1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo hiện trạng chung của Ngành công nghệ thông tin và truyền thông

16 234 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 119 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, và là yếu tố sống còn đối với các ngành đòi hỏi hội nhập quốc tế cao như ngân hàng, viễn thông, hàng

Trang 1

BÁO CÁO Hiện trạng chung về công nghệ của Doanh nghiệp ngành công nghệ thông tin và truyền thông

Trong những năm vừa qua Công nghệ thông tin và Truyền thông (CNTT-TT) Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã triển khai mạng viễn thông thế hệ mới (NGN) hội tụ các công nghệ viễn thông mới của thế giới,các công nghệ truyền dẫn quang DWDM, công nghệ vô tuyến WiMax đã được nghiên cứu và triển khai thử nghiệm trên mạng viễn thông Việt Nam Ngành Bưu điện là ngành đi đầu thực hiện sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện thành công hai giai đoạn của chiến lược “Tăng tốc” 1993-1995; 1996-2000 và đang thực hiện chiến lược “Hội nhập và Phát triển” 2001-2010 Sau 20 năm đổi mới, ngành BCVT & CNTT Việt Nam đã có bước phát triển đột phá, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, ngoại giao và bảo đảm an ninh, quốc phòng đất nước, được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua các phần thưởng cao quý: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất Những năm qua, môi trường pháp lí trong lĩnh vực BCVT & CNTT tiếp tục được hoàn thiện cho phát triển, đã đáp ứng được điều kiện thực tiễn của Việt Nam và các cam kết quốc tế về BCVT & CNTT khi Việt Nam gia nhập WTO, đã tạo nên thị trường BCVT & CNTT có sự tăng trưởng mạnh Viễn thông Việt Nam hiện đang duy trì tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới, năm sau gần gấp đôi năm trước Một dấu mốc đáng ghi nhớ vào ngày 17/2/2007 (Mùng 1 Tết Đinh Hợi), ngành BCVT đã hoàn thành trước 4 năm chỉ tiêu phát triển máy điện thoại (35 máy/100 dân) mà Đại hội X của Đảng đã đề ra

Các thành tựu quan trọng trong giai đoạn 2001-2005

Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý nhà nước đối với lĩnh vực CNTT đã được đổi mới và tăng cường Đã có nhiều Bộ, ngành, cơ quan Đảng và địa phương thành lập Ban chỉ đạo CNTT của mình Đặc biệt, trong năm 2002 Bộ Bưu chính Viễn thông được thành lập và được giao thống nhất quản lý nhà nước về viễn thông và CNTT Đã

có 63/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có sở Bưu chính Viễn thông chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về bưu chính viễn thông và CNTT tại địa phương

Môi trường pháp lý cho ứng dụng và phát triển CNTT được cải thiện Chỉ thị

58 đã là nền tảng cho sự ra đời của nhiều cơ chế, chính sách thuận lợi, thúc đẩy việc ứng dụng và phát triển CNTT của nước ta Hơn 30 văn bản quy phạm pháp luật về CNTT và truyền thông đã được phê duyệt nổi bật như Luật Giao dịch điện tử; Luật CNTT, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông

Ứng dụng CNTT trong các cơ quan Đảng và Nhà nước có bước thay đổi lớn

Hệ thống tổ chức chỉ đạo và quản lý Nhà nước đối với CNTT được tăng cường Trước

Trang 2

năm 2000, số bộ, ngành có trang tin điện tử rất ít Hiện nay, có 22/26 bộ, 56/64 tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương đã có website chính thức, góp phần hiện đại hoá nền hành chính và tạo tiền đề cho việc phát triển Chính phủ điện tử

Ứng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh và là yếu tố sống còn đối với các ngành đòi hỏi hội nhập quốc tế và cạnh tranh cao như ngân hàng, viễn thông, hàng không, Các ứng dụng CNTT phục vụ giáo dục, y tế, thể thao,văn hoá, xã hội, nông nghiệp và phát triển nông thôn bước đầu phục vụ nhu cầu thiết thực của cộng đồng

Trong lĩnh vực CNTT, công nghiệp phần cứng phát triển ổn định với tốc độ khá Công nghiệp phần mềm trên đà phát triển tốt theo xu hướng xuất khẩu phần mềm Việt Nam được tổ chức Kearney (Mỹ) đánh giá là một trong 25 quốc gia có sức hấp dẫn nhất về sản xuất phần mềm Ứng dụng CNTT đã trở thành yếu tố quan trọng trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, và là yếu tố sống còn đối với các ngành đòi hỏi hội nhập quốc tế cao như ngân hàng, viễn thông, hàng không…

Nguồn nhân lực CNTT phát triển nhanh với các hình thức đào tạo đa dạng Số lượng các cơ sở đào tạo chính quy đại học và cao đẳng về CNTT tăng lên đáng kể so với năm 2000, trong đó đào tạo đại học từ 42 lên 62, cao đẳng từ 36 lên 71 Hiện cả nước có 27 khoa CNTT Số lượng tuyển sinh đào tạo đại học và cao đẳng về CNTT tăng nhanh (năm 2000: 4.000, năm 2001: 6.000, các năm 2002 và 2003 mỗi năm 9.000; các năm 2004 và 2005 mỗi năm 10.000); tổng số chỉ tiêu tuyển sinh CNTT cho

cả giai đoạn 2001 - 2005 là 44.000

Đáng ghi nhận là việc mạng thông tin quốc gia phát triển nhanh với nhiều loại hình dịch vụ, chất lượng ngày một tốt hơn Giá cước giảm mạnh trên cơ sở xoá bỏ độc quyền doanh nghiệp Giá cước viễn thông Việt Nam đã giảm rất nhiều và hiện ở mức trung bình thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Cước ADSL thấp hơn Singapore Thái Lan, Phillipine, Malaysia, ngang bằng với Indonesia…Cước di động trả trước của Việt Nam thấp hơn rất nhiều so với các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Singapore…Thị trường viễn thông Việt Nam trong vài năm gần đây tăng trưởng trung bình với tốc độ thuộc hàng cao nhất thế giới, tới 25% mỗi năm Ở thời điểm hiện tại, Việt Nam đã vượt qua một số nước trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc về mức độ sử dụng dịch vụ

Nhằm chuẩn bị cho giai đoạn 2006 - 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt: Chiến lược Phát triển CNTT và Truyền thông (CNTT&TT) Việt Nam đến 2010 và định hướng đến 2020; Kế hoạch Tổng thể phát triển TMĐT đến 2010; Chương trình Phát triển nguồn nhân lực CNTT đến 2010; Dự án phát triển CNTT&TT Việt Nam,

Đề án Hỗ trợ DN ứng dụng CNTT phục vụ hội nhập và phát triển, Chương trình phát triển công nghiệp phần mềm, Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số, đang xem xét phê duyệt Quy hoạch phát triển CNTT&TT Việt Nam đến 2020 Bộ Bưu chính, Viễn thông đang khẩn trương xây dựng Chương trình Quốc gia về ứng dụng

Trang 3

CNTT trong các cơ quan nhà nước và Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến 2020 Trên cơ sở các văn bản này và chiến lược phát triển của các ngành, lĩnh vực và địa phương, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch ứng dụng và phát triển CNTT giai đoạn 2006-2010 của đơn vị mình

Nguồn vốn phân bổ cho các dự án của Việt Nam vừa nhỏ giọt, vừa dàn trải, chưa quán triệt chủ trương ưu tiên đầu tư cho ứng dụng và phát triển CNTT Cách phân bổ ngân sách không theo trọng điểm và nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch, mang màu sắc cảm tính của cơ chế “xin – cho”

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch Đầu tư, toàn bộ các dự án, chương trình của Kế hoạch Tổng thể được phân bổ trong mục “Đề án 95 và chương trình phần mềm nguồn mở” bên cạnh Đề án 112 và Đề án 47 Tuy nhiên, phần lớn các dự án được đầu tư dưới danh nghĩa Đề án 95 không có trong danh mục chương trình và dự án trọng điểm của Kế hoạch Tổng thể Mặt khác, việc huy động các doanh nghiệp tham gia đầu tư ứng dụng CNTT hầu như không có

Hạn chế về nguồn lực khiến hầu hết các chương trình, dự án liên quan đến ứng dụng và phát triển CNTT trong giai đoạn 2001 – 2005 bị đình trệ Trong số 4 chương trình trọng điểm, duy nhất có Chương trình phát triển nguồn nhân lực CNTT là xây dựng xong kế hoạch triển khai cụ thể được phê duyệt với 6 dự án, đề án Chương trình này sau đó chưa triển khai được vì không có cơ chế huy động nguồn tài chính riêng Thay vào đó là nguồn tiền hạn chế từ Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và các nguồn tài trợ

Hai chương trình xây dựng và phát triển công nghiệp phần cứng và phần mềm đều không đạt được tiến trình như dự kiến Các chỉ tiêu liên quan đều không đạt được Doanh thu dự kiến từ công nghiệp phần mềm đạt 500 triệu USD, trong đó xuất khẩu

200 triệu USD, chỉ đạt 45% chỉ tiêu, doanh thu xuất khẩu đạt 35%

Duy nhất có Chương trình Xây dựng và nâng cấp kết cấu hạ tầng viễn thông và Internet, tuy không được xây dựng trong Kế hoạch Tổng thể, nhưng lại có nhiều nội dung liên quan được triển khai nhất Nguyên nhân là vì ngày 8/2/2002, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam 2001 – 2005

Theo ước tính, ngân sách đầu tư cho CNTT Việt Nam trong giai đoạn từ năm

2001 – 2005 từ các nguồn khác nhau chưa tới 0,4% GDP, thấp hơn nhiều lần so với con số 2% GPD đề ra trong Kế hoạch Tổng thể Xu hướng tăng của lượng tiền đổ vào lĩnh vực này tăng từ 30 – 50% mỗi năm Tuy nhiên, do xuất phát điểm quá thấp nên không đáp ứng được nhu cầu để có sự phát triển nhảy vọt

I Về bưu chính viễn thông Năm 2008, Doanh thu viễn thông đã đạt 5,1 tỷ USD trong đó dịch vụ cố định

570 triệu USD, dịch vụ di động 3,2 tỷ USD, dịch vụ Internet 250 triệu USD Các dịch

vụ viễn thông mới như IP TV, Mobile TV, cũng đã được triển khai trên mạng viễn

Trang 4

thông Việt Nam Về thông tin di động các công ty thông tin di động đang tích cực triển khai mạng di động thế hệ thứ 3 (di động 3G) đưa vào khai thác sẽ mở ra khả năng phát triển các dịch vụ đáp ứng các nhu cầu phát triển của kinh tế xã hội hiện đại

Có thể nói về các công nghệ viễn thông đang ứng dụng tại Việt Nam đạt trình độ quốc

tế, chúng ta đã sử dụng các công nghệ hiện đại với xu hướng phát triển mạng hội tụ IMF các doanh nghiệp viễn thông lớn như VNPT,Vietel đã từng bước triển khai mạng

hạ tầng cơ sở băng thông rộng, dung lượng lớn

 Lĩnh vực Viễn thông Sau thời kỳ số hóa trong lĩnh vực điện thoại,

đã đáp ứng được nhu cầu thông tin cơ bản của thông tin, ngày nay ngành viễn thông đã phát triển mạnh đạt trình độ cao ngang tầm với các nước phát triển Hạ tầng mạng đã và đang triển khai mạng viễn thông thế hệ mới NGN

và trong lộ trình triển khai hạ tầng mạng truyền tải băng rộng dung lượng lớn theo xu hướng mạng hội tụ IMF tạo cơ sở cho phát triển các dịch vụ internet băng rộng, di động 3G Công nghệ quản lý viễn thông tiên tiến cũng đang được triển khai áp dụng trong các doanh nghiệp viến thông như công nghệ quản lý viễn thông thế hệ mới NGOSS, công nghệ quản lý tính cước

và chăm sóc khách hàng BCS, Call center… Các doanh nghiệp lớn đã tứng bước triển khai xây dựng các trung tâm, kho dữ liệu tập trung của doanh nghiệp như VNPT hay tại các khu chế xuất, khu công nghệ cao đạt tiêu chuẩn quốc tê ISO 17799 Các công ty di động (hiện có 7 công ty được cấp phép) đã triển khai nhanh, mạnh mẽ, có tính cạnh tranh cao có nhiều bước công nghệ đột phá lớn đáp ứng nhu cầu thông tin cho người dùng ở thành thị và nông thôn vùng sâu vùng xa được hưởng các công nghệ mới này Hình thành các doanh nghiệp cổ phần dịch vụ giá trị gia tăng phát triển mạnh, trình độ ứng dụng CNTT tạo các phần mềm dịch vụ giá trị gia tăng trên di động,internet đã tạo các tiện ích về nhu cầu thông tin, quảng cáo, giải trí nhanh chóng và thuận tiện cho người dùng

 Lĩnh vực Bưu chính đang từng bước thay đổi qui trình trong ngành Bưu chính để có thể hội nhập, tránh lạc hậu so với thế giới Các sản phẩm bưu chính truyền thống như thư, bưu phẩm bưu kiện đổi mới qui trình, từng bước cơ giới hóa tự động hóa ứng dụng công nghệ mã vạch trong chia chọn thư, bưu phẩm, bưu kiện, Tổng công ty Bưu chính Việt nam đã triển khai ứng dụng tổng thể CNTT trong bưu chính như chuyển phát nhanh, theo dõi và quản lý bưu phẩm bưu kiện, chuyển tiền, nhiều công nghệ mới được áp dụng như công nghệ RFID trong bưu chính…đang thử nghiệm để áp dụng trong toàn quốc

II Về công nghệ thông tin – truyền thông

Công nghiệp CNTT-TT cũng có mức tăng trưởng vượt bậc, bình quân đạt 25%/ năm Công nghiệp phần cứng máy tính đạt khoảng 700 triệu USD (tăng 16%); Năm

2007, cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp có đăng ký sản xuất kinh doanh về phần

Trang 5

mềm, tuy nhiên các doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh thường có tâm lý ghi nhiều ngành nghề (từ 10-40 hạng mục kinh doanh) để dễ hoạt động, do đó số doanh nghiệp thực sự sản xuất phần mềm ít hơn số đăng ký rất nhiều Để xác định số doanh nghiệp thực sự làm phần mềm, Hội tin học TP HCM (HCA) sử dụng phương pháp thống kê 50/50, trong đó một doanh nghiệp sẽ được coi là doanh nghiệp chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực CNTT, nếu có trên một nửa số hạng mục đăng ký kinh doanh (từ 50% trở lên) thuộc lĩnh vực CNTT, và doanh nghiệp CNTT đó sẽ được coi là DNPM nếu

có từ 50% doanh số CNTT trở lên là doanh số phần mềm Năm 2007 doanh thu của ngành phần mềm là gần 500 triệu USD( đạt chỉ tiêu CP đề ra), năm 2008 670 triệu USD (tăng 35%) và mục tiêu năm 2010 là 800 triệu USD Công nghiệp nội dung số đạt khoảng 270 triệu USD (tăng 50%)., ứng dụng công nghệ thông tin cũng có những bước phát triển khá mạnh CNTT đã được ứng dụng sâu rộng trong khá nhiều lĩnh vực đời sống xã hội như, viễn thông, ngân hàng, tài chính, Công nghiệp phần mềm đang từng bước phát triển trước mắt là gia công phần mềm, phát triển phần mềm quản lý, các phần mềm dịch vụ giá trị gia tăng trong viễn thông, các thiết bị tự động trong nước, đẩy mạnh phát triển phần mềm nguồn mở,phần mềm nội dung số tuy mới hình thành và triển nhưng rất có tiềm năng trong các lĩnh vực giải trí, truyền hình, phim hoạt hình, đồ họa, trò chơi trực tuyến trên Imnternet, di động Hiện nay chúng ta cũng đang chú trọng đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước, bao gồm ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điều hành cũng như ứng dụng CNTT phục vụ người dân và doanh nghiệp

III. Công nghệ truyền hình Công nghệ truyền hình có bước phát triển theo kịp trình độ phát triển cảu các nước phát triển Hạ tầng truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình đã và đang ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới và đang trong lộ trình chuyển đổi từ công nghệ tương tự (analog) sang công nghệ số và đa dang hóa tuyền hình như truyền hình mặt đát, truyền hình qua vệ tinh, truyền hình cáp, truyền hình di động

Lĩnh vực phát thanh truyền hình đang trong lộ trình chuyển đổi công nghệ từ tương tự sang số, đa dạng hóa công nghệ truyền hình:

 Truyền hình mặt đất (quảng bá): Công nghệ Analog và Số mặt đất theo chuẩn DVB-T (Châu Âu)

 Truyền hình cáp: Công nghệ lai ghép: Số + tương tự, truyền dẫn cáp quang + cáp đồng trục

 Truyền hình Vệ tinh: Đài VTV - Dùng công nghệ truyền hình số

về tinh thế hệ thứ nhất (DVB-S), (dịch vụ DTH)

Đài VTC sử dụng Công nghệ truyền hình số vệ tinh thế hệ 2 (DVB-S2) - Công nghệ tiên tiến nhất theo chuẩn truyền hình của Châu Âu đều sử dụng Vệ tinh VINASAT của Việt Nam

Trang 6

 Truyền hình di động trên máy cầm tay: Công nghệ DVB-H của VTC, đã triển khai dịch vụ từ cuối năm 2006, ngoài ra có thử nghiệm Công nghệ DMB (hàn quốc, Nhật Bản) cho phát thanh số và truyền hình di động cầm tay Triển vọng phát triển cả truyền hình VoD trên máy điện thoại di động 3G

 Truyền hình Internet: IP TV đang triển khai mạnh ở các Thành phố lớn, nơi có hạ tầng Internet băng rộng phát triển

 Truyền hình số kết hợp phát thanh số Nâng cao chất lượng dịch vụ nội dung và khả năng tiếp cận thông tin

 Đã triển khai công nghệ truyền hình độ phân giải cao HD-TV trên truyền hình Vệ tinh và trên cáp (chuẩn DVB-C)

 Có khả năng thu xem truyền hình "mọi lúc, mọi nơi": Vùng phủ sóng vệ tinh toàn lãnh thổ VN, và vài nước lân cận, có thể sử dụng máy cầm tay để xem truyền hình di động, xem truyền hình qua Internet

 Đang tiến hành quy hoạch lại mạng truyền dẫn phát sóng phát thanh truyền hình

IV Lĩnh vực công nghiệp điện tử, viễn thông Trong thời gian qua, ngành công nghiệp CNTT Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể Tốc độ phát triển trung bình trong 5 năm gần đây đạt từ 20-30%, các doanh nghiệp chủ yếu tập trung ở 3 trung tâm kinh tế lớn của cả nước đó là Tp.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

đã đạt hơn 48 tỷ USD, trong đó xuất khẩu hàng điện tử, máy tính đạt 2,178 tỉ USD chiếm 4,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu (các doanh nghiệp FDI chiếm tỉ trọng 90%), là một trong những mặt hàng đạt doanh thu cao nhất, đáp ứng được 80% nhu cầu tiêu thụ trong nước Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm điện tử, máy tính năm 2008 đạt 2,7 tỉ USD, doanh thu 4.5 tỉ USD tăng 25% so với năm 2007

Công nghiệp điện tử khẳng định là một trụ cột vững chãi của toàn ngành Các sản phẩm điện tử sản xuất trong nước không những đã đáp ứng được 80% nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới

Hiện tại, vai trò đầu tàu của ngành thuộc về các doanh nghiệp FDI định hướng xuất khẩu, các doanh nghiệp này thường hoạt động trên quy mô lớn, sử dụng hầu hết các nguyên vật liệu, phụ tùng linh kiện nhập khẩu và ảnh hưởng lớn đến tổng sản lượng ngành hàng cũng như kim ngạch xuất khẩu của công nghiệp điện tử Việt Nam

Cơ cấu sản phẩm đang có sự mất cân đối, trong khi giá trị sản phẩm điện tử tiêu dùng lên tới 80% thì các sản phẩm chuyên dùng chỉ chiếm 20% tổng giá trị toàn ngành Số lượng, chủng loại các sản phẩm điện tử chuyên dụng được sản xuất tại Việt Nam còn hạn chế, trong đó đáng kể nhất là sản xuất các trang thiết bị điện tử viễn thông Một số sản phẩm chính bao gồm: tổng đài điện tử kỹ thuật số, thiết bị truyền dẫn quang và vi ba số, phụ kiện, các thiết bị mạng ngoại vi, các thiết bị nguồn điện viễn thông, các sản phẩm phục vụ bưu chính và các sản phẩm in ấn, thẻ viễn thông…

Trang 7

Cho đến nay, phần lớn các doanh nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông đều thuộc tập đoàn BCVT Việt Nam (VNPT) với tổng số khoảng 20 nhà máy, xí nghiệp, gồm 3 loại hình doanh nghiệp là khối doanh nghiệp nhà nước, khối công ty cổ phẩn và khối liên doanh 17 đơn vị đã có chứng chỉ hệ thống đảm bảo chất lượng ISO-9000 Các đơn vị công nghiệp bao gồm 5 công ty liêndoanh với các hãng nước ngoài, 14 công ty

cổ phần và 01 công ty TNHH 1 thành viên hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất và cung cấp các sản phẩm chủ yếu như thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn, cáp quang, cáp đồng, nguồn viễn thông, thẻ viễn thông, máy điện thoại, sản phẩm in ấn và các trang thiết bị khác phục vụ cho ngành viễn thông và đáp ứng một phần cho nền kinh tế đất nước

Hiện nay, các sản phẩm chính của các doanh nghiệp trong khối công nghiệp VNPT như sau:

1 Thiết bị tổng đài Các Cty Liên doanh ANSV, TELEQ, VINECO, VKX

2 Thiết bị truyền dẫn VFT, CT-IN, VITECO

3 Máy đầu cuối POSTEF, VKX, CT-IN

4 Cáp quang VINA-OFC, FOCAL, LTC, VINA-CAP,

PMC, SACOM, POSTEF

5 Cáp đồng VINA-CAP, SACOM, POSTEF, PMC, PCM, COKYVINA

6 Ống nhựa các loại SACOM, POSTEF, PMC, PTIC

7 Các loại thẻ viễn thông VTC, Cty In BĐ

Một loạt các sản phẩm mới được phát triển và đưa ra thị trường tiêu thụ, tiêu biểu là điện thoại 1717, điện thoại dùng tiền xu, nguồn máy tính,thiết bị cắt lọc sét, điện thoại hiển thị số có màn hình LCD, cáp quang truy nhập ít sợi, cáp PCM tần số cao và thiết bị truyền dẫn quang, BTS và BSC, thẻ cào và thẻ SIM và các sản phẩm phụ trợ khác cho mạng ngoại vi

Công nghiệp sản xuất thiết bị viễn thông đang tập trung đầu tư chiều sâu và phát triển các sản phẩm công nghệ cao, tiêu biểu là các dự án sản xuất card thuê bao, card phòng vệ tổng đài vệ tinh CSNMM của liên doanh ANSV, thiết bị thông tin di động công nghệ CDMA của VKX, cáp LAN của SACOM, thẻ cào và thẻ SIM của công ty In Bưu điện và công ty VTC

Tại những liên doanh sản xuất thiết bị chuyển mạch và thiết bị truyền dẫn ANSV, VKX, TELEQ, VFT, VINECO phía Việt nam đã làm chủ được khâu lắp ráp CKD, SKD một số chủng loại card trong tổng đài, thiết bị truyền dẫn, công suất thiết

kế của các dây chuyền sản xuất nhỏ, chỉ đáp ứng với nhu cầu của Tập đoàn là chính, không có khả năng tự nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới mà chỉ sản xuất được các sản phẩm do đối tác chuyển giao

Trang 8

Đối với việc sản xuất thiết bị đầu cuối, các liên doanh, cổ phần VITECO, POSTEF, VKX, CT-IN, ANSV đã chủ động đầu tư trang bị các dây chuyền tương đối đồng bộ, có máy hàn dán linh kiện bề mặt SMT hiện đại, máy hàn 2 sóng, máy cắm chân linh kiện tự động, buồng kiểm tra hệ thống thiết bị trong điều kiện nhiệt độ, môi trường và độ ẩm khác nhau với mức độ tự động hóa cao Các cán bộ Việt nam đã nắm bắt, khai thác được một số phần mềm điều khiển thiết bị, công nghệ lắp đặt, khai thác bảo dưỡng và hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng Sản phẩm được đánh giá là tương đối phong phú, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển mạng viễn thông, chất lượng tương đương thiết bị công nghệ cao của khu vực

Tại các liên doanh, cổ phần sản xuất cáp quang, cáp đồng VINA-OFC, FOCAL, LTC, VINA-CAP, PMC, POSTEF, kỹ sư công nghân Việt Nam làm chủ hoàn toàn về công nghệ trong sản xuất Thông qua chuyển giao công nghệ các cán bộ Việt Nam tự nghiên cứu phát triển một số sản phẩm cáp quang, cáp đồng mới với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài

Việc sản xuất thẻ viễn thông do các công ty VTC, IN Bưu điện thực hiện, hiện tại mới chỉ lắp ráp gồm các công đoạn đục lỗ, gắn chíp và nạp phần mềm, in quảng cáo trên thẻ Tuy nhiên, do đầu tư còn nhỏ, sản lượng thấp nên khả năng cạnh tranh với các hãng nước ngoài để chiếm lĩnh thị trờng nội địa và xuất khẩu còn gặp khó khăn

V. Dịch vụ Internet Việt Nam Cách đây mười năm, ngày 19/11/1997, dịch vụ Internet chính thức có mặt tại Việt Nam Hạ tầng ban đầu chỉ có tốc độ 64Kbps khi kết nối quốc tế và dung lượng chỉ đủ cho khoảng 300 người sử dụng Lúc đó, chỉ có một DN cung cấp hệ thống đường trục kết nối trong nước và quốc tế (IXP) là VNPT cùng bốn nhà cung cấp dịch

vụ Internet (ISP) là VNPT, FPT, SPT và Netnam Khách hàng đầu tiên là những cán

bộ cao cấp của các cơ quan ban ngành, sử dụng với mục đích là giới thiệu với các cấp lãnh đạo cao hơn để vận động “mở cửa” cho Internet

Cho đến nay, qua 10 năm phát triển, Internet Việt Nam đã sánh vai cùng các quốc gia trên thế giới, ngày càng có nhiều các IXP và ISP Giờ đây, Internet đã trở thành dịch vụ phổ thông và thiết yếu, có ảnh hưởng sâu rộng tới thói quen, sinh hoạt, giải trí của một bộ phận người dân Việt Nam Nó không chỉ có mặt ở các đô thị mà còn lan tỏa rộng khắp 64 tỉnh thành, từ những khu dân cư đông đúc đến các bản làng

xa xôi 10 năm qua Internet đã trở thành một bộ phận cơ sở hạ tầng quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của đất nước

So với 10 năm trước, tốc độ truy cập Internet hiện nay tăng tới 7.500 lần, từ kết nối 2 Mbps đi Mỹ và Úc trước đây mở rộng thành mạng lưới tổng băng thông 10,5 Gbps đi nhiều nước khác nhau Số người sử dụng lên tới 18 triệu, chiếm 21% dân số

cả nước Tương lai Internet băng rộng sẽ mở rộng đến từng hộ gia đình và gặt hái

Trang 9

được nhiều thành công hơn nữa, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Để có được ngày hôm nay, Internet đã trải qua những mốc son đặc biệt quan trọng như Nghị định 55 (2001) xóa bỏ tính độc quyền khai thác hạ tầng kỹ thuật của VNPT và cho phép thành lập các IXP khác, đánh dấu một bước phát triển mới của Internet Việt Nam Năm 2003, dịch vụ Internet băng rộng ADSL bắt đầu được cung cấp rộng rãi, cung không đủ cầu Do đó cải thiện chất lượng băng thông, là nền tảng

để phát triển những dịch vụ gia tăng Bộ BCVT và Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã

ký kết thỏa thuận đưa Internet vào trường học Năm 2005 xuất hiện sự bùng nổ của các công nghiệp nội dung Từ 4 dịch vụ cơ bản đầu tiên (email, duyệt web, lưu trữ

và truy vấn thông tin), đến nay Internet Việt Nam đã có hầu hết dịch vụ tiên tiến trên thế giới như chat, VoIP, truyền hình Internet, nghe nhạc, xem video theo yêu cầu, truyền thông hội tụ

Các mốc chính trong 10 năm phát triển Internet Việt Nam

- Tháng 3 năm 1997 Chính phủ thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet

ở Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường Phạm Gia Khiêm làm Trưởng ban, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Bưu Điện Mai Liêm Trực làm Phó Trưởng ban và các Uỷ viên là lãnh đạo các cơ quan Bộ Văn hoá Thông tin, Bộ Nội

vụ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia;

- Tháng 8/2001 Chính phủ ban hành Nghị định 55 về "Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet" với cách tiếp cận táo bạo: "Phát triển đến đâu, quản lý tới đó", tức là đảo ngược với phương châm ban đầu

- Năm 2002 Ban Chỉ đạo quốc gia về Công nghệ thông tin được thành lập dưới

sự chỉ đạo của Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm và từ năm 2006 do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp làm Trưởng ban;

- Năm 2003 Bộ Bưu chính Viễn thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo ký thoả thuận phát triển Internet trường học

- Năm 2004 Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng lúc đó phụ trách Ngành Bưu điện chỉ đạo lấy Internet làm khâu đột phá, mở cửa và cạnh tranh Internet

- Đến nay cả nước đã có 4,3 triệu thuê bao Internet quy đổi, đáp ứng nhu cầu sử dụng của 15,5 triệu dân, đạt mật độ sử dụng 18,64 người trên 100 dân, cao hơn bình quân khu vực ASEAN và thế giới, vượt Thái Lan (12,65%), Trung Quốc (9,41%), Philippin (9,12%) và Indonesia (8,1%) tuy còn kém hơn Singapore (56,3%), Malaysia (36,65%) và đó chính là đích ta phải nhắm tới để vượt Internet đã đi vào 100% các Viện nghiên cứu, các trường Đại học và Cao đẳng, các Bệnh viện trung ương, các Tập đoàn và các Tổng Công ty Nhà nước, 98% các trường Trung học phổ

Trang 10

thông, Trung học chuyên nghiệp, 92% các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 50% các trường Trung học cơ sở, Bệnh viện cấp tỉnh Internet cũng trở thành một phần không thể thiếu được của các cơ quan, tổ chức : 26/26 Bộ Ngành, 56/64 tỉnh thành có Website

và bước đầu đã đi vào cuộc sống nhân dân tới các điểm Bưu điện-Văn hoá Xã, len lỏi

về làng, đến tận vùng sâu, vùng xa, chạm tay cả một số nông dân, ngư dân, thanh thiếu niên, người khuyết tật ham học hỏi và thích ứng dụng kỹ thuật mới

Để tiếp tục đưa Internet Việt Nam lên vị trí cao hơn tương xứng với thời cơ của đất nước, yêu cầu của cuộc sống và thích ứng độ trẻ của dân số, chúng ta cần làm tốt một số các giải pháp sau đây:

 Một là, tiếp tục nâng cao và hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nhà nước nhằm đảm bảo điều tiết sự phát triển hài hoà giữa mạng lưới băng thông rộng và nội dung thông tin đa dạng trên đó

 Hai là, nâng cao nhận thức đúng đắn về Internet cho cả người cung cấp dịch vụ và người sử dụng để Internet được phát triển và sử dụng hiệu quả, phục vụ cho tăng trưởng kinh tế xã hội và đời sống nhân dân

 Ba là, phát triển nguồn nhân lực có tri thức, người lao động biết

sử dụng Internet và từng bước tham gia "tương tác" với Internet phục vụ cho lợi ích của mình, nhân rộng các mô hình kinh doanh sáng tạo và thúc đẩy một môi trường cạnh tranh lành mạnh

 Bốn là, coi trọng hệ thống cơ sở dữ liệu, chất lượng các nội dung thông tin trên mạng, tạo lập một môi trường ảo phục vụ thực sự hiệu quả cho quốc kế dân sinh Công nghiệp phần mềm phải phục vụ được quá trình sáng tạo nội dung

 Năm là, xây dựng một hạ tầng thông tin hiện đại, đảm bảo an toàn, bảo mật, cập nhật với xu thế thế giới, là môi trường tốt cho sự hội tụ của viễn thông, Internet và phát thanh truyền hình, hội tụ giữa các thiết bị cố định và di động, phục vụ cho việc triển khai phiên bản Internet mới IPv6, tiến hành cấu trúc hệ thống máy tính mạng, máy tính rẻ, phần mềm mã nguồn mở, phần mềm phiên dịch ví dụ Việt - Anh và Anh - Việt, phần mềm nhận dạng Văn bản - Tiếng nói v.v góp phần tạo dựng một xã hội thông tin trong đó mọi người được đáp ứng mọi thông tin theo yêu cầu (tiếng nói, văn bản, hình ảnh) vào mọi lúc và ở mọi nơi

Ngày 10.5.2007, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng có buổi làm việc với lãnh đạo Bộ Bưu chính Viễn thông về triển khai nhiệm vụ năm 2007 và kế hoạch đến năm 2010 Trong báo cáo của mình, coi Internet là đầu tư cho phát triển, Bộ Bưu chính Viễn thông dự định:

Đến năm 2010: mật độ thuê bao Internet đạt 13-15% thuê bao /100 dân, số người sử dụng Internet ở Việt Nam đạt 35-40% Thủ tướng đánh giá Bưu chính, Viễn

Ngày đăng: 01/12/2015, 08:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w