Vì vậy nhằm giúp các em học tốt môn Hóa học hơn và hướng đến phương pháp học tập tích cực , tự chủ và sáng tạo cũng đồng thời giúp cho giáo viên khắc phục phần nào khó khăn trong tổ chức
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN NGHĨA.
- GIÁO VIÊN : Nguyễn Hoàng Phương Thảo
- Tổ : Lý – Hóa – Sinh
Năm học : 2011-2012
Trang 2I LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay trước sự phát triển công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước cùng với
sự tiến bộ vượt bậc của nền khoa học kỹ thuật, thì một trong những mục tiêu hàng đầu của ngành giáo dục là việc dạy học của người giáo viên phải chú trọng nâng cao kỹ năng trí tuệ , khả năng tư duy mạch lạc của học sinh Điều này đòi hỏi giáo viên không ngừng vận động tìm ra những phương pháp, sáng kiến hay có hiệu quả trong dạy học nhằm đạt mục tiêu , yêu cầu của giáo dục đề ra
Mặc khác , hiện nay không chỉ phần đông học sinh mà giáo viên đều nhận định rằng nội dung chương trình Hóa học phổ thông khá nhiều, rộng và khó, là một môn học kết hợp giữa lí thuyết trừu tượng với thực hành thí nghiệm thực tế và bài tập vận dụng tính toán
Vì vậy nhằm giúp các em học tốt môn Hóa học hơn và hướng đến phương pháp học tập tích cực , tự chủ và sáng tạo cũng đồng thời giúp cho giáo viên khắc phục phần nào khó khăn trong tổ chức dạy học trên lớp, tôi xin trình bày kinh
nghiệm “Phương pháp kết hợp sử dụng Bản Đồ Tư Duy trong dạy học Hóa học”
Bài viết này sẽ giới thiệu tóm lược về Bản Đồ Tư Duy (BĐTD); cung cấp một
số phương pháp sử dụng BĐTD kết hợp với tổ chức hoạt động dạy học trên lớp, cũng như những lời khuyên hữu ích khi lập Bản Đồ Tư duy
Trang 3II NỘI DUNG
1 Cơ sở xuất phát.
a Cơ sở lí luận:
- Quá trình dạy học nĩi chung và dạy học Hĩa học nĩi riêng đã là đối tượng nghiên cứu nhiều nhà giáo dục , lí luận dạy học và từ đĩ đã đưa ra kết luận rằng :
“Học là quá trình tự giác tích cực, tự chiếm lĩnh tri thức khoa học dưới dạng điều khiển sư phạm của giáo viên và chiếm lĩnh khái niệm khoa học là mục đích của hoạt động học Cịn hoạt động dạy là sự điều khiển tối ưu quá trình học sinh chiếm lĩnh tri thức khoa học và trong quá trình điều khiển đĩ đã phát triển và hình thành nhận thức của học sinh
- Nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và ứng dụng nhằm đảm bảo các mục tiêu yêu cầu của quá trình dạy học như : dạy học hợp tác nhĩm, dạy học trực quan, dạy học phát hiện - giải quyết vấn đề , dạy học trị chơi… và gần đây nhất là dạy học bằng Bản Đồ Tư Duy
- Phương pháp dạy học bằng bản Đồ Tư Duy (BĐTD) là phương pháp chú trọng đến cơ chế ghi nhớ logic, mạch lạc, , dễ mở rộng đào sâu một ý tưởng, hệ thống hĩa một chủ đề hay một mạch kiến thức…thơng qua việc kết hợp các hình ảnh, đường nét , màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
b Cơ sở thực tiễn:
- Trước đây, với cách học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều bạn học sinh đi vào lối mịn, khơng kích thích được sự phát triển của trí não, điều đĩ làm cho một số bạn tuy rất chăm học nhưng sự tiếp thu vẫn rất ít vì khơng biết liên kết các kiến thức với nhau, khơng biết vận dụng những kiến thức đã học trước đĩ vào phần sau Học sinh chỉ biết ghi mà khơng biết cách lưu thơng tin sao cho khoa học,
tự chủ, độc lập nhất
- Một số kết quả nghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngơn ngữ của mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
- Bản đồ tư duy (BĐTD) là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tịi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tĩm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hĩa một chủ đề Đĩ cịn là cơng cụ đồ họa nối các hình ảnh cĩ liên hệ với nhau vì vậy cĩ thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ơn tập hệ thống hĩa kiến thức sau mỗi chương
- Phương pháp kết hợp sử dụng Bản Đồ Tư Duy trong dạy học mơn Hĩa
học giúp cho việc dạy học mang lại nhiều hiệu quả tốt đáng khích lệ, lơi cuốn HS
tích cực hơn , hứng thú hơn đối với mơn học và chiếm lĩnh tri thức Hĩa học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên hơn
2 Mục tiêu chọn đề tài.
Hĩa học là mơn khoa học thực nghiệm và lí thuyết Nội dung kiến thức trừu tượng , khá nhiều và sâu rộng Thực tế cho thấy , với những phương pháp dạy
Trang 4học tích cực hiện nay đã phần nào đem lại hiệu quả cao trong dạy học, học sinh học tập tích cực ,chủ động sáng tạo nhiều hơn , đa số các em hiểu bài và vận dụng kiến thức khá tốt trong tiết học đó Tuy nhiên, các em vẫn còn gặp khó khăn trong việc ghi nhớ và khắc sâu kiến thức, từ đó dẫn đến việc vận dụng kiến thức chưa bền vững
Với phương pháp dạy học Hóa học kết hợp sử dụng BĐTD sẽ giúp cho các
em học sinh không những có hứng thú , dễ hiểu bài trong tiết học mà còn hệ thống hóa kiến thức được cả một chương chủ đề hay nội dung của bài học đó thông qua các đường nét kết hợp màu sắc , kí hiệu , cùng với kênh chữ Từ đó các em bớt thấy nặng nề về kiến thức, có ấn tượng , khắc sâu và nhớ lâu hơn
3 Đặc điểm tình hình.
a Thuận lợi :
- Giáo viên được phân công đúng chuyên môn giảng dạy, có điều kiện được học tập và dự các chuyên đề tập huấn về phương pháp dạy học mới trong đó có phương pháp BĐTD
- Phần mềm hỗ trợ vẽ BĐTD phổ biến, đơn giản và dễ sử dụng
- Được sự quan tâm của lãnh đạo về chất lượng dạy học của bộ môn, sự khuyến khích , động viên giáo viên mạnh dạn áp dụng thực hiện phương pháp dạy học mới
- Đa số HS khối 8,9 có năng khiếu mỹ thuật
b Khó khăn :
- Trường THCS Tân Nghĩa là một xã vùng ven , kinh tế còn khó khăn , mức
độ nhận thức của một số phụ huynh còn nhiều hạn chế, không có điều kiện quan tâm đúng mức đến tình hình học tập của con em mình
- Đa số bộ phận học sinh là con em nhà nông , thời gian ở nhà chủ yếu phụ giúp gia đình, thời gian dành cho học tập còn ít, nhiều học sinh còn ham chơi
- Sử dụng BĐTD trong dạy học đối với HS và nhiều GV còn mới lạ, thường nghĩ rằng mất nhiều thời gian và không thực hiện thường xuyên nên việc rèn luyện cho HS làm quen với phương pháp học tập mới này , cũng như việc học hỏi trao đổi từ phía đồng nghiệp còn hạn chế
4 Các giải pháp thực hiện trong thời gian qua.
- Đầu tiên tôi xin giới thiệu tóm lược về Bản Đồ Tư Duy (BĐTD) như sau : Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy…là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn
đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng
BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người Việc vận dụng BĐTD trong dạy học sẽ dần hình thành cho
HS tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một
Trang 5cách hệ thống, khoa học Sử dụng BĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới PPDH
- Tuy nhiên để đạt hiệu quả cao đối với phương pháp dạy học mới này Giáo viên cần phải có sự tư duy , sáng tạo trong tổ chức hoạt động trên lớp và kết hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy học tích cực khác nhằm giúp HS dễ tiếp thu bước đầu làm quen dần cũng như biết cách sử dụng thiết lập BĐTD
- Qua nghiên cứu và thực nghiệm giảng dạy cho thấy một số GV còn gặp khó khăn trong việc tổ chức hoạt động dạy học trên lớp khi kết hợp với việc thiết
kế và sử dụng BĐTD Sau đây tôi xin đưa ra một số biện pháp thực hiện giúp GV giải quyết khó khăn trên
4.1/ Hình thành và rèn luyện cho HS biết cách thiết lập BĐTD và cách học từ BĐTD
* Để HS hiểu và có sự hợp tác hiệu quả trong phương pháp tổ chức dạy
học sử dụng BĐTD Đầu tiên GV cần phải hình thành và rèn luyện cho HS biết cách thiết lập BĐTD và cách học từ BĐTD bằng cách :
- GV chỉ nên chọn một nội dung hay một chủ đề trọng tâm ở bài học cụ thể , giới thiệu cho các em từng bước thiết lập BĐTD theo hướng: tìm hiểu tới đâu , hình thành các nhánh tới đó để HS dễ theo dõi cách thiết lập các nhánh và cách ghi thông tin…Sau đó GV có thể giới thiệu thêm 1 vài dạng BĐTD khác , được thiết lập cũng từ một nội dung , chủ đề trên Giáo viên có thể thực hiện biện pháp này từ 2-3 tiết học đảm bảo HS sẽ hiểu và biết cách biểu diễn khá tốt BĐTD
Ví dụ : bài “Cacbon” (hóa học 9).
Trọng tâm nhất của bài này là tính chất của Cacbon Mỗi tính chất có thí nghiệm nghiên cứu HS cần phải nắm được các tính chất của Cacbon và viết được PTHH minh họa Vậy có thể tổ chức các bước sau:
Bước 1: Đưa chủ đề trung tâm “Tính chất của Cacbon”
Bước 2 : Hình thành nhánh “mẹ” thứ 1 là tính chất hấp phụ Sau
GV hướng dẫn HS thực hiện thí nghiệm (hoặc GV biễu diễn thí nghiệm) → yêu cầu HS nhận xét hiện tượng và rút ra kết luận và đi đến hình thành các nhánh con tiếp theo
Trang 6Bước 3: Hình thành tiếp nhánh “mẹ” thứ 2 là tính chất hóa học mang 2 nhánh con là : C tác dụng với O2 và C tác dụng với oxit kim loại Mỗi tính chất GV biểu diễn thí nghiệm cho HS nhận xét rút kết luận và viết PTHH → dẫn đến hình thành các nhánh con nhỏ hơn nữa
Khi BĐTD về “Tính chất của Cacbon” đã hoàn chỉnh GV có thể
mở rộng, củng cố hay khắc sâu kiến thức cho HS cần nắm
Trang 74.2/ Tổ chức hoạt động dạy học bằng BĐTD ở những bài hình thành kiến thức mới.
Tùy theo từng nội dung bài học mà giáo viên có thể tổ chức phương pháp hoạt động học tập sử dụng BĐTD theo các hình thức khác nhau
* Ví dụ 1 : bài “Tính chất hóa học của Bazơ” Đây là một bài học hình thành kiến thức mới về tính chất hóa học chung của hợp chất Bazơ, vì vậy những dạng bài như thế này luôn yêu cầu thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu ,chứng minh cho từng tính chất Có thể tổ chức phương pháp học tập kết hợp
sử dụng BĐTD theo các bước sau:
Hoạt động 1 : GV hướng dẫn HS hình thành kiến thức từng bước trên khung BĐTD dưới hình thức thiếu thông tin hoặc thiếu nhánh
GV sẽ đưa chủ đề trung tâm “Tính chất hóa học của Bazơ”, gợi ý HS nêu một số tính chất hóa học của Bazơ mà các em đã được biết qua các các bài học trước Từ đó mỗi tính chất sẽ thể hiện trên từng nhánh, những tính chất mà các em
chưa biết là những nhánh thiếu thông tin mà thay vào đó là thí nghiệm.
Hoạt động 2 : HS lần lượt từng bước hoàn thành BĐTD hoàn chỉnh Thông qua từng thí nghiệm nghiên cứu , GV yêu cầu HS sẽ rút ra kết luận qua mỗi tính chất và hoàn thành các phần thông tin , các nhánh còn thiếu
Hoạt động 3 : GV nhận xét và cũng cố kiến thức thông qua bản đồ tư duy mà cả lớp cùng tham gia hoàn chỉnh
Bản đồ tư duy hoàn chỉnh về
“Tính chất của Cacbon”
Trang 8* Đối với những chủ đề hay nội dung bài học lí thuyết nhiều , ít hoặc không có thí nghiệm nghiên cứu (thường là Hóa học 8) hoặc những bài tìm hiểu một số chất (hợp chất) quan trọng (Hóa học 9) …
Hoạt động 1: HS lập BĐTD theo nhóm với gợi ý của GV
Hoạt động 2: Các nhóm HS cùng dán BĐTD lên bảng và GV mời đại diện 1 nhóm báo cáo thuyết trình “sản phẩm” của mình Các nhóm khác nhận xét
Hoạt động 3: GV nhận xét, chỉnh sửa để hoàn thiện BĐTD về kiến thức của bài học đó GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh BĐTD, từ
đó dẫn dắt đến kiến thức của bài học
Hoạt động 4: củng cố kiến thức bằng một BĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn
Ví dụ : Bản đồ tư duy do nhóm HS thiết lập
Bài : “ Một số Bazơ quan trọng” ( tiết 1)
Bản đồ tư duy hoàn chỉnh Bài “Tính chất hóa học của Bazơ”
Trang 94.3/ Tổ chức hoạt động dạy học bằng BĐTD ở dạng bài luyện tập , ôn tập.
Các bài luyện tập , ôn tập nhằm mục đích giúp các em củng cố và hệ thống lại kiến thức của một số bài học trước đó hoặc cả chương , đồng thời thông qua các tiết luyện tập HS sẽ được rèn luyện kỹ năng giải Bài tập Hóa học Tuy nhiên thời lượng nhiều tiết luyện tập chỉ có 45 phút , như vậy GV có thể gặp nhiều khó khăn trong tổ chức hoạt động dạy học phải vừa đảm bảo lượng kiến thức ôn tập vừa đảm bảo số lượng giải BT cho HS vừa kích thích hoạt động học tập tích cực hứng thú của HS trong các tiết ôn tập , luyện tập Sử dụng BĐTD trong dạy học ở các tiết ôn tập , luyện tập sẽ khắc phục phần nào những hạn chế trên Có thể thực hiện một số bước sau :
Bước 1 : GV đưa ra BĐTD có từ khóa “Kiến thức cần nhớ” ở trung tâm với mỗi nhánh lớn giới thiệu một nội dung hoặc chủ đề mà HS sẽ được hệ thống , ôn tập
Bước 2 : Tiếp theo GV lựa chọn hoặc thiết kế những bài tập có sẵn trong sgk ( hay BT ngoài ) cần thiết phù hợp với từng nội dung , chủ đề kiến thức được ôn tập
Bước 3 : Sau mỗi hoạt động giải BT của HS GV sẽ yêu cầu HS nhớ
và nhắc lại từng nội dung kiến thức cần nắm thông qua việc giải BT đó Trong quá trình đó GV vừa nhận xét , sữa chữa và hoàn chỉnh dần BĐTD
Hoạt động này GV có thể thay đổi nhiều hình thức khác nhau tránh lặp lại, nhàm chán đối với người học : có thể cho HS nhắc lại kiến thức và sau đó đưa
BT vận dụng có liên quan và ngược lại
Trang 10Bản đồ tư duy “ Bài luyện tập 5” ( Hóa học 8 )
Như vậy thông qua BĐTD, HS vừa có thể hệ thống ,khái quát những kiến thức trọng tâm một cách một cách nhanh chóng ,dễ dàng Từ đó khắc sâu kiến thức lâu hơn và được rèn luyện kỹ năng giải nhiều BT hơn
4.4/ Sử dụng BĐTD trong hoạt động dạy học ở bài thực hành.
Sử dụng BĐTD trong hoạt động dạy học ở các bài thực hành có nhiều thuận lợi vì thông qua BĐTD HS sẽ biết được cần làm những thí nghiệm nào Mặt khác các em cũng nắm được các bước , thao tác làm các thí nghiệm nhanh chóng ,dễ hiểu cũng như những yêu cầu cần ghi nhận thông tin , kết luận rút ra từ thí nghiệm đó…GV đỡ giảng nhiều , nhiều HS có thể mạnh dạn chủ động , tích cực trong thí nghiệm thực hành Có thể thực hiện theo hình thức sau:
GV đưa BĐTD giới thiệu các thí nghiệm yêu cầu trong bài thực hành trên từng nhánh lớn
Khi thực hiện thí nghiệm nào thì GV hiển thị thêm các nhánh con ở dạng thiếu thông tin có yêu cầu như sau:
Các bước thực hiện ghi tóm gọn hoặc được mô phỏng bằng hình
vẽ
Hiện tượng quan sát: …
PTHH minh họa: ……
Gọi đạt diện các nhóm báo cáo trình bày , GV nhận xét sữa chữa trên BĐTD
Trang 11Thông qua BĐTD GV củng cố kiến thức cho HS nắm vững, khắc sâu nội dung lí thuyết đã học thông qua bài thực hành
4.5/ Sử dụng BĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ.
Thời gian kiểm tra bài cũ lúc đầu giờ không nhiều chỉ khoảng 5 - 7 phút ngoài việc GV yêu cầu HS sữa BTVN, bên cạnh đó GV cũng thường yêu cầu học sinh tái hiện lại một phần nội dung trọng tâm của bài học bằng cách gọi học sinh lên bảng trả lời câu hỏi Giáo viên sẽ chấm điểm tuỳ vào mức độ thuộc bài của học sinh Cách làm này vô tình để nhiều học sinh rơi vào tình trạng học vẹt, đọc thuộc lòng mà không hiểu
Do đó, cần phải có sự thay đổi trong việc kiểm tra, đánh giá nhận thức của học sinh, yêu cầu đặt ra không chỉ kiểm tra “phần nhớ” mà cần chú trọng đến
“phần hiểu” Cách làm này vừa tránh được việc học vẹt, vừa đánh giá chính xác học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng học tập
Vì vậy GV có thể tổ chức hoạt động như sau : gọi 1-2 HS sữa BTVN (tùy theo lượng BT) và đồng thời gọi 1 HS khác kiểm tra kiến thức cũ bằng cách GV sử
dụng BĐTD đưa ra ở dạng thiếu thông tin, thiếu PTHH minh họa…, sau đó yêu cầu học sinh hoàn thành các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan hệ của các nhánh thông tin đó Việc làm này vừa giúp giáo viên kiểm tra được kiến thức
Bản đồ tư duy Bài “Thực hành Tính chất của Hidrocacbon”