Hiện nay,tri thức trong các môn học ở hầu hết các cấp học đang trở lên quá tảivới cả giáo viên và học sinh, điều này đã tạo ra hàng loạt những áplực và nghịch lý: Thời gian có hạn mà kiế
Trang 1THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN 1.Tên sáng kiến:
Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn bằng phương pháp sử dụng
Bản đồ tư duy trong dạy học.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn học Ngữ văn trong nhà trường
THCS
3 Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 20 tháng 9 năm 2011 đến ngày 15 tháng 3 năm 2013.
4 Tác giả:
Họ và tên: Trần Văn Quang
Năm sinh: 1977
Nơi thường trú: Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam Định
Trình độ chuyên môn: Cử nhân cao đẳng.
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - Nam
Định.
Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Thọ Nghiệp - Xuân Trường - NamĐịnh
Điện thoại: 03503750331
5 Đồng tác giả: Tham khảo tài liệu về phương pháp dạy học bằng
bản đồ tư duy, thư vện violet và tư liệu của đồng nghiệp.
Họ và tên:
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn:
Trang 2Điện thoại: 03503886382
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dạy học nói chung, dạy Ngữ văn nói riêng, điều quan trong nhất làlàm thức dậy được tình yêu, niềm say mê đối với môn học Hiện nay,tri thức trong các môn học ở hầu hết các cấp học đang trở lên quá tảivới cả giáo viên và học sinh, điều này đã tạo ra hàng loạt những áplực và nghịch lý: Thời gian có hạn mà kiến thức thì vô cùng; môn họcthì quá tải mà sức học của học sinh có hạn Những nghịch lý trên lànhững rào cản làm người dạy và người học đều thấy nản lòng Vậylàm thế nào để có thể hạn chế được các rào cản trên? Trong giờ giảngNgữ văn, vấn đề không chỉ là ngôn ngữ, lời bình của người thầy màcòn đòi hỏi phương pháp dạy học của người thầy Phương pháp dạyhọc là một trong những yêu cầu quan trọng đối với sự thành công
trong giờ giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh BĐTD ( Bản
đồ tư duy) là một trong những phương pháp dạy học tương đối hiệu
quả Phương pháp dạy học bằng BĐTD không chỉ giải quyết đượcvấn đề quá tải đối với kiến thức, đơn giản hóa kiến thức của môn học
Trang 3mà nó còn giúp học sinh có khả năng nhớ kiến thức lâu hơn, tránh sựnhàm chán đối với môn học, đặc biệt là bộ môn Ngữ văn.
I ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
1 Cơ sở lí luận:
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội Đây là môn
học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tưduy của con người Đồng thời môn học này có tầm quan trọng trongviệc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Mặt khác
nó cũng là môn học thuộc nhóm công cụ, môn văn còn thể hiện rõmối quan hệ với rất nhiều các môn học khác trong các nhà trường phổthông Học tốt môn văn sẽ tác động tích cực tới các môn học khác vàngược lại, các môn học khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn.Điều đó đặt ra yêu cầu tăng cường tính thực hành, giảm lí thuyết, gắnhọc với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinhđộng của cuộc sống Thế hệ học sinh ngày nay rất ít em có thiện chí,hứng thú trong việc học môn Ngữ văn, chưa nắm được vai trò quantrọng của môn Ngữ văn đối với đời sống và trong sự phát triển tư duycủa con người Vì thế đổi mới phương pháp, cách thức tổ chức vừahiệu quả vừa tạo được hứng thú cho học sinh đối với môn Ngữ văn làrất cần thiết
2 Cơ sở thực tiễn:
Trang 4Năm học 2011 - 2012 là năm học Bộ giáo dục và đào tạo tiếp tụcđổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và họcngữ văn trong các nhà trường phổ thông Một trong những phương
pháp dạy học mới và hiện đại nhất được đưa vào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy (BĐTD) - một phương pháp dạy học mới
đang được rất nhiều nước trên thế giới áp dụng Qua việc tìm hiểu vàvận dụng phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy, tôi nhận thấyphương pháp dạy học này rất có hiệu quả trong công tác giảng dạy vàhọc tập của học sinh Bước đầu đã giảm bớt được tâm lý ngại học văn,khơi gợi trong học sinh tình yêu đối với môn học, đồng thời đem đếncho các em cái nhìn mới, tư duy mới về môn học Ngữ văn Vậy thếnào là phương pháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng bản đồ
tư duy như thế nào để nâng cao chất lượng trong các giờ học văn? Đó
là những vấn đề tôi muốn cùng được chia sẻ với các đồng nghiệptrong sáng kiến kinh nghiệm này
Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để
mở rộng và đào sâu các ý tưởng BĐTD một công cụ tổ chức tư duynền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợpgiữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạtđộng và chức năng của bộ não, giúp con người khai thác tiềm năng
vô tận của bộ não
BĐTD giúp học sinh có được phương pháp học hiệu quả hơn:Việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biệnpháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học Thực tế
Trang 5cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫn học kém, các
em thường học bài nào biết bài đấy, học phần sau đã quên phần trước
và không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụngkiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phần lớn số học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép
để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sửdụng thành thạo BĐTD trong dạy học sẽ gúp học sinh có đượcphương pháp học, tăng tính độc lập, chủ động, sáng tạo và phát triển
tư duy
BĐTD - giúp học sinh học tập một cách tích cực Một số kết quảnghiên cứu cho thấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và inđậm cái mà do chính mình tự suy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữcủa mình vì vậy việc sử dụng BĐTD giúp học sinh học tập một cáchtích cực, huy động tối đa tiềm năng của bộ não
II THỰC TRẠNG:
1 Thực trạng của việc học văn hiên nay:
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân học" vậy mà một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không
còn thích học văn Thực trạng này lâu nay đã được báo động Ban đầuchỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của những người trựctiếp giảng dạy môn Ngữ văn và nay đã trở thành vấn đề của báo chí
và dư luận Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinhtrong những năm gần đây mới thấy cần thiết phải có những thay đổi
Trang 6về phương pháp dạy văn và học văn hiện nay Qua công tác giảng dạycũng như chấm trả các bài kiểm tra Ngữ văn, tôi nhận thấy có rấtnhiều những biểu hiện thể hiện tâm lý chán học văn của học sinh, cụthể là:
- Học sinh thờ ơ với Văn: Những năm gần đây, nhiều người quan
tâm đến công tác giáo dục không khỏi lo ngại trước một thực trạng,
đó là tâm lý thờ ơ với việc học văn ở các trường phổ thông Điều đángbuồn nhất cho các giáo viên dạy văn là nhiều học sinh có năng khiếuvăn cũng không muốn tham gia đội tuyển văn Các em còn phải dànhthời gian học các môn khác Phần lớn phụ huynh khi đã định hướngcho con mình sẽ thi khối A thì chỉ chủ yếu chú trọng ba môn: Toán,
Lý, Hóa Điều đáng lo ngại hơn nữa, là có không ít phụ huynh đãchọn hướng cho con thi khối A từ khi học tiểu học Một bậc học màhọc sinh còn đang được rèn nói, viết, mới bắt đầu làm quen với nhữngkhái niệm về từ ngữ mà đã định hướng khối A thì thật là nguy hại
- Kỹ năng trình bày: Khi HS tạo lập một văn bản giáo viên có thể
dễ dàng nhận ra những lỗi sai cơ bản của học sinh như: dùng từ sai,viết câu sai, viết chính tả sai, bố cục và lời văn hết sức lủng củng,thiếu logic Đặc biệt có những bài văn diễn đạt ngô nghê, tối nghĩa,lủng củng Đây là một tình trạng đã trở nên phổ biến và thậm chí làđáng báo động trong xã hội ta
Mục tiêu của bậc học phổ thông là đào tạo con người toàn diện,nhưng thực tế hiện nay cho thấy, các bộ môn khoa học xã hội thường
bị học sinh xem nhẹ, mặc dù kiến thức của các bộ môn này vô cùngquan trọng cho tất cả mọi người Muốn khôi phục sự quan tâm của xã
Trang 7hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể chỉ bằng biện phápkêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học văn,khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các emphương pháp học văn hiệu quả nhất.
2 Nguyên nhân:
a Đối với người dạy: Đa số giáo viên đều có tình yêu nghề, mến trẻ,
tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo quan tâm đến học sinh Tuynhiên, vẫn còn những mặt hạn chế sau :
- Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phậnkhông nhỏ học sinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao
- Do điều kiện khách quan nên việc sử dụng đồ dùng dạy học, phươngpháp trực quan vào tiết học hạn chế, nội dung kiến thức SGK nhiềuảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy của giáo viên, việc tiếp thu bàihọc của học sinh cũng bị hạn chế
- Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa khơi gợiđược mạch nguồn cảm xúc ẩn sau mỗi trái tim người học
- Đời sống giáo viên còn nhiều khó khăn, đầu tư ngân sách cho cáchoạt động giáo dục của nhà trường còn hạn chế, các tiêu chí thi đua đề
ra quá cao, không có tính thực thi vì thế không phát huy hết được nộilực của giáo viên
b Đối với học sinh:
Trang 8- Một số học sinh vì lười học, chán học mải chơi, không tập trungnghe giảng, lười suy nghĩ, hổng kiến thức nên không chủ động, tíchcực và có tâm thế tốt cho giờ học Ngữ văn.
- Địa phương xã Thọ Nghiệp thuộc vùng kinh tế còn khó khăn, hầuhết phụ huynh đều đi làm ăn xa, con cái đông, ít có thời gian quan tâmkèm cặp con em mình Bản thân các em còn phải phụ giúp gia đìnhngoài giờ lên lớp, không có thời gian học
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giảitrí như xem ti vi, chơi game, chat, học sinh tụ tập chơi bời… ngàycàng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi cuốn, saonhãng việc học tập
III CÁC GIẢI PHÁP
A Bản chất phương pháp dạy học bằng BĐTD:
BĐTD là kĩ thuật dạy học tổ chức và phát triển tư duy giúp ngườihọc chuyển tải thông tin vào bộ não rồi được thông tin ra ngoài bộ nãomột cách dễ dàng, đồng thời là phương tiện ghi chép sáng tạo và hiệuquả, mở rộng, đào sâu và kết nối các ý tưởng, bao quát được các ýtưởng trên phạm vi sâu rộng Dạy học bằng Bản đồ tư duy - một giảipháp góp phần đổi mới cơ bản giáo dục
1 BĐTD tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng:
a Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về
kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng
Trang 9nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, BĐTD giống như một
bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài họckhô khan, nhàm chán
b Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý
tưởng một cách rất rõ ràng Đặc biệt là khả năng khái quát và hệthống hóa kiến thức
c Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, Sơ
BĐTD cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọngtâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng.Hơn nữa, việc BĐTD dùng rất nhiều màu sắc khiến giáo viên và họcsinh phải vận dụng trí tưởng tượng sáng tạo đầy phong phú của mình.Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màu sắc sặc sỡ thôngthường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liên kếtchặt chẽ về những gì được học
2 BĐTD sử dụng cả hai bán cầu não cùng một lúc: BĐTD thật sự
giúp bạn tận dụng các chức năng của não trái lẫn não phải khi học.Đây chính là công cụ học tập vận dụng được sức mạnh của cả bộ não.Nếu vận dụng đúng cách, nó sẽ hoàn toàn giải phóng những năng lựctiềm ẩn trong bạn, đưa bạn lên một đẳng cấp mới, đẳng cấp của mộttài năng thực thụ hay thậm chí của một thiên tài
B Vận dụng BĐTD trong quá trình dạy học Ngữ văn:
1 Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:
Trang 10- Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu
kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặtcâu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từkhoá đó và hoàn thiện BĐTD Qua BĐTD đó học sinh sẽ nắm đượckiến thức bài học một cách dễ dàng
- Ví dụ 1: Với văn bản: “Thầy bói xem voi” (Môn Ngữ văn lớp 6), sau
phần đọc và tìm hiểu chung, giáo viên có thể vẽ mô hình BĐTD lênbảng BĐTD gồm 5 nhánh chính, ở mỗi nhánh có thể phân thànhnhiều nhánh nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung, kiến thức của bài học
Để có thể hoàn thiện được mô hình BĐTD của bài học, giáo viên sửdụng hệ thồng câu hỏi định hướng để khai thác kiến thức:
+ Bố cục của văn bản: Học sinh sẽ dựa vào văn bản để xác định các ýchính (Hoàn cảnh các thầy bói xem voi, cách xem voi, các thầy nhậnxét về con voi, hậu quả.)
+ Tiếp tục hoàn thành các nhánh của BĐTD bằng hệ thống câu hỏinhỏ có tính gợi mở (các thầy xem voi trong hoàn cảnh nào, cách xemvoi của các thầy ra sao, ) từ đó rút ra nhận xé về kết quả của cáchxem voi phiếm diện để khái quát thành bài học về cách nhìn nhậnđánh giá sự vật, hiện tượng…
Sơ đồ minh hoạ
Trang 11
Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
- Ví dụ 2: Khi học bài “So sánh” (Môn Ngữ văn lớp 6), đầu tiết
học, giáo viên có thể kiểm tra sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh, sau
đó dẫn dắt vào bài học Giáo viên ghi nhan đề bài học lên bảng, kháiquát lại các phương diện kiến thức cần tìm về các phép tu từ đã học ởtiết học trước
- Ở tiết học So sánh này ta cũng tìm hiểu kiến thức qua các
phương diện: Khái niệm, cấu tạo, tác dụng và các kiểu so sánh
- Từ việc khái quát kiến thức cơ bản về So sánh, Giáo viên lần
lượt hoàn thiện BĐTD trên bảng thông qua ngữ liệu mẫu SGK Việchoàn thiện BĐTD phải có sự phối hợp giữa giáo viên và học sinh.Giáo viên đưa ra các tình huống bằng hệ thống câu hỏi phát hiện, gợi
mở, khái quát… Học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động dạyhọc do giáo viên tổ chức: cá nhân, nhóm, thảo luận…
Trang 12- Cùng với giáo viên, học sinh cũng lần lượt hoàn thành BĐTDvào vở ghi Để kiến thức bài học được chi tiết, dễ hiểu, giáo viên cóthể hướng dẫn học sinh tiếp tục trẻ nhỏ thêm các nhánh trên BĐTD.
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “So sánh” - Ngữ Văn 6
- Có thể dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần…: Sau mỗi bài học, giáo
viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm,kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD Mỗi bài học được
vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập Việc làmnày sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cáchnhanh chóng, dễ dàng
- Ví dụ 1: Ở lớp 9, trong bài “ Tổng Kết ngữ pháp”, học sinh có thể dễ
dàng tổng hợp kiến thức về từ loại tiếng Việt bằng BĐTD dựa vàotập BĐTD đã có về từ loại đã học ở lớp dưới Đặc trưng của tiết học
Trang 13này là ôn tập, khái quát lại kiến thức đã học vì vậy BĐTD sẽ giúp các
em có cái nhìn tổng quát hơn về từ ngữ tiếng Việt Việc sử dụngBĐTD trong tiết tổng kết văn học nói chung, trong phân môn tiếngViệt nói riêng không chỉ có tác dụng khái quát hóa kiến thức mà còn
giúp củng cố kỹ năng nhận biết và kỹ năng thực hành Tổng kết ngữ pháp ở lớp 9 được coi là giờ thực hành Vì vậy giáo viên cần linh hoạt
trong việc tổ chức các hình thức học tập Với kiểu bài này, giáo viênnên tạo ra các nhóm học tập thực hiện việc vẽ BĐTD, sau đó đại diệncác nhóm trình bày bài làm của nhóm mình, các nhóm khác nhận xét,góp ý, bổ sung thêm cho bài làm Cuối cùng giáo viên chốt lại kiếnthức
Sơ đồ minh hoạ
Bản đồ tư duy bài “Tổng kết ngữ pháp”- Ngữ văn 9
Trang 14- Ví dụ 2: BĐTD khi tìm hiểu tác phẩm “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du:
Giáo viên định hướng để học sinh khai thác kiến thức của bài họcbằng hệ thống câu hỏi gợi mở Trên cơ sở đó hình thành và củng cốkiến thức cho học sinh bằng BĐTD Hệ thống kiến thức của bài họcbao gồm:
a Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệpsáng tác
+ Tóm tắt Truyện Kiều: Bố cục của Truyện Kiều (Gặp gỡ và đínhước; gia biến và lưu lạc đoàn tụ)
+ Giá trị của Truyện Kiều: Giá trị nội dung (gái trị hiện thực, giá trịnhân đạo); giá trị nghệ thuật của truyện
Sơ đồ minh hoạ