Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguy ễ n Phi Kha
Trang 1NguyÔn tr·i
Nguyễn Trãi (ch ữ Hán: 阮廌), hiệu là Ức Trai (抑齋),
1380–1442, là đại thần nhà H ậ u Lê, một nhà văn ch ữ Nôm Ông
được xem là một anh hùng dân tộc của Vi ệ t Nam, một danh
nhân văn hóa thế giới
Ti
ể u s ử
Nguyễn Trãi sinh năm 1380 và thọ được 62 tuổi Quê
gốc của ông là làng Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh H ả i D ươ ng
nhưng sinh ra ở Thăng Long trong dinh ông ngoại là quan Tư đồ
Tr
ầ n Nguyên Đán, về sau dời về sống ở làng Ng ọ c Ổ i, xã Nh ị
Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây Ông là con trai của
Nguy ễ n Phi Khanh (trước đây có tên là Nguyễn Ứng Long),
vốn là học trò nghèo thi đỗ thái học sinh và bà Trần Thị Thái
-con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc nhà Tr ầ n
Vong th ầ n nhà H ồ
Nguyễn Trãi sống trong thời đại đầy biến động dữ dội Nhà Tr ầ n suy vong, H ồ Quý Ly lên thay, lập ra nhà H ồ, đổi tên nước là Đ ạ i Ngu [1]
Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh Cả Nguyễn Phi Khanh và làm quan cho nhà Hồ Nhưng chẳng bao lâu sau (1407) quân Minh sang đánh nước Đại Ngu Nhà Hồ thua trận, cha con Hồ Quý Ly cùng các triều thần bị bắt sang Trung Quốc, trong đó có Nguy ễ n Phi Khanh
Tương truyền lúc ấy, Nguyễn Trãi muốn giữ tròn đạo hiếu, đã cùng em trai là Nguyễn Phi Hùng theo cha sang Trung Qu ố c Nhưng đến ả i Nam Quan, nghe lời cha dặn phải tìm cách rửa nhục cho đất nước, ông đã trở về và bị quân Minh bắt giữ ở Đông Quan
T
ướ ng văn trong kh ở i nghĩa Lam S ơ n
Nguyễn Trãi bỏ trốn tìm theo Lê L ợ i Các tài liệu nói khác nhau về thời điểm Nguyễn Trãi tham gia khởi nghĩa Có tài liệu nói ông tham gia từ đầu, có tài liệu nói đến năm 1420 hoặc 1423 ông mới theo Lê Lợi
Theo gia phả họ Đinh kể về thân thế Đinh Li ệ t, một tướng Lam Sơn khác, có đề cập đến việc Nguyễn Trãi gia nhập quân Lam Sơn Theo đó, mùa xuân năm Quý Mão (1423) Nguyễn Trãi lấy tên là Trần Văn, ầ n Nguyên Hãn lấy tên là Trần Võ vào Lỗi Giang giaTr nhập nghĩa quân Lam Sơn trong khi Bình Định Vương lại cho Ph ạ m Văn X ả o đi tìm Nguyễn Trãi ở Đông Quan Vì không biết rõ lai lịch hai vị này, Nguyễn Như Lãm (cận thần của Lê Lợi) đã giao cho Trần Văn làm Ký lục quân lương, Trần Võ thì đi chở thuyền Mãi đến khi Nguyễn Trãi dâng "Bình Ngô sách", Lê Lợi mới biết rõ hai người này và giữ lại bên mình để
lo giúp việc Tài liệu này có cơ sở vì các sử sách khi nói về giai đoạn đầu của khởi nghĩa Lam Sơn cũng không nhắc tới Nguyễn Trãi
Trang 2Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc kh ở i nghĩa Lam S ơ n do Lê Lợi lãnh đạo để lật đổ ách
đô hộ của nhà Minh, trở thành quân s ư đắc lực của Lê Lợi (vua Lê Thái Tổ sau này) trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn bản trả lời quân Minh cho Lê Lợi
Đặc biệt trong giai đoạn từ 1425, khi quân Lam Sơn trên đà thắng lợi, vây hãm nhiều thành trì của quân Minh, Nguyễn Trãi thường viết thư gửi cho tướng giặc trong thành để dụ hàng hoặc làm nản ý chí chiến đấu của tướng giặc
Năm 1427, ông được liệt vào hàng Đại phu, coi sóc các việc chính trị và quản công việc
ở Viện Khu mật Quân Lam Sơn giải phóng vùng Bắc Bộ, đánh tan viện binh của Vương Thông Thông rút vào cố thủ trong thành Đông Quan Vua Minh sai Liễu Thăng và Mộc Thạnh chia làm 2 đường, cầm hơn 10 vạn quân sang cứu viện Lúc đó quân Lam Sơn đứng trước hai chọn lựa vì sắp phải đối phó với địch bên ngoài vào và địch đánh ở trong thành ra Lực lượng của Vương Thông hợp với quân Minh sang từ trước đã có khoảng 10 vạn người, quân Lam Sơn vây hãm có chút lơi lỏng đã bị địch ra đánh úp, phải trả giá cao bằng việc mất
3 tướng giỏi: Lê Tri ệ n, Đinh L ễ bị tử trận, Đ ỗ Bí và Nguy ễ n Xí bị bắt Chỉ có Nguyễn Xí sau
đó nhờ mưu trí và nhanh nhẹn đã trốn thoát về
Số đông các tướng nóng lòng muốn hạ gấp thành Đông Quan để hết lực lượng làm nội ứng cho Liễu Thăng và Mộc Thạnh Riêng Nguyễn Trãi không đồng tình với quan điểm
đó Ông kiến nghị với Lê Lợi ý kiến của mình và được chấp thuận Và Lê Lợi đã theo kế của ông nói với các tướng rằng:
"Đánh Đông Quan là hạ sách Nếu ta đánh thành kiên cố đó, phải mất mấy tháng hoặc hàng năm, chưa chắc đã hạ nổi, binh sĩ ta phải mệt mỏi chán nản Đang khi đó, viện binh của địch kéo dến, thế là ta bị địch đánh cả đằng trước, đằng sau, đó là rất nguy Chi bằng ta hãy nuôi sức khoẻ, chứa dũng khí chờ đánh viện binh Khi viện binh đã bị phá, tất nhiên quân trong thành phải hàng, thế là ta chỉ khó nhọc một phen mà thu lợi gấp hai."
Diễn biến chiến sự sau đó quả như Nguyễn Trãi tiên đoán Lê Lợi điều các tướng giỏi lên đánh chặn hai đạo viện binh, giết được Li ễ u Thăng, M ộ c Th ạ nh bỏ chạy về nước ươV ng Thông trong thành tuyệt vọng không còn cứu binh phải mở cửa thành ra hàng, cùng Lê Lợi thực hiện "h ộ i th ề Đông Quan", xin rút quân về nước và cam kết không sang xâm phạm nữa
Bài chi tiết: Kh ở i nghĩa Lam S ơ n
Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đ ạ i cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn đ ộ c l ậ p thứ hai của Việt Nam (sau bài thơ Nam qu ố c s ơ n hà)
Công th ầ n b ị t ộ i
Bị vạ với người trong họ
Năm 1428, Lê L ợ i lên ngôi, phong ông tước Quan Phục hầu và cho theo họ Lê của vua Sau thắng lợi 1 năm, đầu năm 1429, Lê Lợi nghi ngờ Tr ầ n Nguyên Hãn, một tướng giỏi vốn là dòng dõi nhà Tr ầ n định mưu phản, nên sai người đi bắt hỏi tội Trần Nguyên Hãn nhảy
Trang 3xuống sông tự vẫn Vì Nguyên Hãn là anh em họ của Nguyễn Trãi nên ông cũng bị bắt giam
vì nghi ngờ có liên quan tới tội mưu phản Sau đó vì không có chứng cứ buộc tội, vua Lê lại thả ông ra Tuy nhiên cũng từ đó ông không còn được trọng dụng như trước nữa
Thực chất, cuộc thanh trừng công thần của Lê Thái Tổ có động cơ từ việc muốn thiên
hạ hết mong nhớ nhà Trần; đồng thời cũng là cuộc tranh chấp quyền lực thời bình giữa các tướng có xuất thân họ hàng hoặc cùng quê với vua Lê - do Lê Sát đứng đầu - và các tướng xuất thân vùng khác, tiêu biểu là Trần Nguyên Hãn và Ph ạ m Văn X ả o Hơn nữa đó lại còn là cuộc tranh chấp ngôi thái tử giữa con cả của vua là Lê Tư Tề (người từng tham gia kh ở i nghĩa Lam S ơ n và được Nguyên Hãn ủng hộ) với con thứ Lê Nguyên Long (được Lê Sát ủng hộ)
Bị oan khuất, sau khi ra khỏi ngục, ông làm bài Oan thán bày tỏ nỗi bi phẫn, trong đó
có câu:
Hư danh thực hoạ thù kham tiếu,
Chúng báng cô trung tuyệt khả liên
Dịch:
Danh hư thực họa nên cười quá,
Bao kẻ dèm pha xót người trung
Vụ án Lệ Chi Viên
Xem chi tiết: V ụ án L ệ Chi Viên
Năm 1433, Thái Tổ mất, thái tử Nguyên Long lên nối ngôi, tức là Lê Thái Tông Những năm đầu, Tư đồ Lê Sát làm phụ chính điều hành triều chính Nguyễn Trãi tham gia giúp vua mới Nhân bàn về soạn lễ nhạc, Nguyễn Trãi khuyên nhà vua:
"Nguyện xin bệ hạ yêu thương và nuôi dưỡng dân chúng để nơi thôn cùng xóm vắng không có tiếng oán hận sầu than"
Năm 1435, ông soạn sách D ư đ ị a chí để vua xem nhằm nâng cao sự hiểu biết, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của nhà vua đối với non sông đất nước
Bị các quyền thần đứng đầu là Lê Sát chèn ép, Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn S
ơ n, Chí Linh, thuộc tỉnh H ả i D ươ ng ngày nay
Tuy nhiên, trái với dự tính của Lê Sát, Thái Tông còn ít tuổi nhưng không dễ trở thành vua bù nhìn để Sát khống chế mãi Năm 1437, nhà vua anh minh nhanh chóng chấn chỉnh triều đình, cách chức và giết các quyền thần Lê Sát, Lê Ngân; các lương thần được trọng dụng trở lại, trong đó có Nguyễn Trãi Lúc đó ông đã gần 60 tuổi, lại đảm nhiệm chức vụ cũ,
kiêm thêm chức Hàn lâm viện Thừa chỉ và trông coi việc quân dân hai đạo Đông, Bắc (cả
nước chia làm 5 đạo) Thời gian phò vua Thái Tông, Nguyễn Trãi tiếp tục phát huy được tài năng của ông Tuy nhiên khi triều chính khá yên ổn thì cung đình lại xảy ra tranh chấp
Trang 4Vua Thái Tông ham sắc, có nhiều vợ, chỉ trong 2 năm sinh liền 4 hoàng tử Các bà vợ tranh chấp ngôi thái tử cho con mình nên trong triều xảy ra xung đột Vua truất hoàng hậu Dương Thị Bí và ngôi thái tử của con bà là Lê Nghi Dân lên 2 tuổi, lập Nguyễn Thị Anh làm hoàng hậu và cho con của bà này là Lê Bang Cơ chưa đầy 1 tuổi làm thái tử Cùng lúc đó một
bà vợ khác của vua là Ngô Th ị Ng ọ c Dao lại sắp sinh, hoàng hậu Nguyễn Thị Anh sợ đến lượt
mẹ con mình bị phế nên tìm cách hại bà Ngọc Dao Nguyễn Trãi cùng một người vợ thứ là Nguy ễ n Th ị L ộ tìm cách cứu bà Ngọc Dao đem nuôi giấu, sau bà sinh được hoàng tử Tư Thành (tức vua Lê Thánh Tông sau này)
Tháng 7 năm 1442, vua Lê Thái Tông về qua nhà Nguyễn Trãi tại Côn S ơ n (Chí Linh, H ả i D
ươ ng ngày nay), vợ Nguyễn Trãi là bà Nguyễn Thị Lộ theo hầu vua Trên đường về kinh Vua đột ngột qua đời tại vườn hoa L ệ Chi Viên nay thuộc Gia Bình, B ắ c Ninh Nguyễn Trãi bị triều đình do hoàng hậu Nguyễn Thị Anh cầm đầu khép tội giết vua và bị giết cả 3 họ (tru di tam t ộ c) ngày 16 tháng 8 năm 1442 "Tru di tam tộc" là giết người trong họ của người bị tội, họ bên vợ và họ bên mẹ của người đó Theo gia phả họ Nguyễn, ngoài những người họ Nguyễn cùng họ với ông, còn có những người họ Trần cùng họ với bà Trần Thị Thái mẹ ông, người trong họ bà Nhữ thị vợ thứ của Nguy ễ n Phi Khanh, những người trong họ của các bà vợ Nguyễn Trãi (kể cả vợ lẽ), tất cả đều bị xử tử
Thái tử Bang Cơ mới 1 tuổi, con trai Nguyễn Thị Anh được lập làm vua, tức là
Lê Nhân Tông
Gia quyến lưu tán
Theo gia phả họ Nguyễn, Nguyễn Trãi có năm người vợ:
• Bà họ Trần: Sinh ra Nguy ễ n Khuê, Nguy ễ n Ứ ng, Nguy ễ n Phù
• Bà họ Phùng: Sinh ra Thị Trà, Nguy ễ n B ả ng, Nguy ễ n Tích
• Bà Thị Lộ: Không có con
• Bà Phạm Thị Mẫn: Sinh ra Nguy ễ n Anh Vũ (sau vụ án Lệ Chi Viên)
• Bà họ Lê: Sinh ra con cháu ở chi Quế Lĩnh, Phương Quất - huyện Kim Môn, H ả i D
ươ ng
Sau vụ án Lệ Chi Viên, dòng họ Nguyễn Trãi ở Chi Ngại, Nhị Khê gần như bị thảm sát hết Trong các phả hệ ghi lại số ít thoát nạn là:
• Nguy ễ n Phi Hùng, em thứ ba của Nguyễn Trãi chạy về Phù Khê, Từ Sơn, B ắ c Ninh;
• Nguyễn Phù con Nguyễn Trãi chạy lên Cao B ằ ng, đổi họ sang họ Bế Nguyễn
• Bà họ Lê vợ thứ năm của Nguyễn Trãi mang thai chạy về Phương Quất, huyện Kim Môn, Hải Dương
• Bà Phạm Thị Mẫn vợ thứ tư của Nguyễn Trãi có mang ba tháng, được người học trò cũ của Nguyễn Trãi là Lê Đ ạ t đưa bà chạy trốn vào xứ Bồn Man (phía Tây Thanh Hóa); sau lại về thôn Dự Quần, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, Thanh Hóa Tại đây, bà sinh ra Nguyễn Anh Vũ Để tránh sự truy sát của triều đình, Nguyễn Anh Vũ đổi sang họ mẹ
là Ph ạ m Anh Vũ
Đ
ượ c minh oa n
Trang 5Theo một số nghiên cứu gần đây, thủ phạm gây ra cái chết của vua Thái Tông chính là hoàng hậu Nguyễn Thị Anh và bà đã đổ tội cho Nguyễn Trãi
Tuy nhiên, ngay đương thời đã có nhiều người biết việc oan khuất của Nguyễn Trãi Hơn
10 năm sau, mẹ con vua Nhân Tông bị người con cả Thái Tông là Nghi Dân giết chết để giành lại ngôi vua Nhưng rồi Nghi Dân nhanh chóng bị lật đổ Người con thứ của Thái Tông
là Khắc Xương từ chối ngôi báu nên người con út là Tư Thành được vợ chồng Nguyễn Trãi cứu thoát trước kia, nay được Nguy ễ n Xí rước lên ngôi, tức là Lê Thánh Tông
Năm 1464, Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho Nguyễn Trãi Con cháu ông được tìm lại và bổ dụng Người con út sinh ra sau khi ông qua đời là Nguyễn Anh Vũ được Lê Thánh Tông phong cho chức Đồng Tri Phủ huyện Tĩnh Gia (Thanh Hóa), cấp cho 100 mẫu ruộng gọi
là "Miễn hoàn điền" (ruộng không phải trả lại) con cháu đời đời được hưởng Nguyễn Anh
Vũ xây dựng mộ chí của Nguyễn Trãi tại xứ đồng Tai Hà, làng Dự Quần, lấy sọ dừa, cành dâu táng làm cốt; lấy ngày mất của Nguyễn Trãi - 16 tháng 8 là ngày giỗ họ[2]
Minh oan cho Nguyễn Trãi, vua Thánh Tông ca ngợi ông: "Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo" (tấm lòng Ức Trai sáng như sao Khuê) Năm 1467, vua Thánh Tông ra lệnh sưu tầm di cảo thơ văn Nguyễn Trãi
Dù vậy, các nhà nghiên cứu vẫn băn khoăn chưa rõ vì sao một vị vua được coi là anh minh
và quyết đoán như Lê Thánh Tông, đã minh oan cho Nguyễn Trãi, một đại công thần sáng lập vương triều Lê, người đã cùng với vợ là Nguyễn Thị Lộ ra sức che chở cho mẹ con nhà
vua lúc gian nan, mà chỉ truy tặng tước bá, thấp hơn cả tước hầu vốn được Lê Thái T ổ ban phong khi ông còn sống Các công thần khác của nhà H ậ u Lê thường được các vua đời sau
truy tặng tước cao hơn, như công và sau nữa lên vương.
Năm 1980 nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, UNESCO đã công nhận ông
là danh nhân văn hóa thế giới
Dòng dõi Nguy ễ n B ặ c và t ổ tiên chúa Nguy ễ n ?
Theo một số gia phả h ọ Nguy ễ n, tổ tiên của Nguyễn Trãi chính là Định Quốc công Nguy ễ n B
ặ c thời nhà Đinh và con cháu ông có một chi trở thành các Chúa Nguyễn
Tác giả Đinh Công Vĩ dẫn trong sách Nhìn lại lịch sử 7 cuốn gia phả, ngọc phả về họ Nguyễn bằng ch ữ Hán và ch ữ Nôm, theo đó các nguồn tài liệu này cũng không thống nhất Tác giả Nguyễn Khắc Minh trong bài Tìm hiểu phả hệ dòng họ Nguyễn Trãi nêu ra 14 cuốn gia phả viết bằng Hán, Nôm của các chi họ Nguyễn
Nhìn chung, thông tin từ các gia phả không thống nhất với nhau, nhưng tựu chung từng nhóm đưa ra các thông tin riêng lẻ:
1 Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguy ễ n B ặ c
2 Nguyễn Trãi là tổ tiên chúa Nguy ễ n
3 Nguyễn Bặc là tổ tiên họ Nguyễn Gia Miêu của Chúa Nguy ễ n
4 Nguyễn Bặc là tổ tiên Nguyễn Trãi và Nguyễn Trãi cũng là tổ tiên các Chúa Nguyễn
Trang 6Con cháu Nguyễn Bặc?
Theo tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh với 14 cuốn gia phả viết bằng Hán, Nôm của các chi họ, trong đó cũ nhất là thời: Hồng Thuận Tứ Niên (Lê T ươ ng D ự c - năm 1513), Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1740), gần đây nhất là cuốn gia phả sao lại năm 1962
Theo đó, về nguồn gốc của các chi họ, gia phả đều thống nhất ghi: Nguyên quán tổ tiên đời trước của họ ta ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, phủ Lạng Giang, trấn Kinh Bắc (nay
là thôn Chi Ngãi, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) Sau dời về làng Hạ, xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc; phủ Thường Tín, đạo Sơn Nam
Về gốc tích cội nguồn họ Nguyễn ở thôn Chi Ngại, truyền thuyết của dòng họ kể rằng:
Tổ tiên dòng họ Thái Tể triều Đinh - Đinh Quốc Công Nguy ễ n B ặ c (924 - 979) người Hoằng Hóa - Thanh Hoá, có công giúp Đinh B ộ Lĩnh dẹp lo ạ n 12 s ứ quân để lập ra triều Đinh Khi Nguyễn Bặc kéo quân về Côn Sơn dẹp sứ quân của Phạm Phòng Át (Phạm Bạch Hổ), ông để lại con cháu của mình cùng năm vị tướng quân họ Phí ở lại Chi Ngại cai quản vùng đất này Khi năm anh em họ Phí mất, người dân Chi Ngại tôn họ làm Thành Hoàng, lập đền thờ cúng Đình làng Chi Ngại bị phá hủy trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nhưng bài vị, ngai thờ và thần tích của năm vị tướng họ Phí vẫn được lưu giữ thờ phụng đến ngày nay (nay bài vị của năm vị Thành Hoàng thờ ở chùa Ngái của thôn Chi Ngại) Từ đó dòng họ Nguyễn sinh ra hai con trai Vì nhà nghèo, hai anh em họ Nguyễn từ Chi Ngại đến Trại Ổi (tức làng Nhị Khê - Thường Tín, Hà Đông) sinh sống và trở thành tổ tiên của Nguyễn Trãi
Tài liệu của tác giả Nguyễn Khắc Minh sau đó chỉ tập trung vào Nguyễn Trãi và người con sống sót của ông sau Vụ án Lệ Chi Viên là Nguyễn Anh Vũ mà không đề cập tới các chúa Nguyễn Theo đó, con cháu Nguyễn Phi Khanh phân tán đi các nơi, sau này có 2 nhân vật nổi tiếng là Nguy ễ n Thi ệ n Thu ậ t và Nguy ễ n Văn C ừ
Tuy nhiên, nguồn gốc của họ Nguyễn thôn Chi Ngại cũng chỉ là truyền thuyết của dòng họ
và điều này không thống nhất với sử sách Theo sử sách, Nguyễn Bặc người châu Đại Hoàng (Ninh Bình), không phải người Thanh Hoá; và sứ quân Phạm Phòng Át tự nguyện về hàng phục Đinh Bộ Lĩnh, Bộ Lĩnh không cần sai tướng (Nguyễn Bặc) đi đánh dẹp sứ quân họ Phạm Hơn nữa, thời điểm soạn thảo gia phả này cũng khá xa thời Nguyễn Bặc (hơn 530 năm)
Tổ họ Nguyễn Gia Miêu?
Sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và công cuộc khai sáng miền nam nước Việt cuối thế kỷ XVII của Nguyễn Ngọc Hiền chép về tổ tiên của Nguy ễ n H ữ u C ả nh, người có công mở đất Nam Bộ ghi thế thứ các đời họ Nguyễn từ Nguyễn Bặc như sau:
1 Nguyễn Bặc (924-979)
2 Nguyễn Đệ
3 Nguyễn Viễn
4 Nguyễn Phụng (?-1150)
5 Nguyễn Nộn (?-1229; cát cứ cuối thời nhà Lý, đầu thời nhà Tr ầ n)
6 Nguyễn Thế Tứ
7 Nguyễn Nạp Hoa (?-1377)
Trang 78 Nguyễn Công Luật (?-1388)
9 Nguyễn Công Sách
10 Nguyễn Ứng Long (Nguy ễ n Phi Khanh 1355-1428)
11 Nguyễn Trãi (1380-1442)
12 Nguyễn Công Duẩn và Nguyễn Anh Vũ
13 Nguyễn Đức Trung (1404-1477)
Theo gia phả họ Nguyễn, có 2 người con của Nguyễn Trãi còn sống và được bổ dụng sau này Một người con cả là Nguyễn Công Duẩn từng tham gia kh ở i nghĩa Lam S ơ n, không có mặt ở nhà khi cả họ bị hình nên thoát nạn Người con nhỏ là con của một người vợ thứ của Nguyễn Trãi đã có mang cũng trốn thoát khi cả nhà bị hình, sau sinh được Nguyễn Anh Vũ Gia phả họ Nguyễn còn ghi: sau này 2 chi của Công Duẩn và Anh Vũ trở thành hai ngành nổi tiếng trong l ị ch s ử Vi ệ t Nam, một ngành là các Chúa Nguy ễ n và một ngành là họ Nguyễn Hữu
có công giúp các chúa Nguyễn khai phá Nam Bộ (Xem chi tiết: Chúa Nguy ễ n, Nguy ễ n H ữ u C
ả nh.)
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã khảo cứu nhiều nguồn tài liệu, gia phả họ Nguyễn khác cũng như các sử sách để kết luận rằng: Nguyễn Trãi không phải ông tổ của các Chúa Nguyễn Theo một số nhà nghiên cứu, gia phả này chép lẫn gia phả họ Nguyễn Gia Miêu (chúa Nguyễn - ở Thanh Hoá) vào họ Nguyễn Nhị Khê (Nguyễn Trãi - ở Hà Tây) Những người nhà Nguyễn Trãi đã lấy giả mạo là người họ Nguyễn Gia Miêu do phải trốn tránh họa tru di Căn cứ của tác giả Nguyễn Ngọc Hiên trong sách Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1997) và sau đó tác giả Phạm Côn Sơn trong sách Tông phả kỷ yếu tân biên (2006) dẫn lại
thông tin từ Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh đều từ các nguồn phả hệ không chuẩn xác.
Nguyễn Công Duẩn
Theo một gia phả họ Nguyễn khác, Tiên nguyên toát yếu phổ của Tôn Thất Hân, Nguyễn Công Duẩn là người tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ ngày đầu (trong khi Nguyễn Trãi sau này mới gia nhập), quê ở Gia Miêu, Tống Sơn, Thanh Hóa và không phải là con Nguyễn Trãi:
1 Nguyễn Bặc
2 Nguyễn Đệ
3 Nguyễn Viễn
4 Nguyễn Phụng
5 Nguyễn Nộn
6 Nguyễn Thế Tứ
7 Nguyễn Minh Du
8 Nguyễn Biện
9 Nguyễn Sử
10 Nguyễn Công Duẩn (hay Chuẩn) - công thần kh ở i nghĩa Lam S ơ n
11 Nguyễn Đức Trung - đại thần tham gia lật đổ Lê Nghi Dân năm 1460
Các nhà nghiên cứu cho rằng, có thể do con cháu Nguyễn Trãi giả mạo, dùng lý lịch họ Nguyễn Gia Miêu để che thân phận mình Theo nhà sử học Phan Huy Lê:
Nguyễn Biện là người Gia Miêu, là dòng dõi Nguyễn Bặc trở xuống Sau vụ án Lệ Chi viên, con cháu Nguyễn Trãi đã lấy tên Nguyễn Biện mà thay thế tên Ứng Long
Trang 8ở trong gia phả Trong họ của Bế Nguyễn (họ Nguyễn ở Cao B ằ ng đổi ra họ Bế - tức
là con cháu của Nguyễn Phù, xem phần "Gia quyến lưu tán" phía trên) có di chúc truyền khẩu: "Phải đời đời thờ cúng phụ đạo Nguyễn Biện đã có công bảo vệ hậu duệ tổ Ứng Long"
Một số nhà nghiên cứu, do không khảo cứu hết các nguồn gia phả họ Nguyễn (vốn không thống nhất với nhau và có những nguồn tài liệu bị sai lạc) và người sau kế tục sử dụng những thành quả của những tài liệu trước, nên đã cùng lầm lẫn rằng Nguyễn Trãi là hậu tổ
(Nguyễn Bặc là thủy tổ) họ Nguyễn Gia Miêu Tác giả Nguyễn Ngọc Hiền trong Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh và sau đó là Phạm Côn Sơn trong Tông phả tân biên kỷ yếu cùng đưa
ra phả hệ rất không hợp lý về dòng họ Nguyễn
Đối với việc không có Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi trong một số gia phả họ Nguyễn, tác giả Nguyễn Ngọc Hiền lại theo ý kiến của một số chi hậu duệ họ Nguyễn ngày nay cho rằng, do cha con Phi Khanh theo nhà H ồ, mà nhà Hồ đã giết hại Nguyễn Công Luật (tổ đời thứ 8) nên bị khai trừ ra khỏi họ Sau đó, do Nguyễn Trãi có công theo Lê Lợi bình Ngô nên lại được đưa vào Tuy nhiên, nếu xét chi tiết tới thế thứ của giả thuyết này, sẽ có nhiều chỗ không hợp lý
Theo đó (xem thế thứ 13 đời phần trên), từ Nguyễn Bặc mất năm 979 tới Nguyễn Nộn đời thứ 5 mất năm 1229, tức là hơn 60 năm mới có một thế hệ; sau đó từ Nguyễn Nộn mất tới Nguyễn Nạp Hoa đời thứ 7 mất tận năm 1377 (tức là gần 80 năm mới có một thế hệ); sau đó từ Nguyễn Công Luật đời thứ 8 tới Nguyễn Trãi (đời thứ 11), Công Duẩn (đời thứ 12), Đức Trung (đời thứ 13, sinh năm 1404) rồi thị Hằng (đời thứ 14, sinh con năm 1461) Như vậy 7 đời đầu cách nhau 400 năm, 7 đời sau lại dồn vào chỉ khoảng 65 năm cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15
Vì lẽ đó, nhiều ý kiến nghiêng về khả năng họ Nguyễn Nhị Khê "mượn cửa" họ Nguyễn Gia Miêu để lánh nạn hơn
Nguyễn Đức Trung
Có một sự kiện sử sách đã chép lại (các sách Đại Việt thông sử và Khâm định Việt sử
Thông giám cương mục) cho thấy: Nguy ễ n Đ ứ c Trung (cha Trường Lạc hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng) - người được giả thuyết ban đầu coi là cháu nội Nguyễn Trãi - có 2 hành trạng mâu thuẫn với giả thuyết này:
• Nguyễn Đức Trung được cất nhắc làm Điện tiền chỉ huy sứ dưới ngay thời vua Lê Nhân Tông - vua thiếu niên có sự nhiếp chính của thái hậu Nguyễn Thị Anh, người vừa khép tội gia hình Nguyễn Trãi trước đó không lâu;
• Nguyễn Đức Trung sau đó tham gia cùng Nguy ễ n Xí, Lê Lăng lật đổ Lê Nghi Dân từ năm 1460
Trong khi đó, tận năm 1464 Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi và sai tìm lại
dòng dõi đang phải trốn tránh của ông Một nhà vừa bị tru di tam tộc, ngay cả họ hàng của
mẹ kế Nguyễn Trãi và họ hàng của các vợ lẽ của ông cũng không được thoát nạn, không thể
Trang 9có người cháu nội được cất nhắc lên làm đại thần trong triều bên cạnh các bậc "nguyên lão" như Nguy ễ n Xí, Lê Lăng Vì vậy, chắc chắn Đức Trung không thể là cháu nội Nguyễn Trãi
Các tác giả theo giả thuyết "Nguyễn Trãi là ông nội Nguyễn Đức Trung" đã không xem xét tới sự kiện này trong sử sách
Trường Lạc hoàng hậu
Một số giai thoại cho rằng Nguyễn Trãi không chỉ là cha Nguyễn Anh Vũ - người phải đổi sang họ mẹ là Phạm Anh Vũ trong thời gian trốn tránh mà còn là cha Nguyễn Thị Hằng -người sau này trở thành hoàng hậu Trường Lạc của Lê Thánh Tông Thánh Tông tìm được Anh
Vũ và Thị Hằng rồi lấy luôn bà làm vợ
Các nhà sử học đã nhất trí rằng đây chỉ là giai thoại dân gian Nguyễn Thị Hằng đã được
sử sách ghi nhận là con đại thần Nguyễn Đức Trung Các tài liệu gia phả được nghiên cứu, chọn lọc (nêu trên) đã cho thấy Nguyễn Đức Trung là con Nguyễn Công Duẩn và Công Duẩn không phải là con Nguyễn Trãi
Như vậy có tới hai nguồn thông tin sai lạc về quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Trường Lạc hoàng hậu: nguồn đầu cho rằng ông là cha hoàng hậu, nguồn thứ hai cho rằng ông là cụ của hoàng hậu Thực tế ông không có quan hệ họ hàng với Nguyễn Thị Hằng
Có một minh chứng nữa cho việc Nguyễn Trãi không phải là cha hay cụ của hoàng hậu Nguyễn Thị Hằng Điều này tương tự như thời gian hành trạng của cha bà - Nguyễn Đức Trung Tới tận năm 1464 Nguyễn Trãi mới được minh oan nhưng năm 1461 Nguyễn Thị Hằng đã là hoàng hậu của Lê Thánh Tông và đã sinh ra thái tử Lê Tranh, sau trở thành Lê Hi
ế n Tông
K
ế t lu ậ n
• Như vậy, do hậu quả của V ụ án L ệ Chi Viên, đã có những thông tin sai lạc cho đời sau
về dòng dõi của Nguyễn Trãi Ông không phải là cha Nguyễn Công Duẩn, không phải
là ông nội của Nguyễn Đức Trung và không phải là tổ tiên của các Chúa Nguyễn Nguyễn Trãi và dòng họ của ông không có quan hệ tới họ Nguyễn ở Gia Miêu
• Giả thuyết về họ Nguyễn Gia Miêu và họ Nguyễn Chi Ngại (hay Nhị Khê) cùng có tổ
là Nguyễn Bặc vẫn còn những nghi vấn:
o Truyền thuyết họ Nguyễn ở Chi Ngại quá xa, chưa hoàn toàn có tính xác thực
để kết luận Nguyễn Trãi là dòng dõi Nguyễn Bặc
o Khoảng cách quá xa của các thế thứ họ Nguyễn khiến về vấn đề "dòng họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc" còn những nghi vấn Chính sử sách nhà Nguyễn không xác nhận họ Nguyễn Gia Miêu là con cháu Nguyễn Bặc (Xem bài: Nguy ễ n B ặ c, Nguy ễ n N ộ n.)
Các tác ph ẩ m văn th ơ
Nguyễn Trãi để lại rất nhiều tr ướ c tác, cả bằng Hán văn và bằng ch ữ Nôm, song đã bị thất lạc sau ụV án L ệ Chi Viên Ông là một trong những tác giả thơ Nôm lớn của Việt Nam thời phong kiến, điển hình là tác phẩm Qu ố c âm thi t ậ p
Trang 10Được biết đến nhiều nhất là Bình Ngô đ ạ i cáo được viết sau khi nghĩa quân Lam Sơn giành thắng lợi trong cuộc chiến chống quân Minh kéo dài 10 năm (1418–1427) Tác phẩm này đã thể hiện rõ ý chí độc lập, tự cường của dân tộc Việt cũng như việc lấy dân làm gốc với những câu như:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo;
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có
(trích theo bản dịch của Ngô T ấ t T ố)
Bình Ngô đại cáo được người đương thời rất thán phục, coi là "thiên cổ hùng văn".
Ngoài ra ông còn để lại nhiều tác phẩm khác như Qu ố c âm thi t ậ p, Ứ c Trai thi t ậ p,
Quân trung t ừ m ệ nh t ậ p, ư D đ ị a chí, Lam S ơ n th ự c l ụ c, Phú núi Chí Linh , Lam Sơn Vĩnh lăng thần đạo bi, Ngọc Đường di cảo.
Tác phẩm Gia hu ấ n ca được người đời truyền tụng và cho là của ông, nhưng hiện vẫn chưa có chứng cứ lịch sử xác đáng tác phẩmQuốc âm thi tậplà tác phẩm viết bằng chữ Nôm đánh dấu sự phát triển mới của văn học Việt Nam