1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân tích chiến lược các ngành

8 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 79,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm phát triển a Phát triển sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản trên cơ sở phù hợp với Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất

Trang 1

1 THỦY SẢN, CHẾ BIẾN

Quy hoạch phát triển công nghiệp sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản giai đoạn đến năm 2015, có xét đến năm 2025 với các nội dung chủ yếu sau:

1 Quan điểm phát triển

a) Phát triển sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản trên cơ sở phù hợp với Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam, gắn với chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp;

b) Phát triển sản xuất thiết bị chế biến nông - lâm - thủy sản dựa trên nội lực là chính, chủ động tiếp cận công nghệ kỹ thuật tiên tiến thế giới để chế tạo các thiết bị chế biến nhằm nâng cao chất lượng nguyên liệu nông - lâm - thủy sản

c) Phát triển bền vững, khuyến khích các sản phẩm tiết kiệm nguyên, nhiên liệu, thân thiện môi trường, gắn kết chặt chẽ với việc phát triển công nghiệp quốc phòng

Ưu tiên cho phát triển các ngành: thiết bị chế biến lúa gạo, thiết bị chế biến sắn, thiết bị chế biến cà phê, thiết bị chế biến cao su; thiết bị chế biến chè, thiết bị chế biến mía đường, thiết bị chế biến điều, thiết bị chế biến thức ăn chăn nuôi, thiết bị sản xuất cồn nhiên liệu, thiết bị chế biến ván nhân tạo, thiết bị chế biến thủy hải sản;

Giải pháp:

Về tài chính:

- Hỗ trợ thông qua các chính sách thuế phù hợp với các quy định của WTO và cam kết quốc tế của Việt Nam Áp dụng linh hoạt các phương pháp tính thuế, sử dụng có hiệu quả thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nhằm bảo vệ sản xuất trong nước

Ưu tiên nguồn Quỹ khuyến công cho các doanh nghiệp cơ khí chế tạo thiết bị chế biến nông -lâm - thủy sản

Về quản lý ngành:

- Củng cố các tổng công ty có vốn Nhà nước để có thể đảm nhiệm tốt vai trò định hướng chủ đạo Đẩy mạnh cổ phần hóa để đa dạng nguồn vốn sở hữu

- Thông qua Tổng hội Cơ khí, Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí để đề xuất và tổ chức việc phối hợp giữa các doanh nghiệp, tiến tới thành lập các hội nghề nghiệp Khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia các Hiệp hội ngành hàng quốc tế để mở rộng hợp tác

Giải pháp trợ giúp khác:

Tăng cường vai trò của các Hiệp hội ngành nghề chế biến nông - lâm - thủy sản để củng cố quan

hệ liên kết giữa các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, trao đổi thông tin về thị trường, công nghệ và đầu tư

2 CƠ KHÍ

Phê duyệt Danh mục các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn giai đoạn 2007

- 2010, tầm nhìn đến năm 2020 (Phụ lục kèm theo)

Quy định một số chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, ngành công nghiệp mũi nhọn:

1 Đối với các ngành công nghiệp ưu tiên:

Trang 2

a) Về đất đai: ưu tiên bố trí đủ nhu cầu về đất trong các khu, cụm, điểm công nghiệp khi có dự án sản xuất được đầu tư mới đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu (kể cả dự án kết hợp với di chuyển địa điểm sản xuất) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

b) Về xúc tiến thương mại:

- Ưu tiên đưa vào chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu hàng năm;

- Hỗ trợ kinh phí cho các doanh nghiệp để xây dựng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế (thông qua các hiệp hội ngành hàng);

- Giới thiệu sản phẩm miễn phí trên website của Bộ Công nghiệp và các Sở Công nghiệp;

- Trưng bày, giới thiệu sản phẩm miễn phí tại các hội chợ, triển lãm của quốc gia và của các địa phương

c) Về nghiên cứu - triển khai: ngân sách hỗ trợ với mức kinh phí tối đa theo các quy định hiện hành để thực hiện các hoạt động nghiên cứu - triển khai liên quan đến ngành công nghiệp chủ lực, trong đó:

- Ngân sách trung ương hỗ trợ:

+ Chuyền giao công nghệ (kể cả sản xuất thử nghiệm theo công nghệ được chuyển giao),

+ Thiết lập và bổ sung, tăng cường năng lực các cơ quan khoa học công nghệ (phòng thí nghiệm, phòng kiểm chuẩn, cơ quan nghiên cứu - triển khai );

+ Nghiên cứu ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm

- Ngân sách địa phương hỗ trợ:

Sản xuất thử nghiệm (sản phẩm mới; nguyên liệu, phụ liệu thay thế hàng nhập khẩu) nhằm hoàn thiện công nghệ, thiết bị mới tiên tiến trước khi ứng dụng vào sản xuất quy mô công nghiệp

Đối với các ngành công nghiệp mũi nhọn: áp dụng chính sách của các ngành công nghiệp ưu tiên

và được Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí (không quá 50% vốn đầu tư) đối với các dự án bảo vệ môi trường tại các cơ sở sản xuất

CHẾ TẠO THIẾT BỊ ĐỒNG BỘ

1 Quan điểm

a) Phát triển ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ phù hợp với Chiến lược phát triển ngành

cơ khí Việt Nam, ưu tiên trước hết cho phát triển các ngành điện, xi măng, alumina-nhôm và tham gia chế tạo thiết bị cấp, thoát nước

b) Phát triển ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ ổn định, bền vững, với công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường;

c) Gắn kết chặt chẽ việc phát triển ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ với phát triển kinh

tế - xã hội của cả nước, của các địa phương với phát triển công nghiệp quốc phòng

2 Mục tiêu phát triển

a) Đến năm 2025 đủ năng lực chế tạo đến 80% số lượng thiết bị đồng bộ của các phân ngành thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm;

Trang 3

b) Đến năm 2025 các dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất trong nước đạt chất lượng và tính hiện đại về công nghệ tương đương với các dây chuyền tiên tiến trong khu vực với giá cạnh tranh; c) Tham gia xuất khẩu thiết bị đồng bộ trên cơ sở tận dụng lợi thế về vị trí địa lý và phân công hợp tác quốc tế trong quá trình nhận chuyển giao công nghệ Phấn đấu tổng kim ngạch xuất khẩu thiết

bị đồng bộ đạt khoảng 2,5 tỷ USD giai đoạn đến năm 2015, khoảng 10 tỷ USD giai đoạn 2016-2025

3 Định hướng phát triển

a) Về tư vấn thiết kế: phát triển các tổ chức tư vấn trên cơ sở kết hợp lực lượng tư vấn chuyên ngành với tư vấn công nghệ chế tạo, có khả năng thực hiện toàn bộ công việc tư vấn thiết kế và quản lý dự án Xây dựng một số viện nghiên cứu có khả năng đảm nhận công việc tổng thầu thiết

kế trong một số chuyên ngành;

b) Về đầu tư: ở miền Bắc đầu tư chế tạo thiết bị đồng bộ cho ngành xi măng, nhiệt điện, thủy điện, miền Trung đầu tư chế tạo thiết bị đồng bộ cho ngành alumina-nhôm, thủy điện và một số thiết bị cho điện hạt nhân, nhiệt điện và lọc hóa dầu; miền Nam đầu tư vào chế tạo thiết bị đồng bộ cho ngành hóa dầu, nhiệt điện Đầu tư mới và đầu tư chiều sâu với công nghệ tiên tiến để chế tạo thiết

bị đồng bộ đáp ứng khoảng 35% nhu cầu nội địa vào năm 2015; 80% nhu cầu vào năm 2025; c) Về tự động hóa: nâng cao năng lực của các đơn vị trong nước để từng bước ứng dụng và làm chủ công nghệ điều khiển, tự động hóa trong việc chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ tại Việt Nam;

d) Phát triển cơ sở sản xuất nguyên liệu: tập trung đầu tư đảm bảo cung cấp đủ về chủng loại và số lượng một số nguyên liệu chính cho ngành sản xuất thiết bị đồng bộ với giá thành cạnh tranh; đ) Phát triển các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ phục vụ cho chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ tại Việt Nam Phấn đấu đến năm 2025 đạt tỷ lệ nội địa hóa đến 80% về giá trị các dây chuyền thiết

bị đồng bộ do trong nước chế tạo

4 Quy hoạch phát triển

a) Về tư vấn thiết kế: đến năm 2025 các đơn vị tư vấn thiết kế trong nước làm chủ công nghệ, thiết

kế chế tạo cho các dây chuyền thiết bị đồng bộ của các ngành thủy điện, nhiệt điện, xi măng, alumina-nhôm;

b) Quy hoạch phát triển sản phẩm và các dự án đầu tư:

- Đến 2025 đáp ứng đến 80% nhu cầu trong nước về số lượng thiết bị đồng bộ, làm chủ công nghệ, thiết kế chế tạo thiết bị đồng bộ cho các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm; 60% nhu cầu về số lượng thiết bị tiêu chuẩn; 100% nhu cầu về số lượng các thiết bị phi tiêu chuẩn

và kết cấu thép

- Tập trung sản xuất các sản phẩm chủ yếu trong dây chuyền thiết bị đồng bộ của các ngành thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm:

Quy hoạch các sản phẩm thiết bị đồng bộ chủ yếu (theo khối lượng) cho 4 phân ngành: thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm được trình bày ở Phụ lục 1;

c) Về tự động hóa:

- Đến năm 2010 các đơn vị trong nước nghiên cứu, thực hiện tích hợp các phần tử tự động hóa trên

cơ sở tiếp nhận thiết kế, công nghệ của nước ngoài

Trang 4

- Đến năm 2015 các đơn vị trong nước làm chủ việc thiết kế phần mềm, tích hợp hệ thống điều khiển, chuẩn đoán giám sát;

- Đến năm 2025 trong nước làm chủ việc áp dụng công nghệ điều khiển trong việc chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ

d) Phát triển các cơ sở sản xuất nguyên vật liệu: đến năm 2025 các cơ sở sản xuất trong nước đáp ứng trên 80% nhu cầu nguyên vật liệu để chế tạo thiết bị đồng bộ cho các ngành thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm tại Việt Nam;

đ) Phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ: đến năm 2025 trong nước đáp ứng trên 80% nhu cầu thiết bị, linh kiện, bán thành phẩm để chế tạo các dây chuyền thiết bị đồng bộ cho các ngành thủy điện, nhiệt điện, xi măng và alumina-nhôm tại Việt Nam

5 Các giải pháp và chính sách

5.1 Các giải pháp

a) Giải pháp về thị trường

- Áp dụng các quy định phi thuế quan ở mức cao nhất (phù hợp với các cam kết WTO) nhằm bảo

hộ hợp lý thị trường cho các doanh nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ trong nước;

- Tạo thị trường trong nước thông qua cơ chế chỉ định thầu chế tạo thiết bị đồng bộ một số dự án cho Tổ hợp liên danh nhà thầu trong nước, đảm bảo chất lượng và giá cả cạnh tranh hợp lý

b) Giải pháp về đầu tư

- Đẩy mạnh việc thực hiện đầu tư các dự án trong danh mục quy hoạch, định kỳ rà soát điều chỉnh một số dự án cho phù hợp với thực tế;

- Chủ động đầu tư theo vùng, miền để tạo năng lực cơ bản chế tạo thiết bị đồng bộ: năng lực tạo phôi và chế tạo các chi tiết máy có kích thước lớn, năng lực gia công đạt độ chính xác cao;

- Khuyến khích các doanh nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ trong nước đầu tư vào các khu công nghiệp, tập trung vào các vị trí gần cảng nước sâu, có đường, cầu chịu tải trọng lớn và có không gian thích hợp cho các nhà máy cơ khí nặng Kết hợp chuyển dịch với đầu tư chiều sâu, nâng cấp, đồng bộ và hiện đại hóa các máy móc, thiết bị

c) Giải pháp về khoa học và công nghệ

- Xây dựng, ban hành và áp dụng đồng bộ và các tiêu chuẩn kinh tế - kỹ thuật cho các loại hàng hóa, các nguyên vật liệu và chi tiết tiêu chuẩn phục vụ cho ngành sản xuất thiết bị đồng bộ, các tiêu chuẩn về tiêu hao năng lượng và bảo vệ môi trường phù hợp với năng lực các nhà chế tạo Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế;

- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu, chế tạo thiết bị đồng bộ Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí cho các nhiệm vụ nghiên cứu thiết kế chế tạo các sản phẩm thiết bị đồng bộ

có ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn ngành, có khả năng nhân rộng, cạnh tranh và tham gia xuất khẩu

d) Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực

- Đa dạng hóa chương trình và hình thức đào tạo của các trường nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ cả về số lượng và chất lượng;

Trang 5

- Tăng cường cử đi đào tạo, thực tập ở nước ngoài về tư vấn, thiết kế các thiết bị trong các dây chuyền thiết bị đồng bộ, về tự động hóa và chức danh kỹ sư trưởng, tổng công trình sư, giám đốc

dự án;

- Xây dựng tiêu chuẩn kỹ sư trưởng, tổng công trình sư và các chế độ chính sách kèm theo Tăng cường thu hút lao động chất lượng cao nước ngoài làm việc lâu dài tại các doanh nghiệp trong nước

đ) Giải pháp trợ giúp

Tăng cường vai trò và hoạt động của các hiệp hội ngành hàng để củng cố quan hệ liên kết giữa các doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh, tìm kiếm phân tích các thông tin về thị trường, về công nghệ mới và thu hút đầu tư

3 MÔI TRƯỜNG

Phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường

Tầm nhìn đến năm 2025:

- Phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng trong cơ cấu phát triển ngành công nghiệp Việt Nam;

- Phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường, các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao

và ứng dụng công nghệ cao về môi trường có khả năng giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên

Nhiệm vụ:

- Lồng ghép việc phát triển ngành công nghiệp môi trường vào các chiến lược, quy hoạch phát triển ngành; chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng và địa phương

- Tổ chức nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển ngành công nghiệp môi trường:

a) Xây dựng và phát triển các tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phục vụ phát triển ngành công nghiệp môi trường;

b) Nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng nhanh, có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật mới, sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường;

c) Tăng cường hợp tác quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển ngành công nghiệp môi trường

- Đẩy mạnh việc phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường và các hoạt động chế tạo thiết bị, cung cấp sản phẩm và dịch vụ môi trường:

a) Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường thuộc mọi thành phần kinh tế và đa dạng hoá các hình thức đầu tư để phát triển ngành công nghiệp môi trường;

b) Phát triển việc chế tạo thiết bị và sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường:

- Tăng cường năng lực thiết kế, chế độ thiết bị và sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường thông qua việc đầu tư phần mềm thiết kế chuyên dụng; đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán

bộ làm công tác thiết kế, chế độ thiết bị; đầu tư cơ sở nhà xưởng, công nghệ chế tạo thiết bị và sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường;

- Hỗ trợ việc chế tạo thiết bị và sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường thông qua các chương trình nghiên cứu khoa học, chuyển giao và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển ngành công nghiệp môi trường Đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ để sản xuất thiết bị và sản phẩm bảo vệ môi trường có hàm lượng công nghệ cao;

Trang 6

- Tăng cường liên kết giữa cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp để phát triển việc chế tạo thiết bị và sản xuất sản phẩm bảo vệ môi trường

c) Đẩy mạnh phát triển hoạt động dịch vụ môi trường:

- Hình thành và phát triển mạng lưới tổ chức dịch vụ môi trường, bao gồm: dịch vụ quan trắc môi trường; dịch vụ phân tích môi trường; dịch vụ tư vấn đánh giá tác động môi trường, kiểm toán môi trường, áp dụng sản xuất sạch hơn; dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải; dịch vụ thiết kế, chế tạo, xây dựng hệ thống xử lý môi trường; dịch vụ tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực về bảo vệ môi trường;

- Tăng cường liên kết giữa cơ quan nghiên cứu, doanh nghiệp chế tạo thiết bị và tổ chức dịch vụ để nâng cao năng lực và hoạt động dịch vụ môi trường

Kinh phí để thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Đề án được huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau: vốn ngân sách nhà nước; vốn của các tổ chức, cá nhân, nhất là của doanh nghiệp trong nước; vốn viện trợ, tài trợ, đầu tư của các nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài và các nguồn vốn hợp pháp khác

Phê duyệt về nguyên tắc 5 dự án thành phần để thực hiện các nội dung, nhiệm vụ của Đề án (phụ lục chi tiết kèm theo) Tổng kinh phí từ nguồn vốn ngân sách nhà nước để thực hiện 5 dự án thành phần trong giai đoạn 2009 – 2015 dự kiến là 150 tỷ đồng trên cơ sở tổng hợp kinh phí của từng dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật

Giải pháp:

Về đầu tư, tài chính và thị trường:

a) Nhà nước hỗ trợ qua tín dụng nhà nước để phát triển ngành công nghiệp môi trường; b) Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường;

c) Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường được hưởng các chính sách ưu đãi cao nhất về đất đai, vốn, thuế theo quy định của pháp luật;

d) Khuyến khích các tổ chức và cá nhân lập quỹ bảo vệ môi trường, phát triển các công cụ kinh tế để đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường;

đ) Tạo lập và phát triển thị trường thuận lợi cho các hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp môi trường

Giải pháp về khoa học và công nghệ:

a) Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao có hiệu quả các công nghệ mới, sản phẩm mới tạo ra ở trong nước vào các hoạt động thuộc lĩnh vực công nghiệp môi trường;

b) Khuyến khích áp dụng công nghệ, máy móc, thiết bị, sản phẩm bảo vệ môi trường tiên tiến, hiện đại phục vụ phát triển bền vững ngành công nghiệp môi trường;

c) Gắn kết chặt chẽ các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ của các viện nghiên cứu, trường đại học với các doanh nghiệp công nghiệp môi trường

ĐIỀU CHỈNH THEO CAM KẾT WTO

Trong lĩnh vực công nghiệp, theo cam kết WTO, Việt Nam phải cắt giảm 9.400 dòng thuế với mức cắt giảm khoảng 24% so với trước đây Việt Nam phải cắt giảm nhiều hình thức trợ cấp cho doanh nghiệp, chỉ giữ lại các hình thức trợ cấp được phép (hỗ trợ nghiên cứu phát triển, bảo vệ môi trường ); loại bỏ các hình thức trợ cấp xuất khẩu hoặc thay thế hàng nhập khẩu Vòng đàm phán Doha được thông qua, các DNN&V công nghiệp Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn trước sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu Cụ thể, nhóm các sản phẩm điện tử dân dụng hiện đang được bảo

hộ ở mức cao với mức thuế suất trung bình từ 30% – 50% là nhóm các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng thấp do chủ yếu là gia công và lắp ráp; do đó, năng lực cạnh tranh sẽ bị giảm khi thực

Trang 7

hiện lộ trình giảm thuế Bên cạnh đó, nhóm các sản phẩm dệt may và da giày, nông thuỷ sản chế biến cũng sẽ có những khó khăn khi sự cạnh tranh từ hàng hoá các nước ngày càng mạnh nếu các nước tiếp tục có yêu cầu mở cửa và đạt được kết quả này qua Vòng đàm phán Doha

SỐ LIỆU THAM KHẢO KHÁC

- Tính đến năm 2006 Việt Nam có 3.700 DNNN, trên 4.200 doanh nghiệp có vốn ĐTNN

- Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, có trên 131.300 doanh nghiệp chính thức hoạt động tại Việt Nam tính đến cuối năm 2006 Những doanh nghiệp này sử dụng trên 6,7 triệu lao động; có tổng doanh thu đạt trên 2.750 ngàn tỷ đồng; tạo ra lợi nhuận ròng với giá trị trên 168 ngàn tỷ đồng; và đóng góp trên 192 ngàn tỷ đồng vào tổng thu ngân sách nhà nước

- Số DNN&V thành lập mới trong giai đoạn 2006 - 2010 là 320.000 (hàng năm tăng khoảng 22%);

- Tỷ lệ tăng trưởng DNN&V thành lập mới tại các tỉnh khó khăn nhất là 15% đến năm 2010;

- Trên 53% DNN&V nước ta chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và thương mại (Báo cáo thường niên doanh nghiệp vừa và nhỏ khác);

Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công nghiệp: Số lượng tăng nhanh nhưng chất lượng ít cải thiện

Khởi tạo bởi : www_vinasme | Đăng bởi : www_vinasme | Cập nhật: 29/09/2009 16:56

Theo Cục Công nghiệp địa phương thuộc Bộ Công Thương, tính trong 5 năm gần đây, số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và doanh nghiệp công nghiệp dân doanh nói riêng

đã “phát triển mạnh về lượng”, nhưng chỉ cải thiện “một phần về chất”

“Lượng” tăng nhanh

Bình quân trong giai đoạn 2002 đến 2006, số DN dân doanh tăng gần 22%/năm, số vốn tăng trên 45%/năm Năm 2006, cả nước có khoảng 245 nghìn DNVVN hoạt động trong các ngành (trong đó trên 240 nghìn doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước

Năm 2007 con số này là khoảng 310 nghìn doanh nghiệp, năm 2008 là khoảng 335 nghìn doanh nghiệp, gần 3 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 20.000 hợp tác xã Số lượng DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp thường chiếm 29-30% tổng số chung (tương đương khoảng 106 nghìn doanh nghiệp)

Sự phát triển của các DNVVN có sự khác nhau giữa các vùng Nếu xét theo số lượng thì số các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ ở các vùng chênh lệch nhau tương đối lớn, tập trung chủ yếu ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, xét về tốc độ tăng bình quân thì báo cáo ghi nhận “các vùng đều có sự phát triển số lượng doanh nghiệp” Theo đó, tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2003-2007 của các vùng như sau: Vùng Đồng bằng Bắc bộ: tăng 4,5%; Vùng Đông Bắc: 5,5%; Vùng Tây Bắc: 2,6%; vùng Bắc Trung Bộ: 5,8%; Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: 4,9%; vùng Đông Nam Bộ: trên 6,5%; vùng Tây Nam Bộ: 3,5 %

Trang 8

Trong nhiều ngành sản xuất, các doanh nghiệp dân doanh công nghiệp đang giữ vị trí khá quan trọng, ví dụ như: Trong ngành sản xuất, phân phối điện, nước, khí đốt, doanh nghiệp dân doanh chiếm trên 61%; Khai thác mỏ là trên 83%; Công nghiệp chế biến trên 86%; Sửa chữa xe có động

cơ, mô tô, xe máy, đồ dùng 93%; Sản xuất giấy 88%

nhưng “chất” tăng chậm

Báo cáo đánh giá khu vực doanh nghiệp dân doanh đã có những “đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đẩy nhanh chuyển dịch lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương, khơi dậy nhiều ngành nghề truyền thống ở nông thôn và miền núi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa (…)” Đáng chú ý là các doanh nghiệp dân doanh đang tạo công ăn việc làm cho gần ba triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP, chiếm tỷ trọng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp gần 15% tổng thu ngân sách Nhà nước

Tuy nhiên, sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng không đồng nghĩa với sự cải thiện cả về chất lượng doanh nghiệp Điểm yếu “kinh niên” của các doanh nghiệp dân doanh hiện nay là tiềm lực kinh tế yếu, hiệu quả hoạt động còn thấp Trong khi trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh chưa chuyên nghiệp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Doanh nghiệp dân doanh thường thiếu vốn để hoạt động và đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư chiều sâu Hơn nữa, trình độ hạch toán, quản lý tài chính còn thấp, chưa có khả năng xây dựng phương án kinh doanh thuyết phục khi vay vốn, chủ doanh nghiệp thiếu năng lực huy động vốn và quan hệ tín dụng

Về kỹ thuật và công nghệ, dưới 10% số doanh nghiệp có công nghệ, thiết bị tiên tiến, còn lại trên 90% đang sử dụng công nghệ trung bình hoặc lạc hậu, mức độ đầu tư đổi mới công nghệ thấp, do

đó sức cạnh tranh sản phẩm yếu, ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên ( nguyên vật liệu, nhiên liệu, năng lượng …) và bảo vệ môi trường Sự tham gia và thụ hưởng của doanh nghiệp dân doanh đối với các dịch vụ đào tạo về quản trị, tư vấn tài chính, kế toán, thuế, tư vấn quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin… còn rất hạn chế Năng lực tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường, nhất là những thị trường “khó tính” ngoài nước cũng là một hạn chế đáng kể

Những điểm yếu và thiếu do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan đã làm cho chất lượng của khu vực DNVVN dân doanh luôn “lỗi” nhịp với tốc độ gia tăng về số lượng Nếu Chính phủ không kịp thời có chính sách điều chỉnh và hỗ trợ doanh nghiệp hợp lý thì sự phình to về số lượng (trong khi chất lượng chậm được cải thiện) sẽ là một gánh nặng đáng kể đối với nền kinh tế

Theo KTĐT

Ngày đăng: 07/12/2015, 14:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w