1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Châm cứu tổng hợp

36 301 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 600,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DÙNG LOA TAI VÀO ĐIỀU TRỊ Trong chữa trị bằng châm cứu nói chung, có cách châm vào nơi đau huyệt a thị để chữa bệnh.. Trong phương pháp châm kim ở loa tai để chữa bệnh, người ta dùng 3 c

Trang 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO CỦA DIỄN ĐÀN BÁC SỸ ĐÔNG Y

Trang 2

PHẦN 1: CÁC KỸ THUẬT CHÂM CỨU

1 Kỹ thuật châm (Các thì châm)

1.1 Qua da: Tay thuận cầm kim, tay không thuận căng da => đưa kim qua da nhanh

1.2 Đưa kim vào huyệt:

- Từ từ -> đắc khí tới huyệt Cảm giác đắc khí:

+ Người bệnh: cảm thấy nặng tức ở vùng châm, không được (đau-buốt-tê-xót) + Thầy thuốc: Kim như mút xuống – Trong quá trình đưa kim tới huyệt rất thoải mái bằng cách dùng 2 đầu ngón tay nhấc nhẹ kim lên thì kim lại như mút tới huyệt, không được quá lỏng (là chưa tới huyệt), dít quá (là châm quá sâu, hay quá sát vào gân xương)

- Kích thích huyệt phải từ 25-30 phút

1.3 Rút kim:

- Nhanh, ngược chiều kim đưa vào

- Đối với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao: rút kim xong để ngay vào lọ tiệt khuẩn, không chuyển từ tay nọ sang tay kia,không để kim đâm vào tay

2 Kỹ thuật bổ tả: là nâng cao hiệu quả của châm, hư thì bổ mẹ, thực thì tả

con, hưng phân thì trâm tả, trầm cảm thì châm bổ

* Về cường độ:

- Vê nhiều: là tả

- Không vê: là bổ

* Về hô hấp:

- Thở vào thì châm kim, thở ra thì rút kim: là tả

- Thở vào thì rút kim, thở ra thì châm kim: là bổ

* Về nghinh tùy:

- Châm xuôi theo đường kinh là bổ

- Châm ngược đường kinh là tả

* Về Đóng mở khi rút kim:

- Rút kim ra không bịt lỗ châm là tả

- Rút kim ra bịt lỗ châm là bổ

3 Kỹ thuật điện châm:

3.1 Định nghĩa: Điện châm là kích thích điện lên huyệt qua kim châm cứu bằng máy điện châm 2 tần số, để điều khí được nhanh hơn mạnh hơn

+ Mắc song song, đối xứng: Hợp cốc – Hợp cốc

+ Mắc trên cùng một đường kinh: Hợp cốc – Khúc trì

+ Ngoài kinh (cùng loại kinh): Ngoại quan – Khúc trì

+ Lưu ý: Không mắc quá gần vì đoản mạch, không mắc quá xa vì tác dụng yếu, không mắc kinh âm với kinh dường vì (khí của kinh âm đi lên, khí của kinh dương đi xuống)

+ Khi nhiều huyệt cần tả thì tăng tần số bên bổ lên thì là tả

Trang 3

4 Kỹ thuật thủy châm:

4.1 Định nghĩa: Thủy châm là đưa thuốc vào huyệt (tiêm bắp) nhằm làm phát huy tác dụng của thuốc nhanh hơn mạnh hơn

4.2 Kỹ thuật:

- Thử test trước khi tiêm

- Thủy châm như tiêm:

+ Sát trùng

+ Châm nhanh qua da

+ Từ từ bơm thuốc vào huyệt: Hoàn khiêu (5-7ml), Bách Hội (0,5-1ml)

- Các phương pháp thủy châm:

+Phương pháp thủy châm định vị: khi mũi kim đưa đến đúng vị trí huyệt thì cố định mũi kim rồi bơm hết lượng thuốc đã định

+Phương pháp thủy châm từ nông đến sâu hoặc từ sâu đến nông: khi đã tìm đúng huyệt, bắt đầu bơm thuốc chừng 0.1 -0.2 ml rồi rút lên chứng 0.1 – 0.2 cm rồi lại bơm thuốc, cứ thế cho đến hết thuốc thì mũi kim cũng vừa khỏi da Hoặc ngược lại từ nông vào sâu đến đúng vị trí huyệt thì bơm hết thuốc

+Phương pháp thủy châm kết hợp tiêm bắp với tiêm dưới da: tìm đúng huyệt, tiêm 1 phần thuốc vào bắp thịt, rồi từ từ kéo kim lên phần nông và tiêm nốt thuốc vào dưới

da, thuốc ở dưới da sẽ dự trữ lại và thấm dần dần, khi dùng thuốc kích thích mạnh sẽ giảm nhẹ kích thích đối với bắp thịt và thần kinh

- Lưu ý:

+ Không được dùng thuốc tiêm tĩnh mạch để thủy châm

+ Nếu bị chảy máu lấy bông khô bịt

+ Có người hỗ trợ để thủy châm cho bệnh nhân nhi

+ Xoay nhẹ pittong để thử: tránh tiêm vào mạch máu

5 Vấn đề đắc khí khi châm cứu

5.1 Cơ sở lý luận:

“ Đắc khí” nói đơn giản là châm đợi khí đến, 1 vấn đề quan trọng bậc nhất trong khi châm kim, đánh giá kết quả châm có tốt hay không

* Theo YHCT:

- Trong đường kinh: có kinh khí vận hành

Khi có bệnh (hoặc do tà khí thực hay do chính khí hư) đưa đến bế tắc đường kinh khí -> gây ra các triệu chứng của bệnh

- Khi châm kim vào huyệt nếu đúng huyệt sẽ có 2 hiện tượng tùy theo nguyên nhân – trạng thái bệnh nhân mà gọi là đắc khí Nói một cách khác Đắc khí là hiện tượng xảy ra khi châm kim đúng vào huyệt

+ Thường nếu tà khí mạnh (YHCT gọi là thực chứng) => thấy hiện tượng đắc khi do tà khí theo kim ra ngoài

+ Nếu do chính khí hư, châm lâu khí mới đến, có trường hợp hư quá chính khí không đến

 Khi phân biệt được trường hợp hư thực ta có phương pháp châm khác nhau

Trang 4

5.2 Những hiện tượng xảy ra khi đắc khí

♣ Thầy thuốc:

- khi châm kim, kim bị mút chặt như cá cắn câu, thường xảy ra ở vùng cơ lớn (YHCT cho rằng do tà khí thực gây ra, do kim bị kích thích hoặc do đang đau, các cơ xơ cứng nên kim thấy chặt)

- Hãn hữu có trường hợp da đỏ bừng hay tái nhợt trên hoặc dưới đường kinh (YHCT cho rằng do khí lưu thông YHHĐ cho rằng đây là phản xạ đột trục vận mạch, nếu mạch máu co thì da tái nhợt, nếu mạch máu giãn thì da tái đỏ)

6 Vấn đề bổ tả khi châm cứu:

“ Bổ - Tả” là thủ thuật được áp dụng để nâng cao hiệu quả của châm khi châm

đã đắc khí (hư thì bổ mẹ, thực thì tả con, hưng phấn thì châm tả, trầm cảm thì châm bổ)

6.1 Cơ sở lý luận:

♥ Theo YHCT:

- Theo trạng thái hư thực của người bệnh:

+ Hư : là chính khí hư -> dùng bổ pháp để nâng cao chính khí

+ Thực: là tà khí thực -> dùng tả pháp để đuổi tà khí ra ngoài

+ Hư: thì bổ mẹ, thực thì tả con (Áp dụng theo quy luật tương sinh của ngũ hành)

- Theo lý luận kinh lạc:

+ Khi có bệnh, tà khí vào kinh lạc -> gây bế tắc kinh khí -> thì dùng tả pháp

- Theo đường đi của kinh (Âm thăng, dương giáng)

+ Kinh âm: xuất pháp từ tạng đi ở mặt trước – trong, hướng đi lên

+ Kinh dương: đi từ phủ ra mặt ngoài, sau lưng và hướng xuống

 Nghinh tùy: Tùy theo hư thực mà chiều kinh đi ngược hay xuôi đường kinh gọi là thủ thuật nghinh tùy

Trang 5

- Khi áp dụng thủ thuật bổ tả: phải tùy theo trạng thái ức chế hay hưng phấn của bệnh nhân mà lựa chọn

+ Bệnh nhân đang ở trạng thái ức chế (hư) dùng bổ pháp

+ Bệnh nhân đang ở trạng thái hưng phấn (thực) dùng tả pháp

- Theo Widenski, về cơ năng linh hoạt của hệ kinh lạc, 1 kích thích nhẹ sẽ gây ra 1 hưng phấn nhẹ, 1 kích thích mạnh và liên tục sẽ gây ra 1 trạng thái ức chế trong toàn thân Như vậy: nếu bệnh nhân đang ức chế (hư) dùng bổ pháp (cường độ nhẹ) sẽ gây ra hưng phấn kích thích, nếu bệnh nhân hưng phấn (thực) dùng tả pháp (cường độ mạnh và liên tục) sẽ gây

ra hiện tượng ức chế

6.2 Các thủ thuật bổ tả chính:

Cường độ Sau khi châm đã đắc khí

=> Không vê kim

Sau khi châm đã đắc khí

=> Vê kim nhiều lần

Hô hấp Thở ra hết châm kim, hít vào

Khi rút kim ấn chặt nơi châm Khi rút kim không ấn nơi châm

7.CHÂM LOA TAI

7.1 DÙNG LOA TAI VÀO ĐIỀU TRỊ

Trong chữa trị bằng châm cứu nói chung, có cách châm vào nơi đau (huyệt a thị) để chữa bệnh Cách này khá thông dụng được dùng riêng lẻ hay kết hợp trong một công thức huyệt Thực tiễn cho thấy tác động trên huyệt a thị nhiều khi đạt được kết quả không ngờ Trong phương pháp châm kim ở loa tai để chữa bệnh, người ta dùng 3 cách sau:

- Dùng huyệt a thị (cũng có thầy thuốc vừa châm kim ở các huyệt của 14 đường kinh của thân thể vừa châm vào huyệt a thị của loa tai)

Trang 6

- Châm kim vào các vùng ở loa tai được quy ước là có quan hệ với nơi đang có bệnh (ví dụ: bệnh dạ dày châm vào vùng dạ dày, bệnh ở đầu gối châm vùng đầu gối, đau thần kinh hông châm vùng vùng thần kinh hông) Cách này tuy chưa đầy đủ nhưng đơn giản và dễ áp dụng

- Dùng các điểm phản ứng trên loa tai theo lý luận y học hiện đại và y học cổ truyền, thực tế chỉ cách này là đem lại kết quả tốt

- Ví dụ: đau mắt đỏ cần châm vùng gan, mắt để bình can giáng hỏa (theo lý luận y học

cổ truyền); tắc tia sữa châm vùng tuyến vú, nội tiết để thông sữa (theo y học hiện đại); hành kinh đau bụng châm vùng tử cung, thận, giao cảm, nội tiết (kết hợp y học

cổ truyền và y học hiện đại)

Các thầy thuốc ngày càng có xu hướng kết hợp cách thứ 3 với huyệt a thị tìm thấy trên loa tai trong một công thức điều trị

7.2 DÙNG LOA TAI VÀO CHẨN ĐOÁN

Điểm phản ứng bệnh lý xuất hiện tại các vùng đại biểu ở loa tai của các cơ quan nội tạng bị bệnh trong khá nhiều trường hợp giúp cho thầy thuốc hướng chẩn đoán, xác định cơ quan tạng phủ bị bệnh

Ví dụ: điểm ấn đau giữa vùng đại trường và tiểu trường trong bệnh viêm ruột thừa cấp; điểm ấn đau ở vùng dạ dày trong cơn đau dạ dày cấp ; điểm ấn đau có điện trở thấp tại vùng gan, thận trong một số trường hợp huyết áp cao

Nói chung, sự thay đổi ở loa tai đến nay đã có những đóng góp nhất định vào chẩn đoán vị trí bệnh, nhưng phải biết đánh giá và chọn đúng những điểm phản ứng tiêu biểu Trong công trình gần đây của mình, Nogier có giới thiệu một phương hướng tìm tòi thông qua sự đáp ứng của các điểm phản ứng bệnh lý trên loa tai đối với kích thích nóng lạnh để xác định trạng thái hàn nhiệt và hư thực của bệnh

Thông thường các thầy thuốc kết hợp những dấu hiệu bệnh lý xuất hiện trên loa tai, các dấu hiệu trên đường kinh hoặc các biểu hiện về mạch chứng khác để chẩn đoán toàn diện và chính xác

7.3 DÙNG LOA TAI VÀO PHÒNG BỆNH

Ngoài ý kiến của người xưa xoa vành tai để bổ thận khí, “gõ trống trời” bật vành tai

để bảo vệ tai, cho đến gần đây chưa có báo cáo ở nước ngoài về dùng loa tai trong phòng bệnh

Viện Đông y, từ năm 1965 đã tiến hành tiêm liều lượng nhỏ (mỗi mũi kim vài giọt) sinh tố B1 0,025g (hoặc sinh tố B12 1000g) pha loãng với nước cất tiêm vào vùng lách, dạ dày để đạt kết quả ăn ngủ tốt, qua đó tăng sức chống đỡ của cơ thể Người ta cũng đã tiêm novocain 0,25 - 0,5% 1/10ml vào vùng họng, amiđan để giảm số lần viêm nhiễm của các cơ quan này ở người lớn và trẻ em (nhất là trẻ em) có viêm họng, viêm amiđan; mỗi tuần tiêm 3 lần tiêm trong 3 - 4 tuần thấy đạt kết quả tốt

7.4 KỸ THUẬT CHÂM CỨU TRÊN LOA TAI

Cấu tạo loa tai chủ yếu trên da dưới sụn, một vài chỗ có vài cơ dẹt mỏng, vì vậy châm

ở loa tai khác với châm ở cơ thể

- Châm kim: có thể theo hai hướng (châm thẳng góc với da sâu 0,1-0,2 cm không châm xuyên qua sụn hoặc châm chếch 30 - 40°) hoặc khi cần có thể châm luồn dưới

da xuyên vùng này qua vùng khác

- Cảm giác đạt được khi châm (cảm giác đắc khí/loa tai):

+ Châm vào huyệt a thị trên loa tai, bệnh nhân thường có cảm giác đau buốt, nóng bừng và đỏ ứng bên tai châm

+ Cảm giác căng tức: do đặc điểm tổ chức học của loa tai (có rất ít cơ) nên cảm giác hầu như rất khó đạt được

Trang 7

- Cài kim: thủ pháp thường áp dụng khi thầy thuốc muốn kéo dài tác dụng của nhĩ châm Kim được sử dụng là loại kim đặc biệt, giúp thầy thuốc dễ dàng cài đặt và cố định trên loa tai Kim này có tên là nhĩ hoàn

- Cứu: rất ít sử dụng vì khó thực hiện

- Thủ thuật bổ tả: trong nhĩ châm, phương pháp bổ tả được thực hiện đơn giản hơn hào châm, (kích thích mạnh tả, kích thích nhẹ: bổ)

- Liệu trình:

+ Khi chữa bệnh cấp tính, nếu bệnh giảm thì có thể ngưng châm

+ Nếu chữa bệnh mạn tính, nên ước định một liệu trình khoảng 10 lần châm Có thể thực hiện tiếp liệu trình thứ 2 (nếu cần thiết) Giữa hai liệu trình nên nghỉ vài ngày + Khi cần điều trị dự phòng, có thể châm cách 7-10 ngày/lần

- Lưu kim: tùy theo mục đích chữa bệnh mà quyết định lưu kim lâu mau

+ Điều trị bệnh cấp, nhất là có kèm đau: rút kim khi hết đau hoặc khi bệnh giảm nhiều

+ Muốn duy trì tác dụng, có thể lưu kim 24-48 giờ, thậm chí cả 7-10 ngày

7.6.CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH CủA PHƯƠNG PHÁP CHÂM LOA TAI

7.6.1 Chỉ định:

- Thứ nhất: châm loa tai được dùng nhiều nhất để điều trị các chứng đau (chống đau

và ngăn ngừa tái phát) Gần đây đã phát triển thêm, ứng dụng thành công vào châm tê

để mổ

- Thứ đến, châm loa tai cũng còn được dùng trong một số trường hợp rối loạn chức năng của cơ thể

7.6.2 Chống chỉ định:

Những cơn đau bụng cấp chưa xác định được chẩn đoán

7.7 Phân bố các huyệt trên Loa tai:

Dái tai (vùng mặt) Đối bình tai (vùng đầu)

Gờ luân tai (cơ hoành) Đối luân tai ( cột sống)

Gờ đối luân tai trên (chi dưới) Gờ đối luân tai dưới (vùng mông)

Hố tam giác (bộ phận sinh dục) Thuyền tai (chi trên)

Gờ bình tai (mũi, cổ họng…) Rãnh trên bình tai (huyệt tai ngoài)

Rãnh giữa bình tai (huyệt nội tiết buồng

trứng)

Hố xoắn tai trên (bụng)

Hố xoắn tai dưới (ngực) Vùng bao quanh gờ vành tai (ống tiêu

hóa) Mặt sau tai (lưng trên, lưng dưới, khe

giảm huyết áp)

8 CHÂM TÊ

Châm tê là phương pháp dùng kim châm vào một huyệt để nâng cao ngưỡng đau, giúp người bệnh có thể chịu đựng được cuộc mổ trong trạng thái tỉnh Cảm giác sợ nóng, lạnh hầu như không thay đổi, chỉ có cảm giác đau giảm xuống rõ rệt hoặc hết

A Những yếu tố quyết định kết quả của châm tê

1 Kỹ thuật châm tê

Trang 8

– Cần chọn huyệt thích hợp, huyệt chọn dung phải liên quan mật thiết đến vùng

mổ, phải dễ gây đắc khí, không ở vị trí trở ngại cho thao tác ngoại khoa và khi

vê hoặc xoáy kim không làm chảy máu

– Cường độ và tần số kích thích phải phù hợp với từng người và cùng thì mổ để người bệnh chịu được thao tác của ngoại khoa, cường độ và tần số quan hệ khắng khít với nhau để đảm bảo lượng kích thích nhất định

– Phẫu thuật viên(PTV) cũng phải hiểu đặc điểm của phương pháp châm tê để phối hợp với người châm tê, cho người châm tê biết đặc điểm của ca mổ để người châm tê sẵn sàng có biện pháp giải quyết Bệnh nhân tỉnh nên yêu cầu phẫu thuật viên có thái độ nhiệt tình, vui vẻ, có động tác nhanh gọn, nhẹ nhàng để bệnh nhân có thể chịu đựng được ca mổ

– Người thầy thuốc phụ trách hồi sức và gây mê càng cần phối hợp với thầy thuốc châm tê, thống nhất phương pháp cho thuốc tiền mê cũng như biện pháp hồi sức sao cho bệnh nhân vẫn tỉnh táo, trạng thái tinh thần và hoạt động sinh lý bình thường mà vẫn đảm bảo cho PTV tiến hành thuận lợi an toàn

Khi châm vào huyệt, người bệnh có thể tê nhiều, tê ít hoặc không tê

Khi đã tê, nếu tin tưởng thì mức độ tê sẽ được giữ vững, hoặc phát huy them, trái lại nếu lo sợ thì độ tê sẽ giảm đi nhiều

 Do đó, người bệnh qua được cuộc mổ không phải đơn thuần nhờ vào hiệu quả gây tê của châm, mà còn chịu ảnh hưởng của trạng thái tinh thần của người bệnh biểu hiện ra trong quá trình mổ

B Chỉ định và chống chỉ định của châm tê trong phẫu thuật

1 Chỉ định trong châm tê phẫu thuật

– Những người cao tuổi, cơ thể suy nhược cần tránh các loại thuốc gây mê – Những người có bệnh mạn tính về gan, thận, phổi Sử dụng châm tê để mổ

có thể tránh được tác dụng phụ của thuốc gây mê có hại choc ơ thể

– Những người bị dị ứng với thuốc mê, thuốc tê

– Các loại phẫu thuật với thời gian ngắn, không cần thiết phải gây tê, gây mê bằng thuốc

2 Chống chỉ định châm tê trong phẫu thuật

Bệnh nhân châm tê phẫu thuật ở trạng thái tỉnh táo trong suốt quá trình mổ, do đó cần

có sự phối hợp giữa thầy thuốc và bệnh nhân Vì lý do đó mà không tiến hành trong các trường hợp sau:

– Bệnh nhân tâm thần

– Trẻ em <16 tuổi

Trang 9

PHẦN 2: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ HUYỆT Phương pháp sử dụng các huyệt để chữa bệnh

1 PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG HUYỆT TRONG CHÂM CỨU

1.1 Cục bộ thủ huyệt (Lấy huyệt tại chỗ)

- Nơi nào có bệnh đau, sưng … dùng huyệt ngay tại chỗ Thí dụ (Viêm màng tiếp hợp dùng các huyệt: Tình minh, Toản trúc, Thừa khấp )

- Cơ chế: Do gây được cung phản xạ mới để dập tắt cung phản xạ bệnh lý hay ứng dụng để:

+ Giải quyết cơn đau tại chỗ

+ Giải quyết các trường hợp viêm nhiễm (cơ chế: do phản xạ đột trục làm thay đổi vận mạch)

- Các trường hơp lấy huyệt tại chỗ:

+ Điểm đau không phải là huyệt: người ta gọi là Thống điểm, A thị huyệt, Thiên ứng huyệt

+ Huyệt ở một đường kinh (lấy huyệt bản kinh) Thí dụ: Đau mạng sườn lấy huyệt Chương môn, Đau thần kinh trụ lấy huyệt Tiểu hải

+ Lấy các huyệt nhiều đường kinh cùng một lúc Thí dụ: Hen phế quản (Trung phủ - của kinh Phế, Thiên độ - Chiên trung –của Nhâm mạch, Phế du –kinh BQ)

1.2 Lân cận thủ huyệt (Lấy huyệt lân cận nơi đau)

- Lấy huyệt xung quanh nơi đau, thường hay phối hợp với các huyệt tại chỗ

- Cơ chế: Theo lý luận thần kinh : 1 tạng có thể có nhiều tiết đoạn thần kinh (theo bảng Zakharin và Head)

- Các trường hợp:

+ Huyệt cung một kinh

+ Huyệt thuộc nhiều kinh khác nhau nhất là các huyệt có tác dụng đặc biệt

- Ví dụ: Dạ dày châm Trung quản, Thiên khu, Tỳ du, Vị du…

1.3 Tuần kinh thủ huyệt (Lấy huyệt theo kinh)

- Bệnh ở vị trí nào, thuộc tạng phủ nào, hay kinh nào – rồi theo đường kinh lấy huyệt sử dụng Thường lấy các huyệt từ cẳng tay, cẳng chân trở xuống bàn tay, bàn chân Thí dụ:

○ Cơn đau dạ dày: Túc tam lý (Vị kinh)

○ Chảy máu cam: Hợp cốc bên đối diện (Đại tràng kinh)

○ Đau răng hàm dưới: Nội đình cùng bên (Vị kinh), Đau răng hàm trên: Hợp cốc bên đối diện (Đại tràng kinh)

- Như vậy muốn sử dụng các huyệt theo kinh, cần chẩn đoán đúng bệnh các tạng phủ, đường kinh, và thuộc đường đi và các huyệt của các kinh đó Ngoài

ra cần nhớ sinh lý, bệnh lý của các tạng phủ Thí dụ thận âm hư dùng Thận du, Thái khê, Tam âm giao…

2 PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG CÁC HUYỆT ĐẶC HIỆU:

Nguyên huyệt – Lạc huyệt

Du huyệt – Mộ huyệt

Khích huyệt – Bát hội huyệt

Ngũ du huyệt

Trang 10

2.1 Nguyên huyệt – Lạc huyệt:

♦ Nguyên huyệt:

- Nguyên huyệt là huyệt tập trung khí huyết nhất của một đường kinh, 12

đường kinh chính có 12 huyệt nguyên

- Nguyên huyệt có quan hệ mật thiết với tam tiêu, là nơi tập trung nguyên khí của tạng phủ và đường kinh Châm cứu vào nguyên huyệt để điều chỉnh công năng tạng phủ (nó là huyệt trọng yếu nhất của 1 đường kinh)

- Trong việc điều trị Lấy huyệt theo kinh để chữa bệnh tạng phủ - kinh lạc thì người ta hay chọn nguyên huyệt

♦ Lạc huyệt:

- Lạc huyệt: là một huyệt trên đường kinh có liên quan đến đường kinh biểu lý với đường kinh đó, có tất cả 15 huyệt lạc (12 đường kinh chính có 12 lạc huyệt,

2 ở nhâm (Cưu vĩ)- đốc(Trường cường), 1 tổng lạc: Huyệt Đại bao)

- Lạc huyệt: là những huyệt ngoài tác dụng ở kinh nó ra còn tác dụng đến kinh biểu lý với nó Ví dụ: Công tôn, ngoài việc chữa bệnh ở tỳ kinh, lại còn chữa bệnh ở vị kinh nữa

♦ Phối hợp giữa sử dụng nguyên và lạc huyệt: còn gọi là phương pháp phối huyệt chủ khách hay phương pháp phối hợp biểu lý

- Theo LL YHCT: các tạng phủ có liên quan biểu lý với nhau và các đường kinh của kinh mạch tạng phủ biểu lý cũng có liên quan với nhau:

Nhâm – Đốc

- Khi một tạng phủ nào có bệnh, hoặc đường kinh nào có bệnh,người ta lấy nguyên huyệt của đường kinh thuộc tạng phủ đó là chủ, và lấy lạc huyệt của đường kinh biểu lý với nó là khách để tăng cường tác dụng chữa bệnh ở tạng phủ hay đường kinh đó

+ Trong điều trị bệnh chứng được chẩn đoán phế hư: huyệt được chọn gồm Thái uyên (huyệt nguyên của Phế) và Thiên lịch (huyệt lạc của Đại trường) + Trong điều trị bệnh chứng được chẩn đoán Đại trường hư, huyệt được chọn gồm Hợp cốc (huyệt nguyên của kinh Đại trường) và Liệt khuyết (huyệt lạc của Phế)

Tên huyệt nguyên lạc của 12 kinh chính:

Trang 11

Can Thái xung Lãi câu

2.2 Du huyệt và Mộ huyệt

Du huyệt là những huyệt tương ứng với tạng phủ nằm ở kinh bàng quang sau lưng Mộ huyệt là nơi huyệt tương ứng với tạng phủ đằng trước ngực và bụng Khi tạng phủ có bệnh thường có những thay đổi cảm giác như đau, tức ở các huyệt trên Cách sử dụng các huyệt DU-MỘ như sau:

♦ Nếu tạng phủ có bệnh thì chữa vào Du hay Mộ:

Thí dụ: Ho hen chữa vào Phế du (kinh BQ) hay Trung phủ (kinh Phế)

Thí dụ: Đau dạ dày: Trung quản (Nhâm mạch) hay Vị du (kinh BQ)

♦ Khi tạng phủ có bệnh thường phối hợp giữa Du và Mộ huyệt để điều trị

♦ Sử dụng Du-Mộ huyệt theo nguyên tắc:

Âm bệnh dẫn dương, Dương bệnh dẫn âm

Bệnh thuộc tạng (thuộc âm) dùng du huyệt (ở lưng: phần dương)

Bệnh thuộc phủ dùng mộ huyệt (phần âm)

♦ Ngoài ra còn theo LL YHCT về tạng tượng

Nếu đau mắt dùng Can du: vì can khai khiếu ra ở mắt

Nếu tai ù, tai điếc dùng Thận du: vì thận khai khiếu ra ở tai

♦ Theo YHHĐ: Du mộ được dùng theo cơ chế tiết đoạn thần kinh và theo bảng Zakharin-Head

2.3 Kích huyệt – Bát hội huyệt:

♦ Bát hội huyệt

Là nơi tụ hội của ngũ tạng, lục phủ, khí huyết, cân, mạch, cốt,tủy

Là nơi để điều trị các bệnh thuộc các chức năng trên

Thí dụ: Bệnh thuộc khí (Chiên trung), bệnh thuộc huyết (Cách du)…

Hội của khí

Hội của huyết

Hội của cốt

Hội của tủy

Hội của gân

Hội của mạch

Trang 12

Đản trung

Cách du

Đại trữ

Tuyệt cốt

Dương lăng

Thái uyên

♦ Thường có sự phối hợp giữa huyệt khích và huyệt hội:

Hen suyễn: dùng huyệt Khổng tối phối hợp với Chiên trung (Hội của khí)

Ho ra máu: dùng huyệt Khổng tối phối hợp với Thái uyên hay Cách du

Trang 13

(đầu gối,khuỷu tay)

Nơi kinh khí đi ra

Ở kinh âm: huyệt du – huyệt nguyên là một

Ở kinh dương: huyệt du và huyệt nguyên khác nhau

♦ Cấu tạo Bản ngũ du huyệt

- Trong cùng một đường kinh: quan hệ giữa các huyệt là quan hệ tương sinh

- Hai kinh âm dương là quan hệ tương khắc

- Cần nhớ: huyệt tỉnh của kinh dương là kim huyệt, huyệt tỉnh của kinh âm là huyệt mộc

Hệ thống ngũ du huyệt của 6 dương chính kinh:

trường Thiếu trạch Tiền cốc Hậu khê Uyển cốt Dương cốc Tiểu hải

Vị Lệ đoài Nội đình Hãm cốc Xung dương Giải khê Túc tam

Trang 14

Đởm Khiếu âm Hiệp khê Lâm khấp Khâu khư Dương phụ Dương

lăng Bàng

quang Chí âm Thông cốc Thúc cốt Kinh cốt Côn lôn Ủy trung

Hệ thống ngũ du huyệt của 6 âm chính kinh:

Huyệt

Kinh

Tỉnh mộc Huỳnh hỏa Nguyên du

thổ Kinh kim Hợp thủy

Phế Thiếu dương Ngư tế Thái uyên Kinh cừ Xích trạch Tâm bào Trung xung Lao cung Đại lăng Giản sử Khúc trạch Tâm Thiếu xung Thiếu phủ Thần môn Linh đạo Thiếu hải

Tỳ Ẩn bạch Đại đô Thái bạch Thương khâu Âm lăng

Can Đại đôn Hành gian Thái xung Trung phong Khúc tuyền Thận Dũng tuyền Nhiên cốc Thái khê Phục lưu Âm cốc

♦ Phép vận dụng ngũ du huyệt:

(1) Lấy huyệt theo mùa:

Mùa xuân hè: dương khí ở trên, khí ở người ở nông, hay dùng các huyệt Tình, Huỳnh

Mùa thu đông: dương khí ở dưới, khí của người ở sâu, hay dùng các huyệt Kinh, Hợp

(2) Theo tác dụng điều trị của các huyệt:

Huyệt Tính: chữa vùng dưới tim đầy tức – thuộc Can mộc

Huyệt Huỳnh: chữa các bệnh sốt – thuộc Tâm hỏa

Huyệt Du: chữa các chứng đau mình mẩy xương đau nặng nề- thuốc Tỳ thổ

Huyệt Kinh: chữa các chứng hen suyễn ho- thuộc Phế kim

Huyệt Hợp: chữa chứng khí nghịch ỉa chảy- thuộc Thận thủy

(3) Theo LL ngũ hành thuộc hư, thực khác nhau: hư thì bổ mẹ, thực thì tả con (4) Cách dùng bảng có 2 cách:

- Cách thứ 1: lấy huyệt ở 1 đường kinh/

- Cách thứ 2: lấy huyệt ở 2 đường kinh/

Ví dụ 1: Bệnh lý của Tâm hỏa

Trang 15

Ví dụ 2: Bệnh lý của Tỳ thổ

Ví dụ 3: Bệnh lý của Phế kim :

Ho bệnh (Ho có sốt –thực chứng, ho hàn do phế hư –hư chứng)

Trang 17

PHẦN 3: BỆNH HỌC CHÂM CỨU

BÀI 1: Liệt nửa người do tai biến mạch máu não (TBMMN)

 Liệt nửa người là mất vận động ½ mặt, ½ thân, 1 chân và 1 tay Rối loạn vận động, rối loạn cảm giác chủ yếu do tổn thương ở bó tháp

 Nguyên nhân chính là do tai biến mạch máu não.( YHCT : chứng trúng phong)

Bệnh phần nhiều là do chính khí suy, can phong nội động

- Nội thương tình chí, âm dương mất điều hòa, đặc biệt là âm hư không kiềm chế được phần dương, làm cho dương hỏa bốc lên mà gây bệnh

- Do ăn uống không điều độ, lao lực quá sức Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thủy thấp tụ lại lâu ngày sinh đàm, đàm uất hóa nhiệt, đưa lên che lấp khiếu trên

mà gây bệnh

- Hoặc do người vốn âm hư dương thịnh, đàm trọc quá thịnh, lại thêm ngoại cảm phong tà thúc đẩy nội phong mà gây bệnh

 Phân loại và điều trị:

1 Trúng phong kinh lạc ( Liệt ½ người không có hôn mê)

1.1 Trúng kinh

- Triệu chứng: Nửa người yếu nặng nề, đau nhức, khó vận động, nói ngọng hoặc không nói được, thoáng mất ý thức, hoa mắt, chóng mặt… Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế sác

- Pháp điều trị: Khu phong, tán hàn trừ đàm, thông kinh hoạt lạc

- Huyệt sử dụng:

Liệt nửa người: Tả: Giáp tích cột sống lưng, thắt lưng bằng kim dài; Ngoại quan;

Kiên ngung; Thủ tam lý xuyên Khúc trì; Hợp cốc xuyên Lao cung; Bát tà ( tay liệt); Dương lăng tuyền; Trật biên xuyên Hoàn khiêu; Thứ liêu; Ủy trung; Thừa sơn; Giải khê; Côn lôn; Bát phong

Nói khó, lưỡi cứng hoặc không nói được: Tả: Ngoại quan; Á môn; Thượng liêm

tuyền; Ngoại kim tân; Ngoại ngọc dịch

1.2 Trúng lạc

- Triệu chứng: Đau đầu một bên, ăn khó nuốt, chảy nước bọt nhiều, uống nước vãi

ra ngoài, nói khó hoặc không nói được, miệng méo, mắt lệch ( Liệt mặt) , lưỡi cứng, rêu lưỡi trắng mỏng

- Pháp điều trị: Khu phong tán hàn, thông lạc khai khiếu

- Huyệt sử dụng:

Liệt mặt: Tả: Hợp cốc; Địa thương xuyên Nghinh hương ; Quyền liêu; Thái

dương xuyên Đồng tử liêu; Ngư yêu xuyên Toản trúc hoặc Ty trúc không, Toản trúc xuyên Tình minh; Ế phong

- Nói khó, lưỡi cứng hoặc không nói được: Tả: Ngoại quan; Á môn; Thượng liêm

tuyền; Ngoại kim tân; Ngoại ngọc dịch

2 Trúng phong tạng phủ ( Liệt ½ người có hôn mê)

2.1 Chứng bế:

- Triệu chứng: Nửa người yếu nặng nề, đau nhức, khó vận động, nói ngọng hoặc không nói được, thoáng mất ý thức, hoa mắt, chóng mặt… Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền tế sác

- Pháp điều trị: Khu phong, tán hàn trừ đàm, thông kinh hoạt lạc

- Huyệt sử dụng:

Trang 18

+ Tinh thần: Thích huyết huyệt Thập tuyên, tả Bách hội, Thủy câu ( Nhân trung)

hoặc Dũng tuyền, Hợp cốc

+ Thanh nhiệt: tả Khúc trì, Phong trì, Thiên khu

+Tức ngực nhiều đờm: Tả Trung quản, Phong long, Nội quan, Khí hải, Túc tam

+ Chóng mặt, chân tay run giật : Tả Thái dương xuyên Đồng tử liêu, tả Hành

gian, bổ Thái khê hoặc Nhiên cốc

+ Liệt nửa người: Tả: Giáp tích cột sống lưng và thắt lưng bằng kim dài; Ngoại

quan; Kiên ngung; Thủ tam lý xuyên Khúc trì; Hợp cốc xuyên Lao cung; Bát tà ( tay liệt); Tả Dương lăng tuyền; Trật biên xuyên Hoàn khiêu; Thứ liêu; Ủy trung; Thừa sơn; Giải khê; Côn lôn; Bát phong

+ Nói khó, lưỡi cứng hoặc không nói được: Tả: Ngoại quan; Á môn; Thượng liêm

tuyền; Ngoại kim tân; Ngoại ngọc dịch

 Điều trị di chứng do tai biến mạch máu não

- Điều trị những bệnh do tai biến mạch máu não: Tăng HA, xơ cứng động mạch là chính, chủ yếu dùng các bài thuốc bổ can thận, bổ khí huyết

- Châm cứu, điện châm, có thể thủy châm các huyệt ở mặt, chi bên liệt, xoa bóp phục hồi chức năng

- Động viên người bệnh kiên trì luyện tập tránh bi quan

BÀI 2: Liệt VII ngoại biên

 Là bệnh hay gặp nhất của dây tk VII, bệnh phát đột ngột làm cơ bên bệnh bị liệt, mắt không nhắm được

(YHCT gọi là khẩu nhãn oa tà)

 Nguyên nhân:

- Do phong hàn xâm phạm kính lạc ( 3 kinh dương) làm cho sự lưu thông của kinh khí mất bình thường, khí huyết không điều hòa, kinh cân thiếu nuôi dưỡng gây ra bệnh

- Do phong nhiệt ở kinh lạc ( nhiễm trùng)

- Do ứ huyết ở kinh lạc ( sang chấn)

Chẩn đoán YHHĐ:Chẩn đoán xác định khi bệnh nhân có các triệu

chứng:

 Nếp nhăn trán mờ hoặc mất

 Dấu hiệu Charles Bell dương tính bên bệnh

 Rãnh mũi má mờ hoặc mất

Ngày đăng: 03/01/2016, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN