Tuy nhiên, việc lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật HCBVTV hoặc không biết cách phòng, trừ sâu bệnh vừa tốn chi phí, vừa tốn công, không những không diệt sâu, bệnh một cách triệt để, mà cò
Trang 1Chuyên đề
Phòng trừ sâu, bệnh theo phương pháp quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
vì sự phát triển bền vững
Trang 2
Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển
đồng thời đây cũng là điều kiện tốt để sâu, bệnh (dịch hại) phát triển Tuy nhiên, việc lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) hoặc không biết cách phòng, trừ sâu bệnh vừa tốn chi phí, vừa tốn công, không những không diệt sâu, bệnh một cách triệt
để, mà còn ảnh hưởng tới năng xuất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng tới sức khoẻ của con người, phá vỡ cân bằng, sinh thái, ô nhiễm môi trường v.v , đã và đang ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nhiều cộng đồng
Vì vậy cần thiết và cấp bách phải hướng dẫn bà con nông dân phòng trừ sâu, bệnh đúng cách, phải giúp cho nông dân hiểu về hệ sinh thái trên đồng ruộng, giúp cho họ có những quyết định mang tính an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững hơn
I Một số vấn đề chung về Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
1 Sâu và bệnh hại khác nhau như thế nào?
Sâu hại cây trồng là động vật nhỏ bé (côn trùng) dùng cây làm thức ăn
Chúng làm cho cây trồng mất đi các bộ phận như rễ, thân, lá, hoa, củ, quả,…làm cho cây sinh trưởng kém, thậm chí còn bị chết Ví dụ: Sâu xám hại ngô ăn lá hoặc cắn đứt ngang thân cây ngô; Sâu đục thân lúa chui vào thân cây ăn đứt ngọn lúa làn cho nõn
bị héo hoặc bông lúa bị bạc trắng, Đặc trưng gây hại của chúng là làm mất đi những bộ phận của cây trồng (mất lá, thân, rễ, )
Bệnh hại cây trồng do các vi sinh vật (virut, vi khuẩm, nấm,…) sống kí sinh
trên cây, làm rối loạn các quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng (cây bị vàng
úa, lụi rạc đi, hoặc cao vống lên, rễ đen, thân nhũn, lá bị khô,…), làm ảnh hưởng tới sinh trưởng và năng suất cây trồng Ví dụ như lúa bị bạc lá, vàng lụi làm cho cây vàng và lùn xuống, lụi dần rồi chết
Đặc trưng gây hại của bệnh là cây sinh trưởng không bình thường, thân, lá, hoa, quả có hình dạng và màu sắc khác thường, dẫn đến cây trồng sinh trưởng kém
và chết
Sâu hại và bệnh hại cây trồng giống nhau ở chỗ:
- Đều gây hại đến quá trình sinh trưởng, phát triển và ảnh hưởng năng suất cây trồng
- Đều có khả năng lây lan thành dịch và lưu tồn ở trên đồng ruộng, kho bảo quản nông sản và chuyển sang cây trồng sau, vụ sau tiếp tục gây hại
Trang 3Tuy nhiên, sâu hại khác bệnh hại cây trồng ở chỗ:
thức ăn đi nuôi cây
Làm rối loạn các quá trình sinh lí như quang hợp, hô hấp, hút chất dinh dưỡng, dẫn đến cây trồng thiếu dinh dưỡng, biến đổi về màu sắc, hình dạng và sinh trưởng không bình thường
Không truyền nhiễm và lây lan
(trừ khi sâu phát triển nhanh,
nhiều quá phát triển thành
2 Thế nào là quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)?
Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) là một quy trình sản xuất nông nghiệp sạch và
Đây là một hệ thống sử dụng tất cả các kĩ thuật và biện pháp thích hợp khác nhằm giảm thiểu mức độ sử dụng HCBVTV, hướng tới mục tiêu gieo trồng cây khoẻ
và duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức thiệt hại về kinh tế
3 Phát triển nông nghiệp bền vững (PTNNBV) là gì?
PTNNBV là sự phát triển dựa trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những tinh tuý của các nền nông nghiệp truyền thống, chứ không phải hoàn toàn áp dụng cái hiện đại PTNNBV không bỏ việc sử dụng phân hoá học, HCBVTV, mà chỉ yêu cầu sử dụng
Trang 4chúng một cách hợp lí, đồng thời dùng các công nghệ truyền thống để tăng lượng phân bón hữu cơ và cơ cấu cây trồng giúp cho việc khống chế sâu bệnh hại
4 Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) và PTNNBV
Theo quan điểm của PTNNBV thì sâu bọ và vi sinh vật là những bộ phận của
hệ sinh thái tự nhiên Thiên nhiên tồn tại sống động, trong đó các thành viên quan hệ
qua lại tác động lẫn nhau trong hệ sinh thái đồng ruộng Đối với thiên nhiên, không
có loài sinh vật nào có hại và cũng không có loài nào có ích tuyệt đối Vấn đề có ích hay có hại cũng chỉ là tương đối Các loài coi là hại cũng không hẳn chỉ có hại, mà trong một số trường hợp nhất định chúng lại có lợi Ví dụ vi sinh vật chuyển hoá chất hữu cơ, giữ cân bằng sinh thái, điều tiết trạng thái cây sinh trưởng Lợi hại còn tuỳ thuộc vào số lượng, mức độ và mối quan hệ của chúng trong hệ sinh thái Những loài gây hại như côn trùng nếu ở mức thấp thì có thể coi là có lợi vì chúng là nguồn thức
ăn để nuôi sống và phát triển các loài thiên địch Nếu chúng bị tiêu diệt hết, những loài có ích có thể bị mất đi hoặc lại ăn thịt đồng loại và trở thành có hại Cho nên cách giải quyết đúng đắn nhất là giữ cho vạn vật được hài hoà Khi có hiện tượng mất cân bằng sinh thái như dịch hại xảy ra thì chỉ tìm cách khống chế để nó trở nên vô hại
hoặc không ảnh hưởng nhiều đến kinh tế, xã hội và môi trường, chứ không “tàn sát” để mất cân bằng thêm Đó chính là ưu điểm của Quản lí dịch hại tổng hợp
- Giảm thiểu những đầu tư từ bên ngoài (như thuốc trừ sâu bệnh và phân hoá học) và không được tái tạo nguy cơ phá hại môi trường hoặc gây hại đến sức khoẻ của người sản xuất và tiêu thụ; phải sử dụng hiệu quả hơn nữa những nguồn đầu tư hiện có với phương châm giảm giá thành
- Sử dụng có hiệu quả hơn những tri thức mới, những kinh nghiệm của vùng miền và cả những phương pháp mới mà người dân chưa chấp nhận rộng rãi
- Sản xuất hiệu quả và có lãi, chú trọng việc quản lí tổng hợp trang trại bảo vệ
đất, nước, năng lượng và các nguồn tài nguyên sinh học
5 Mục đích và nguyên tắc của Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) là gì?
Trang 5Mục đích của Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
Mục đích của chương trình IPM là nâng cao hiểu biết và trang bị những kĩ năng cần thiết cho người nông dân để họ có khả năng tự phát hiện, nhận biết những khó khăn, cản trở trong quá trình canh tác, chủ động đề ra những biện pháp xử lí trên
đồng ruộng của mình một cách có hiệu quả để bảo vệ cây trồng khoẻ
Nguyên tắc của Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
IPM hoạt động theo 4 nguyên tắc sau:
(i) Trồng cây khoẻ
Để đảm bảo cây trồng khoẻ cần phải có giống tốt, chống chịu được sâu bệnh, các điều kiện bất thuận (đất trồng, thời tiết và khí hậu, ) và cho năng suất ổn định Ngoài ra, cần áp dụng tốt một số biện pháp kĩ thuật như thời vụ gieo trồng thích hợp, bón phân cân đối, chăm sóc kịp thời,
(ii) Bảo vệ thiên địch
Là bảo vệ, nuôi cấy những sinh vật có ích (thiên địch) dùng sâu làm thức ăn Thiên địch phát triển tốt sẽ khống chế được sâu hại cây trồng, bảo vệ được mùa màng Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trên đồng sẽ giảm xuống mức thấp nhất
là cơ sở bảo vệ tốt thiên địch
(iii) Thường xuyên thăm, kiểm tra đồng ruộng
Biện pháp quản lí và chăm sóc cây trồng trên đồng ruộng rất cần thiết Thường xuyên thăm và kiểm tra đồng ruộng mới sẽ nắm được tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, phát hiện được sớm những biểu hiện của sâu, bệnh hại để có biện pháp xử lí kịp thời, bảo vệ được cây trồng
(iv) Nông dân trở thành chuyên gia
Nông dân học tập, nắm được cách Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) và áp dụng
vào sản xuất của gia đình và trở thành chuyên gia Trên cơ sở đó, họ vận động mọi người cùng làm theo và trở thành phong trào rộng khắp trong cộng đồng
6 Các biện pháp kĩ thuật sản suất nông nghiệp theo Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
Tư tưởng chủ đạo của Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) xuất phát từ quan điểm
PTNNBV rằng mọi sinh vật sống trong quần thể luôn luôn có đấu tranh sinh tồn Sự
đấu tranh này không phụ thuộc vào ý thức của con người Trong các loài sinh vật, có loài gây hại cho cây trồng, nhưng cũng có loài vô hại hoặc có lợi cho cây trồng Mục
đích cuối cùng của IPM là tìm ra những biện pháp hiệu quả không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn sâu bệnh, mà còn nhằm điều hoà mối cân bằng trong hệ sinh thái Như vậy,
Trang 6Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) phải được giải quyết trên tinh thần tổng hợp, toàn
diện, chủ động, Nghĩa là phải áp dụng nhiều biện pháp khác nhau trong một hệ thống hoàn chỉnh và hợp lí
Tuy nhiên khi xây dựng chương trình Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) cho cây
trồng ở một vùng sản xuất nhất định, cần phải tính tới các đặc điểm về môi trường, thời tiết, khí hậu, tình hình dịch hại, trình độ nhận thức và khả năng kinh tế của nông dân, để lựa chọn các biện pháp thích hợp
Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) sử dụng nhiều biện pháp, bao gồm:
- Biện pháp kỹ thuật canh tác;
- Biện pháp thay và sử dụng giống chịu sâu, bệnh
- Biện pháp sinh học
- Biện pháp kiểm tra đồng ruộng phát hiện sâu, bệnh hại, thiên địch và tình hình sinh trưởng của cây
6.1 Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là một trong những biện pháp diệt trừ sâu bệnh triệt để nhất Các kĩ thuật trong biện pháp canh tác nhằm cải thiện điều kiện sinh thái theo hướng có lợi cho sự sinh trưởng của cây trồng, hạn chế sự phát triển của sâu bệnh Trong mỗi biện pháp đều có tác dụng diệt sâu, bệnh và diệt chúng ngay từ giai
đoạn đầu khi sâu, bệnh còn là mầm mống chưa phát sinh, phát triển Ví dụ khâu làm
đất, cầy bừa kĩ có tác dụng diệt các ổ trứng và một số sâu bệnh còn tàng trữ trong phế phẩm nông nghiệp như gốc rạ, rơm rác, cỏ dại, Bón phân hợp lí tạo điều kiện cây trồng khoẻ mạnh, tăng sức đề kháng sâu bệnh, hạn chế sâu bệnh xâm nhập phá hoại Hơn nữa bón phân hữu cơ đã qua chế biến sẽ diệt được hết các mầm mống sâu bệnh có ở trong phân trước khi đem ra ruộng bón, Vì vậy, ưu điểm biện pháp này là:
- Chi phí thấp
- Dễ áp dụng
- Không gây ô nhiễm môi trường và
- Phát huy được hiệu quả ngay từ đầu
Đây là biện pháp chủ lực của nhà nông trong xu hướng bảo tồn sự đa dạng sinh học của nền nông nghiệp sinh thái bền vững Tuy nhiên, cần phải tuân thủ, làm
đúng theo quy trình kỹ thuật canh tác của IPM (như làm đất, giống cây trồng, thời vụ, phân bón, nước tưới ) và của nhà chuyên môn, của địa phương đề ra Cụ thể:
Làm đất:
Trang 7- Làm đất: Cày, bừa đất ngay sau thu hoạch, ngâm ngả kĩ để diệt hết các mầm mống sâu bệnh tàng trữ trên mặt ruộng
- Vệ sinh đồng ruộng: dọn sạch cỏ dại và phế thải của cây trồng để không còn nơi ẩn náu của sâu bệnh truyền lại cho vụ sau
Nguyên lí của biện pháp này là cắt đứt vòng chu chuyển của sâu, bệnh của cây trồng trước sang cây trồng sau, vụ sau và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ lây lan ngay từ đầu vụ
Luân canh
Gieo trồng luân canh các loại cây trồng khác nhau trên một cánh đồng Bỏ chế
độ sản xuất độc canh là biện pháp rất có hiệu quả để hạn chế sâu bệnh và cỏ dại Phần lớn sâu bệnh hại cho lúa không gây hại cho cây trồng khác và ngược lại Vì vậy việc luân canh giữa lúa và cây trồng khác là phương thức canh tác có lợi, cắt đứt nguồn sâu bệnh chuyển sang cây trồng sau
Phân bón hợp lí, cân đối
Phân bón có ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng và thông qua cây trồng có ảnh hưởng tới sự phát sinh gây hại của nhiều loại sâu bệnh Phân bón là thành phần không thể thiếu giúp cây trồng phát triển tốt Sử dụng phân bón hợp lí còn hạn chế
được sâu bệnh gây hại, giảm lượng HCBVTV sử dụng trên đồng ruộng Do vậy, cần phải:
- Bón phân hợp lí: Bón đảm bảo nguyên tắc kết hợp phân hữu cơ với phân hoá học; cân đối giữa đạm, lân, kali; bón phân đúng thời kì sinh trưởng của cây trồng, đúng cách, đúng loại phân, đủ liều lượng và phù hợp với thời tiết mùa và
vụ tuỳ theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn ở từng vùng Phân hữu cơ phải được chế biến hoai mục trước khi bón Tuyệt đối không bón phân tươi
- Bón phân nhiều, bón không hợp lí, mất cân đối giữa đạm, lân và kali sẽ làm cho cây phát triển không bình thường và dễ bị sâu bệnh phát sinh gây hại Ví
dụ như ruộng lúa bón nhiều phân đạm thì thân lá phát triển mạnh, dẽ lốp đổ, hấp dẫn sâu cuốn lá, đục thân, và bệnh đạo ôn, khô vằn, phát sinh gây hại
Thời vụ và mật độ gieo trồng
- Gieo, trồng đúng thời vụ cây sinh trưởng tốt tránh được một số sâu, bệnh và rủi
ro do thời tiết gây ra
- Mật độ mỗi loại cây trồng khác nhau Do vậy cần phải xác định mức độ phù hợp với từng giống và đất trồng (Ví dụ, giống tán đứng thì trồng dày hơn, tán
Trang 8xoè rộng trồng thưa hơn và đất tốt trồng thưa hơn đất xấu) Mật độ gieo trồng không thích hợp sẽ tạo điều kiện cho sâu bệnh gây hại (Ví dụ mật độ gieo trồng quá dày, cây sẽ cao vốn lên che khuất thiếu ánh sáng, cây mềm yếu sức
đề kháng kém dễ bị nhiễm sâu, bệnh hại)
- Chú ý: Gieo, trồng, cấy đúng thời vụ phải phù hợp với từng giống và yêu cầu quy định của vùng lãnh thổ và địa phương
Phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng
Đây là biện pháp bảo vệ cây sau khi gieo trồng, đảm bảo cây trồng phát triển bình thường cho năng suất cao Phòng trừ sâu, bệnh phải kịp thời và đảm bảo phát triển nông nghiệp bền vững Vì vậy, cần phải quán triệt những nguyên lí sau:
- Sâu và bệnh hại là những thành phần của hệ sinh thái Vì vậy cần thực hiện chiến lược hạn chế, chứ không tiệu diệt, tàn sát chúng
- Sâu và bệnh hại phát sinh là những chỉ thị, phát hiện cho thấy một yếu tố nào
đó không cân bằng trong hệ sinh thái
- Trước hết tìm cách hạn chế sâu bệnh hại bằng các loại côn trùng (thiên địch), hoặc trừ nó bằng các loại thuốc thảo dược, và biện pháp cơ giới như bắt, bả bẫy (đốt đèn bẫy bướm, dùng chao vợt bắt bướm, diệt sâu hoặc dùng tay ban
đêm đi bắt diệt sâu khoang cắn ngô non v.v )
- Chỉ dùng HCBVTV khi thật cần thiết, khi sâu, bệnh hại phát triển quá nhanh,
có khả năng chuyển thành dịch Khi dùng thuốc phải đảm bảo theo tiêu chuẩn 4 đúng: Đúng thuốc; Đúng sâu bệnh; Đúng liều lượng; Đúng thời gian và đảm bảo an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường
Chăm sóc và nước tưới
- Chăm sóc phải kịp thời, phù hợp với yêu cầu của từng loại cây trồng Nước tước phải sạch và vừa đủ theo yêu cầu của từng thời kì sinh trưởng, phát triển của cây trồng
- Đối với cây ăn quả, tránh để tán lá và quả chạm đất Cần cắt tỉa định kì các cành lá quá thấp, bị che khuất nhiều
6.2 Biện pháp chọn giống
Đây là biện pháp chủ động, dễ áp dụng, ít tốn kém Tuỳ tình hình sâu bệnh,
điều kiện khí hậu, đất đai từng vụ ở mỗi vùng mà chọn giống thích hợp Những giống
đó phải có khả năng chống chịu sâu, bệnh cao, có năng suất ổn định và phẩm chất tương đối tốt, phù hợp với điều kiện của địa phương Trước khi sử dụng giống, cần
Trang 9phải kiểm tra và xử lí hạt giống, cây con giống trước khi gieo, trồng bằng các biện pháp truyền thống hoặc hoá chất
- Nhóm dịch hại (sâu, bệnh hại): gồm các loài ăn các bộ phận của thực vật
hoặc chích hút nhựa cây, gây ra những thiệt hại cho cây trồng
- Nhóm động vật có ích: gồm những loài sống bằng những thức ăn có sẵn
trong ruộng vườn, không gây hại cho con người và cây trồng (Ví dụ như ong thụ phấn cho cây trồng; giun đất và nhiều loại sinh vật khác làm cho đất tơi xốp v.v )
- Nhóm thiên địch: bao gồm những loài động vật sinh sống bằng cách ăn
những động vật khác, bao gồm cả những loài gây hại
Sơ đồ ba nhóm động vật trong hệ sinh thái đồng ruộng
Độngvật
Dịch hại
Các loại
động vật có ích
Thiên địch
Sâu vẽ bùa, sâu
đục trái, rầy mềm, rệp sáp, chuột,…
Ong, bứớm, nhện, trùn đất, đuôi kim
Kiến dệt tơ, nhện thiên địch, ong kí sinh, chim,
Trang 10Nhóm thiên địch này giúp diệt trừ sâu bệnh hại bảo vệ cây trồng, tiết kiệm
được tiền bạc và bảo vệ môi trường an toàn hơn Thiên địch có ba loại:
- Nhóm ăn mồi: bắt các loại sâu hại làm thức ăn;
- Nhóm kí sinh: Chúng đẻ trứng vào cơ thể sâu, nở ra con non sống kí sinh
vào cơ thể sâu hại, làm cho sâu chết;
- Nhóm gây bệnh: gây bệnh cho sâu, bệnh hại làm sâu bệnh chết
Mô hình mô tả ba nhóm thiên địch có trong hệ sinh thái đồng ruộng
Tuỳ theo môi trường sống là vườn nhà hay trên đồng ruộng mà có các loài thiên địch khác nhau sinh sống Thiên địch cần phải được bảo tồn và phát triển để
trừ diệt dịch hại cây trồng Có hai cách để phát triển các loài thiên địch: bảo tồn và nhập nội nuôi Việc bảo tồn thiên địch sẵn có trên đồng ruộng là tối cần thiết Những
thiên địch trong đồng ruộng đã thích nghi với con chủ và môi trường sống của nó Biện pháp kĩ thuật canh tác thích hợp là biện pháp tối ưu so với biện pháp nhân nuôi thiên địch nhập nội, để thả vào đồng ruộng
Ngoài thiên địch, còn có một số loại nấm, vi khuẩn và siêu vi khuẩn có khả năng gây bệnh cho dịch hại rất nhanh chóng và hiệu quả Những tác nhân sinh học này rất quan trọng trong việc hạn chế quần thể sâu hại Trong những sinh vật gây bệnh cho côn trùng này, nấm trắng và nấm xanh đóng vai trò quan trọng và chủ yếu
Thiên địch
Nhóm ăn mồi
Nhóm kí sinh
Nhóm gây bệnh
Kiến dệt tơ, bọ rùa,
bọ cánh lưới,…
Ong và ruồi kí sinh,
Nấm, virut, vi khuẩn và siêu vi khuẩn gây bệnh
Trang 11- Nấm xanh Metarhizium (M.a) kí sinh trên nhiều loại sâu bệnh hại khác nhau như loài rầy, bọ xít, bọ cánh cứng, mối, cào cào và nhiều loại ăn lá khác Chế phẩm này do Viện lúa ĐBSCL sản xuất và lấy tên là (M.a2-B)
- Nấm trắng hay còn gọi là nấm Bạch cương, Beauveria bassiana (B.b) có khả năng diệt được các loài rầy, bọ xít và sâu non của nhiều côn trùng thuộc bộ cánh vẩy Chế phẩm này có tên là B.b (OM1-R)
- Chế phẩm sinh học Vi-ĐK có tác dụng đối kháng với một số nấm gây bệnh ở trong đất Chúng đối kháng bằng cách gây bệnh, cạnh tranh thức ăn, sản sinh ra các chất kháng để tiêu diệt, ngăn cản sự xâm nhập nấm bệnh bảo vệ được các bệnh chết rụi và héo rũ cây Chế phẩm này chỉ dùng được đối với các cây trồng cạn như rau màu, đậu đỗ, cà chua, khoai tây, khoai lang, dưa hấu, bí đỏ, lạc, và các vườn ươm cây ăn quả
Biện pháp sinh học bao gồm:
Bảo vệ và tăng cường hoạt động của thiên địch sẵn có
- Bảo vệ thiên địch bằng cách tránh và hạn chế tối đa việc sử dụng HCBVTV diệt trừ dịch hại và chỉ dùng các loại thuốc có nguồn gốc thảo mộc, và tiến tới không sử dụng HCBVTC trừ sâu bệnh trên đồng ruộng
- Tạo nơi cư trú cho thiên địch bằng cách để cỏ và trồng các cây họ đậu trên bờ ruộng, bờ vùng Giữ mực nước vừa phải và mật độ gieo trồng hợp lí, để duy trì và phát triển thiên địch
Nuôi nhân và lây thả thiên địch trên đồng ruộng
Kĩ thuật này được áp dụng với các loại kí sinh chuyên tính hẹp Khi được thả trên đồng ruộng, kí sinh sẽ tìm đến vật chủ ưa thích để tiêu diệt Việc lây thả được tiến hành nhiều lần trong vụ, vào thời tiết thích hợp để ngăn chặn sự bùng phát của sâu bệnh hại Ong mắt đỏ được nuôi nhân và thả trên ruộng để trừ sâu đục thân ngô, sâu cuốn lá lúa, sâu đo xanh đay, sâu loang và sâu xanh bông, rất có hiệu quả
Du nhập thiên địch
Đối với những loại côn trùng gây hại không có nguồn gốc tại địa phương, việc bảo tồn không thích hợp vì thiếu các thiên địch đặc thù Trong trường hợp như vậy, việc du nhập những thiên địch từ nơi khác đến là cần thiết Hiện nay, việc sử dụng Ong kí sinh chuyên tính Asecodes hispinarum phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa được
áp dụng rộng rãi nhiều nơi trong nước Cần áp dụng tốt các biện pháp kĩ thuật như bảo tồn, nuôi thả, du nhập thiên địch và chăm sóc, bảo vệ các loài thiên địch
Trang 12- Chế phẩm từ nấm: Melarhizium anisopliae (Ma), Beauveria bassiana
- Chế phẩm từ vi khuẩn: Bacilius thuringiensie (Bt)
- Chế phẩm từ virus: virus nhân đa diện NPV
- Chế phẩm từ tuyến trùng và nguyên sinh động vật
Khi phát hiện có sâu bệnh hại, chúng ta nên sử dụng các chế phẩm sinh học trên để trừ diệt sâu bệnh
Sử dụng Pheromone và Hormone điều hoà sinh trưởng của côn trùng
- Pheromone là chất tiết ra từ côn trùng và nhện để trao đổi thông tin giữa các cá thể cùng loài Phổ biến nhất là Pheromone hấp dẫn sinh dục được tiết ra từ con cái để quyến rũ con đực đến giao phối và Pheromone hội đàn do các cá thể tiết ra để gọi nhau tìm kiếm thức ăn hoặc giao phối Các hợp chất tổng hợp tương tự như Pheromone đã dùng trong phòng trừ sâu hại với mục đích là làm bẫy dẫn dụ giết con đực và theo dõi sự phân bố và hoạt động của côn trùng trong công tác dự tính, dự báo sâu hại
- Hormone là chất điều hoà sinh trưởng có trong cơ thể sinh vật Cơ chế tác
động của các chất điều hoà sinh trưởng côn trùng là làm cho trứng phát triển không bình thường, không nở hoặc bị chết Sâu non không hoá thành nhộng
và trưởng thành (hoá ngài) được Một số có thể hoá sâu trưởng thành, nhưng không sinh sản được
6.4 Kiểm tra đồng ruộng phát hiện sâu bênh hai, thiên địch và tình hình sinh trưởng của cây trồng
Cần kiểm tra đồng ruộng thường xuyên để phát hiện các loại thiên địch có trên
đồng ruộng để có biện pháp nuôi giữ và bảo vệ chúng Đồng thời, cần phát hiện được sâu bệnh gây hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời, không để lây lan thành dịch Cách kiểm tra đồng ruộng, vườn như sau:
- Quan sát và ghi lại số lượng từng loại sâu, bệnh hại; ổ trứng, thiên địch, số lá
bị sâu bệnh, số chồi bị thiệt và giai đoạn sinh trưởng của cây trồng
Trang 13- Quan sát chung trên đồng ruộng hoặc trong vườn màu sắc của cây, tình hình sinh trưởng, cỏ dại, điều kiện đất, nước, nắng, mưa, và những điều đặc biệt
có liên quan
Căn cứ vào số liệu đã ghi nhận được, phân tích và xác định những yếu tố nào quan trọng cần phải lập kế hoạch tác động trong thời gian tới (cái gì tác động trước, cái gì tác động sau) để hạn chế sâu bệnh hại
Lợi ích của biện pháp sinh học
Không gây tính kháng (quen thuốc) ở sâu và nấm bệnh như thuốc hoá học
Sử dụng thiên địch cho tất cả các loại cây trồng trong vườn hay trên đồng ruộng
Đối với vi sinh vật gây bệnh thì tuỳ loại có loại dùng cho cây trồng cạn như chế phẩm Vi-ĐK và cây trồng nước như nấm trắng, nấm xanh
Chúng tự nhân lên và lưu tồn trên cây trồng và trong đất qua nhiều mùa vụ
Đối với chế phẩm Vi-ĐK chúng còn kích thích cây trồng sinh trưởng và phát triển nhờ phân huỷ cellulo (như rơm, rạ, cây cỏ, chết trong đất) làm tăng thêm chất mùn và dinh dưỡng cung cấp cho đất trồng
Tất cả chúng đều có nguồn gốc tự nhiên không gây độc hại , không gây ô nhiễm môi trường, không ảnh hưởng đến người sử dụng
Hiệu quả kinh tế cao và thu được sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
7 Lợi ích việc thực hiện Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
Theo kết quả nghiên cứu của Chương trình IPM quốc gia Việt Nam, quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) có những lợi ích sau:
- Cây trồng khoẻ mạnh, sinh trưởng phát triển tốt
- Đảm bảo NNPTBV và sản xuất nông sản hàng hoá sạch
- Người nông dân dễ thực hiện vì đó là công việc kĩ thuật quen thuộc (nếu như làm cho họ hiểu rõ lợi ích của Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM)
- Có hiệu quả kinh tế cao: Chi phí vật tư giảm trung bình 8%, năng suất tăng trung bình 8%, không hại đến sức khoẻ của người sản xuất và bảo vệ được môi trường đất, nước và không khí
- Một số nơi thực hiện tốt IPM đã giảm được 30% lượng thuốc bảo vệ thực vật và 60% số lần phun thuốc Lượng phân đạm giảm 15%, đặc biệt là đã hạn chế
được việc người sản xuất lạm dụng phân đạm và HCBVTV
Trang 148 Một số khuyến cáo trong quá trình thực hiện phòng trừ sâu, bệnh hại
Không lạm dụng phân hoá học, đặc biệt phân đạm trong sản xuất cây trồng
Thực hiện đúng các biện pháp kĩ thuật theo yêu cầu của IPM
áp dụng tốt các biện pháp canh tác và biện pháp sinh học trong phòng trừ dịch hại, hạn chế sử dụng HCBVTV
Khi sử dụng HCBVTV phải đảm bảo tiêu chuẩn “4 đúng” và 10 nội dung an toàn, đó là:
- Không được tiếp xúc trực tiếp với thuốc, khi sử dụng thuốc phải đội mũ bảo hiểm, đeo mắt kính, khẩu trang, găng tay, áo mưa, đi ủng Khi pha thuốc cần
có dụng cụ chuyên dùng (lọ đong thuốc và que để khuấy thuốc cho đều)
- Khi phun thuốc cho các loại cây lưu niên như cây ăn quả, cây lấy gỗ, nên
đứng chếch 450c so với vòi phun, tránh thuốc bay vào đầu và người
- Khi phun thuốc phải phun theo chiều gió, để thuốc không bay vào người
- Sau khi phun thuốc xong nhớ phải tắm và rửa tay bằng xà phòng ngay
- Nếu thấy có triệu chứng nhức đầu, nôn mửa hãy đến trạm y tế ngay
- Tuyệt đối không cho trẻ đến gần nơi phun thuốc và cất giữ thuốc Không cho trẻ dùng vỏ chai thuốc làm đồ chơi
- Khi đi mua thuốc hoặc lấy thuốc đi phun cần phải chọn chai thuốc có nhãn mác đầy đủ Không được dùng những chai đã mất nhãn mác lâu ngày không nhớ
- Kho bảo quản, lưu giữ thuốc phải để ở nơi xa dân cư, xa nơi trẻ em chơi đùa Kho phải có khoá cẩn thận
- Sau khi phun thuốc xong, vỏ chai phải chôn xa nơi ở và xa nguồn nước sinh hoạt Bình phun và các dụng cụ khác không được rửa ở các ao hồ
- Tuyệt đối không được dùng vỏ chai thuốc trừ sâu bệnh vào việc đựng đồ ăn uống hàng ngày
Trang 15
II Phòng từ sâu, bệnh: Thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp
Khí hậu thời tiết của nước ta tạo điều kiện thuận lợi cho sâu, bệnh phát sinh và phát triển Sâu, bệnh đã và đang gây hại đáng kể cho sản xuất nông nghiệp Theo tính toán, hàng năm sâu, bệnh làm mất đi khoảng 15-30% tổng sản lượng nông nghiệp, có năm lên đến 50%, thậm chí còn mất trắng Sâu bệnh ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng và giảm năng suất, chất lượng nông phẩm
Thực tế, những năm gần đây, hoá chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) đã được sử dụng quá nhiều để trừ diệt sâu bệnh hại Kết quả thăm dò ý kiến những nông dân ở hai vựa thóc lớn là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cho thấy có 50-75% số người được hỏi cho rằng trong bảo vệ thực vật thì chủ yếu là phun thuốc hóa học Các biện pháp khác hầu như không được nhắc tới Đây là thực trạng rất
đáng lo ngại đối với sản xuất trồng trọt nói riêng và đối với môi sinh nói chung Người nông dân hiện nay chỉ muốn cho sâu chết càng nhanh, càng nhiều càng tốt và vì vậy
đã lạm dụng thuốc hóa học, tăng liều lượng, nông độ, tăng số lần phun, Người nông dân thường ít quan tâm đến biện pháp kĩ thuật canh tác trong phòng trừ sâu bệnh,
mà chỉ cho đó là việc phải làm để trồng cấy Do chưa hiểu hết ý nghĩa của biện pháp
kĩ thuật trong phòng trừ sâu nên các biện pháp kĩ thuật không đảm bảo yêu cầu (Ví
dụ, khâu làm đất còn chưa được kĩ; chủ yếu dùng phân chuồng tươi; giống khi gieo trồng chưa qua xử lí, ) Đại bộ phận người nông dân hiện nay chủ yếu dùng thuốc hoá học để phòng trừ sâu bệnh hại Đó còn chưa kể đến thực trạng còn dùng không
đúng thuốc (Thuốc trừ sâu đem trừ cho bệnh và ngược Thuốc trừ sâu bệnh này đem trừ cho sâu bệnh kia) Vì vậy, vừa tốn chi phí, vừa tốn công mà sâu bệnh không hết, dẫn đến năng suất thấp, giá thành cao và chất lượng nông sản kém
Thuốc trừ sâu bệnh hoá học chỉ tiêu diệt được sâu và bệnh hại trong một gian ngắn, không giải quyết được vấn đề một cách triệt để, thậm chí chúng còn gây ra những hậu quả khó lường Hậu quả trực tiếp là tiêu diệt được sâu hại thì đồng thời cũng tiêu diệt cả những loại sinh vật “có ích”, các loại thiên địch Hơn nữa, khi sử dụng thuốc trừ sâu nhiều gây ra khả năng kháng thuốc rất mạnh của sâu, bệnh Vì vậy, lần sau phải dùng liệu cao hơn Cuối cùng hậu quả to lớn là mất cân bằng hệ sinh thái mà ưu thế thuộc về sâu bệnh
Đối với bất cứ cây trồng nào cũng đều có loại sâu bệnh hại, tuy mức độ khác nhau Để thâm canh với năng suất cao, cần phải theo dõi, diệt trừ tất cả các loại sâu, bệnh hại Mỗi loại sâu, bệnh hại sinh ra đều có một loại thuốc đặc chủng riêng để
Trang 16diệt trừ Mỗi vùng sinh thái đều có loại sâu, bệnh riêng của vùng Dùng loại thuốc gì, cho loại sâu, bệnh gì, nồng độ bao nhiêu, phun bao nhiêu lít thuốc pha cho một sào cần phải căn cứ vào số lượng sâu và tuổi đời để quyết định Phun thuốc vào lúc nào cũng phải tính đến (phun buổi sáng, trưa hay chiều hoặc khi trời nắng to hay mưa) Ngoài ra, còn cần phải kết hợp với các biện pháp truyền thống khác như biện pháp canh tác, chế độ luân canh, xen canh thậm chí còn dùng cả biện pháp cơ giới quyết, bắt bằng tay, Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, rất ít hộ gia đình tuân thủ
được những điều trên Nguyên nhân chủ yếu là người nông dân còn thiếu hiểu biết, hoặc hiểu biết chưa đúng, chưa đầy đủ về sâu, bệnh, về HCBVTV Công tác tuyên truyền còn nhiều hạn chế, chưa hiệu quả
Việc lạm dụng HCBVTV đã và đang là mối đe doạ sức khoẻ của con người và tác động xấu đến môi trường Hàng năm số người bị ngộ độc do HCBVTV ở mức báo
động Hệ sinh thái bị phá vỡ, mất cân bằng giữa các thành viên trong hệ sinh thái Sâu bệnh ngày một quen thuốc, phá hoại càng nhiều, năng suất và phẩm chất nông sản giảm đáng kể Môi trường bi ô nhiễm, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của cộng đồng
Hiện nay, các cơ chuyên môn đang vận động hộ nông dân tăng cường áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp như áp dụng đúng yêu cầu các biện pháp kĩ thuật canh tác và sử dụng đồng thời các biện pháp cơ giới, sinh học, hoá học khi cần thiết, để bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng có lợi cho cây trồng Để thực hiện tốt việc này, Đảng và Nhà nước ta đã đưa chương trình IPM đến với nông dân với mục tiêu cuối cùng là sản xuất cây trồng khoẻ, sản phẩm sạch, an toàn cho sức khỏe cộng đồng và người nông dân trở thành chuyên gia trong sản xuất cây trồng Các biện pháp hóa học hoặc tuyệt đối không được lạm dụng hoặc chỉ được sử dụng khi thật cần thiết, khi có sự chỉ đạo của cơ quan chuyên nghành
III Qui định pháp luật về phòng trừ dịch hại cây trồng và sử dụng HCBVTV
Đảng và Nhà nước đã quan tâm và ban hành nhiều văn bản qui phạm pháp luật về phòng trừ dịch hại cây trồng, về quản lí và sử dụng hạn chế HCBVTV; ban hành danh mục các HCBVTV cho phép sử dụng ở Việt Nam, Đồng thời, Nhà nước chủ trương vận động người nông dân thực hiện tốt các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh tổng hợp thông qua kĩ thuật canh tác và các biện pháp khác để trừ diệt sâu, bệnh hại cây trồng Nhà nước vận động người dân hưởng ứng phong trào “Ba tăng, ba giảm”
và chương trình “Quản lí dịch hại tổng hợp - IPM”, chương trình sản xuất rau sạch nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ cuả người dân
Trang 17
Chi cục BVTV Trung ương đã đưa ra nhiều thông báo và công văn chỉ đạo về công tác BVTV, về kết quả điều tra tình hình sâu bệnh Chi cục cũng đã tổ chức huấn luyện chuyên môn, nghiệp vụ về thuốc BVTV cho những người tham gia buôn bán, kinh doanh mặt hàng này Đặc biệt 5 chương trình kinh tế kĩ thuật như màng lưới bảo
vệ thực vật cơ sở, phòng trừ chuột hại, 3 giảm 3 tăng trong sản xuất lúa, xây dựng mô hình sản xuất chè an toàn và mô hình sản xuất rau an toàn do chi cục triển khai được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng (Web: WWW khoahocnhanong.com.vn)
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành nhiều văn bản qui định
rõ danh mục các thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam Gần đây nhất
có các quyết định sau:
QĐ số 76/2008/QĐ-BNN về việc bổ sung một số loại thuốc bảo vệ thực vật vào danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng ở Việt Nam (ban hành ngày 25/6/2008);
QĐ số 96/2008/QĐ-BNN về việc sửa đổi nội dung một số thuốc trong Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, hạn chế sử dụng, ban hành kèm theo Quyết
định số 49/2008/QĐ-BNN ngày 27 tháng 3 năm 2008 và một số loại thuốc bổ sung vào Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, ban hành kèm theo Quyết định số 76/2008/QĐ-BNN ngày 25 tháng 6 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (ban hành ngày 6/10/2008);
QĐ số 106/2007/QĐ-BNN về việc Ban hành Quy định về quản lý sản xuất và
kinh doanh rau an toàn (ban hành ngày 28/12/2007)
Theo qui định này, Rau an toàn (viết tắt là RAT) được hiểu là những sản phẩm
rau tươi (bao gồm các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt; rau mầm; nấm thực phẩm) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế phù hợp quy trình sản xuất RAT
Qui định này đã qui định rõ các điều kiện sản xuất, sơ chế, kinh doanh RAT, thủ tục đăng kí và cấp giấy phép sản xuất, kinh doạnh RAT, cũng như xử lí đối với các hành vi vi phạm sản xuất, sơ chế, kinh doanh RAT Cụ thể:
Tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT nếu đáp ứng các điều kiện sau:
Các điều kiện sản xuất, sơ chế RAT
Về nhân lực
a) Có ít nhất một cán bộ chuyên ngành trồng trọt hoặc BVTV từ trung cấp trở lên để hướng dẫn, giám sát kỹ thuật sản xuất RAT (cán bộ của cơ sở sản xuất, cán
Trang 18bộ khuyến nông, bảo vệ thực vật hoặc hợp đồng lao động thường xuyên hoặc không thường xuyên)
b) Người sản xuất RAT được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc tổ chức có chức năng nhiệm vụ tập huấn về quy định quản lý và quy trình sản xuất RAT
Về nước tưới
a) Không sử dụng nước thải công nghiệp, nước thải từ bệnh viện, khu dân cư, trang trại chăn nuôi, lò giết mổ gia súc chưa qua xử lý; nước phân tươi, nước giải, nước ao tù đọng để tưới trực tiếp cho rau
b) Nước tưới cho rau không bị ô nhiễm bởi các sinh vật và hoá chất độc hại, hàm lượng một số hoá chất không vượt quá mức cho phép tại Phụ lục 2 của Quy định này Trước khi sản xuất RAT và trong quá trình sản xuất khi thấy có nguy cơ gây ô nhiễm phải lấy mẫu nước kiểm tra Phương pháp lấy mẫu nước theo Tiêu chuẩn TCVN 6000:1995 đối với nước giếng, nước ngầm, hoặc Tiêu chuẩn TCVN 5996:1995
đối với nước ao, hồ, sông rạch
Về quy trình sản xuất RAT
Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT phải cam kết thực hiện các quy trình sản xuất RAT do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hoặc tỉnh, thành phố nơi tiến hành sản xuất ban hành
Trong thời gian chờ soát xét, chuyển đổi các quy trình sản xuất RAT hiện có cho phù hợp với Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn và Hướng dẫn thực hành nông nghiệp tốt (GAP), các tổ chức, cá nhân được phép sử dụng các quy trình sản xuất
Trang 19RAT hiện có do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tỉnh, thành phố đã ban hành
Về điều kiện sơ chế rau
a) Có địa điểm, nhà xưởng, nguồn nước rửa, dụng cụ sơ chế, phương tiện vận chuyển, bao gói sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn theo QTSXRAT
b) Người lao động không bị bệnh truyền nhiễm và được tập huấn về sơ chế RAT
Đăng ký và cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT
1 Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT gửi hồ sơ đăng ký đề nghị cấp giấy chứng nhận đủ
điều kiện sản xuất, sơ chế RAT về Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nơi tiến hành sản xuất Hồ sơ đăng ký gồm:
a) Đơn đăng ký đủ điều kiện sản xuất RAT theo mẫu tại Phụ lục 4 của Quy
Trường hợp tổ chức, cá nhân không sản xuất chỉ thu mua RAT để sơ chế, nếu
đủ điều kiện thì Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sơ chế RAT
3 Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT có hiệu lực tối đa 3 năm, hết thời hạn phải đăng ký lại
4 Chi phí lấy mẫu, phân tích mẫu đất, nước để cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT theo quy định hiện hành
5 Hồ sơ cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT được lưu tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận
để phục vụ việc kiểm tra, thanh tra
Trang 206 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thông báo công khai tên, địa chỉ, điện thoại của các tổ chức, cá nhân được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT trên phương tiện thông tin đại chúng
Kinh doanh RAT
1 Tổ chức, cá nhân kinh doanh RAT tại cửa hàng, đại lý phải có các điều kiện sau
đây:
a) Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có nội dung kinh doanh rau tươi;
b) Giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP của cơ quan có thẩm quyền;
c) Bản phô tô Thông báo tiếp nhận bản công bố rau được sản xuất theo QTSXRAT;
c) Hợp đồng, hóa đơn nhập, xuất hoặc sổ sách ghi chép thể hiện rõ chủng loại, khối lượng, nguồn gốc xuất xứ RAT và thời gian nhập, xuất
d) Sản phẩm rau phải có bao gói, thùng chứa, dây buộc hợp vệ sinh; trên bao bì hoặc nhãn gắn trực tiếp vào từng sản phẩm (củ, quả) tối thiểu phải có các thông tin sau:
- Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất RAT;
- Dòng chữ "Rau được sản xuất theo quy trình sản xuất RAT"
Khuyến khích in mã số, mã vạch, lô gô, thương hiệu của tổ chức, cá nhân sản xuất RAT, tổ chức chứng nhận và các thông tin khác trên bao bì hoặc nhãn
2 Tổ chức, cá nhân sản xuất RAT khi kinh doanh theo hình thức cung ứng trực tiếp cho khách hàng (nhà máy chế biến, nhà hàng, khách sạn, trường học, bệnh viện, hộ gia đình) hoặc bán buôn tại chợ đầu mốiphải có các điều kiện sau đây:
a) Hợp đồng, hóa đơn nhập, xuất hoặc sổ sách ghi chép thể hiện rõ chủng loại, khối lượng, nguồn gốc xuất xứ RAT và thời gian nhập, xuất
b) Sản phẩm RAT phải có bao gói, thùng chứa, dây buộc và vận chuyển trên phương tiện hợp vệ sinh nhưng không bắt buộc phải có các thông tin như quy định tại
điểm d khoản 1 Điều này
Kiểm tra và xử lý vi phạm
1 Kiểm tra
Trang 21a) Tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế RAT và Tổ chức chứng nhận chịu sự kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất của Cục Trồng trọt, Cục Bảo vệ thực vật và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
b) Tổ chức, cá nhân, cửa hàng, đại lý kinh doanh RAT chịu sự kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ở địa phương
2 Xử lý vi phạm
a) Đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế RAT và Tổ chức chứng nhận
Tổ chức, cá nhân sản xuất, sơ chế RAT, tổ chức chứng nhận vi phạm phải tiến hành khắc phục trong khoảng thời gian nhất định theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra, nếu không sẽ bị thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; các sản phẩm rau không đạt tiêu chuẩn phải tạm dừng thu hoạch, sơ chế để khắc phục hoặc phải tiêu huỷ
Trường hợp vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm 3 lần kiểm tra liên tiếp Cục Trồng trọt, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xem xét thu hồi Giấy chứng nhận
đủ điều kiện sản xuất, sơ chế RAT; chấm dứt hiệu lực Bản công bố rau được sản xuất theo qui trìnínản xuất RAT của tổ chức, cá nhân sản xuất RAT hoặc thu hồi quyết
định chỉ định của tổ chức chứng nhận
Tuỳ theo mức độ vi phạm tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị xử phạt hành chính theo các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường
và chất lượng sản phẩm, hàng hoá, trường hợp nghiêm trọng bị truy cứu trách nhiệm hình sự
b) Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh RAT
Tổ chức, cá nhân kinh doanh RAT có vi phạm phải tiến hành khắc phục trong khoảng thời gian nhất định theo yêu cầu của cơ quan kiểm tra, nếu không sẽ bị thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng; các sản phẩm rau không đạt tiêu chuẩn bị tịch thu hoặc tiêu huỷ
Trường hợp tổ chức, cá nhân vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP, giấy phép kinh doanh RAT hoặc tạm dừng hoạt động kinh doanh RAT theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Tuỳ theo mức độ vi phạm tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị xử phạt hành chính theo quy định hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá và trong lĩnh vực thương mại, trường hợp nghiêm trọng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự