôn ngữ để sử dụng

tiếng Việt một cách nhuần nhuyễn Ví dụ: lô gíc hình thức: cô ấy rất đẹp, lô gíc ngôn

ngữ: chẳng có ai sánh được cô ấy về hình thức; như thế này mà không đẹp sao; sao lại

có cô gái đẹp đến thế…

Ví dụ: Anh (chị) hãy hướng dẫn học sinh tìm C - V của câu: Tiếng suối chảy róc rách

Tiếng suối/ chảy róc rách Æ sai

Tiếng suối chảy như thế nào? Chảy róc rách là vị ngữ

4, Phương pháp nghiên cứu của phương pháp dạy học tiếng Việt

a, Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

b, Phương pháp quan sát

c, Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

d, Phương pháp thực nghiệm giáo dục

Yêu cầu: Thực hành về các kỹ năng lên lớp và các kỹ năng khác mà người

giáo viên tiểu học cần có

§3 CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

I NGUYÊN TẮC DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

1 Khái niệm

Nguyên tắc dạy học tiếng Việt là những luận điểm lý thuyết cơ bản có tính chất xuất

phát để làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp, nội dung, phương tiện, hình thức cho

việc dạy học tiếng Việt

Nguyên tắc dạy học tiếng Việt được xây dựng trên cơ sở mục đích của việc dạy học

Trang 12

học Nguyên tắc dạy học được phân thành các cấp độ: Nguyên tắc dạy học chung

nguyên tắc dạy học bộ môn → nguyên tắc dạy học phân môn => phương pháp dạy học

và thao tác, hoạt động dạy học

Các nguyên tắc dạy học phổ quát:

1- Đảm bảo tính tư tưởng

2- Đảm bảo tính khoa học

3- Đảm bảo tính hệ thống

4- Đảm bảo mối quan hệ giữa lý thuyết và thực hành

5- Phát huy tính tích cực chủ động học tập của học sinh

6- Đảm bảo tính vừa sức

7- Đảm bảo mối quan hệ giữa cái chung - cá biệt

8- Đảm bảo tính trực quan

Hiện nay trong lý luận dạy học tiếng tồn tại nhiều hệ thống nguyên tắc khác nhau do

việc các nhà nghiên cứu dựa vào những cơ sở khác nhau để xác định nguyên tắc

2 Các nguyên tắc đặc trưng trong dạy học tiếng Việt ở tiểu học

a Nguyên tắc giao tiếp (nguyên tắc rèn luyện năng lực giao tiếp cho học sinh)

Cơ sở nguyên tắc:

Cơ sở ngôn ngữ học của nguyên tắc là chỗ chức năng của ngôn ngữ (dạy học tiếng

không thể tách rời khỏi ngôn ngữ)

Cơ sở giáo dục học: Mục đích dạy học tiếng là rèn luyện kỹ năng sử dụng tiếng

Việt (Kĩ năng giao tiếp): Nghe, nói, đọc, viết (khác với bậc đại học: yêu cầu nắm vững

cấu trúc ngôn ngữ tiếng Việt)

Đây là sự thể hiện của nguyên tắc: đảm bảo mối quan hệ giữa lý thuyết với thực

hành trong lĩnh vực dạy học tiếng

Yêu cầu:

Việc xem xét các đơn vị ngôn ngữ phải được đặt trong hoạt động hành chức (hoạt

động giao tiếp) của nó

Ví dụ: Nghiên cứu từ đặt trong câu, nghiên cứu câu đặt trong ngữ cảnh

Ví dụ: Cổ kính là cũ, xưa, đáng kính Æ Ngôi nhà cổ kính chứ không thể là: cái áo cổ

kính

Trong giao tiếp bao giờ cũng có những nhân tố: người nói, người nghe, mã và kênh

giao tiếp Giá trị và cách thức sử dụng các đơn vị ngôn ngữ phụ thuộc chặt chẽ vào các

yếu tố trên Chỉ có đặt đơn vị ngôn ngữ vào trong giao tiếp thực tế, đơn vị ngôn ngữ đó

mới mang giá trị thực Ngược lại chúng mang giá trị giả định Lâu nay trong dạy tiếng

Việt, chúng ta đã tách các đơn vị ngôn ngữ thành những đơn vị độc lập để xem xét

Cách làm này khiến cho người dạy rơi vào chủ quan (tự nghĩ ra một đơn vị nào đó),

không thiết thực và học sinh học xong quên ngay (không có cơ sở thực thế để ghi nhớ)

Vì vậy, cần hướng quá trình dạy học tiếng vào việc hình thành các kỹ năng nghe, nói,

đọc, viết cho học sinh trong những bối cảnh giao tiếp cụ thể

Hoàn cảnh giao tiếp

Trang 13

Nói - Ngôn bản - nghe

Nội dung

Cần tổ chức tốt hoạt động nói năng cho học sinh: nguyên tắc này chi phối việc xây

dựng chương trình, sách giáo khoa, tổ chức dạy học cho học sinh

Ví dụ 1: Chương trình yêu cầu nắm vững kiến thức tiếng Việt về mặt lý thuyết: Ngữ âm

→ Từ vựng → Ngữ pháp → Phong cách

Ví dụ 2: Chương trình yêu cầu rèn luyện gián tiếp theo chương trình đồng tâm Ví dụ:

Sách Streamline dạy tiếng anh

Ví dụ 3: Dạy kiến thức → quy tắc; Dạy danh từ riêng → quy tắc viết hoa

Ví dụ 4: Bài tập tìm hiểu hệ thống ngôn ngữ: thiên về phân tích và nhận diện

Ví dụ 5: Bài tập rèn luyện kỹ năng ngôn ngữ: bài tập thiên về sáng tạo

b Nguyên tắc phát triển tư duy (rèn luyện ngôn ngữ gắn với nguyên tắc phát triển

tư duy)

Cơ sở:

Cơ sở ngôn ngữ học: Đó là tính thống nhất giữa ngôn ngữ và tư duy: ngôn ngữ và

tư duy thống nhất với nhau: Tư duy bao giờ cũng lấy ngôn ngữ làm phương tiện tiến

hành các thao tác của tư duy- quá trình nhận thức đều có sự tham gia tích cực và không

thể thiếu của ngôn ngữ (Ngôn ngữ ghi lại kết quả tư duy => ngôn ngữ có quan hệ mật

thiết với hiện thực)

Tư duy

Ngôn ngữ Hiện thực

Liên kết chặt chẽ và tác động qua lại với nhau

Ví dụ: Tai → tai bèo (quan hệ hiện thực → tư duy → ngôn ngữ); Lá (cây) → lá gan,

lá phổi (hoán dụ từ vựng trong ngôn ngữ) Æ Tư duy giúp cho ngôn ngữ biến đổi và phát

triển

Cơ sở giáo dục học:

Mục đích: Rèn luyện tư duy cho học sinh Nhiệm vụ của giáo dục: có 3 nhiệm vụ

Đây là sự thể hiện của nguyên tắc: phát huy tính tích cực của học sinh trong lĩnh vực

dạy học tiếng

Yêu cầu của nguyên tắc:

- Trong dạy học tiếng cần chú ý rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh: Phân

tích → so sánh → Khái quát hoá → trừu tượng hoá

Ví dụ: Giải thích: đen → đen như cột nhà cháy

lùn → lùn như bù nhìn đội nón

Tả tơi như bù nhìn gặp giông

Ngơ ngác như bò xem quảng cáo

- Cần giúp học sinh nắm được nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ: nghĩa của từ,

câu

Trang 14

Ví dụ: Đầu cô giáo to bằng quả bóng, mũi cô bằng cái thìa Æ do học sinh chưa hiểu

cách dùng từ

Nghĩa của từ → khái niệm của tư duy Ví dụ, đưa ra một số câu mang tính mô

hình thông dụng để học sinh nhận diện và tập cách sử dụng:

Tuy A nhưng B kết quả

- Tạo điều kiện cho học sinh nắm được đối tượng diễn đạt (nội dung cần diễn đạt)

và thể hiện ra bằng ngôn ngữ Ví dụ: Không thể yêu cầu học sinh thành phố tả cây chuối

(thay vì quả chuối); tả cây bầu (thay vì tả quả bầu) Vì thiếu thực tế → bài tập làm văn

của học sinh tiểu học miêu tả sự vật sai với những thuộc tính vốn có của sự vật hiện

tượng Æ Khi ra đề cần phải phù hợp với học sinh ở từng vùng

c Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt của học sinh

Cơ sở của nguyên tắc: Là sự phát triển nhận thức theo độ tuổi của học sinh Ví dụ:

lớp 2 khác lớp 4

Tâm lý - ngôn ngữ học

Sự thể hiện của tiếng Việt trong các phương ngữ Ví dụ: Ăn cơm chưa chưa - ăn

dồi/ ăn dồi dồi Nên hướng tập đọc đến chuẩn trên chữ viết, còn chấp nhận không chuẩn

trong lời nói thông thường (không có chữ viết) Cá biệt hoá đối tượng dạy học

Yêu cầu:

- Cần phải điều tra nắm vững trình độ tiếng Việt của học sinh theo từng độ tuổi,

từng vùng khác nhau để xác định nội dung, kế hoạch, phương pháp dạy học cho phù

hợp

Ví dụ: Học sinh ở vùng Hà Nam Ninh bị lẫn lộn n/ l: nòng nợn nuộc

Cách sửa l và n: Khi nói l thì viết n và ngược lại

- Cần phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực về lời nói của học sinh trong quá

trình học tập

d Nguyên tắc chú ý đến mối quan hệ giữa người nói và người viết

Cơ sở ngôn ngữ học: Nói và viết là hai dạng khác nhau của giao tiếp ngôn ngữ

Chúng có những điểm thống nhất nhưng cũng có nét riêng biệt: ngôn ngữ nói sử dụng

âm thanh hướng đến chuẩn tiếng nói, ngôn ngữ viết sử dụng chữ viết hướng đến chuẩn

chính tả

Sự khác nhau giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết:

Ngôn ngữ nói Ngôn ngữ viết

+ Giao tiếp ngôn ngữ chính thức sử + Giao tiếp ngôn ngữ không chính thức

Trang 15

dụng âm thanh hướng đến chuẩn phát

âm

+ Dùng ngữ điệu thể hiện nội dung (có

khi lời nói ngược hẳn với nội dung của

+ Ngữ pháp: câu ngắn, câu tỉnh lược

(do hoàn cảnh chi phối)

sử dụng chữ viết hướng đến chuẩn chính tả

+ Toàn bộ ngữ điệu bị triệt tiêu Có những từ chỉ dùng trong thơ ca, không dùng trong ngôn ngữ nói: chàng, nàng

+ Rút ngắn được thời gian nói

+ Chữ + 1 số dấu câu + Từ ngữ: từ ngữ phổ thông, văn hoá + Ngữ pháp: câu dài, phức tạp, rõ ràng (đầy đủ) về cấu trúc và ý nghĩa

Chú ý: Dạy tiếng ở tiểu học ban đầu cần rèn luyện cho học sinh ngôn ngữ nói, càng

lên lớp trên cần rèn luyện cho học sinh cả năng lực nói lẫn năng lực viết Giúp học sinh

tránh hiện tượng nói như viết hoặc viết như nói

II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

1 Khái niệm

Phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của giáo viên và học sinh,

giúp học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt

Hiện nay trong lĩnh vực dạy học nói chung và trong lĩnh vực dạy học tiếng nói riêng

có nhiều cách phân loại phương pháp dạy học theo những bình diện (tiêu chí) khác

nhau Có 2 con đường nhận thức:

Nhận thức của nhà khoa học: Nhà khoa học tiếp cận đối tượng A bằng cách sử dụng

các phương pháp thực nghiệm, phân tích, so sánh từ đó rút ra được bản chất của đối

tượng (A) Bản chất A là cái mới đối với khoa học

Nhận thức của học sinh:

- Giáo viên tiếp nhận kết quả nghiên cứu của nhà khoa học (tiếp nhận A) hình thành

A* rồi đem truyền cho học sinh, trong học sinh hình thành A**, nó thống nhất với nhau

chứ không đồng nhất, đây là phương pháp cổ truyền (theo 1 chiều: giáo viên nhồi nhét

vào học sinh)

- Học sinh tiếp cận A để tìm ra A2, A2 mới đối với học sinh chứ không mới đối với

khoa học

PPKH Nhà khoa học Tác động đến đối tượng A → bản chất của A

Tự làm việc (mới đối với khoa học)

Từ đặc điểm nhận thức của học sinh người ta đề ra 2 cách dạy học cơ bản:

Cách dạy học 1: (dạy học 1 chiều: Đây là phương pháp dạy học cổ điển)

A Giáo viên A* Học sinh A**

Trang 16

GV

PP

HỌC SINH đối tượng A A2 (mới đối với học sinh,

PPKH không mới đối với khoa học)

2 Các phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học

a Phương pháp phân tích ngôn ngữ

Được sử dụng một cách có hệ thống để xem xét tất cả các bình diện của ngôn ngữ

(ngữ âm/ ngữ nghĩa ) nhằm làm rõ các cấu trúc của các đơn vị ngôn ngữ được sử dụng

chúng trong giao tiếp Phương pháp này được thể hiện ở các kiểu bài tập phân tích ngôn

ngữ Ví dụ: Tách câu thành tiếng, tách tiếng thành âm

- Trong Học vần: phân loại nguyên âm, phụ âm, vần

- Trong Luyện từ và câu: phân tích nghĩa của từ, phân tích thành phần câu

- Phân tích để phán đoán: dùng để phát hiện vấn đề

- Phân tích để tổng hợp: giúp nhận thức vấn đề một cách toàn diện và sâu sắc

b Phương pháp luyện tập theo mẫu:

Học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ bằng cách mô phỏng đơn vị ngôn ngữ đã cho

Ví dụ: Em hãy đặt câu có trạng ngữ chỉ nơi chốn: (Trên cành cây chim hót líu lo)

- Em hãy đặt 1 câu 6 tiếng có phụ âm tr: (Trên trời trăng treo tròn trịa; Trăng trong

trẻo treo trên trời; Trâu trắng trong tranh tròn trùng trục; Trang trông tròn trịa trắng

trẻo )

Phương pháp này thể hiện ở nhiều dạng bài tập trong các phân môn: học vần, tập

viết (mẫu chữ)

Thao tác:

B1- Giáo viên cung cấp mẫu rõ ràng

Ví dụ: Tìm 5 từ láy có vần oắt Ví dụ: loắt choắt

Æ Vì đã đưa mẫu là từ duy nhất, không thể tìm từ nào khác nên học sinh không thể làm

được và học sinh không hiểu là chỉ có một từ có vần oắt hay là hai từ đều có

B2- Phân tích mẫu

Ví dụ: Đặt câu: Trên cành cây chim/ hót líu lo Æ Giáo viên phân tích

TN CN VN B3- Mô phỏng mẫu để tạo lời

B4- Giáo viên tiến hành kiểm tra, đánh giá

Phương pháp này thể hiện ở nhiều dạng bài tập: Phát âm, viết chữ, tập đọc, học thuộc

lòng, chính tả, ngữ pháp, tập làm văn

Trang 17

c Phương pháp giao tiếp: Là phương pháp dạy học tiếng dựa vào lời nói sinh

động, phương pháp này coi trọng việc phát triển lời nói cho học sinh

Thao tác:

- Tạo tình huống kích thích nhu cầu giao tiếp

- Giúp học sinh định hướng giao tiếp (xác định nhân tố giao tiếp: (Ai nói với ai?

Nói làm gì? Nói như thế nào?)

Ví dụ: Em hãy nói lời xin phép cho em được đi sinh nhật bạn

- Tách thành từng bước cụ thể

- Học sinh vận dụng ngôn ngữ để tạo lời

- Giáo viên nhận xét, đánh giá

Kết luận: Trong dạy học, các phương pháp thường được phối hợp với nhau, giáo

viên cần nắm vững nhiệm vụ, nội dung dạy học, năng lực của học sinh, điều kiện vật

chất để lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất

Ví dụ: Hiện nay: sử dụng phiếu giao việc → bắt buộc tất cả học sinh cùng làm việc

Yêu cầu:

- Thuyết minh vai trò của Nguyên tắc giao tiếp trong dạy học tiếng Việt tiểu học

- Thực hành sử dụng các phương pháp dạy học tiếng Việt

§4 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ

Ở TIỂU HỌC VÀ KỸ THUẬT TRIỂN KHAI

I PHÂN LOẠI PHƯƠNG PHÁP

1 Theo nguồn gốc, cách chuyển tải và đặc điểm tri giác tài liệu của hs

- Phương pháp dùng lời (thuyết trình, vấn đáp, tự đọc)

- Phương pháp trực quan (minh hoạ, trình diễn, quan sát)

- Phương pháp hoạt động thực tiễn (luyện tập, thực hành, thí nghiệm, bài tập sáng

tạo, trò chơi)

2 Theo mức độ sáng tạo trong nhận thức

- Phương pháp giải thích minh hoạ

- Phương pháp kiểm tra và tự kiểm tra kết quả học tập

4 Theo đối tượng lĩnh hội

- Phương pháp tìm tòi tri thức mới

- Phương pháp hình thành kỹ năng kỹ xảo

- Phương pháp kiểm tra đánh giá kỹ năng kỹ xảo

5 Theo đặc điểm và tính chất của hoạt động

Trang 18

- Phương pháp giải thích bằng lời

- Phương pháp hoạt động tìm kiếm tri thức mới

- Phương pháp vận dụng tri thức mới để hình thành kỹ năng kỹ xảo

- Phương pháp kiểm tra đánh giá kiến thức

II CÁCH THỨC TRIỂN KHAI MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP

1 Phương pháp làm việc theo nhóm

a, Mục đích: Giúp hs phát huy khả năng độc lập và sáng tạo trong hoạt động

cùng nhau Tăng khả năng phối hợp làm việc theo nhóm

b, Kỹ thuật triển khai

- Phân chia lớp thành số nhóm theo mục đích của giáo viên (4-6 hs)

- Giao nhiệm vụ cho các nhóm và ấn định thời gian hoạt động (8-10 phút)

- Xác định vị trí hoạt động của các nhóm

- Các nhóm về vị trí của mình và tiến hành hoạt động, thực hiện nhiệm vụ đã được

giao và bầu ra một đại diện và một thư ký ghi biên bản

- Giáo viên giám sát hoạt động của các nhóm và hỗ trợ khi cần thiết

- Kết quả thảo luận nhóm được ghi chép lại, đại diện mỗi nhóm trình bày kết quả

thảo luận

- Giáo viên tổng kết, nhận xét

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

2 Phương pháp lựa chọn đúng - sai

a, Mục đích: Hình thành tư duy so sánh ở mức độ cao; giúp hs tập trung suy

nghĩ; phát huy khả năng độc lập và sáng tạo trong hoạt động

b, Kỹ thuật triển khai

- Giáo viên cung cấp hàng loạt thông tin đúng và sai về nội dung của vấn đề Những

thông tin này có tính chất phân biệt và không nên quá đơn giản

- Thông tin được ghi sẵn lên bảng hoặc trên giấy khổ to

- Dành thời gian cho học sinh suy nghĩ, sắp xếp

- Hs lên bảng sắp xếp và giải thích ý kiến của mình

- Giáo viên và hs cùng bình luận và đưa ra đáp án

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

3 Phương pháp hỏi đáp trong giờ học

a, Mục đích: Tăng khả năng suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri

thức; xác định mức độ hiểu bài; hình thành thói quen trao đổi và hoàn thiện thông tin

thông qua đối thoại trực tiếp

b, Kỹ thuật triển khai

- Giáo viên chọn từng câu hỏi trong các câu hỏi hợp lí để đưa ra

- Dành thời gian hợp lí để hs suy nghĩ

- Hs trả lời tự nguyện hoặc giáo viên yêu cầu

Trang 19

- Ghi ngắn gọn các câu trả lời lên bảng

- Bình luận các câu trả lời (giáo viên hoặc học sinh)

- Hs đặt câu hỏi về vấn đề vừa trao đổi nếu có

- Giáo viên ghi vắn tắt câu trả lời và rút ra kết luận

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

4 Phương pháp ghi ý kiến lên bảng

a, Mục đích: Tạo cơ hội cho hs bày tỏ sự hiểu biết và quan điểm riêng; giáo

viên thu thập được nhiều thông tin khác nhau; giúp hs nhớ bài tốt hơn

b, Kỹ thuật triển khai

- Giáo viên nêu vấn đề (có nhiều phương án trả lời) cho hs suy nghĩ, có gợi ý nếu

cần thiết

- Giáo viên viết các ý kiến của lớp lên bảng

- Giáo viên tổng kết lại, hệ thống hoá, phân loại

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

5 Phương pháp trực quan

a, Mục đích: Giúp hs lĩnh hội bài học một cách trực quan; thu hút hs hướng tới

bài học; giúp hs tiếp nhận bài dễ dàng hơn

b, Kỹ thuật triển khai

- Giáo viên chọn cách thức và phương tiện phù hợp để thiết kế đồ dùng trực quan

đúng với nội dung bài học

- Sắp xếp đồ dùng trực quan sao cho tất cả hs có thể quan sát, tiếp cận được

- Giáo viên giới thiệu đề tài và truyền đạt nội dung bài học theo đồ dùng trực quan

- Có thể hỏi hs nhận xét từng đồ dùng trực quan và nội dung của nó

- Thực hiện thao tác 3T (trỏ, trở người lại, thuyết trình)

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

6 Phương pháp phỏng vấn nhanh

a, Mục đích: Khởi động đầu giờ học, thu hút sự chú ý; thu thập nhanh thông

tin; kiểm tra kiến thức của hs

b, Kỹ thuật triển khai

- Tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể tổ chức lớp theo đội hình nào đó (đứng thành

vòng tròn hay ngồi tại chỗ)

- Giáo viên nêu câu hỏi 1 (câu hỏi phải có định hướng và chuẩn bị trước)

- Nhiều hs cùng trả lời câu hỏi 1

- Giáo viên có thể nêu câu hỏi 2

- Nhiều hs cùng trả lời câu hỏi 2

- Giáo viên có thể định hướng nội dung của phần này vào mục đích bài học

- Thời gian phỏng vấn 5 - 7 phút

Trang 20

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

7 Phương pháp nêu và giải quyết vấn đề

a, Mục đích: Tăng sự hiểu biết và khả năng áp dụng lí thuyết vào giải quyết

vấn đề của thực tiễn; nâng cao kỹ năng phân tích và khái quát từ tình huống cụ thể; nâng

cao khả năng độc lập hoặc hợp tác giải quyết vấn đề

b, Kỹ thuật triển khai

- Nêu vấn đề

- Cung cấp thêm một số thông tin liên quan

- Hs phân tích vấn đề và đưa ra giải pháp

- Ấn định thời gian làm việc

- Trình bày các giải pháp theo cá nhân hoặc nhóm

- Thảo luận về các giải pháp

- Giáo viên tổng kết các ý kiến và đưa ra quan điểm của mình

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

8 Phương pháp đóng vai

a, Mục đích: Cụ thể hoá bài học bằng việc diễn xuất để phân tích nội dung bài

giảng chi tiết hơn, sâu sắc hơn; làm cho giờ học sinh động, hs dễ nắm bắt hơn; rèn luyện

kỹ năng xã hội hoá

b, Kỹ thuật triển khai

- Xây dựng kịch bản phù hợp, đơn giản và dễ hiểu

- Hs nhận kịch bản và chuẩn bị nhập vai

- Hs diễn vai

- Hs rút ra bài học từ kịch bản này hoặc giáo viên có thể gợi ý

- Giáo viên nhận xét và kết luận

- Thời gian kịch bản không nên quá 10 phút

c, Loại hình bài áp dụng:

d, Thời điểm và thời gian áp dụng:

Yêu cầu: Thực hành sử dựng các phương pháp dạy học tiếng Việt theo hướng tích cực

hóa hoạt động tiếp nhận của học sinh (dùng một tình huống dạy học hoặc một phần bài

học để minh họa và thuyết minh việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nói

trên)

§5 PHÉP PHÂN BỐ TRONG DẠY HỌC TIỂU HỌC

1 Khái niệm

Phân bố là cách bố trí các sự vật hiện tượng vào trong một không gian hay thời gian

nhất định theo một nguyên tắc nào đó phù hợp với yêu cầu của hoạt động thực tiễn

Phép phân bố là nguyên lí của tư duy lô gíc và tư duy biện chứng phù hợp với các hoạt

động tập thể Nguyên lý này tỏ ra hiệu quả đối với công tác kiểm tra xác suất, đôn đốc

Trang 21

thực thi công việc và kích thích cạnh tranh trong các hoạt động nhất quán và đồng thời

Phân bố trong hoạt động giáo dục có thể hiểu là sự sắp xếp, bố trí một cách chủ động

các vật thể, cá thể, công việc vào những vị trí, thời điểm cụ thể trong một bố cục nhất

định Phép phân bố trên thực tế được ứng dụng đã chứng tỏ tính khoa học, khách quan

của nó và rất phù hợp với tâm lí của học sinh phổ thông, nhất là học sinh bậc tiểu học

Phân bố được chia làm hai loại: phân bố ngẫu nhiên và phân bố tất nhiên (theo tiêu chí)

Trong giáo dục, phân bố tất nhiên được ưu tiên sử dụng

2 Các loại phân bố phổ biến

a Phân bố vị trí

Phân bố theo vị trí trong hoạt động dạy học tiểu học là việc sử dụng vị trí chỗ ngồi

như một phương tiện, cách thức để điều khiển quá trình dạy học

*Phép phân bố theo vị trí trước hết là dùng để bố trí chỗ ngồi Việc bố trí này sẽ

được sử dụng làm phương tiện để thực hiện một số hoạt động dạy học khác Yêu cầu

của phân bố vị trí trước hết căn cứ vào tầm nhìn Trong đó chú trọng đến 2 điều kiện: thị

lực và tầm nhìn Những học sinh có chiều cao được bố trí ngồi sau để khỏi cho khuất

tầm nhìn hoặc tạo sự phân mảnh trong tầm nhìn ảnh hưởng đến khả năng chú ý và sức

chú ý của những học sinh ngồi phía sau Những học sinh có thị lực kém nên bố trí cho

ngồi chính diện đối với bảng hoặc hơi chếch về phía bàn giáo viên nhằm giảm bớt độ

khúc xạ và không bị ảnh hưởng nhiều đến khả năng quan sát bảng và các thao tác làm

mẫu, thao tác minh họa, thao tác phụ trợ ngôn ngữ âm thanh của giáo viên Tuy nhiên

cũng cần chú ý đến việc những học sinh này được bố trí chỗ ngồi như trên khi đã đeo

các thứ kính thích hợp

*Phân bố theo vị trí còn được sử dụng trong điều khiển hoạt động dạy học Giáo

viên có thể hỏi bài cũ, chọn ý kiến phát biểu theo luật phân bố Người giáo viên có thể

gọi học sinh kiểm tra bài cũ theo các vị trí trong lớp một cách chủ động Ví dụ, trong khi

đứng ở một vị trí bao quát được toàn lớp một cách tốt nhất (thường là đứng ở giữa bục

giảng hoặc dưới bục giảng cách bàn giữa 1-2 bước chân) giáo viên đưa mắt quan sát

toàn thể lớp học, tạo không khí thâm mật, gần gũi và tâm thế chuẩn bị cho học sinh và

bắt đầu sử dụng phép phân bố vị trí để kiểm tra bài cũ Nếu số lượng học sinh cần kiểm

tra bằng 4, giáo viên có thể chỉ định 4 học sinh trong phân bố toàn thể (phân bố đều

trong cả lớp) hoặc phân bố bộ phận (trong 2 bàn, trong 4 bàn, trong nửa lớp, trong một

tổ ) Trong những trường hợp cần thiết (kiểm tra sáng kiến độc lập, nhắc lại lời bạn,

kiểm tra sức chú ý, kiểm tra âm lượng của học sinh vừa trả lời) ta có thể sử dụng loại

phân bố cục bộ hoặc phân bố chọn lọc theo tình huống Ví dụ, để kiểm tra một học sinh

về khả năng độc lập, sáng tạo trong bài tập sáng tạo, ta có thể kiểm tra liên tục 2 học

sinh ngồi sát nhau; nếu kiểm tra sức chú ý ta chọn học sinh ngẫu nhiên; kiểm tra nhắc

nhở ta chọn học sinh lơ đãng hoặc nói chuyện riêng

Tóm lại, phép phân bố vị trí có thể cho ta những căn cứ nhất định trong việc bố trí

chỗ ngồi hoặc hỏi bài để giúp học sinh toàn thể lớp học đạt được sự đồng đều trong tiếp

thu bài giảng

Trang 22

b Phân bố thời gian

Cường độ và tần số là vấn đề rất có ý nghĩa trong tất cả các lĩnh vực và loại hình lao

động Trong hoạt động dạy học, phép phân bố thời gian là một trong những điều kiện

tiên quyết đối với sự thành công của quá trình đào tạo Phân bố thời gian được sử dụng

trong hai hoạt động chủ yếu Thứ nhất, hoạt động hỏi bài Đây là hoạt động chủ yếu

Tần số hỏi bài phải ở mức vừa phải, không quá dày làm cho học sinh có cảm giác luôn

luôn bị kiểm tra, bị theo dõi Việc đi học trở nên nặng nề, từ đó sinh ra chán nản, trốn

học Thứ hai, phép phân bố theo thời gian có thể sử dụng trong hoạt động giao việc

Tần số giao việc phải hợp lí để học sinh có thể thực hiện tốt công việc được giao mà

không cảm thấy quá sức hay thực hiện quá vội vàng Nhiều giáo viên giao bài tập về nhà

quá nhiều mà không có gợi ý hoặc giải bớt ở lớp đã nảy sinh tâm lí ở học sinh là có làm

cũng không xuể Từ đó trượt dài trong sự chây lười, lâu dần trở thành thói quen

Phân bố thời gian trong hoạt động hỏi bài và giao việc có thể diễn ra trên các hình

thức như: phân bố đều hoặc phân bố không đều; phân bố toàn bộ hoặc phân bố bộ phận

(toàn thể lớp học hoặc một bộ phận, một nhóm nhất định, một nhóm ngẫu nhiên trong

danh sách được xếp theo an pha bê)

c Phân bố trình độ

Phân bố theo trình độ là sự tính đến lực học của từng học sinh trong việc sử dụng

phép phân bố nhằm chủ động điều khiển lớp học một cách có hiệu quả

Phân bố theo trình độ trước hết áp dụng cho việc điều khiển hoạt động học như hỏi

bài cũ, trả lời câu hỏi bài mới Trong hoạt động hỏi bài hoặc chấp nhận xung phong trả

lời, giáo viên cần tính đến năng lực của học sinh để tránh tình trạng chỉ một nhóm học

sinh làm việc hoặc phản ứng dây chuyền không tốt Ví dụ giáo viên chỉ gọi những học

sinh giỏi trả lời câu hỏi (như trong các giờ thi giảng giáo viên giỏi các cấp) hoặc hỏi bài

liên tiếp những học sinh quá cách xa nhau về lực học

Bên cạnh đó việc phân bố chỗ ngồi cũng phải tính đến lực học của học sinh Khi đã

khảo sát kĩ lực học của cả lớp, giáo viên phải lập kế hoạch bố trí chỗ ngồi ổn định trong

một thời gian thích hợp của năm học Cách bố trí tổng thể là làm sao rải đều các học

sinh khá giỏi khắp lớp (tùy thuộc số lượng học sinh khá, giỏi có thể bố trí theo bàn, theo

dãy để bố trí làm nhóm trưởng khi cần) Về cụ thể có thể bố trí học sinh khá và học sinh

trung bình xen với học sinh yếu, học sinh giỏi, xuất sắc có thể phân bố đều khắp lớp

theo bàn học (nếu bàn học của học sinh là bàn dài gồm 4-5 học sinh ngồi) hoặc theo dãy

(nếu bàn học là loại bàn cá nhân chỉ có một người ngồi)

d Phân bố tâm lí

Phân bố theo đặc trưng tâm lí chủ yếu được áp dụng trong trường hợp phân bố chỗ

ngồi là chủ yếu Thông thường nên bố trí những học sinh có đặc điểm tâm lí trái ngược

nhau ngồi gần nhau để bổ sung và khích lệ nhau trong hoạt động học tập Phân bố theo

đặc trưng tâm lí cũng có thể áp dụng trong hoạt động hỏi bài Học sinh có tính cách, khí

chất yếu nên thực hiện công việc sau học sinh có tính cách mạnh để tạo ấn tượng quen

thuộc

Trang 23

e Phân bố giới tính

Mặc dù mới ở cấp tiểu học nhưng học sinh ở lứa tuổi này đã có ý thức về giới tính

Các đặc trưng tâm lí, tích cách cũng phụ thuộc nhiều vào vấn đề này Vì vậy giới tính

cũng cần được quan tâm trong phép phân bố Có thể sử dụng phép phân bố giới tính

trong bố trí chỗ ngồi Đặc biệt đối với học sinh hay nói chuyện và quá hiếu động hoặc

nghịch ngợm nên bố trí ngồi cách li bằng phân bố giới tính Những học sinh này có thể

bị chia tách ra khỏi các bạn cùng giới bởi một số bạn khác giới Phân bố giới tính thông

thường không nên hai nữ-hai nam Nếu tỉ lệ giới tính chênh lệch thì có thể điều chỉnh

chút ít Trường hợp lớp quá hiếu động thì cho ngồi xen kẽ Trong hoạt động hỏi bài, trả

lời câu hỏi cũng cần tới phép phân bố giới tính Việc phân bố hợp lí về giới tính trong

hoạt động này sẽ xua tan tâm lí bị lép vế về giới, làm cho lớp đoàn kết và gần gũi hơn

trong tất cả mọi hoạt động

Phép phân bố là nguyên lí cơ bản trong tổ chức hoạt động dạy học của thầy và trò

Khi ứng dụng trong thực tế, người giáo viên cần phải nghiên cứu tỉ mỉ đối tượng học

sinh, phân loại, phân nhóm chúng một cách chính xác Bên cạnh đó việc thực hiện cũng

phải hết sức uyển chuyển Cần phải phối hợp các loại phân bố với nhau phù hợp với tình

hình thực tế

Yêu cầu: Thuyết minh về sử dụng phép phân bố vào quá trình dạy học

§6 RÈN LUYỆN MỘT SỐ KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CHO GIÁO VIÊN TIỂU

HỌC

I CÁC HÌNH THỨC PHÁT ÂM

1 Những yêu cầu chung

Phát âm phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản sau:

- Chất giọng

- Ngữ điệu

- Cử chỉ, điệu bộ

Hoạt động nói năng luôn có sự minh họa bằng cử chỉ và giao tiếp bằng mắt với

người nghe để đảm bảo tính sinh động (đây là điểm khác nhau giữa giao tiếp trực tiếp

với giao tiếp qua phương tiện máy móc) Mắt nhìn người nghe và không được di động

qua lại quá nhiều Sự di động chứng tỏ tính mất tập trung và thiếu tự tin của người nói

Khi nói toàn thân không được ở thế bất động, tay phải cử động nhịp nhàng thích hợp với

nội dung lời nói Không vung tay quá cao, cũng như không đưa tay ngang quá rộng Tay

người nói thường đưa lên phía trước, cao ngang ngực Khi nói người nói trước hết phải

xác định chủ đề và tính sư phạm của vấn đề đưa ra để nói cũng như cách sử dụng từ ngữ

hợp với tâm lí lứa tuổi và khả năng tiếp nhận Người giáo viên phải có năng lực toàn

diện về phát âm: đọc văn xuôi, đọc thơ, ngâm thơ, hát dân ca, phổ nhạc thơ, hò, vè

2 Các hình thức nói

- Nói thông thường: các hành vi (sv thay đổi vai để thực hiện), nghi thức lời nói

Trang 24

- Thuyết minh: tất cả cá lĩnh vực cuộc sống như người bán, mua nhà, quần áo, xe

cộ ; khuyên răn; hùng biện

- Đọc diễn cảm

- Kể chuyện: chuyện tự do, chuyện trong sgk theo từng mức độ, hình thức: xoay

vòng theo tổ; cùng góp ý cách giới thiệu; củng cố cốt truyện; tăng tính hấp dẫn bằng câu

hỏi, phép ngưng; nhấn mạnh chi tiết quan trọng để rút ra chủ đề

- Phát âm nghệ thuật: hò, vè, điếu, ru, ngâm, hát

II KỸ NĂNG NÓI THÔNG THƯỜNG

Yêu cầu: Thực hành các nội dung trên

III KỸ NĂNG THUYẾT MINH

Yêu cầu: Thực hành các nội dung trên

IV KỸ NĂNG ĐỌC DIỄN CẢM

Cơ sở và cách thức của đọc diễn cảm

a Thể loại

Thể loại tập trung những mặt biểu hiện cơ bản nhất của cấu trúc hình thức ngôn

ngữ Từ những dấu hiệu về cấu trúc ngôn ngữ chúng ta có thể xác định được cấu trúc

ngữ âm của chúng trên căn bản Văn bản giàu tính biểu cảm tiêu biểu nhất vẫn là văn

bản nghệ thuật Hiện nay xu hướng dạy tiếng Việt qua văn đang được ứng dụng rộng rãi

trong các cấp học, đặc biệt là bậc Tiểu học và trung học cơ sở Chính vì vậy mà lấy ngôn

ngữ nghệ thuật để xem xét quá trình đọc diễn cảm là có cơ sở khoa học Trong ngôn ngữ

nghệ thuật mỗi thể loại lớn bao gồm nhiều thể loại đặc thù Ví dụ thơ có thơ 2 tiếng, 3,

4, 5, 6, 7, 8, tiếng, thơ tự do, thơ văn xuôi thuộc các kiểu cảm hứng sáng tạo khác nhau

Văn xuôi cũng vậy Các phong cách khác nhau thì có những giọng điệu đặc trưng và

giọng điệu đó chi phối các hình thức ngữ âm của thông báo

b Cảm hứng sáng tác

Trang 25

Giá trị nội dung biểu đạt trong một văn bản nghệ thuật được tạo ra từ cảm hứng

sáng tạo (các loại văn bản khác nội dung biểu đạt do đề tài quyết định chủ yếu) Tư

tưởng và cảm hứng của tác giả là hai yếu tố quan trọng quyết định giọng điệu của tác

phẩm Gộp chung lại người ta thường gọi chúng là cảm hứng sáng tác Giọng điệu thuộc

bình diện nội dung nhưng lại được thể hiện qua những dấu hiệu có tính hình thức Giọng

điệu được thể hiện qua các mặt sau: Sự lựa chọn thể loại, cách thức sử dụng từ ngữ-hình

ảnh, kết cấu tác phẩm, ngữ điệu Quá trình đọc là quá trình tái tạo các đơn vị ngôn ngữ

dưới dạng văn tự thành ngữ âm Quá trình này bị chi phối chặt chẽ bởi hai yếu tố chính:

chính âm và ngữ điệu Chính âm là một điều kiện bắt buộc đối với tất cả các văn bản,

còn ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp bao hàm cả những yếu tố ngôn điệu lẫn những

yếu tố cơ bản của ngữ âm trên nhiều cấp độ khác nhau, đan xen, kết hợp với nhau một

cách hết sức phức tạp

thể tóm tắt những bước xác định các yếu tố chi phối quá trình đọc như sau: Đọc

diễn cảm: nội dung Æ cảm hứng Æ giọng điệu Æ ngữ điệu

Khi nghiên cứu một văn bản nghệ thuật người ta dựa vào nội dung tư tưởng và cảm

xúc để xác định cảm hứng sáng tạo cho tác phẩm Tựu trung có các loại cảm hứng sau

đây:

Cảm hứng anh hùng ca: (Bài ca chim Chơ Rao, Hãy nhớ lấy lời tôi )

Cảm hứng lãng mạn: (Tiếng thu, Chào xuân 61, Tổ quốc bao giờ đẹp thế này

chăng )

Cảm hứng thương cảm: (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Truyện Kiều, Đò Lèn, Quê mẹ,

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa )

Cảm hứng châm biếm, hài hước: (Ông nghè tháng tám, Quán sứ, Vịnh cái quạt,

Kính thưa liền Thị, Bài ca phiêu lưu, Cơm bụi ca )

c Giọng điệu

Từ chỗ xác định cảm hứng của văn bản chúng ta tiến hành xác định giọng điệu Các

nhà nghiên cứu văn học chia giọng điệu thành các loại sau:

Giọng điệu hùng tráng: Hào sảng, vui tươi, nhịp điệu nhanh, mạnh (Ta đi tới, Bài ca

mùa xuân 61 )

Giọng điệu tâm tình: Buồn thương, ngậm ngùi, tiếc nuối, nhịp đều, chậm, trầm ấm,

thiết tha sâu lắng (Quê mẹ, Ngắm ảnh, Tiếng ru )

Giọng điệu trào phúng: chứa đựng nhiều sắc thái ngữ âm khác nhau, nhịp nhanh,

mạnh, thay đổi linh hoạt các yếu tố ngữ điệu (Dế mèn phiêu lưu kí, các truyện cổ tích

loài vật: Trí khôn của ta đây )

Ví dụ: Bài thơ Lượm: Giọng điệu hùng tráng Æ tâm tình: nhanh, mạnh, vui Æ

chậm, trầm, suy tưởng; Tiếng hát sông Hương: tâm tình Æ hùng tráng: chậm Æ nhanh

*Tiêu chí ngữ âm: Từ chỗ xác định được cảm hứng đến giọng điệu chúng ta đã

nắm bắt được ngữ điệu cơ bản của văn bản song để xác định ngữ điệu cho từng phát

ngôn cụ thể còn phải có thêm một số căn cứ khác Các tiêu chí ngữ âm là những căn cứ

trực tiếp có độ tin cậy cao cho phép chúng ta xác định được cách phát âm một cách cụ

Trang 26

thể và chi tiết Trong các yếu tố ngữ âm nhịp điệu có vai trò quan trọng hơn cả Nhịp

điệu hiện diện trong cả văn xuôi và thơ song tiểu biểu nhất là trong thơ Nhịp điệu trong

văn xuôi hầu hết trùng với các kí hiệu ngữ âm như dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm

phẩy tuy nhiên nhiều khi nhịp điệu vẫn hiện diện ở những vị trí không có kí hiệu Ơ

bậc tiểu học các ngữ đoạn ngừng nghỉ dài sẽ là cản trở hết sức lớn đối với học sinh vì

vậy chúng ta cần phải thiết lập nên các nhịp lâm thời Nhịp lâm thời tạo ra các ngữ đoạn

ngắn hơn như thế sẽ thuận lợi cho học sinh khi đọc Nhịp lâm thời được tạo ra như thế

nào? Đó là điểm giao nhau của các đơn vị ngữ pháp Ví dụ: Hàng ngàn bông hoa/ là

hàng ngàn ngọn lửa hồng tươi Hàng ngàn búp nõn/ là hàng ngàn ánh nến trong xanh

Tất cả/ đều lóng lánh/ lung linh trong nắng (Cây gạo - Vũ Tú Nam) Nhịp trong thơ hết

sức tinh tế, nó chính là xương sống nhạc điệu của thể loại văn bản này Mỗi thể thơ đều

có những kiểu ngắt nhịp đặc trưng Thể lục bát có kiểu ngắt nhịp cơ bản là nhịp đôi, thơ

Đường luật là 4/3 Các thể thơ khác nhịp điệu tương đối tự do và linh hoạt

Ví dụ: - Trên giòng/ Hương Giang

Em buông/ mái chèo

Trời/ trong veo* (nhịp nhấn)

Nước/ trong veo* (nhịp nhấn)

Em buông/ mái chèo/ trên dòng/ Hương Giang

Trâu là/ trâu ơi!

Lúa tốt/ bời bời

Ruộng nào/ ruộng nấy

Đầy như/ mâm xôi

- Mùa xuân/ còn hết/ em ơi

Mà con én/ đã gọi người/ sang xuân

Tóm lại, quá trình đọc diễn cảm cần chú ý hai vấn đề chính sau đây:

1, Giọng điệu: thể hiện tiết điệu của dòng ngữ lưu Nếu giọng điệu cảm thương thì tiết

điệu sẽ chậm, đều Nếu giọng điệu hùng tráng thì tiết điệu nhanh, thay đổi linh hoạt và

thậm chí là bất ngờ

2, Nhịp điệu: thể hiện cách nhấn mạnh các thành phần phát ngôn hay tạo ra tính nhạc

như thế nào đó trong biểu đạt nội dung ngữ nghĩa của văn bản thơ

d Ngữ điệu tiếng Việt

Ngữ điệu tiếng Việt là diễn biến của chuỗi âm thanh trong ngữ lưu Mỗi một ngôn

ngữ có một ngữ điệu đặc trưng Mỗi một phong cách ngôn ngữ hay thể loại văn bản, ngữ

điệu có những biểu hiện đặc thù Ngữ điệu tiếng Việt được thể hiện qua các mặt sau:

- Mức độ nhanh hay chậm của tốc độ phát âm

- Sự tăng hay giảm của cường độ

- Dòng âm thanh diễn ra liên tục hay ngắt quãng, đều hay không đều

- Sự kéo dài hay rút ngắn trường độ của âm tiết

- Nhấn mạnh hay lướt nhẹ một đơn vị ngữ âm nào đó trong ngữ lưu

Trang 27

Ngữ điệu là tổng hòa những sự diễn biến của âm thanh như độ cao, độ dài, độ

mạnh trong một câu nói, nhằm thể hiện các sắc thái ý nghĩa khác nhau Ngữ điệu tiếng

Việt được thể hiện trước hết là tốc độ nói và cách ngắt nhịp

Ví dụ: Đêm hôm/ qua cầu gãy Æ nhắc nhở tình thế phải cẩn thận vì có sự nguy hiểm

(trạng ngữ) (bổ ngữ cho động từ chính); Đêm hôm qua/ cầu gãy Æ thông báo một sự

việc đã xảy ra

Bò cày không được/ giết thịt hoặc Bò cày/ không được giết thịt; Đừng uống bia/ uống

rượu con nhé Đừng ăn trộm/ ăn cắp con nhé hoặc Đừng uống bia uống rượu/ con nhé

Đừng ăn trộm ăn cắp/ con nhé

Ngữ điệu trong ngôn ngữ có hai loại: ngữ điệu nói và ngữ điệu đọc Ngữ điệu đọc

phụ thuộc chủ yếu vào văn bản; ngữ điệu nói phụ thuộc chủ yếu vào người nói trong

từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Mặc dù vậy, hai loại ngữ điệu này vẫn có liên quan mật

thiết với nhau

* Sự ngắt giọng

Sự ngắt giọng xét về mặt sinh lí là để lấy hơi; xét về mặt tác dụng là để tách các bộ

phận nhằm xác định rõ nội dung ý nghĩa của câu nói

Ví dụ: Tôi có người bạn quen / ở Huế # Tôi có người bạn / quen ở Huế

Hoặc Bò cày (/) không được (/) giết thịt

* Sự nhấn giọng

Sự nhấn giọng có tác dụng chủ yếu là tăng cường sắc thái biểu cảm bổ sung vào nội

dung biểu đạt của câu nói

Ví dụ: Mây của ta, trời thắm của ta Æ nhấn mạnh đối tượng niêu tả qua việt tăng

cường độ mạnh và đối tượng nói đến và động từ chỉ sở hữu

Một tác dụng nữa cũng không kém phần quan trọng của sự nhấn giọng đó là phân

biệt các thành phần câu nói và từ đó cũng có vai trò to lớn trong việc thể hiện nội dung ý

nghĩa của phát ngôn Ví dụ: Người ở / nhà này là bạn tôi; Người / ở nhà này là bạn tôi

* Sự lên và xuống giọng

Sự lên và xuống giọng thực chất là sự biến đổi của cao độ và cường độ các đơn vị

trong phát ngôn Tác dụng của nó là tạo ra ý nghĩa các câu khác nhau (câu hỏi, câu cảm,

câu cầu khiến )

Yêu cầu: Thực hành đọc diễn cảm các văn bản thơ và văn xuôi (đối với thơ: đọc diễn

cảm thông thường và đọc diễn cảm trình diễn)

V KỸ NĂNG KỂ CHUYỆN

- Kể chuyện không trình diễn (không chú trọng điệu bộ, cử chỉ, đối thoại)

- Kể chuyện trình diễn (chú trọng điệu bộ, cử chỉ, đối thoại)

- Các loại hình bài kể chuyện trong tiếng Việt tiểu học; Những yêu cầu và các bước, các

thao tác của dạy học bài kể chuyện

Yêu cầu: Thực hành kể chuyện và dạy học bài Kể chuyện

Trang 28

VI KỸ NĂNG PHÁT ÂM NGHỆ THUẬT

- Từ phát âm thông thường đến phát âm nghệ thuật

- Mục đích và cách thức phát âm nghệ thuật

Yêu cầu: Thực hành phát âm nghệ thuật (hò, vè, tấu, điếu, ngâm, hát)

VII KĨ NĂNG VIẾT

Xác định các loại, kiểu chữ viết và các mức độ rèn luyện, yêu cầu thích hợp với đòi

hỏi thực tế và năng lực của học sinh Phân theo phạm vi sử dụng: Hai loại chữ viết tiếng

Việt cơ bản là chữ in và chữ thường (tương ứng với nó là chữ hoa in và chữ hoa

thường); Phân theo hình thức con chữ và đặc trưng của hoạt động viết: chữ đứng và chữ

nghiêng, chữ nét đều và chữ nét thanh nét đậm (chữ đứng nét đều, chữ đứng nét thanh

nét đậm, chữ nghiêng nét đều và chữ nghiêng nét thanh nét đậm) Mỗi kiểu loại chữ

được sử dụng trong những phạm vi và điều kiện cụ thể Chữ in chỉ dùng để in ấn (bằng

máy) Chữ thường dùng để viết dựa trên nguyên lí thuận tay và nhanh chóng (hạn chế số

lần nhấc bút) Chữ đứng nét đều là chữ thông thường vừa thực hiện động tác viết nhanh

vừa phù hợp với phương tiện viết thông dụng Chữ nghiêng nét thanh nét đậm là loại

chữ mang tính nghệ thuật, có tính sáng tạo của cá nhân, đòi hỏi trí tưởng tượng và sự

khéo tay rất cao

Xác định đơn vị đo của chữ (cỡ chữ): đơn vị đo trên thực tế tương ứng với từng cỡ

chữ Về mặt lí thuyết, cỡ chữ được chia làm 3 loại: nhỏ, vừa, lớn Cỡ chữ nhỏ là cỡ chữ

thông dụng vì viết nhanh, đỡ tốn giấy và chứa đựng được hàm lượng thông tin cao trên

một không gian hạn chế (trang giấy) Chữ viết tiếng Việt tiêu chuẩn hiện nay được viết

trên giấy có 5 dòng kẻ li (cho học sinh phổ thông) và trên giấy trắng không có dòng kẻ

li, chỉ có dòng kẻ thường (cho các đối tượng sau phổ thông) Chữ viết tiếng Việt được

chia làm 3 nhóm:

Bắt đầu từ lớp 1 năm học 2002- 2003, việc dạy và học viết chữ trong chương trình

tiếng Việt tiểu học trên toàn quốc được thực hiện theo Mẫu chữ viết trong trường tiểu

học kèm theo ban hành Quyết định số 31/ 2002/ QB-GD&ĐT ngày 14/ 6/ 2002 của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Các chữ viết thường, dấu thanh, chữ cái viết hoa và chữ số trong bảng mẫu tự kèm

theo Quyết định nói trên:

1, Mẫu chữ cái viết thường

- Các chữ cái b g h k l y được viết với chiều cao 2,5 đơn vị, tức bằng 2 lần rưỡi chiều

cao chữ cái ghi nguyên âm (n1)

- Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị (n2)

- Các chữ cái r s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị (n3)

- Chữ cái d p q được viết với chiều cao 2 đơn vị (n4)

- Các chữ cái còn lại: o ơ ô a ă â e ê i u c n m v x được viết với chiều cao 1 đơn vị (n5)

- Các dấu thanh, dấu chữ được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị (n6)

Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị

Trang 29

Cụ thể là: cỡ chữ nhỏ: 1 đv = 1 dòng kẻ li; cỡ vừa: 1 đv = 2 dòng kẻ li; cỡ lớn: 1 đv

= 4 dòng kẻ li

Chữ thường:

Cỡ nhỏ: N1 = 2,5 dòng kẻ li

N2 = 1,5 dòng kẻ li N3 = 1,25 dòng kẻ li N4 = 2 dòng kẻ li N5 = 1 dòng kẻ li N6 = 0,5 dòng kẻ li

Cỡ vừa: N1 = 5 dòng kẻ li

N2 = 3 dòng kẻ li N3 = 2,5 dòng kẻ li N4 = 4 dòng kẻ li N5 = 2 dòng kẻ li N6 = 1 dòng kẻ li

Cỡ lớn: N1 = 10 dòng kẻ li

N2 = 6 dòng kẻ li N3 = 5 dòng kẻ li N4 = 8 dòng kẻ li N5 = 4 dòng kẻ li N6 = 2 dòng kẻ li

2, Mẫu chữ cái viết hoa

Chiều cao của hầu hết các chữ cái (n1) viết hoa là 2,5 đơn vị: riêng 2 chữ cái viết

hoa Y G (n2) được viết với chiều cao là 4 đơn vị

Chữ hoa: n1 gồm y, g = 4 đv; n2 gồm những chữ còn lại = 2,5 đv

Cỡ nhỏ: n1 = 4 dòng kẻ li; n2 = 2,5 dòng kẻ li

Cỡ vừa: n1 = 8 dòng kẻ li; n2 = 5 dòng kẻ li

Cỡ lớn: n1 = 16 dòng kẻ li; n2 = 10 dòng kẻ li

3, Mẫu chữ số (tham khảo giáo trình và Sách giáo viên)

Phương pháp đồ họa kí ức: là phương pháp dùng kí ức để tái hiện hình ảnh Hình

thức chữ viết được ghi nhớ trong đầu (hình dáng, kích thước, tọa độ của các điểm cơ

bản) và được thể hiện lại bằng hành động viết Phương pháp đồ họa kí ức có thể được

thực hiện theo các công đoạn: 1: quan sát, ghi nhớ hình thức, kích thước, tọa độ các

điểm cơ bản; 2: viết lên không gian trước mặt bằng ngón tay trỏ; 3: dùng ngón tay viết

lên mặt bàn hoặc bảng con; viết lên bảng con hình ảnh đã ghi nhớ lên bảng con bằng

phấn; 4: viết lên giấy theo trí nhớ của mình Lặp lại ít nhất 5 lần mỗi chữ Nếu là chữ

hoa thì số lần có thể nhiều hơn Quan sát kết quả các lần và tiếp tục cho đến khi thành

thạo

Trang 30

Yêu cầu: Thực hành viết mực, viết phấn với các yêu cầu về tốc độ, đường nét, kỹ

thuật (với các hình thức chữ viết: đứng, nghiêng, nét đều, nét thanh nét đậm )

§7 LỆCH CHUẨN NGỮ ÂM TRONG TIẾNG VIỆT

I LỆCH CHUẨN NGỮ ÂM VÀ PHƯƠNG PHÁP SỬA CHỮA

1 Lệch chuẩn ngữ âm

Trong bất kì ngôn ngữ nào cũng vậy, chính âm là một mục tiêu vô cùng quan

trọng Để đạt được mục tiêu này các nhà ngôn ngữ đã nỗ lực nghiên cứu để xác định

một hệ thống chính âm Bên cạnh đó hệ thống chính âm phải được chính phủ phê duyệt

và đưa vào chương trình dạy học tiếng Khi một ngôn ngữ đạt được sự thống nhất cao

trong phát âm ngôn ngữ đó sẽ trở nên trong sáng và hiệu quả giao tiếp sẽ cao hơn

Người nói phát âm rõ và hay làm cho người nghe hiểu rõ thông tin cần truyền đạt, đồng

thời làm xuất hiện ở người nghe một xúc cảm ngôn ngữ làm cho quá trình giao tiếp diễn

ra theo chiều hướng thuận lợi hơn

Hiện nay, việc dạy tiếng Việt cho học sinh tiểu học chưa đáp ứng được yêu cầu

mong muốn Một trong những vấn đề nổi cộm nhất là chính âm Công tác dạy tiếng Việt

ở tiểu học luôn phải đối mặt với một thực tế đáng lo ngại: Giáo viên không có đủ tư liệu

cũng như cách thức tiến hành củng cố ngữ âm trong quá trình dạy tiếng Tình trạng này

dẫn đến việc dạy phát âm cho học sinh tiểu học hết sức tùy tiện Thêm vào đó, giáo viên

ở lớp tự do sử dụng giọng địa phương của mình để đọc mẫu, trong khi đó đối tượng

người học lại không thuần nhất làm cho việc tiếp nhận thông tin trong ngôn ngữ bị hạn

chế nghiêm trọng Hậu quả đó đã quá lớn trong việc truyền thụ kiến thức cho học sinh,

đó là chưa nói đến nhiệm vụ rèn luyện chính âm của môn tiếng Việt Hệ quả của tình

trạng này là năng lực chính âm của học sinh không có cải thiện gì đáng kể, giáo viên đọc

mẫu nhưng chỉ có một số học sinh nghe được, số còn lại thì nghe không rõ Nguyên

nhân của tình trạng trên là vì giáo viên lấy giọng nói của mình làm mẫu cho học sinh mà

không hề quan tâm đến việc mình phát âm có chuẩn hay không, ngay cả trong một lớp

mà học sinh thuộc nhiều khu vực ngôn ngữ khác nhau di cư đến Lệch chuẩn ngữ âm

được quan tâm chủ yếu trên cấp độ âm tiết (ngữ điệu được xem là yếu tố ít bị ảnh hưởng

bởi tính địa phương

2 Phương pháp sửa lỗi lệch chuẩn

a, Giải pháp chung

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đề xuất những giải pháp sau đây:

1, Khảo sát tình hình thực tế lớp học trước khi quyết định sử dụng phương pháp nào và

thiết kế các mẫu rèn luyện ngữ âm ra sao

2, Luyện các yếu tố ngữ âm riêng rẽ

3, Kết hợp chính âm và chính tả trong các thao tác rèn luyện ngữ âm

4, Đảm bảo mẫu thiết kế rèn luyện ngữ âm trong quan hệ ngữ âm-ngữ nghĩa

b, Phương pháp sửa lỗi lệch chuẩn ngữ âm

Trang 31

Về vấn đề phương pháp sửa lỗi phát âm cho đến nay chưa được quan tâm nghiên

cứu và ứng dụng một cách thỏa đáng Để luyện những yếu tố ngữ âm đạt đến tính chuẩn

mực có thể tiến hành theo 2 phương pháp cơ bản sau đây: Phương pháp1: luyện theo

mẫu Phương pháp này, giáo viên đóng vai trò là người làm mẫu trong đó sử dụng linh

hoạt các thủ pháp luyện đọc mẫu trong thao tác so sánh và thao tác thay thế - so sánh Ví

dụ: chòng chành (như nón không quai) với trong tranh (Đông Hồ) ; Phương pháp2: Đi

vào phân tích các đặc trưng ngữ âm của từng yếu tố ngữ âm (dựa vào phương thức phát

âm và vị trí phát âm các âm vị trong âm tiết, hay nói cách khác là dựa vào cơ chế sản

sinh ra nó) để tiến hành điều chỉnh các hiện tượng lệch chuẩn Ví dụ: [l]: đầu lưỡi-răng,

vang bên # [n]: đầu lưỡi-lợi, vang mũiÆ khi phát âm [l] để khỏi lẫn qua [n] chúng ta có

thể hướng dẫn học sinh bịt mũi để từ đó tăng cường thêm sự mẫn cảm ngữ âm trong quá

trình sửa lỗi, bên cạnh đó chúng ta cũng có thể kết hợp với phương pháp 1 Trong 2

phương pháp thì phương pháp 1 vẫn là phương pháp tối ưu Phương pháp này người

giáo viên đóng một vai trò quan trọng Tuy nhiên để đi đến một sự nhận biết về sự khác

biệt phẩm chất ngữ âm của các đơn vị ngữ âm thì không thể loại trừ phương pháp 2

Phương pháp 1 ưu tiên cho những lớp đầu cấp, phương pháp 2 ưu tiên cho những lớp

cuối cấp

II THIẾT LẬP MẪU RÈN LUYỆN CHÍNH ÂM

1 Sai biệt phụ âm đầu

PNB được coi là phương ngữ gần gũi với tiếng phổ thông nhất Sự sai biệt trong

phương ngữ này chủ yếu và phổ biến là phụ âm đầu /t, s, z / Ngoài ra ở một số vùng của

PNB còn có sự sai biệt các phụ âm khác như /l/, PNN như /v/ Đối với sự sai biệt ngữ

âm của phụ âm đầu chúng ta có thể thiết lập hệ thống từ láy phụ âm đầu để làm mẫu và

luyện đọc theo mẫu trong sự chú trọng cùng một lúc cả hai phương diện ngữ âm- ngữ

nghĩa

Luyện đọc âm tr-

Đây là một âm tắc, vô thanh, đầu lưỡi, ngạc cứng (lợi) Khi phát âm mặt lưỡi hơi

uốn xuống, đầu lưỡi cong lên (quặt lưỡi) Âm này không có trong PNB Âm vị này

thường lẫn với âm ch trong PNB

Để luyện âm này chúng ta có thể thiết kế các loại mẫu:

- Luyện đọc các từ 2 âm tiết trong đó có một âm tiết mở đầu bằng phụ âm tr: trao tay,

tra tấn, trần gian, trẻ em, trèo lên, trên nhà, trinh sát, trình bày, trình tự, trĩu nặng, trú

ngụ, trông theo, trực thăng, trừng phạt, trượt dốc,

- Luyện đọc các từ, cụm từ có hai âm tiết trở lên, các âm tiết mở đầu bằng phụ âm tr:

trăn trở, trăng trối, trầm trọng, trâng tráo, trong trắng, tròn trịa, trọng trách, trần trụi,

trơn tru, trong trẻo, trà trộn, trục trà trục trặc, trơ trơ tráo tráo, trần trùng trục, một

đứa trẻ mình trần trùng trục, đầu trọc lóc, người béo tròn quay đang trượt dốc

- Luyện đọc các từ, cụm từ từ hai âm tiết trở lên trong đó có một âm tiết mở đầu bằng

phụ âm tr và một âm tiết mở đầu bằng phụ âm ch: tranh chấp, trau chuốt, chạm trán,

trân châu, chăn trâu, trên chạn, chẻ tre, chiến trận, trên chòi, chõng tre, chòi đứng trên

Trang 32

đồi tranh, bốn bề trống trải, chỉ có một chiếc chõng tre nằm trơ trọi trong góc chòi bên

trái, đám trẻ chăn trâu buổi chiều chơi chiến trận, chơi trò chọi trâu trong trận chiến

chúng chạy theo triền đê cho trâu trở về chuồng Trâu bước đi chậm chạp, con nào con

nấy trông bụng no tròn, anh bạn trẻ chẻ trăm thanh tre để vót trăm cây chông chống

giặc ở chiến trường, bài văn trơn tru, chữ viết chu đáo trên một trang giấy trắng tinh

- Luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát âm sai các phụ âm đầu tr: chong chiến

chanh chị tôi ra chận Khi ở chong lòng địch chị tổ chức đồng bào đấu chanh chính chị

Chong hòa bình chị chở về chồng cây gây rừng để thực hiện chủ chương của Đảng là

phủ xanh đất chống đồi núi chọc Hôm rồi được thưởng huy chương, chị chằn chọc mãi

không ngủ được Tôi biết thế vì phòng chị ánh đèn sáng chưng Chắc chị đang có một

chương chình mới sắp sửa được đưa ra chình bày chước đại hội

Luyện đọc âm s-

Đây là một phụ âm xát, vô thanh, đầu lưỡi, ngạc cứng (lợi), quặt lưỡi Âm s không

thể hiện trong PNB Âm vị này thường lẫn với âm x trong PNB và một số vùng trong

PNN

Có thể thiết kế theo các loại mẫu rèn luyện như sau:

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết mở đầu bằng phụ âm s: sách vở,

sang trọng, sai trái, sắp đặt, sầm uất, hoa sen, chim sẻ, tấm séc, đàn sếu

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm s: song sinh,

san sẻ, sẵn sàng, sắm sửa, sắt son, sạch sẽ, so sánh, soi sáng, sổ sách, sỗ sàng, sôi sục,

sợ sệt, sục sạo, sụt sịt, sung sức, sử sách,

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết bắt đầu bằng phụ âm s và một

âm tiết bắt đầu bằng phụ âm x: sâu xa, sắp xếp, soát xét, sản xuất, sử xanh, xấu số, sơn

xanh, xác suất, xổ số, sang xuân, xuyên suốt, xứ sở, xương sườn, xuống sông, say xe,

xuất sắc

- Luyện đọc các đoạn văn có chứa các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm s và x: Sáng nay em

dậy sớm, xem lại bài học, soát lại bài tập, sửa soạn sách vở, sắp xếp mọi thứ gọn gàng

vào cặp rồi sang nhà đầu xóm rủ bạn Sinh đến trường Trường em không xa, gồm hai

dãy nhà xinh xắn nằm song song, tường xây gạch và sơn màu xanh Trên sân in bóng

cây xoài cao Học sinh xúm xít nô đùa

- Luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát âm sai các phụ âm đầu s: xắp xung trận,

Xang vớ lấy xúng xem xét lần cuối Anh nghĩ trời đã xẩm tối, bọn địch chắc là không

ngờ tới xức xông xáo của quân ta vẫn còn nguyên vẹn Anh cười thầm và thấy vui vui

cho ý nghĩ xâu xắc đó Đột nhiên Xang thấy đói cồn cào Anh nhớ vô cùng món thịt gà

xào xả ớt mẹ vẫn thường nấu Trong chốc lát mặt xông xao động cả mạn thuyền xóng

xô, anh hòa vào xức mạnh vô bờ của đoàn quân xung trậ; ánh xao xoi xáng con đường

dẫn tới dòng xông

Luyện đọc âm r-

Đây là một phụ âm xát, hữu thanh, đầu lưỡi, ngạc cứng (lợi), quặt lưỡi Phụ âm này

không thể hiện trong PNB

Trang 33

Có thể thiết kế theo các loại mẫu rèn luyện như sau:

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết mở đầu bằng phụ âm r: ra về,

rách nát, rám nắng, rập khuôn, răn đe, rót nước, rên la, man rợ, rượu chè, giẻ rách,

ruột già, rước dâu

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm r: rả rích, rộn

ràng, rầm rộ, rung rinh, rẻ rúng, réo rắt, rập rờn, rệu rã, ríu ra ríu rít, rón rén, rậm rật,

rỗi rãi rờ râu, rủ rỉ rù rì, rúc ra rúc rích, rưng rức, róc ra róc rách, rắc rằng rặc…

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết bắt đầu bằng phụ âm r và một

âm tiết bắt đầu bằng phụ âm d: rau diếp, gieo rắc, ranh giới, rèn giũa, dải rút, dao rựa,

rước dâu, dong riềng, dâu rể

- Luyện đọc các đoạn văn có chứa các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm r và d: giữa không

gian dài rộng, tiếng giẫm chân, tiếng rú rền vang kéo dài nghe thật rùng rợn Tiếng rú

nghe xé ruột xé gan Từ xa vẫn rõ mồn một, làm rụng rời, bủn rủn tay chân; bìa rừng

lửa cháy rừng rực, gió rít rùng rợn

- Kết hợp chính tả và chính âm:

Luyện đọc âm l-

Là một âm xát, vang bên, đầu lưỡi-răng *(khác với n tắc, vang mũi) Âm này ở

miền Bắc có thể hiện song lại thường lẫn lộn qua lại với âm n

Có thể thiết kế theo các loại mẫu rèn luyện như sau:

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết mở đầu bằng phụ âm l: lao xao,

cái loa, láo xược, lụ khụ, lặt vặt

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm l: lanh lợi,

lăm le, lẫm liệt, lúng liếng, lĩnh lương, lòng lành, lẫn lộn, lú lẫn, lúc la lúc lắc, lí lơ, lăm

lăm, lung linh, lanh lảnh, lạnh lùng, làm liều, làm lụng, lững lờ, lươn lẹo

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết bắt đầu bằng phụ âm l và một

âm tiết bắt đầu bằng phụ âm n: nặng lòng, lên nương, nóng lòng, lúc nào, làng nước, lực

nâng, nổi lên, làm nũng lại nói, lá non, nống lên, nắng lửa, nước lên, lúa nổi, hoặc đặt

các từ láy cạnh nhau: long lanh, nao nao, là lạ, na ná

- Luyện đọc các đoạn văn có chứa các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm l và n: Tôi làm lụng

vất vả cả năm nay Trời lạnh cũng chỉ một chiếc thuyền nan lêng đênh trên mặt nước lo

chở khách qua lại trên khúc sông này Tôi thuộc lòng nơi nào lòng sông sâu, nơi nào

nước lặng Lắm lúc nhìn nước lững lờ trôi, nỗi lòng tôi nao nao khó tả Lúc nào lặng lẽ

ngắm hàng cây lưa thưa lòng tôi cũng nóng như lửa đốt Phải chăng đó là nỗi nặng

lòng của kẻ xa quê

- Kết hợp chính tả và chính âm:

Trang 34

Một oạt đạn ổ ong trời ở đất; .ó ói không đời ào ó ại í uận dông

dài như vậy ữa; Ở ông trường, hắn ổi tiếng à ăn ở ộn xộn, ăn mặc ùi xùi,

ói ăng ẩn ộn

- Luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát âm sai các phụ âm đầu l: bồn chồn no

nắng để đến nỗi nẫn nộn nung tung, thành thử nói niến thoắng và mắc toàn nỗi chính

tả; mặc dù bị thầy na nhưng em không hề nao núng Em nẳng nặng nàm bài, em kể

chuyện nàng Nọ Nem, thầy đi qua niếc nhìn, trông ánh mắt nấp náy Cuối cùng thầy

quyết định bài nàm này nấy điểm cuối năm học; chị tôi nàm ở trại chăn nuôi nợn này

đã nửa năm Trại nằm trong thung nũng toàn nà nau nách Những ngày nắng nôi chị tôi

nặng nẽ tắm cho từng con nợn Con nào con nấy nông mượt mà Đúng nà nợn nai kinh

tế thì kinh tế thật! Mỗi con nãi nên đến bạc triệu Chuyến này chắc chị nại được nên

nương Chị ghét thói nười nhác Mỗi khi nàm thịt nợn, chị vẫn thường nấp nửng nói

đùa: nàm thì nười mà nòng nợn thì gắp nia nịa

Luyện đọc đoạn văn có chứa các âm tiết bắt đầu bằng các phụ âm tr-, s, r-, l-

(thuộc PNB)

- Luyện theo hình thức đúng của chính tả: Trong chiến trường Quảng Trị, đặc biệt là

mặt trận đường Chín Nam Lào, quân ta đã rất chú trọng phát động phong trào luyện

quân lập công Trên mỗi chiến hào tiếng kèn xung trận luôn luôn vang dội động viên

mọi chiến sĩ ra sức chiến đấu lập thêm nhiều chiến công mới

- Phát hiện lỗi phát âm sai: Chời đột nhiên đổ cơn mưa, chong nòng em như có nửa đốt

Thế dồi mưa cũng tạnh Bầu chời quang đãng chở nại Chời cao và chong xanh như vừa

có một bàn tay nào gội dửa xạch xẽ tinh tươm

Luyện đọc âm v-

Là một âm xát, hữu thanh, môi-răng Âm này không thể hiện trong hầu hết các vùng

thuộc PNN và thường bị phát âm thành d

Có thể thiết kế theo 5 loại mẫu rèn luyện như sau:

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết mở đầu bằng phụ âm v: va

chạm, vai trò, văn phòng, vắn tắt, vần thơ, vầng trăng, vẽ tranh, vé số, con vẹt, ra về, bệ

vệ, vết bẩn, vĩ đại, võ sĩ, cầu vồng, xa vời, chới với, vó ngựa, vòm trời, vực sâu, văng

tục, vạc dầu, vun đắp, vươn lên, vun xới

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm v: vội vã, vu

vơ, vẩn vơ, vi vu, vật vờ, vất vả, võ vẽ, vàng vọt, vội vàng, viễn vông, vĩnh viễn, vơ vét,

vui vẻ, vang vọng, vấn vương, văng vẳng, vênh váo

- Luyện đọc các từ hoặc cụm từ trong đó có một âm tiết bắt đầu bằng phụ âm v và một

âm tiết bắt đầu bằng phụ âm d: vạc dầu, việt dã, vốn dĩ, vâng dạ, vụng dại, vóc dáng,

vững dạ, vùi dập, dấu vết, vải dày, vận dụng, giả vờ, diên vương, dĩ vãng, dày vò vây

cá-sợi dây, dây dưa-bao vây, vật lộn-giật mình, vẻ vang-giẻ lau

- Luyện đọc các đoạn văn có chứa các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm v và d: Tuấn Vũ vội

vàng vượt lên, lao vun vút vào vùng dày đặc đạn; Nó vui vẻ kể về việc cụ Vấn vừa vẽ

vội vàng vừa vòng vèo kể câu chuyện vừa dông dài vừa viễn vông; Vác lên vai chiếc va

Trang 35

li da dài quá khổ, nó vội vàng dông thẳng tới vườn dâu dưới mây trời vần vũ như sắp

sửa dông; Anh đô vật lưng dài vai rộng, tiếng tăm vang dội khắp vùng, vững vàng

xuống tấn, mặt vênh váo dõng dạc lên giọng thách thức trai làng…

- Kết hợp chính tả và chính âm:

ặc ã ội ã thôn ã

2 Sai biệt thanh điệu

Với tư cách là một âm vị siêu đoạn tính tạo nên các hiện tượng ngôn điệu, thanh

điệu thể hiện trong cách phát âm của các vùng phương ngữ hết sức phức tạp và khó xác

định Đã là yếu tố tạo nên ngôn điệu thì ngay trong một nhóm người thuộc một phương

ngữ cũng đã có sự khác biệt Cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về sự lệch

chuẩn thanh điệu khả dĩ có thể sử dụng được trong quá trình giảng dạy học tiếng Một số

nhận xét chúng tôi đưa ra cũng chỉ mang tính tương đối và chủ quan song cũng có thể

giúp ích cho người học có được những cảm nhận ban đầu về hiện tượng lệch chuẩn

thanh điệu trong tiếng Việt

Sai biệt thanh điệu:

Sai biệt thanh điệu chủ yếu xảy ra trong phương ngữ Trung và phương ngữ Nam:

Thanh 3 và 4 lệch chuẩn ở mức độ đồng hóa: ngã Æ ngả/ngạ, những Æ

nhựng/nhửng; củ Æ cụ, hỏi Æ họi (đường) Áp dụng phương pháp 1 để sửa: củ này nhìn

cũ lắm, ngả này đi hay ngã,

Thanh 4 và thanh 5 lệch chuẩn ở mức độ dị hóa

Thanh 4 gần với thanh ngang nên kết thúc ở vị trí cao trong âm vực và tương

đương với thanh 1

Thanh 5 kết thúc thấp hơn bình thường và gần với thanh 1

Cách khắc phục:

Dùng phương pháp 1: thanh 4 và 5 luyện theo ngữ âm của giáo viên trong sự kết

hợp cùng lúc với các thanh khác khi đọc một phát ngôn hay một đoạn văn với sự nhấn

mạnh các thanh nói trên Chú ý có thể dùng băng tiếng ghi các lời nói trên chương trình

thời sự hay lời phát biểu có độ tin cậy cao Riêng thanh 5 cần đưa các dẫn liệu là các âm

tiết khép

Chúng ta có thể thiết kế một số mẫu luyện đọc sau đây:

Luyện đọc phân biệt hỏi/ngã

Trang 36

Sự lệch chuẩn này phổ biến nhất trong PNT so với PNB và PNN chính vì vậy các

mẫu thiết kế luyện phát âm thanh điệu phải được ưu tiên cho trường hợp này Người dạy

phải phát âm chuẩn mực để người học bắt chước một cách tự nhiên mà không cần phân

tích các thao tác cụ thể vì trình độ của học sinh tiểu học không thể nhận thức được các

yếu tố ngữ âm phức tạp của thanh điệu Sự phân tích có thể chỉ được áp dụng một cách

hạn chế đối với các lớp cuối cấp

Chúng ta có thể tiến hành luyện đọc theo các dạng mẫu sau đây:

- Luyện đọc các từ ngữ có một âm tiết mang thanh ngã: bão bùng, cãi cọ, kĩ càng, lĩnh

vực, vẫn còn, hão huyền, lũ lượt, nghĩ ngợi, vũ khí, vũng nước, biệt đãi, nhã ý, rõ ràng,

vĩ đại, vẽ chuyện, mĩ thuật

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó các âm tiết đều mang thanh ngã: lỗ chỗ, miễn cưỡng,

nghĩ mãi, dễ dãi, lẽo đẽo, võ sĩ, dĩ vãng, võ vẽ, vỡ lẽ, vững chãi, chữ nghĩa, lững thững,

lã chã

- Luyện đọc các từ ngữ có một âm tiết mang thanh ngã và một âm tiết mang thanh hỏi:

nghĩ quẩn, bãi bỏ, bản lĩnh, chẵn lẻ, chủ nghĩa, cổ lỗ, cực chẳng đã, giải phẫu, gõ cửa,

hỏa tiễn, kẻ sĩ, khả dĩ, khoản đãi, lãnh thổ, lỗ thủng, mảnh gỗ, ngả mũ, ngưỡng cửa, sổ

mũi, tả hữu, thẩm mĩ, triển lãm, vãn cảnh, biểu diễn

- Luyện đọc các câu, đoạn có các âm tiết mang thanh ngã, hỏi: Biết rồi, khổ lắm nói mãi,

mây đen làm vẩn đục bầu trời, nó bị một phen bẽ mặt trước mọi người, con gái mười

bảy bẻ gãy sừng trâu, ngày chẵn ngày lẻ cũng là lẽ thường có gì mà phải nghĩ ngợi,

chị phải chịu cảnh lẽ mọn làm sao không rầu rĩ và nghĩ suy được

- Kết hợp luyện chính âm với chính tả: sửa lỗi và phát âm: bẻ mặt, chẫn đoán, bát đủa,

nãn lòng, nhai bõm bẽm, áo chẻn, theo đuỗi, ngả ngữa, ngẩm nghỉ, cổ lổ sỉ, cho bỏ ghét,

biễu quyết, chử nho, giãi thưỡng, hưỡng lạc, ngưởng mộ, dủng cãm, lổ mảng, tranh cải,

bỉu môi, dể chịu, lãng tránh, quên lảng, mũm mỉm, yễm trợ

Luyện đọc phân biệt ngã, nặng

Đây cũng là một tình trạng thường xuyên xảy ra trong giao tiếp của những người

thuộc PNT tuy nhiên nó không phổ biến bằng sự lẫn lộn hỏi-ngã Trường hợp này ta

cũng có thể thiết lập các mẫu luyện đọc tương tự như trên:

- Luyện đọc các từ ngữ có một âm tiết mang thanh ngã và một âm tiết mang thanh nặng:

nhã nhặn, những mặt chưa được, lỗ nặng, lặng lẽ, vĩ đại, vẫn đục, lạc lõng, hữu ngạn,

xã hội, mũi nhọn, lẫm liệt, xã luận, vũ hội, vũ thuật, nã đạn, lũng đoạn, vỡ vạc, vỡ

ruộng, vỡ đập, mĩ thuật, lãnh đạo, lão luyện, nỗi nhục, nhãn hiệu, viễn vọng, ngưỡng

mộ, gãy gục, những cuộc chiến vĩ đại,

- Luyện đọc các từ ngữ có các âm tiết mang thanh ngã, hỏi, nặng có thể đi liền nhau hay

ngắt quãng: Tư bản tài chính lũng đoạn nền kinh tế xã hội; chẳng những thủ đoạn xin

đểu sẽ bị tiễu trừ mà tình trạng nhũng nhiễu những vị khách bất đắc dĩ cũng tự nhiên

biến mất; khủng hoảng năng lượng sẽ tạo ra những nỗi khổ cho người nội trợ; bão bẻ

gãy những cọng đu đủ còn sót lại; sửa mãi lỗi vẫn lỗi Chỉ khổ những bậc trưởng lão

Trang 37

chẳng được hỏi một câu cho phải lẽ; cửa ngõ hang động của bọn thổ phỉ đóng im ỉm,

chỉ có một dòng chữ: hãy gõ cửa sẽ mở

Luyện đọc thanh sắc

Áp dụng cho PNT và PNN với mẫu luyện đọc cơ bản là sắc - nặng; sắc - sắc và

mẫu luyện đọc tổng hợp

Luyện đọc tổng hợp các thanh phát âm không chuẩn

Thanh điệu là yếu tố ngôn điệu nổi bật nhất trong tiếng Việt chính vì vậy chúng ta

không ngạc nhiên khi tiếng miền Trung có một nét đặc thù mà hễ khi mở miệng ra ai

cũng nhận ra Trong phương ngữ này các thanh điệu hầu như bị phát âm đi lệch khỏi

chuẩn mực Ngoài thanh ngã là thanh mà người miền Trung không thể hiện được còn lại

các thanh khác đều ít nhiều bị phát âm biến dạng Vì vậy một phương pháp tối ưu để rèn

luyện thanh điệu cho đối tượng học sinh này là tách thanh 3 ra rèn luyện riêng còn các

thanh khác thì đặt trong những đơn vị ngữ âm nhất định từ thấp đến cao để rèn luyện và

điều chỉnh: từ âm tiết Æ cụm âm tiết Æ câu Æ đoạn văn Trong đó tất yếu người giáo

viên phải thể hiện được hệ thống thanh điệu chuẩn trong quá trình phát âm Các mẫu

thiết kế có thể theo nguyên tắc cho xuất hiện xen kẽ các thanh cao-thấp-cao-thấp, hoặc

nhấn mạnh các cụm âm tiết trong ngữ lưu thể hiện được tính luân phiên này

3 Sai biệt phần vần

Sai biệt vần hiện diện chủ yếu trong 2 vùng phương ngữ Trung và Nam:

Luyện âm -t

Là một phụ âm tắc, vô thanh, đầu lưỡi-răng Trong PNN phụ âm này không thể hiện

ở vị trí cuối cùng của âm tiết mà thay vào đó nó bị phát âm chệch thành c Chúng ta có

thể thiết kế các mẫu luyện phát âm như sau:

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó có một âm tiết kết thúc bằng phụ âm t: lấn át, bát đĩa,

cái bát, ca hát, chan chát, đỗ đạt, cổ rát, son sắt, đuổi bắt, lắt léo, cất giấu, xếp đặt, gạt

bỏ, chặt chẽ, sáng suốt, to tát, thấm thoắt, réo rắt

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó các âm tiết kết thúc bằng phụ âm t: lắt nhắt, lật đật,

thắt chặt, vật chất, lất ngất, mát mắt, tắt mắt, bát ngát, khuất tất, lướt thướt, sướt mướt,

ruột thịt, chất ngất, bất khuất

Trang 38

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó một âm tiết kết thúc bằng phụ âm t và một âm tiết khác

kết thúc bằng phụ âm c: bất trắc, lật ngược, lục bát, bắt buộc, dát bạc, vượt thác, cắt

tóc, sắc nét

- Luyện đọc các phát ngôn chứa các âm tiết phân biệt t/c: Như muốn diễn đạt những

khát khao, tiếng hát cất cao như vượt lên ghềnh thác, bỗng tắt dần, tắt dần rồi im, bặt

chỉ còn lại một không gian bát ngát, lặng ngắt như tờ; lệnh phát ra tất cả nhất tề vùng

lên như thác vỡ bờ Họ vượt qua trạm gác, dựa vào các bao cát thực hiện tác chiến theo

cách đã định Các hỏa tiễn lần lượt bị dập tắt, một tổ đã chiếm được kho đạn phía bắc,

bắt đầu nhảy qua xác địch rải rác trên đường, bật công tắc đèn theo lối tắt chiếm sở chỉ

huy địch trong nháy mắt

- Luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát âm sai các phụ âm cuối -t: Trong cuộc thi

nhấc thiếc phải hác mộc bài của tác giả Hồng Ngác nói về nỗi khao khác vươn lên Cuối

cùng bài Vếc chân tròn trên các đã đạc giải nhấc cuộc thi; tấc cả nhấc loạc theo lối tắc

nắm bắc mục tiêu, vược qua bao các, bắc địch hạ vũ khí đầu hàng; be hông có nhè

Luyện âm -n

một phụ âm vang mũi, đầu lưỡi-răng, về cơ bản cũng giống như n- Trong PNN

âm vị này thường bị phát âm thành ng Khi phát âm nếu lưỡi đưa về đằng trước thì phụ

âm -ng không thể hiện được Vì vậy người dạy cần chú ý đặc điểm này để lưu ý cho học

sinh trong quá trình luyện phát âm Trường hợp này chúng ta có thể thiết kế các dạng

mẫu luyện đọc như sau:

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó có một âm tiết kết thúc bằng phụ âm n: man mác, san

sát, dan díu, dằn mặt, chan hòa, ban phát, căn ke, hoan hỉ, hơn thua, vần thơ, vẩn đục,

thân thiết, tuổi xuân

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó các âm tiết kết thúc bằng phụ âm n: can ngăn, an toàn,

lăn tăn, cần mẫn, dân gian, lan man, hân hoan, trần gian, cuồn cuộn, vươn lên, trên

bến, lần khần, hàn huyên, bần thần, ngăn cản, hiển nhiên, xắn quần, thiên nhiên, buôn

bán, viên mãn

- Luyện đọc các từ ngữ trong đó có một âm tiết kết thúc bằng phụ âm n và một âm tiết

mang phụ âm cuối ng: ngang nhiên, chăng màn, chặn đứng, hoàn lương, xương sườn,

mong muốn, ngăn sông, nôn nóng, nồng nàn, lồng lộn, khoan hồng, chiến trường, tan

tành, tân cảng, cuồng điên, cơn giông

- Luyện đọc các nhóm từ ngữ trong thế so sánh đối lập -n/-ng (đọc nhanh): buôn bán -

báng súng, càn quét - kĩ càng, chứa chan - chang chang, khăn ăn - khăng khăng, buồn

phiền - buồng trong, khô khan - khang trang, lăn lộn - lăng Minh Mạng, thiên lí - thiêng

liêng, khoai lang - hoa lan

- Luyện đọc kết hợp chính tả: ba bố, bà bạc, hâ hoa ,

- Luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát âm sai các phụ âm cuối n: Tôi thực sự

băng khoăng lo lắng, lòng dạ côồng cào không yêng Đã hơng bôống tháng không

nhậng được ting Thử hỏi kiêng trì đếng mấy cũng hoảng hôồng; khôông dại ở đời là

Trang 39

chuyện thường tình sao lại nảng lòng? Điều đó chắc cổ nhâng đã truyềng đạc lại rồi

coòng gì

Luyện đọc đoạn văn có chứa các sai biệt ngữ âm phần phụ âm cuối -t, -n trong

PNN

Tấc cả mọi người sưn ra đều có guyềng bừn đẳng

Luyện âm chính a Æe, -a- Æô, a (ngắn) Æ a (dài), ơ (ngắn) Æ a (dài)

Có thể thiết kế tương tự như các mẫu nói trên Đối với những trường hợp phát âm

sai nguyên âm chúng ta có thể thiết kế mẫu luyện đọc qua cách nhận diện văn bản phát

âm sai các phần nói trên: be mé em nói ăn lên ăn cơm mà sao ăn mãi lồm không chịu

lên; chị tôi sưn được thằng coong tre, năm nay đã vào lớp be; ăn ấy đớn mặc mày lấm

đầy thang

Yêu cầu: Thực hành luyện phát âm đúng (khắc phục lệch chuẩn)

§9 ĐÁNH GIÁ VÀ LƯỢNG HÓA KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

QUA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ

I VAI TRÒ CỦA ĐÁNH GIÁ

Đánh giá được xem là công đoạn cuối cùng của một quy trình hoạt động (đào tạo,

sản xuất ) Nó không những cho ta biết được chất lượng của hoạt động mà còn tác động

trở lại quy trình hoạt động một cách trực tiếp Vì vậy, trong dạy họ tiếng Việt tiểu học

đánh giá đúng sẽ có tác dụng tích cực tới việc điều chỉnh nội dung, phương pháp,

phương tiện dạy và học bộ môn này

II THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC

1 Đánh giá môn tiếng Việt tiểu học ở nước ta

- Hiện nay có hai cách đánh giá kết quả học tập môn tiếng Việt ở tiểu học: giáo viên

quan sát trực tiếp việc đọc thành tiếng, việc nghe và nói của học sinh để cho điểm; giáo

viên hoặc các thành viên ban giám hiệu, phòng, sở ra đề kiểm tra viết gồm những câu

hỏi mở để học sinh làm bài rồi chấm điểm Căn cứ đánh giá chủ yếu dựa trên điểm số

Việc đánh giá chủ yếu nhằm mục đích phân loại học lực của học sinh Các kiểm tra

đánh giá này bộc lộ những hạn chế sau:

- Nội dung đánh giá thiếu toàn diện (chỉ đáng giá được một bộ phận kiến thức đã

được học) và thường kiểm tra nhiều hơn khả năng ghi nhớ mẫu của học sinh Kiến thức

về từ ngữ, ngữ pháp, kĩ năng chính tả, viết bài văn kể, tả, kĩ năng đọc thành tiếng được

kiểm tra thường xuyên Những kĩ năng quan trọng khác như đọc thầm, đọc lướt để nắm

ý, đọc hiểu, nghe và nói, kĩ năng viết từng đoạn, từng phần của bài văn chưa được đánh

giá hoặc ít được đánh giá một cách thường xuyên Đề thi và kiểm tra hiện nay chủ yếu ở

dạng viết, tự luận 3, 4 câu hỏi không bao quát hết các nội dung và kĩ năng kiến thức nên

việc đánh giá sẽ thiếu tính khoa học và độ chính xác không cao

- Công cụ đánh giá (đề thi, đề kiểm tra, câu hỏi kiểm tra) không tạo ra được sự phân

loại cao Cách đánh giá hiện hành khó phân biệt được trình độ thực của học sinh Đề thi

Trang 40

tiếng Việt chỉ yêu cầu năng lực tiếng Việt ở mức độ tối thiểu Vì vậy các câu hỏi chỉ

dành cho học sinh trung bình, học sinh khá và giỏi không có cơ hội thể hiện mình Hậu

quả là trong một lớp nếu căn cứ vào điểm thì tổng kết môn học này có thể chiếm 50 -

90% (thậm chí 100% nếu học sinh là các vùng thành thị) học sinh khá, giỏi Có những

học sinh chỉ làm bài kiểm tra hết 15/40 phút và thời gian còn lại không biết làm gì Đây

rõ ràng đề thi không khoa học Học sinh giỏi (căn cứ trên điểm xếp loại) không có học

lực giỏi rất phổ biến trong các trường tiểu học Điều bất cập này được kiểm chứng ngay

khi học sinh chuyển cấp Có học sinh xếp loại giỏi tiếng Việt nhưng lên Tung học cơ sở

lại được xếp vào loại trung bình Một đề thi không có tính phân loại sẽ làm cho học sinh

có năng lực chán nản, giáo viên không phát hiện ra để bồi dưỡng và khích lệ kịp thời

Đề thi tiếng Việt phải có cấu trúc thích ứng cho cả 3 đối tượng: khá, giỏi, trung bình và

yếu

- Việc đánh giá thiếu khách quan và phụ thuộc quá nhiều vào người ra đề, người

chấm thi

Cách ra đề và chấm thi hiện hành chưa thực hiện đúng quy trình khoa học cần có

của công việc này Việc ra đề tiếng Việt lâu nay cho tiểu học thường giao cho một người

hoặc một nhóm người dựa trên kinh nghiệm của bản thân cá nhân họ là chính Thực tế

đáng lí ra người ra đề phải có sự trao đổi thấu đáo với các giáo viên chủ chốt giàu kinh

nghiệm hoặc các chuyên gia trong lĩnh vực tiếng Việt Nhưng họ đã không làm như vậy

nên đề thi thường mang tính áp đặt cả về nội dung cũng như loại hình câu hỏi, hình thức

kiểm tra Điều này dẫn đế tình trạng yêu cầu của đề có thể thiên lệch về một hoặc một

số kĩ năng tiếng Việt nào đó trong khi bỏ rơi một phần hoặc hoàn toàn những kĩ năng

còn lại mà đáng lẽ ra phải có như yêu cầu chung đã được đề ra từ trước của mục tiêu

môn học Do không làm trắc nghiệm khách quan nên việc chấm thi cũng đầy tính chủ

quan Đáp án cứng nhắc hoặc quan điểm người chấm chi phối đã ảnh hưởng đến tính

chính xác của việc đánh giá (cho điểm cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thực của bài làm)

Một đề thi chọn học sinh vào trường chuyên trung học cơ sở: Các từ sau đây có phải là

từ láy không? Tại sao? Yên ả, ầm ĩ đã nghiễm nhiên xem học sinh vừa học xong

chương trình tiểu học là các chuyên gia nghiên cứu về ngữ âm tiếng Việt

- Việc đánh giá không kịp thời làm cho học sinh chậm điều chỉnh, sửa chữa sai sót,

hạn chế của mình

- Khâu xử lí kết quả còn quá đơn giản, kết quả được thể hiện bằng điểm khó có thể

cho ta biết học sinh mạnh, yếu chỗ nào, tiến lên hay thụt lùi trong tiến trình học tập (vì

các giáo viên khác nhau khi thay nhau dạy cùng một lớp sẽ có cách đánh giá chủ quan

của riêng mình mà không dựa vào một bộ tiêu chí thống nhất và khoa học)

2 Cách đánh giá các môn học nói chung, môn ngôn ngữ nói riêng của các nước

tiên tiến

Hiện nay cách đánh giá môn ngôn ngữ của các nước tiên tiến đang phát huy hiệu

quả thiết thực Hệ thống đánh giá kết quả học tập của họ được thực hiện theo những

nguyên tắc khoa học và có hệ thống:

Ngày đăng: 03/01/2016, 18:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Ví dụ 2: Hình thức của câu: Đầu câu viết hoa, cuối câu có dấu chấm... - Phương pháp dạy học tiếng việt
d ụ 2: Hình thức của câu: Đầu câu viết hoa, cuối câu có dấu chấm (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w