1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

bài tập về chống trợ cấp (SCM)

13 2,6K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 37,22 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rõ ràng các doanh nghiệp trong nước sản xuất bông cotton của Newland được hưởng lợi từ hành động này của chính phủ, bởi tại thời điểm này nếu đem nguồn nguyên liệu là bông cotton đi xuất

Trang 1

BÀI 10: CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC THƯƠNG MẠI

(ĐỐI KHÁNG TRỢ CẤP) Newland là một quốc gia thành viên của WTO nổi tiếng với việc xuất khẩu các mặt hàng vải sợi làm nguyên liệu cho ngành dệt may Vào 12/2014 tước tình trạng vải sợi giảm giá sâu do nhu cầu hàng dệt may giảm trên thế giới, chính phủ Newland đã ban hành hàng loạt biện pháp nhằm hỗ trợ cho ngành sản xuất vải sợi:

1 Một chiến dịch tích trữ trên toàn quốc đối với bông cotton sản xuất nội địa, đề ra mức giá trần và đảm bảo nguồn cung của nguyên liệu thô;

2 Một chương trình hỗ trợ tín dụng cho các nhà xuất khẩu sản phẩm dệt may thành phẩm tương tứng với phần thuế nhập khẩu mà hàng hoá đó phải chịu tại nước nhập khẩu;

3 Một chính sách hỗ trợ thuế hiệu quả hơn cho các nhà sản xuất Cụ thể, đối với các nhà xuất khẩu vải sợi, khi một công ty có thể xuất khẩu nhiều hơn 60% tổng sản lượng, thì phần thuế thu nhập tính trên số lượng sản phẩm còn lại tiêu thụ nội địa chỉ phải đóng vào cuối từng năm tài chính thay vì phải đóng theo từng quý;

4 Top 150 doanh nghiệp sản xuất vải sợi được phép vay vốn với lãi suất 0.9%/ năm cho các hoạt động nghiên cứu và phát triễn (R&D), mặc dù theo thông tin phản ánh từ báo chí thời gian gian gần đây thì một số công ty đã sử dụng nguồn tín dụng trên để mua sắm thiết bị,

mở rộng sản xuất

Richland là một quốc gia công nghiệp láng giềng cũng là một thành viên WTO, vốn có ngành sản xuất vải sợi quy mô nhỏ tuy nhiên với công nghệ cao và định hướng xuất khẩu Trước các biện pháp ban hành của Newland, ngành sản xuất nội địa của Richland đang phải đối mặt với một sự sụt giảm thị phần nghiêm trọng cũng như sự tuột

Trang 2

giá cả mặt hàng vải sợi và dệt may tương phản với sự gia tăng thị phần liên tục cả trị trường thế giới và nội địa của các sản phẩm từ Newland Các nhà sản xuất nội địa của Richland đã đệ đơn lên cơ quan có thẩm quyền quốc gia mình để bày

tỏ những quan ngại trước tình hình trên Bạn là một luật sư trẻ đầy nhiệt huyết và triễn vọng tại hãng luật Alice Arnonds tư vấn cho chính phủ Richland, hãy tìm hiểu:

- Liệu Richland có thể làm gì trước những biện pháp trên từ Newland ? 2

- Nếu Newland là một quốc gia đang phát triễn thì các hành động của Richland trước các biện pháp trên có thay đổi ?

Về vấn đề Chính phủ Richland có thể làm gì trước những biện pháp trên từ Newland?

I. Phân tích các biện pháp có thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SCM

Vấn đề 1: Biện pháp tích trữ trên toàn quốc đối với bông cotton sản xuất nội địa, đề ra mức giá trần và đảm bảo nguồn cung của nguyên liệu thô.

Theo quy định tại điều 1 Hiệp định SCM thì để xem xét biện pháp

này có thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SCM hay không thì ta cần phân tích những yếu tố sau:

Điều 1.1(a1.iii ) của SCM có qui định trợ cấp được xem là tồn tại nếu

chính phủ cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là cơ sở hạ tầng chung, hoặc mua hàng Việc chính phủ Newland thu mua trên toàn quốc

bông cotton sản xuất nội địa về để tích trữ để đối phó trước sự sụt giảm giá sâu của hàng dệt may trên thế giới Vì vậy hành động của Newland trong trường hợp này được xem là sự hỗ trợ về tài chính cho các Doanh nghiệp sản xuất nội địa

bông cotton trên phạm vi toàn lãnh thổ

Trang 3

Trong vụ kiện US – Large Civil Aicraft (2012), cơ quan phúc thẩm

nhận định rằng “lợi ích cho người nhận” nghĩa là tạo ra lợi thế cho người nhận chứ không phải là chi phí cho chính phủ, và nó là cơ sở để so sánh bằng trên thị trường Một lợi ích xuất hiện nếu doang nghiệp nhận được một sự đóng góp tài chính trong những điều kiện ưu đãi hơn so với thị trường

Rõ ràng các doanh nghiệp trong nước sản xuất bông cotton của Newland được hưởng lợi từ hành động này của chính phủ, bởi tại thời điểm này nếu đem nguồn nguyên liệu là bông cotton đi xuất khẩu thì sẽ có nguy cơ thua lỗ do giá giảm, tránh được lượng hàng tồn kho, và khi thị trường hàng dệt may khởi sắc trở lại thì dễ rơi vào nguy cơ thiếu hụt nguồn cung nguyên liệu đầu vào để sản xuất hàng may mặc, hạn chế tình trạng đi nhập lại nguyên liệu thô với giá cao Việc sử dụng nguồn cung nội địa để sản xuất thay vì phải đi nhập nguyên liệu thô sẽ giúp doanh nghiệp giảm được chi phí vận chuyển, thuế nhập khẩu, … từ đó giá thành sản phẩm đầu ra sẽ có lợi thế cạnh trên hơn so với hàng dệt may của các quốc gia khác cũng xuất khẩu

Vì vậy, sự đóng góp tài chính này của Chính phủ đã mang lại lợi ích cho doanh nghiệp sản xuất vải sợi nội địa

Điều 2.3 SCM có qui định rằng: “Bất kỳ trợ cấp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 3 sẽ được coi là trợ cấp riêng” Cụ thể, điều 3.1(b) SCM

qui định về khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại Trong vụ kiện Canada – Ngành công nghiệp ô tô, cơ quan phúc thẩm nhận định rằng Hiệp định SCM không viện dẫn đến thuật ngữ “theo luật

hoặc trên thực tế” giống như Điều 3.1 (a) không có nghĩa là Điều 3.1 (b)

chỉ điều chỉnh hoạt động ưu tiên sử dụng hàng nội địa thay thế hàng sản xuất trong nước ở cấp độ trên thực tế

Thực tế hành động của chính phủ Newland không dựa trên luật mà thực hiện khi có sự biến động hàng dệt may trên thế giới Việc tích trữ sợi bông cotton có khả năng sẽ đưa ngược lại thị trường trong nước để phục

vụ sản xuất, áp đặt giá trần nguồn nguyên liệu thô để hạn chế tối đa doanh nghiệp nội địa nhập khẩu nguồn nguyên liệ thô về, để tận dụng

Trang 4

nguồn nguyên liệu trong nước làm nguồn cung cho sản xuất hàng dệt may, việc làm này gián tiếp đã tạo ra sự ưu tiên trong việc sử dụng hàng nội hơn hàng ngoại

Vì vậy hành động của chính phủ Newland trong trường hợp này là trợ

cấp bị cấm nên nó là một trợ cấp riêng biệt như qui định tại Điều 1.2

SCM

→ Như vậy, từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng biện

pháp này của Newland là một trợ cấp bị cấm thuộc phạm vi điều chỉnh

của điều 1 Hiệp định SCM

Vấn đề 2: Biện pháp hỗ trợ tín dụng cho các nhà xuất khẩu sản phẩm dệt may thành phẩm tương ứng với phần thuế nhập khẩu mà hàng hoá đó phải chịu tại nước nhập khẩu.

Tương tự như phân tích ở trên, cần xem xét biện pháp này có thuộc phạm vi điều chỉnh điều 1 Hiệp định SCM không thì cần phân tích các yếu tố sau:

Điều 1.1(a1.i ) của SCM có qui định trợ cấp được xem là tồn tại nếu

chính phủ thực tế chuyển vốn trực tiếp như khoản hỗ trợ, cho vay, góp vốn cổ phần… Việc Newland đã thực hiện chương trình hỗ trợ tín dụng cho các nhà xuất khẩu sản phẩm dệt may thành phầm được xem là khoản đóng góp tài chính của Newland dành cho các Doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may trong nước

• Được cấp bởi chính phủ: Chính phủ thực hiện hỗ trợ tín dụng cho các doanh nghiệp xuất khẩu khi xuất khẩu sản phẩm dệt may thành phẩm

Trong vụ kiện US – Large Civil Aicraft (2012), cơ quan phúc thẩm

nhận định rằng “lợi ích cho người nhận” nghĩa là tạo ra lợi thế cho người nhận chứ không phải là chi phí cho chính phủ, và nó là cơ sở để so sánh bằng trên thị trường Một lợi ích xuất hiện nếu doang nghiệp nhận được một sự đóng góp tài chính trong những điều kiện ưu đãi hơn so với thị trường

Doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sẽ nhận được khoản tín dụng tương ứng với phần thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó phải chịu tại nước nhập khẩu, hành động này đã tạo ra lợi thế lớn cho hàng dệt may của

Trang 5

Newland xuất khẩu sang các quốc gia khác so với những quốc gia cũng

có hàng dệt may xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Khi đó hàng dệt may bán tại cùng một thị trường mà hàng dệt may từ Newland sẽ được hưởng khoản tín dụng đối với thuế nhập khẩu làm cho giá bán của mặt hàng này tại quốc gia nhập khẩu sẽ rẻ hơn nhiều so với các quốc gia khác cũng có hàng dệt may nhập khẩu vào Hơn nữa, khoản hỗ trợ tín dụng này chỉ dành cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may mà không dàng cho tất cả doanh nghiệp có hàng xuất khẩu ra nước ngoài

Vì vậy, sự hỗ trợ tín dụng này của Chính phủ đã mang lại lợi thế về lĩnh vực tín dụng xuất khẩu cho doanh nghiệp xuất khẩu dệt may

Điều 2.3 SCM có qui định rằng: “Bất kỳ trợ cấp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 3 sẽ được coi là trợ cấp riêng” Cụ thể, điều 3.1(a) SCM qui định về khối lượng trợ cấp theo luật hay trong thực tế,

dù là một điều kiện riêng biệt hay là kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả thực hiện xuất khẩu, kể cả những khoản trợ cấp

được minh họa tại phụ lục I Điểm a phụ lục I của SCM qui định :

“Việc Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một hãng hoặc một ngành sản xuất trong nước tính theo kết quả xuất khẩu.” Trong trường hợp này chính phủ Newland đã áp dụng biện pháp là dựa trên kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dêt may trong nước để qui đổi khoản hỗ trợ tín dụng tương ứng mức thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó phải chịu tại nước nhập khẩu

Vì biện pháp này rơi vào trường hợp bị cấm trợ cấp nên nó mang tính

riêng biệt như qui định tại Điều 1.2 SCM.

→ Như vậy, biện pháp hỗ trợ tín dụng của Newland trong trường hợp này là trợ cấp bị cấm và nó thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định

SCM như qui định tại Điều 1.

Vấn đề 3: Chính sách hỗ trợ thuế hiệu quả hơn cho các nhà sản xuất Cụ thể, đối với các nhà xuất khẩu vải sợi, khi một công ty có thể xuất khẩu nhiều hơn 60% tổng sản lượng, thì phần thuế thu nhập tính trên số lượng sản phẩm còn lại tiêu thụ nội địa chỉ phải đóng vào cuối từng năm tài chính thay vì phải đóng theo từng quý.

Trang 6

Tương tự như phân tích ở trên, cần xem xét biện pháp này có thuộc phạm vi điều chỉnh điều 1 Hiệp định SCM không thì cần phân tích các yếu tố sau:

Điều 1.1(a1.ii ) của SCM có qui định trợ cấp được xem là tồn tại nếu

các khoản thu phải nộp cho Chính phủ đã được bỏ qua hay không thu.Việc Newland đưa ra chính sách hỗ trợ thuế cho các nhà sản xuất

trong trường hợp này được xem là khoản ưu đãi thuế quan nhằm giúp các doanh nghiệp xuất khẩu vải sợi trong nước linh hoạt trong việc sử dung vốn hiện có mà đáng lẽ ra tại thời điểm đó doanh nghiệp phải nộp cho cơ quan thuế

Vì vậy có tồn tại khoản đóng góp tài chính về ưu đãi thuế quan của chính phủ Newland dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu vải sợi trong nước

chính phủ thông qua cơ quan thu thuế của Newland

Trong vụ kiện US – Large Civil Aicraft (2012), cơ quan phúc thẩm

nhận định rằng “lợi ích cho người nhận” nghĩa là tạo ra lợi thế cho người nhận chứ không phải là chi phí cho chính phủ, và nó là cơ sở để so sánh bằng trên thị trường Một lợi ích xuất hiện nếu doang nghiệp nhận được một sự đóng góp tài chính trong những điều kiện ưu đãi hơn so với thị trường

Khoản ưu đãi thuế quan cho doanh nghiệp xuất khẩu vải sợi về chuyển thời hạn đóng thuế được xem là một lợi ích lớn, thay vì phải trích một khoản từng quý để đóng thuế thì việc cuối năm tài chính mới đóng thuế thu nhập sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng được nguồn vốn, đáng lẽ ra phải nộp cho cơ quan thuế để mở rộng sản xuất hay gia tăng lợi nhuận cho công ty, khoản thuế phải đóng cho 4 quý nếu cộng dồn vào cuối năm tài chính sẽ là một con số rất lớn, việc tận dụng số tiền thuế để kinh doanh

sẽ giúp doanh nghiệp giảm áp lực lớn về thuế phải đóng

Vì vậy, sự ưu đãi thuế quan này đã tạo cho doanh nghiệp xuất khẩu lợi ích đáng kể khi xuất khẩu hàng ra nước ngoài so với các quốc gia khác cũng có mặt hàng vải sợi xuất khẩu đi

Trang 7

Điều 2.1 (a) của Hiệp định SCM qui định tính riêng biệt như sau: “ Khi

cơ quan có thẩm quyền trợ cấp hay luật mà cơ quan đó thực hiện hạn chế

rõ ràng các doanh nghiệp nhất định đươc hưởng trợ cấp, thì các trợ cấp

đó sẽ mang tính riêng biệt”

Chính sách ưu đãi thuế quan ban hành có kèm theo điều kiện để được hưởng việc đóng thuế thu nhập cuối năm tài chính thay vì đóng hàng quý

đó là doanh nghiệp xuất khẩu phải xuất khẩu vải sợi nhiều hơn 60% tổng sản lượng Rõ ràng qui định nào để giới hạn lại khi qui định chỉ có nhóm công ty nào đạt chỉ tiêu trên mới được hưởng chính sách đó, chính điều này đã tạo ra tính riêng biệt

Vì vậy chính sách ưu đãi thuế quan này đã tạo ra tính riêng biệt

→ Như vậy, từ những nhận định trên có thể khẳng định rằng chính sách

ưu đãi thuế quan của Newland dành cho các doanh nghiệp xuất khẩu có tổng sản lượng xuất khẩu nhiều hơn 60% tổng sản lượng, thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 1 Hiệp định SCM

Vấn đề 4: Chính sách top 150 doanh nghiệp sản xuất vải sợi được phép vay vốn với lãi suất 0.9%/ năm cho các hoạt động nghiên cứu

và phát triễn (R&D), mặc dù theo thông tin phản ánh từ báo chí thời gian gian gần đây thì một số công ty đã sử dụng nguồn tín dụng trên

để mua sắm thiết bị, mở rộng sản xuất.

Tương tự như phân tích ở trên, cần xem xét biện pháp này có thuộc phạm vi điều chỉnh điều 1 Hiệp định SCM không thì cần phân tích các yếu tố sau:

Điều 1.1(a1.i ) của SCM có qui định trợ cấp được xem là tồn tại nếu

chính phủ thực tế chuyển vốn trực tiếp như khoản hỗ trợ, cho vay, góp vốn cổ phần… Chính phủ Newland đã thực hiện việc cho vay vốn với lãi suất 0,9%/năm cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), nhưng thực chất là các doanh nghiệp vay vốn đã sử dụng nguồn tín dụng trên để mua sắm thiết bị, mở rộng sản xuất Rõ ràng khi cho vay thì chính phủ

có khả năng kiểm soát quản lý việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp này nhưng Chính phủ Newland không có bất cứ động thái gì mà vẫn để cho các doanh nghiệp sản xuất sợi bông trong nước đầu tư máy móc, mở rộn sản xuất, sự im lặng trong trường hợp này là đồng ý của chính phủ cho phép doanh nghiệp được làm như vậy Vì vậy khoản vay vốn

Trang 8

0,9%/năm cho các Doanh nghiêp sản xuất vải sợi là khoản đóng góp tài chính từ chính phủ Newland

vay vốn đối với doanh nghiệp sản xuất vải sợi

Trong vụ kiện US – Large Civil Aicraft (2012), cơ quan phúc thẩm

nhận định rằng “lợi ích cho người nhận” nghĩa là tạo ra lợi thế cho người nhận chứ không phải là chi phí cho chính phủ, và nó là cơ sở để so sánh bằng trên thị trường Một lợi ích xuất hiện nếu doang nghiệp nhận được một sự đóng góp tài chính trong những điều kiện ưu đãi hơn so với thị trường

Các doanh nghiệp sản xuất vải sợi được tiếp cận với nguồn vốn của

Chính phủ rất dễ dàng, bên cạnh đó với mức lãi suất 0.9%/năm là một mức rất thấp (chưa được 1%/năm) Với mức lãi suất này thì số tiền lãi

mà doanh nghiệp phải trả hoàn toàn rất ít, bên cạnh đó nếu doanh nghiệp đi vay từ các ngân hàng thương mại chắc chắn sẽ phải chịu mức lãi suất cao hơn mức lãi suất đi vay từ chính phủ là rất nhiều

Vì vậy, chính sách này đã tạo ra lợi ích cho 150 doanh nghiệp khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Điều 2.1 (c) của SCM qui định như sau: “Cho dù bề ngoài không mang

tính riêng biệt do kết qủa của việc áp dụng các nguyên tắc nêu tại điểm (a) và (b), nhưng nếu có lý do để tin rằng, trợ cấp đó trên thực tế mang tính riêng biệt, thì có thể xem xét đến các yếu tố khác Các yếu tố đó là: chỉ một số lượng có hạn các doanh nghiệp được hưởng trợ cấp trợ cấp nhiều hơn cho một số doanh nghiệp nhất định, cấp số tiền trợ cấp chênh lệch lớn cho một số doanh nghiệp nhất định và việc này được cơ quan có thẩm quyền thực hiện một cách tuỳ tiện khi quyết định trợ cấp”

Trong trường hợp này gói cho vay với lãi suất 0.9%/năm chỉ áp dụng đối với top 150 doanh nghiệp sản xuất vải sợi so với tất cả các doanh nghiệp sản xuất vải sợi trong nước Vì vậy, với số lượng top 150 doanh nghiệp sản xuất vải sợi được hưởng gói vay vốn này đã tạo ra tính riêng biệt trong việc giới hạn phạm vi áp dụng

Trang 9

→ Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng chính sách vay vốn

mà Newland áp dụng cho top 150 doanh nghiệp sản xuất vải sợi, thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định SCM

II.Những biện pháp mà Chính phủ Richland có thể sử dụng để đối kháng lại các trợ cấp của Chính phủ Newland dành cho ngành sản xuất vải sợi

Để đề ra những biện pháp cụ thể mà Chính phủ Richland có thể thực hiện, chúng ta cần đánh giá các trợ cấp, tức trong các trợ cấp đã đề cập thì có tồn tại nhóm trợ cấp bị cấm, trợ cấp có thể bị kiện để từ đó đưa ra được các hướng đi cụ thể cho Chính phủ Richland

• Đối với trợ cấp về chính sách hỗ trợ thuế quan và chinh sách vay vốn với lãi suất 0,9%/năm của chính phủ Newland, có thể rơi vào

trường hợp trợ cấp có thể bị đối kháng được qui định tại Điều 5(c) phần III của SCM đối với việc gây tổn hại nghiêm trọng tới

quyền lợi của một thành viên khác, bởi: chính những chính sách trợ cấp này của Newland đã làm Richland là quốc gia thành viên (láng giềng với Newland) vốn có ngành sản xuất vải sợi quy mô nhỏ tuy nhiên có công nghệ cao và định hướng xuất khẩu, bị sụt giảm thị phần nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước của Richland cũng như sự rớt giá cả mặt hàng vải sợi và dệt may trái ngược với

sự gia tăng thị phần liên tục của thị trường thế giới và nội địa của

các sản phẩm từ Newland (được qui định tại Điều 6.3 (d) của

SCM) và hoạt động trợ cấp này của Newland mang tính riêng biệt

được ghi nhận tại Điều 1.2 của SCM (như đã phân tích ở phân

phạm vi điều chỉnh của SCM nêu trên)

• Đối với trợ cấp của Chính phủ Newland đối với việc thu mua để tích trữ trên toàn quốc đối với bông cotton và chính sách hỗ trợ tín

dụng cho các nhà xuất khẩu là một trợ cấp bị cấm Căn cứ theo như quy định tại điều 4.1 Hiệp định SCM, lúc này Chính phủ

Richland có thể yêu cầu tham vấn với Chính phủ Newland, nếu trong vòng 30 ngày kể từ ngày có yêu cầu tham vấn mà 2 bên không đạt được thỏa thuận thì Chính phủ Richland có thể đưa vấn

đề này ra DSB để yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Khi có phán quyết của Ban hội thẩm, nếu như Chính phủ Newland không gỡ bỏ

Trang 10

trợ cấp này thì Chính phủ Richland có thể yêu cầu bồi thường và sử dụng biện pháp trả đũa thương mại (tăng thuế quan của các mặt hàng khác có giao dịch với Newland) (theo quy định DSU)

• Đối với trợ cấp về hỗ trợ thuế quan, hỗ trợ cho vay với lãi suất

0.9%/năm thì Chính phủ Richland có hai hướng để giải quyết: Thứ nhất, theo cơ chế đa phương, tức là chứng minh những trợ cấp

này gây ra thiệt hại, gây phương hại hay gây tổn hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước, theo đó:

• Các trợ cấp này gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa tại Richland và tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trợ cấp của Chính phủ Newland, việc xác định thiệt hại sẽ được

căn cứ tại điều 15 Hiệp định SCM từ đó khi chứng minh được

thiệt hại cũng như mối quan hệ nhân quả thì Chính phủ Richland

có thể ban hành thuế đối kháng theo quy định tại điều 19.1 Hiệp

định SCM

• Các trợ cấp này gây phương hại hay gây tổn hại nghiêm trọng cho

ngành sản xuất trong nước là những tổn hại được đề cập tại điều 5

và 6 Hiệp định SCM, theo đó khi có căn cứ để chứng minh những

tổn hại cho ngành sản xuất vải bông từ việc ban hành các trợ cấp trên của Chính phủ Newland thì Chính phủ Richland có thể yêu

cầu tham vấn với bên Newland theo điều 7 Hiệp định SCM, tương

tự như phân tích về trợ cấp bị cấm, lúc này nếu như Chính phủ Newland không chịu rút những trợ cấp này thì bên Richland có thể đưa vấn đề này ra DSB để yêu cầu thành lập Ban hội thẩm Trong trường hợp khi có phán quyết cuối cùng mà bên Newland vẫn không gở bỏ trợ cấp thì Chính phủ Richland có thể yêu cầu bồi thường và trả đũa thương mại

Thứ hai, theo cơ chế đơn phương Chính phủ Richland có thể áp dụng điều 6 GATT để làm căn cứ để ban hành thuế đối kháng đối với

hàng hóa là vải sợi của Newland, đối với cơ chế này Chính phủ Richland cần chứng minh những nội dung sau:

• Những biện pháp mà Chính phủ Newland ban hành là trợ cấp

được nêu ra trong điều 1 Hiệp định SCM: Theo quy định tại điều

Ngày đăng: 27/12/2015, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w