Hình 1: Cấu trúc bộ gen của virus dịch tả heoBảng 1: Chức năng các protein của virus dịch tả heo Protein Gen mã hóa Npro p23 Autoprotease C p14 Tham gia tạo nucleocapsid Ems gp48 Glycopr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP.HỒ CHÍ MINH
-o0o -CHUYÊN ĐỀ DỊCH TỄ PHÒNG CHỐNG BỆNH DỊCH TẢ HEO
Giảng viên hướng dẫn Học viên thực hiện:
Nguyễn Thị Mỹ Nhân
TP Hồ Chí Minh
Trang 23.2.1 Chương trình khống chế, thanh toán bệnh
dịch tả heo ở một số nước trên thế giới
29
3.2.2 Chương trình xây dựng vùng, cơ sở an toàn
bệnh dịch tả heo ở Việt Nam
33
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hơn 100 năm được biết đến, kể từ khi có báo cáo chính thức tại Ohio vào năm
1833 (Hanson, 1957), bệnh dịch tả heo (DTH) đã gây tổn thất nặng nề cho ngành chănnuôi heo của nhiều quốc gia trên thế giới và cả Việt Nam Nếu trước kia, bệnh thường
nổ ra ồ ạt, mãnh liệt thì hiện nay bệnh có tính chất âm ỉ, thầm lặng bởi các chủng độclực thấp (Nguyễn Tiến Dũng và ctv, 2002) Mặc dù đã có chương trình tiêm phònghàng năm từ nhiều năm nay, nhưng ở nước ta bệnh vẫn là mối đe dọa tiềm ẩn đối với
Trang 3người chăn nuôi heo bởi các trận dịch bùng phát âm thầm chưa được kiểm soát Do đó,chúng tôi tìm hiểu về dịch tễ của bệnh dịch tả heo từ đó xác định quy luật của bệnh,giúp chúng ta có biện pháp phòng chống tốt hơn, giảm thiệt hại cho ngành chăn nuôiheo.
Phần 2 NỘI DUNG
1 Đặc điểm virus dịch tả heo
Bệnh DTH là bệnh tuyền nhiễm do virus gây ra Bệnh xảy ra trên heo mọi lứatuổi, có tính lây lan mạnh với tử số và bệnh số cao; làm thiệt hại kinh tế đáng kể chongành chăn nuôi heo ở nhiều quốc gia Đặc biệt, bệnh DTH ở thể không điển hình, thểphát bệnh muộn còn gây ra hậu quả nghiêm trọng bởi sự mang trùng dai dẵng từ đàn
Trang 41.1 Phân loại
Virus này được xếp vào giống Pestivirus cùng với virus gây tiêu chảy ở bò
(Bovine viral diarrhea virus- BVDV) và virus gây bệnh “Border” ở cừu (Border
disease virus- BDV) Năm 1991, giống Pestivirus cùng với giống Flavivirus và Hepacivirus được xếp vào họ Flaviviridae (Wengler và ctv, 1995).
1.2 Hình thái cấu trúc virus dịch tả heo
Virus DTH có hệ gien RNA chuỗi đơn, mạch dương, dài khoảng 12,3 kb, có vỏbọc bên ngoài, đường kính 40-50 nm, dạng hình cầu, đối xứng khối 20 mặt, có mộtnucleocapside đường kính 29nm Khối lượng phân tử khoảng 60 x 106 Da (Trần Đình
Từ, 1999); có hai vùng không mã hóa ở đầu 5’ và 3’, một bộ khung đọc mở mã hóa 4protein cấu trúc (core, Ems, E1, E2) và 8 protein không cấu trúc (Npro, NS2, NS3,NS4A, NS4B, NS5A, NS5B) (Meyers và Thiel, 1996)
Hình 1: Cấu trúc bộ gen của virus dịch tả heoBảng 1: Chức năng các protein của virus dịch tả heo
Protein Gen mã hóa
Npro p23 Autoprotease
C p14 Tham gia tạo nucleocapsid
Ems gp48 Glycoprotein màng với hoạt tính ARNse
E1 gp25 Glycoprotein màng
E2 gp55 Glycoprotein màng, gây đáp ứng miễn dịch chủ yếu của
CSFVp7 - Chức năng chưa biết
NS2 p54 Chức năng chưa biết
Trang 5NS3 p80 Có 3 hoạt tính enzym Đầu N: serin-typeprotease, đầu C:
Nucleoside triphosphatese-ARN helicaseNS4A p10 Cofactor protease NS3
NS4B p30 Chức năng chưa biết
NS5A p58 Chức năng chưa biết
NS5B p125 Chức năng ARN polymerase phụ thuộc ARN
Ghi chú: các protein P7, NS2, NS4B và NS5A của virus DTH vẫn chưa biết chức năng
1.3 Cấu trúc kháng nguyên
Chỉ có một type kháng nguyên virus DTH, tuy nhiên những nghiên cứu địnhlượng bằng phản ứng trung hòa huyết thanh cho phép phân biệt hai nhóm:
– Nhóm 1: gồm những chủng cường độc (chủng Alfort); chủng độc lực thấp,chủng biến đổi (chủng Chinois, chủng Thiverval…)
– Nhóm 2: chủng độc lực thấp, chủ yếu gây rối loạn sinh sản như chủng 331 vànhiều chủng khác từ những heo bệnh dịch tả heo thể mãn tính (Szent-Ivanyi,1984)
Mối quan hệ giữa 2 nhóm 1 và 2: những chủng thuộc nhóm 2 có khả năng gâybệnh yếu, kích thích tạo ra kháng thể hạn chế trên heo nhiễm Ngược lại, những thúcảm nhiễm bởi những chủng thuộc nhóm 1 hay vaccin chống DTH cho nhiều khángthể hơn và phản ứng với cả hai nhóm(Trần Thanh Phong, 1996) Đồng thời, sự khácnhau về độc lực của 2 nhóm là yếu tố chính gây ra những dấu hiệu lâm sàng khác nhautrên ca bệnh (Cheville và Mengeling, 1989)
1.4 Sức đề kháng
Sức đề kháng của virus phụ thuộc vào trạng thái vật lý của chất chứa virus,virus trong dịch nuôi cấy tế bào sẽ bị vô hoạt ở 600C trong 10 phút; virus có thể tồn tại
27 ngày ở thịt đông lạnh, 73 ngày ở tủy xương và 168 ngày ở thịt xông khói
Virus dịch tả heo (virus DTH) bị vô hoạt ở 600C trong 10 phút, 560C trong 1giờ Những chủng độc lực cao thường ổn định với nhiệt
Virus cũng bị diệt trong môi trường có chất làm tan lipid, có enzyme protease(Trần Thanh Phong, 1996)
Virus sống sót trong thịt và thân thịt nếu chúng được trữ lạnh, nhưng sống sót
Trang 6Virus DTH bất hoạt ở PH < 3 hay PH> 11 Chúng nhạy cảm với hóa chất nhưether, chloroform, β propiolactone 0,4%, bị bất hoạt bởi chất sát trùng như cresol,NaOH 2%, formol 1%
có vi trùng nhưng vẫn gây bệnh DTH Từ năm 1822-1862, có nhiều quốc gia ở Châu
Âu xuất hiện bệnh DTH như Pháp (1822), Đức (1833), Anh (1862) Ngoài ra, bệnhcũng được báo cáo ở Nam Mỹ (1899) và Nam Phi (1900) (dẫn liệu van Oirschot,1999)
Năm 1921, sau khi phát hiện bệnh DTH Châu Phi do một loại ADN virus khácgây ra, các nhà khoa học đã sử dụng thuật ngữ “dịch tả heo cổ điển” (classical swinefever - CSF) cho bệnh DTH
Theo dẫn liệu của Deng và ctv (2005), phân tích trình tự 96 nucleotide của vùng
5’NTR, 190 nucleotide của vùng E2 và 409 nucleotide của vùng NS5B để sắp xếpvirus DTH vào 3 nhóm chính và các nhóm phụ
Nhóm 1 và các nhóm phụ 1.1, 1.2, 1.3 chủ yếu là các chủng virus lịch sử(Lowing và ctv, 1996; Paton và ctv, 2000) phân bố khắp nơi trên thế giới
- Nhóm 1.1: gồm các chủng virus vaccine, phân lập virus ở Anh, Mỹ năm
1940 – 1950; Nhật năm 1960; Tây Âu giữa năm 1920 và 1970; Brazil vàNam Triều Tiên năm 1980; Ukraine, Croatia, Mexico và Thái Lan năm1990; ở Trung Quốc
- Nhóm 1.2: gồm các chủng virus vaccine phân lập virus ở Tây Âu năm
1940; Malaysia và Mỹ năm 1960; Cuba và Ukraine năm 1990; ở Úc
- Nhóm 1.3: gồm các phân lập virus ở Malaysia năm 1980; Thái Lan năm
1980 và 1990; Honduras năm 1990
Trang 7Nhóm 2 và các nhóm phụ 2.1, 2.2, 2.3 bao gồm các chủng virus hiện đang lưuhành; trong đó nhóm 2.1 xuất hiện sớm nhất, được phân lập ở Malaysia năm 1986(Paton và ctv, 2000)
- Nhóm 2.1: Malaysia năm 1986; Tây Âu năm 1980 và 1990; Đông Âu năm
1990
- Nhóm 2.2: gồm các phân lập virus ở Singarpore năm 1980; Tây Âu năm
1980 và 1990; Thái Lan năm 1990
- Nhóm 2.3: các phân lập virus ở Nhật năm 1970; Tây Âu năm 1980 và
1990; Đông Âu năm 1990; ở Nga
Nhóm 3 bao gồm nhóm phụ 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, các chủng virus phân bố ở nhiềuquốc gia như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Anh (Sakoda và ctv, 1999;Paton và ctv, 2000)
- Nhóm 3.1: chỉ có dòng Congenital Tremor phân lập ở Anh năm 1960.
- Nhóm 3.2: gồm các phân lập virus ở Nam Triều Tiên năm 1980 và 1990.
- Nhóm 3.3: gồm các phân lập virus ở Thái Lan năm 1990.
- Nhóm 3.4: gồm các phân lập virus ở Nhật năm 1970; Đài Loan năm 1990.
Sự phân nhóm này cần thiết cho việc xác định nguồn gốc, sự lan truyền và tiếnhóa của virus DTH Phân lập virus DTH của Việt Nam thuộc các nhóm 1.1, 2.1 và 2.2
2.1.1 Tình hình bệnh dịch tả heo trên thế giới
Dịch tả heo (CSF) đã được loại trừ ở Bắc Mỹ vào năm 1976 và từ nhiều nướcchâu Âu Các virus DTH cũng đã được loại trừ khỏi Australia vào năm 1903, 8/1927,3/1942 và 1/1960 Không có báo cáo của bệnh DTH ở lục địa châu Phi
Trang 8Hình 2: Báo cáo về phân bố bệnh DTH từ năm 1990
Hình 3: Bản đồ phân bố DTH năm 2007 (từ WAHID OIE)
Cuối năm 2008, bệnh DTH (CSF) xảy ra ở Nam Mỹ, châu Á (bao gồm cảIndonesia) và một số nước Châu Âu Đầu năm 2009, bệnh DTH cũng đã được báo cáotại Bulgaria, Israel và Lithuania
Trang 9Hình 4: Bản đồ phân bố DTH tháng 12 năm 2008 (từ WAHID OIE)
Hình 5: Bản đồ phân bố DTH từ giữa tháng 1 và tháng 7 năm 2010
(nguồn từ WAHID OIE)
Châu Á
Nhật Bản bắt đầu một chương trình xóa DTH vào năm 1996 và kể từ đó không
có trường hợp DTH nào báo cáo Ngược lại với Nhật Bản, sự bùng phát DTH vẫn xảy
Trang 10ra thường xuyên ở hầu hết các nước Đông Nam Á, còn tình hình ở Trung Quốc và BắcTriều Tiên chưa được biết.
Châu Âu
Dịch tả heo (CSF) đã được báo cáo ở các nước trong khu vực Châu Âu Ý,Luxembourg và Đức từng có một ổ dịch trong năm 2003, Slovakia báo cáo 6 ổ dịchtrong năm 2003, 5 trong năm 2004 và 1 vào năm 2005 Croatia đã báo cáo một số ổdịch ở heo mới phát sinh tháng 1 năm 2007 Dịch tả heo cũng được báo cáo hiện diện
ở Bosnia và Herzegovina, Serbia và Montenegro, Albania
Trong những năm gần đây, bệnh này đã được báo cáo trong các quần thể heorừng hoang dã ở một số nước lân cận Châu Ân như Thụy Sĩ, Croatia, Nga
Hình 6: Bản đồ phân bố tiềm năng DTH ở heo rừng tại Châu Âu và Châu Á
Trang 11Hình 7: Bản đồ DTH phân bố Châu Âu tháng 1-3 năm 2007Các nước có ổ dịch đã xảy ra (màu hồng) Bệnh xảy ra ở heo rừng (màu xanh láđậm), ở heo nhà (màu đỏ) hoặc cả heo rừng và heo nhà (màu xanh nước biển) Nhữngquốc gia chưa có báo cáo dịch(màu xanh lá).
Châu Mỹ
Tại Mỹ, ổ dịch cuối cùng xảy ra vào năm 1976 và năm 1978, Mỹ đã tiêu diệtđược bệnh DTH Canada hết dịch từ năm 1974 Mexico vẫn còn khu vực phía namđược tiêm phòng liên tục bệnh DTH Các nước trung tâm như Belize và Panama cũngkhông có DTH, nhưng vùng Caribean có 3 quốc gia có sự hiện diện DTH là Cuba,Haiti và cộng hòa Dominicat Từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2010, vùng Caribean có sựbùng nổ DTH
Trang 12Hình 8: Phân bố DTH ở Caribean năm 2010 (nguồn WAHID OIE) Bệnh DTH vẫn còn xảy ra ở Brazil, măc dù đã khống chế ở nhiều bang
Bảng 2: Các ổ dịch đã xảy ra ở BrazilNăm Số ổ dịch Số ca bệnh Số tử vong
Trang 13Hình 9: Các bang Rio Grande do Sul, Santa Catarina, Paraná của Brazil không còn
DTH (màu đỏ)
Ở Nam Mỹ, Uruguay không có trường hợp bệnh DTH nào được báo cáo từ năm
1991, và Chile từ năm 1996 Riêng các quốc gia khác ở Nam Mỹ như Argentina,Colombia, Ecuador và Paraguay vẫn còn kiểm soát tiêm phòng bệnh DTH, kiểm dịchxuất nhập động vật nhằm kiểm soát bệnh DTH
Australia và New Zealand không báo cáo có DTH, còn châu Phi chưa biết
2.1.2 Tình hình bệnh dịch tả heo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bệnh đã có từ lâu tại khắp các vùng (Trịnh Văn Thịnh, 1985) Tuynhiên, những tài liệu đầu tiên về bệnh chỉ được công bố vào năm 1923 – 1924 bởiHoudemer (Đào Trọng Đạt và Trần Thị Tố Liên, 1989); sau đó hàng năm bệnh đượcphát hiện ở vùng này hay vùng khác
Theo nhận định của Cục Thú y, hiện nay bệnh DTH ở nước ta tuy không xuấthiện những ổ dịch lớn nhưng bệnh vẫn là mối đe dọa tiềm ẩn đối với ngành chăn nuôiheo
Trang 14Cáp phân lập virus DTH của Việt Nam thuộc các nhóm 1.1, 2.1 và 2.2 có cùngnhóm di truyền với virus DTH nguồn gốc từ Trung Quốc, Tây Âu, Mỹ, Thái Lan …lànhững nước mà ngành chăn nuôi heo của nước ta có quan hệ chặt chẽ (Nguyễn NgọcHải, 2007) và được phân bố như sau:
Hình 10: Sơ đồ phân bố các nhóm virus DTH ở Việt Nam
Năm 2000, Cần Thơ có 316 heo phát bệnh DTH, chiếm 0,2% Khảo sát 5 trạiheo tại Cần Thơ từ 6/2002-7/2003 đều phát hiện virus DTH (Hồ Thị Việt Thu, 2003)
Từ năm 2003 – 2004, Đồng Nai với phương pháp điều tra cắt ngang, lấy mẫungẫu nhiên và lấy mẫu trong ổ dịch, ghi nhận yếu tố liên quan, dùng Elisa phát hiệnP125 virus DTH (kit synbiotics Pháp), tỷ lệ heo bệnh trong các ổ dịch 9,06%, tỷ lệchết trung bình 17,63% Virus tiềm ẩn 3,21% Địa phương có dịch lưu hành NhơnTrạch, Vĩnh Cữu, Xuân Lộc Thời gian phát dịch là vào mùa khô, gồm các tháng 12,tháng 1, tháng 2, tháng 3 (Đặng Thế Dương, 2005)
Trang 15Tại Thừa Thiên Huế, phát hiện virus dịch tả heo qua chẩn đoán huyết thanh trênmáu lợn giết mổ, với phương pháp kết tủa khuếch tán trên thạch chỉ phát hiện 3% (nếukhông cộng nghi ngờ chỉ có 0,27%), với phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp,phát hiện 30,2% (năm 2002: 31,46%, năm 2003: 26,83%) ( Phạm Hồng Sơn, 2004).
Tháng 5/2004, Chi cục thú y Bến Tre phối hợp với Trung tâm thú y vùngTP.HCM, Cục thú y, Trường Đại học công nghệ thông tin TP.HCM và Trung tâmthông tin Tài nguyên - Môi trường (thuộc Sở Tài nguyên - Môi trường Bến Tre) triểnkhai thực hiện đề tài khoa học: “Điều tra, xây dựng bản đồ dịch tễ bệnh dịch tả heo,bệnh lở mồm long móng gia súc và đề ra biện pháp xây dựng vùng an toàn dịch bệnhgia súc tỉnh Bến Tre” Đề tài đã tiến hành lấy 399 mẫu dịch tả heo ở những vùng xảy
ra dịch bệnh cao nhất; đồng thời lấy ngẫu nhiên 448 mẫu dịch tả heo (trên 23.399 hộchăn nuôi được chọn từ 24 xã trên toàn tỉnh) Kết quả, trong 399 mẫu dịch tả heo cóđến 110 mẫu dương tính, tỷ lệ mang trùng khá cao chiếm 27,57%, tỷ lệ mắc bệnhchiếm 0,3 %, tập trung nhiều nhất là Chợ Lách, Ba Tri và Bình Đại Qui mô các ổ dịchthường ở mức 102 con/ổ dịch; bệnh có nguồn lây bệnh chủ yếu là tự phát (45,7%) và
do nông dân bán chạy heo mắc bệnh trên thị trường (41,6%)
Tiền Giang có tổng đàn heo là 521.436 con (Cục thống kê Tiền Giang, 2008),cao nhất vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, đồng thời cũng là tỉnh có đàn heo bị nhiềutác động của bệnh dịch tả heo Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Dân và ctv(2008), cho thấy virus DTH tỉnh Tiền Giang thuộc nhóm 2, phân nhóm 2.1 và 2.2 Cácchủng virus này có sự tương đồng với các chủng virus tham khảo ở Việt Nam, Lào vàTrung Quốc
Trang 16– Heo nái mang virus (thể tiềm ẩn) là những ổ chứa virus, và truyền sang cácphôi trong bụng.
– Heo nọc giống mang virus có thể truyền lây khi giao phối
– Tính cảm thụ còn tùy thuộc vào tình trạng miễn dịch (sữa đầu từ mẹ và khảnăng gây bệnh của virus (những virus độc lực yếu thường xâm nhiễm từ phôithai)
– Virus dịch tả heo thường tồn tại lâu ở vùng có trại chăn nuôi heo tập trung.Cừu, bò có thể nhiễm virus dịch tả heo, nhưng không có triệu chứng (có khángthể, không có khả năng truyền lây cho động vật khác) Thú thí nghiệm như cừu, chuột,chuột lang, khỉ cảm nhiễm nhưng thường ở thể tiềm ẩn Thỏ là động vật được cấytruyền virus dịch tả heo tiếp đời nhiều lần để chế vaccine nhược độc (Trần ThanhPhong, 1996)
2.3 Đường xâm nhập, bài xuất
Virus xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa Ngoài ra, virus còn cóthể xâm nhập qua đường hô hấp, niêm mạc, sinh dục, da Hạch hạnh nhân là mộttrong những vị trí đầu tiên nơi virus nhân lên sau khi xâm nhập vào vật chủ(Trautwein, 1988)
Virus có trong máu heo 24 giờ sau khi nhiễm bệnh, do đó virus được bài thải rấtsớm trong thời kỳ ủ bệnh 24 giờ sau khi cảm nhiễm, lượng virus bài thải tối đa sau 7ngày Các chất thải từ heo nhiễm như phân, nước mắt, nước mũi, nước tiểu đều chứavirus
Đối với heo chết, tất cả các phủ tạng đều có chứa virus Máu chứa virus rấtsớm, có khả năng lây nhiễm cao Trong giai đoạn sốt, 1 ml máu chứa 107 virus Hạchbạch huyết và lách chứa nhiều virus, do đó thường được dùng làm bệnh phẩm xétnghiệm (virus nhân lên và phá hủy những mô sinh lympho) Ở thịt, phủ tạng, chất bàitiết đều có virus vào ngày thứ 2, thứ 3 trước khi sốt, tức là trước khi có triệu chứng Vìthế, thịt và sản phẩm thịt từ heo bị nhiễm bệnh đều là yếu tố lây truyền bệnh với quy
mô lớn Quày thịt hoặc xác thú trữ đông lạnh có thể giữ virus trong nhiều tháng Viruschịu đựng được việc muối và xông khói (thịt, sản phẩm thịt) trong nhiều tháng
Trang 17Ở những heo bị bệnh mãn tính, sau vài tuần không còn virus trong máu và hạchnhưng 2-3 tháng sau thậm chí 6-8 tháng sau trong nước tiểu và nước bọt vẫn còn virus(Nguyễn Lương, 1997).
2.4 Phương thức truyền lây
Truyền lây trực tiếp
Đây là phương thức truyền lây chủ yếu (Trần Đình Từ, 1999), nguồn bệnh baogồm heo bệnh (bài thải virus ở 24 giờ sau khi nhiễm), heo bệnh mãn tính, heo condung nạp miễn dịch (Mesplède và Albina, 1995; dẫn liệu Hội Thú y Việt Nam, 2000).Trong cơ thể heo, virus thường tồn tại cân bằng với mức độ miễn dịch; do vậy, heo saukhi khỏi bệnh và có miễn dịch vẫn có khả năng bị nhiễm và bài thải virus ra môitrường (Nguyễn Tiến Dũng, 2002b); trực tiếp qua nhau thai khi heo nái nhiễm virus cóđộc lực trung bình và thấp (de Smit và ctv, 1999); van Oirschot, 1999; Dewulf và ctv ,2001; Widgren, 2002)
(1) Truyền ngang
Tiếp xúc trực tiếp giữa thú bệnh và thú khỏe, giữa đàn nhiễm và đàn mẫn cảm
là đường lây lan quan trọng nhất Heo nhiễm bệnh DTH sẽ thải virus qua chất tiết từmũi, miệng, nước mắt, nước tiểu và phân (Liess, 1987; Terpstra, 1988; van Oirschot,1999) Heo mẫn cảm có thể bị nhiễm virus qua đường miệng, mũi, kết mạc, sinh dục
và nhiều đường khác (Terpstra, 1988)
Trang 18(2) Truyền dọc
Virus DTH có thể qua nhau để xâm nhập vào bào thai Biểu hiện bệnh của bàothai bị nhiễm virus phụ thuộc vào giai đoạn của thai kỳ và độc lực của virus Nhiễmgiai đoạn đầu của thai kỳ dễ dẫn đến sẩy thai, chết thai, thai gỗ, dị tật; và nhiễm giaiđoạn sau 70 ngày của thai kỳ sinh ra những heo con mang trùng dai dẵng, run bẩmsinh; heo con có thể có dáng vẻ bình thường và sống được vài tháng Những heo connày bài thải với số lượng lớn virus và là nguồn tồn trữ, gieo rắc virus rất nguy hiểmcho quần thể (van Oirschot và Terpstra, 1977; Liess, 1984; Dahle và Liess, 1992;Moennig và Plagemann, 1992; Westergaard, 1996; van Oirschot, 1999; Moennig vàctv, 2003) Đường truyền dọc này có tầm quan trọng to lớn trong dịch tễ học của bệnhDTH bởi những heo nhiễm trùng huyết không có triệu chứng và tồn tại dai dẵng có thểduy trì tình trạng nhiễm qua một thời gian dài hoặc có thể gây ra những trận dịch saugiai đoạn này (van Oirschot, 1999)
Truyền lây gián tiếp
Lây truyền gián tiếp qua các véc tơ cơ học như cho ăn thức ăn thừa, xe vậnchuyển gia súc, con người, gieo tinh nhân tạo, phân, động vật khác
(1) Cho ăn thức ăn thừa
Virus DTH có thể được xác định dễ dàng trên heo chết hoặc hạ thịt trongtrường hợp cấp tính, cả giai đoạn trước khi xuất hiện triệu chứng (Edwards, 2000).Trong thịt và sản phẩm từ thịt heo, virus DTH có thể duy trì khả năng gây nhiễm trongvài tháng Khi thịt này được tồn trữ, làm lạnh, hoặc cấp đông, sự tồn tại của virus cóthể kéo dài đến vài năm (Dahle and Liess, 1992; van Oirschot, 1999) Terpstra (1988)còn cho biết, heo có thể mắc bệnh khi sử dụng thực phẩm thừa bị nhiễm virus DTHchưa được nấu kỹ; chính vì thế, thức ăn thừa từ những nhà hàng chưa được nấu kỹcũng là nguồn truyền lây virus DTH nguy hiểm (Dahle và Liess, 1992; Fritzemeier vàctv, 2000)
(2) Xe vận chuyển gia súc
Trong nghiên cứu dịch tễ bệnh DTH, xe có tiếp xúc với chất tiết từ heo bịnhiễm DTH là đường truyền lây nguy hiểm (Teuffert và ctv 1998; Benard và ctv,1999; Stegeman và ctv, 2000a, 2000b; Elbers và ctv 2001; Stegeman và ctv, 2002)