Đến nay, trong lĩnh vực tư vấn thiết kế đã sử dụng rộng rãi công nghệ tin học tiên tiến và tự động hoá đã làm tăng hàm lượng khoa học của các sản phẩm thiết kế, quy hoạch; trong tư vấn k
Trang 1BÁO CÁO
VỀ HIỆN TRẠNG NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ NGÀNH XÂY DỰNG
HẠ TẦNG GIAO THÔNG
1 Hiện trạng ngành xây dựng
Theo số liệu thống kê năm 2006, giá trị sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng là 75.378 tỉ đồng, bằng 102,7% kế hoạch năm, tăng trưởng 20,4% so với cùng kỳ năm 2005, cao gần gấp 2 lần so với mức tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp và xây dựng trong cả nước (10,37%) Trong đó, giá trị sản xuất kinh doanh ước thực hiện năm 2006 của Tổng Công ty Xi-măng Việt Nam 10.259 tỉ đồng; của Tổng Công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA) là gần 10.262 tỉ đồng; của Tổng Công ty Sông Đà là 8.322 tỉ đồng Theo các nhà nghiên cứu, quản lý kinh tế, chính những thành tựu KH&CN đã góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng chung của ngành ở mức bình quân 16 - 18/năm
Hiện trạng công nghệ của ngành đã có những thay đổi đáng kể trong những năm qua Đến nay, ngành đã có năng lực thiết kế nhà cao tới 40 tầng, thêm vào đó
là khả năng kháng chấn, xử lý nền móng Tuy nhiên, mới tiếp cận kết cấu khung nhà bê tông cốt thép, lõi cứng, vách cứng… mà chưa làm chủ thiết kế theo công nghệ khung nhà kết cấu toàn thép, lõi thép hình, hỗn hợp thép hình với bê tông mác cao Trong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng tỷ trọng đầu tư đổi mới đạt cao hơn Hầu hết ở các sản phẩm đều có đầu tư đổi mới, tỷ trọng đổi mới trong lĩnh vực này đạt trên 75%, trong đó: Công nghệ sản xuất ximăng lò quay đạt trình độ tiên tiến thế giới; Công nghệ sản xuất các sản phẩm kính xây dựng đạt trình độ tiến tiến thế giới; Công nghệ sản xuất các sản phẩm gạch gốm ốp lát đạt trình độ tiên tiến thế giới và nhiều công nghệ sản xuất vật liệu mới khác được đầu tư đạt trình độ tiên tiến, cho ra sản phẩm có chất lượng cao Công nghệ trong thi công xây lắp đặc biệt phát triển nhờ hội nhập quốc tế Các công trình đầu tư của nước ngoài đã tiên phong đi đầu trong việc ứng dụng các công nghệ thi công xây dựng tiên tiến, khởi đầu cho các hoạt động cạnh tranh, đổi mới trong nước Lĩnh vực công nghệ xây dựng có nhiều đầu tư đổi mới, với tỷ trọng đạt tới trên 70% năng lực toàn ngành Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã làm chủ công nghệ xây nhà cao tầng, công nghệ xây nhà nhịp khẩu độ lớn thuộc nhiều dạng loại, làm chủ thi công các công trình ngầm Công tác kiểm định, quản lý chất lượng công trình đã có nhưng chuyển biến căn bản tỷ trọng đổi mới công nghệ, trang thiết bị đã đạt tới trên 60% năng lực công nghệ toàn ngành Đến nay, trong lĩnh vực tư vấn thiết kế đã sử dụng rộng rãi công nghệ tin học tiên tiến và tự động hoá đã làm tăng hàm lượng khoa học của các sản phẩm thiết kế, quy hoạch; trong tư vấn kiểm định, giám sát chất lượng đã có trong tay nhiều thiết bị đo kiểm hiện đại và xây dựng được quy trình quản lý, giám sát chất lượng kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến khu vực và quốc tế
Trang 2Trong thời gian tới, định hướng phát triển công nghệ của ngành xây dựng gồm nghiên cứu áp dụng công nghệ hiện đại trong công tác lập, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn; Nghiên cứu và đề xuất các hướng dẫn thiết kế đô thị, các giải pháp quy hoạch và kiến trúc đô thị và nông thôn Việt Nam theo hướng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, lồng ghép QHXD và quy hoạch môi trường, v.v ; Nghiên cứu các giải pháp kiến trúc nhà ở công nhân, nhà
ở xã hội, nhà ở cho người thu nhập thấp theo hướng công nghiệp hóa; Nghiên cứu
và áp dụng công nghệ cấp nước hiệu quả cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo; Nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng các công nghệ xử lý môi trường (rác thải, khí thải, nước thải ) Hiệu quả của công nghệ cần đạt được: xử lý triệt để, đạt hiệu quả cao về kinh tế – kỹ thuật, thay thế công nghệ nước ngoài Các giải pháp công nghệ đề xuất phải được áp dụng thí điểm và nhân rộng; Nghiên cứu, làm chủ và áp dụng công nghệ: khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng ngầm; khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình trên biển, ven biển, hải đảo; Nghiên cứu, áp dụng các giải pháp thiết kế, thi công tiên tiến cho các công trình vượt khẩu độ lớn, công trình có chiều cao lớn; Công nghệ xây dựng nhà ở hàng loạt; Công nghệ xử lý nền đất yếu; Các giải pháp kỹ thuật giảm nhẹ tác động của thiên tai lên các công trình xây dựng; Nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất VLXD và sản phẩm xây dựng như xi măng, kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát, tấm lợp và các VLXD khác có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế; Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và áp dụng các công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải làm nguyên liệu trong các dây chuyền sản xuất VLXD; Công nghệ tái sử dụng chất thải trong xây dựng; Nghiên cứu công nghệ, giải pháp nhằm tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất vật liệu xây dựng
2 Hiện trạng công nghệ lĩnh vực giao thông
Hiện tại Việt Nam có 256.684 km đường bộ; trên quốc lộ có gần 800 cầu với tổng chiều dài gần 300km; 41.900 km đường sông, kênh các loại với hàng trăm bến cảng sông; khoảng 100 cảng biển phân bổ dọc theo 25.177km bờ biển; 3.142 km đường sắt với 247 nhà ga; 19 cảng hàng không được đưa vào khai thác, đang quản
lý và điều hành các hoạt động bay trong vùng trời có diện tích khoảng 1.200.000 km2
Trong những năm qua, được nhà nước quan tâm đầu tư đã có những bước phát triển nhanh chóng, trình độ công nghệ của ngành đã có những thay đổi đáng
kể, đến nay ngành đã ban hành 13 tập tiêu chuẩn kỹ thuật công trình giao thông với tổng số trên 120 tiêu chuẩn bao gồm: tiêu chuẩn cầu, tiêu chuẩn thiết kế mặt đường mềm, tiêu chuẩn thiết kế đường ô tô, tiêu chuẩn công trình cảng biển, tiêu chuẩn thiết kế công trình hàng không v.v đây là những cơ sở quan trọng sử dụng trong thiết kế thi công các công trình giao thông Trong khảo sát, thiết kế, kiểm tra chất lượng công trình, đã mạnh dạn đầu tư trang thiết bị mới phục vụ các nội dung thăm
dò hiện trường, đánh giá điều kiện địa chất sát thực hơn với sự trợ giúp của các phần mềm, đã ứng dụng phần mềm TSW-3 trợ giúp xác định các thông số cơ bản của đất nền phục vụ cho tính toán phân tích nền móng các công trình giao thông
Trang 3Sử dụng thiết bị đo sóng hiện đại Wave – Hunter có thể đo các thông số sóng, hướng, lưu tốc dòng chảy trong mọi điều kiện khí tượng thủy văn và sử dụng thiết
bị định vị bằng vệ tinh Lasertrack Positioning System, Microfix Echotrack Sounder phục vụ cho công tác đo dạc lập bình đồ trên cạn và dưới nước trong điều kiện phức tạp của khí tượng thủy văn với độ chính xác cao Công tác thiết kế đã sử dụng rộng rãi công cụ kỹ thuật số, ứng dụng tin học, các phần mềm hiện đại như chương trình thiết kế đồ họa AutoCad, các phần mềm thiết kế RM-5, RM-7, RM 2000, RM-SPACERAME; các chương trình phân tích kết cấu SAP2000, STAADWIN… chính vì vậy ngành đã làm chủ được thiết kế các công trình cầu hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hôi Công nghệ thi công, xây lắp đã tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiến nhất hiện nay gồm công nghệ đúc hẫng cân bằng thi công cầu bê tông dự ứng lực (BTDUL) khẩu độ lớn,đến nay đã có khoảng 50 cầu đã và đang được xây dựng theo công nghệ này với chiều dài lên tới 9500m, nhịp lớn nhất 150m đang được thi công tại cầu Hàm Luông Công nghệ đúc đẩy chu ký kết cấu nhịp BTCTDUL khẩu độ trung bình, công nghệ này lần đầu được áp dụng vào cầu Mẹt năm 1995, tiếp theo là cầu Hiền Lương Công nghệ thi công kết cấu nhịp cầu BTDUL bằng phương pháp đẩy đà giáo (MSS) lần đầu tiên được áp dụng ở cầu Thanh Trì cho hệ thống cầu dẫn BTDUL chiều dài 50m Công nghệ thi công cầu treo và cầu dây văng nhịp lớn lần đầu tiên được xây dựng ở Việt Nam là cầu Mỹ Thuận có nhịp chính 350m Sau đó hàng lọat cầu được triển khai như Cầu Dakrong, cầu Sông Hàn, Cầu Kiền, Cầu Bính và cầu Bãi Cháy Cầu Rạch Miễu nhịp chính dài 270m do Việt Nam tự thiết kế, thi công với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài vừa hoàn thành năm 2009 khẳng định bước tiến mới trong xây dựng cầu ở Việt nam Công nghệ xây dựng dạng kết cấu vòm thép nhồi bê tông Đặc điểm nổi bật đây là dạng kết cấu có tính thẩm mỹ cao đã được áp dụng cho các cầu khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Cầu xóm Cửu, sắp tới sẽ áp dụng cho cầu Đông Trù
Hà Nội nhịp 120m.Công nghệ xây dựng kết cấu cầu đặc biệt trong nút giao thông lập thể Đây là kết cấu có mỹ quan kiến trúc, chiều cao thấp, cầu có cấu tạo đặc biệt như cầu cong, cầu chéo góc Hiện đã thiết kế và xây dựng hàng lọat tại các nút giao thông cầu Chương Dương,Thanh Trì, Ngã Tư Sở, Sân bay Tân Sơn Nhất Công nghệ cọc ống rung, công nghệ cọc khoan nhồi đường kính 2m, 2,5m được áp dụng rộng rãi xây dựng hàng lọat cầu lớn với địa chất phức tạp, có nơi hạ sâu tới 96m như cầu Mỹ thuận, cọc đường kính đến 3m như cầu treo Thuận Phước Trong kiểm định, quản lý chất lượng công trình đã áp dụng hệ thống quan trắc HMS được lắp tại cầu Kiền, Bãi Cháy đã làm thay đổi hẳn khái niệm về kiểm soát năng lực chịu tải của kết cấu từ kiểm tra định kỳ sang kiểm soát thường xuyên mọi phản ứng về ứng suất, biến dạng phát sinh trong kết cấu ở mọi thời điểm nhằm phát hiện kịp thời các sự cố bất thường có thể xảy ra
Trong thời gian tới ngành giao thông sẽ tiếp tục đầu tư xây dựng hàng lọat công trình giao thông có qui mô lớn và yêu cầu kỹ thuật rất cao, do vậy việc đầu tư nghiên cứu nâng cao trình độ công nghệ xây dựng của ngành là rất cần thiết và cấp bách Để đáp ứng được yêu cầu đó cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ:
Trang 4Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn xây dựng công trình giao thông một cách đồng bộ, tiếp cận và hội nhập quốc tế Xây dựng cơ chế quản lý, thực hiện chuyển giao công nghệ; Hoàn thiện qui định về sử dụng vật liệu mới của nước ngoài vào ngành giao thông vận tải Củng cố đội ngũ tư vấn thiết
kế, kiểm định, giám sát chất lượng công trình Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kỹ thuật nghiệp vụ mới cho đội ngũ này Tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các
cơ sở tư vấn thiết kế Tăng cường phát triển tiềm lực KHCN, đặc biệt đầu tư cho viện nghiên cứu khoa học đạt trình độ khu vực và tiếp cận dần với trình độ quốc tế
Bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề tài nghiên cứu đón đầu các công nghệ mới Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, triển khai tiếp thu các công nghệ xây dựng cầu lớn có kết cấu phức tạp, đường sắt cao tốc, đường sắt trên cao, tầu điện ngầm; nghiên cứu áp dụng giao thông thông minh trong quản lý, vận hành hệ thống giao thông; nghiên cứu áp dụng vật liệu mới có tính năng và ưu việt caôch xây dựng công trình giao thông; Nghiên cứu xây dựng bản đồ chế độ thủy văn, địa chất công trình, vật liệu xây dựng phục vụ cho việc khảo sát, thiết kế các công trình đảm bảo
có độ tin cậy cao
Đến nay phần lớn các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và hiện đại của thế giới trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông đã đến Việt nam Các kỹ sư công nhân Việt Nam đã tiếp cận và nhiều công nghệ đã làm chủ, có thể tự áp dụng vào xây dựng công trình giao thông phức tạp, có mức độ cao như xây dựng đường sắt cao tốc Đường sắt trên cao và tầu điện ngầm, cầu hầm có kết cấu phức tạp; cảng biển, sân bay có qui mô lớn chúng ta vẫn chưa tiếp cận, làm chủ.Việc tiếp nhận và chuyển giao công nghệ qua các dự án có kỹ thuật, công nghệ hiện đại là con đường nhanh nhất để tiếp thu và làm chủ, nhưng hiện nay vẫn chưa có cơ chế cụ thể bố trí kinh phí trong các dự án đầu tư có ứng dụng công nghệ tiên tiến để thực hiện công tác chuyển giao công nghệ, nên nhiều công nghệ, kỹ thuật hiện đại chúng ta đã bỏi
lỡ thời cơ tiếp nhận
3 Hiện trạng trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực cụ thể
Lĩnh vực tư vấn, kiểm dịnh và giám sát chất lượng:
Trong lĩnh vực tư vấn kiến trúc, quy hoạch, tin học đã được áp dụng 100% trong các đơn vị Nhiều phần mềm thiết kế được xây dựng và áp dụng trong ngành, tạo cơ sở tăng cường hàm lượng khoa học trong các sản phẩm thiết kế Năng lực thiết kế kiến trúc, quy hoạch đã được nâng cao, đạt mức ngang bằng với khu vực
và tiếp cận với trình độ thế giới Căn cứ thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ Kiến trúc giữa các nước ASEAN đã được các Bộ trưởng Kinh tế của 10 nước thành viên ASEAN ký kết tại Singapore vào 19/11/2007, ngày 06/8/2009 Bộ Xây dựng
đã có quyết định về việc thành lập Ủy ban Giám sát của Việt Nam để thực hiện Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về dịch vụ Kiến trúc trong ASEAN
Từ chỗ học việc trong các dự án nước ngoài, dự án liên doanh, các kỹ sư, nhà tư vấn Việt Nam đã nhanh chóng tiếp cận các phương pháp quản lý dự án hiện
Trang 5đại với kỹ thuật, công cụ quản lý hiệu quả, chính xác và có tính chuyên nghiệp cao của nước ngoài và do trong nước tự lập (Microsoft Project có thể làm việc với nhiều chế độ, nhiều công cụ, chức năng để thực hiện các thao tác tạo lập và hiệu chỉnh trên dự án đồng thời tiết kiệm thời gian và tiền bạc; phần mềm quản lý thi công chuyên nghiệp CSM, CPM…), từ đó đã thực sự trở thành những người chủ trong công tác quản lý dự án, có khả năng quản lý hiệu quả những dự án lớn Cùng với sự đổi mới của các chính sách, công tác quản lý dự án từ chỗ được tổ chức kiêm nhiệm bởi chủ đầu tư đã được chuyên nghiệp hóa bởi các tổ chức, công ty chuyên nghiệp
Hoạt động khảo sát, thiết kế: từ thiết kế bằng các công cụ thô sơ như thước
kẻ, thước dây, ê ke, bút chì, bút kim, can họa… nhờ ứng dụng công nghệ tin học hiện đại với các thiết bị vi tính, máy in, phần mềm tính toán, thiết kế, đồ họa, mạng internet… quá trình thiết kế đã biển đổi với tốc độ chóng mặt không chỉ ở hình thức, năng suất, chất lượng được chuẩn hóa của các bản thiết kế mà còn được nâng tầm bởi sự mở rộng tri thức, sáng tạo thông qua sự trao đổi, liên kết giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn thiết kế đã được soát xét, hệ thống hóa để phù hợp với khu vực và thế giới Chính các quy chuẩn, tiêu chuẩn đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của công tác thiết kế
Năng lực thiết kế trong nước đối với nhà cao tầng, từ công trình 11 tầng đầu tiên (khách sạn Hà Nội tại Giảng Võ những năm đầu 1970), nay các nhà thiết kế Việt Nam đã có năng lực thiết kế nhà cao tới 40 tầng, thêm vào đó là khả năng kháng chấn, xử lý nền móng Tuy nhiên, mới tiếp cận kết cấu khung nhà bê tông cốt thép, lõi cứng, vách cứng… mà chưa làm chủ thiết kế theo công nghệ khung nhà kết cấu toàn thép, lõi thép hình, hỗn hợp thép hình với bê tông mác cao… Từ hầm đường bộ đầu tiên qua đèo Hải Vân (2005) được thiết kế bởi liên danh giữa tập đoàn Louis Berger, Tập đoàn Nippon Koei, kết hợp với Tổng Cty Tư vấn Thiết
kế Giao thông Vận tải (TEDI), chúng ta đã tự thiết kế được cho các hầm đường bộ tiếp theo trên tuyến đường Hồ Chí Minh, trong các nút giao thông đô thị… đạt tiêu chuẩn quốc tế
Năng lực của các nhà chuyên môn ngày càng cao góp phần kích thích, mở rộng tầm nhìn cho các nhà quản lý trong lĩnh vực quy hoạch và kiến trúc Từ những khu đô thị theo mô hình tiểu khu ở của Liên xô cũ như khu tập thể Nguyễn Công Trứ, Kim Liên… đã phát triển thành các khu mới hơn như Thanh Xuân và dần tới các khu đô thị hiện đại như Linh Đàm, Trung Hòa-Nhân Chính, và các khu cao cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế như Ciputra, The Manor…
Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học - Công nghệ xây dựng và Viện Kỹ thuật xây dựng Hà Nội đã nghiên cứu và ứng dụng thành công phần mềm tính toán thiết kế kết cấu (khung, khung-vách) dùng cho nhà cao tầng bằng bê tông, cốt thép, có tính đến tải trọng động đất ở Hà Nội bằng phương pháp động theo tiêu chuẩn SNIP 81-96 Phần mềm "HN-Building" được xây dựng bao gồm các nội dung: quản lý dữ liệu công trình theo mặt bằng điển hình, tự động chuyển thành
Trang 6file dữ liệu cho phân tích động, phân tích nội lực, tổ hợp nội lực (các trường hợp cơ bản và đặc biệt), kiểm tra theo điều kiện hệ số nén cột đối với nhà cao tầng, kiểm tra tổng mômen tại các nút khung theo điều kiện "dầm yếu, cột khỏe" các trạng thái thiết kế với kết cấu chịu tải trọng về động đất… Đặc biệt, phần mềm này có khả năng tự động tính toán tải trọng gió, động đất lên công trình với các hệ số lấy theo
số liệu của vùng gió và vùng động đất Hà Nội Các tác giả đã xây dựng chi tiết phần tính toán diện tích cốt thép tại các tiết diện cấu kiện cột, dầm khung, tổ hợp nội lực để thiết kế móng, lựa chọn thép thiết kế sơ bộ, kiểm tra khả năng chịu lực trong cắt; uốn; kéo; nén lệch tâm xiên theo tiết diện của các cấu kiện dầm, cột, khung… song song với việc kiểm tra độ nứt, võng đối với cấu kiện dầm Phần mềm còn có ưu điểm trong việc chủ động lựa chọn, bố trí thép và sắp xếp tại từng mặt cắt cấu kiện cột, dầm tự động hoặc tùy chọn theo yêu cầu của người thiết kế…
Lĩnh vực cơ khí và vật liệu xây dựng
Lĩnh vực cơ khí xây dựng, đến nay đã chế tạo được 100% thiết bị phi tiêu chuẩn ở các dây chuyền công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng trong Ngành, nâng khả năng chế tạo thiết bị, phụ tùng thay thế nhập ngoại đạt mức 70% cho công nghệ xi măng lò quay và 80% cho công nghệ xi măng lò đứng Tỷ trọng đổi mới trong lĩnh vực này đạt ở mức cao, trên 75% Một số sản phẩm công nghệ đổi mới 100% (như kính xây dựng, gạch gốm ốp lát, gạch granit v.v)
Nhờ đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhiều đơn vị trong nước đã có khả năng làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo dây chuyền đồng bộ sản xuất xi măng lò quay công suất 2.500 tấn klanke/ngày thay thế nhập ngoại; tỷ
lệ nội địa hóa toàn bộ dây chuyền đạt 70% về khối lượng và 50% về giá trị (và sẽ tăng dần theo các dự án đầu tư), chỉ tiêu chất lượng tương đương sản phẩm của Trung Quốc xuất khẩu và đạt 80% của hãng Loesche (Đức); giảm suất đầu tư dưới 20%, giảm 70% phí thuê chuyên gia nước ngoài trong công tác quản lý dự án, lắp đặt, vận hành, sửa chữa thiết bị dây chuyền Đã hình thành được những công nghệ
xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện Việt Nam để nhân rộng và áp dụng trong nước, đáp ứng mục tiêu phát huy nội lực, xã hội hóa hoạt động thu gom và xử lý chất thải, góp phần phát triển bền vững trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; giảm khối lượng chôn lấp (10%) để tiết kiệm tài nguyên đất
và chi phí chôn lấp; giảm chi phí đầu tư nhập công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt; hình thành chương trình đầu tư các nhà máy xử lý rác thải ở quy mô toàn quốc, trong thời gian dài (đến 2020)
Theo dự báo, nhu cầu xi măng năm 2009 của cả nước sẽ ở mức 44-45 triệu tấn, nhưng tổng công suất thiết kế toàn ngành hiện đã đạt 50 triệu tấn, trong đó công suất huy động vào khoảng 45-46 triệu tấn, đáp ứng đủ nhu cầu trong nước Năm 2009 do có nhiều nhà máy xi măng hoàn thành xây dựng và đi vào sản xuất nên khả năng sản xuất trong nước đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ Cuối năm 2009, năng lực sản xuất xi măng trong nước hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu thụ và sang năm 2010 khả năng sản xuất sẽ cao hơn nhu cầu tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn
Trang 7Từ năm 2010 trở đi một số dự án mới đang xây dựng sẽ tiếp tục hoàn thành và đưa vào hoạt động nên không phải nhập khẩu clinker và có dư thừa một phần để xuất khẩu
Năng lực sản xuất thép xây dựng trong nước đã vượt quá nhu cầu thực tế tổng sản lượng thép xây dựng trong nước sản xuất từ đầu năm 2009 đến nay được 1,84 triệu tấn, trong khi tổng lượng tiêu thụ chỉ đạt 1,57 triệu tấn Hiện giá thép trên thị trường đang ở mức 10,4 triệu đồng/tấn (thép cuộn) và 10,76 triệu đồng/tấn (thép cây)
Gạch gốm ốp lát ceramic và granit của việt nam được sản xuất theo công nghệ nung trong lò nung thanh lăn (nung một lần đối với gạch lát ceramic và granit
và nung hai lần đối với gạch ốp ceramic) đốt bằng dầu diezen (DO) hoặc khí hoá lỏng (LPG) trên các dây chuyền thiết bị đồng bộ, hiện đại nhập từ Italia, Đức hoặc trên các dây chuyền thiết bị hỗn hợp của Trung Quốc, Đài Loan, Italia và Đức với trình độ tự động hoá cao ( kể cả các thiết bị kiểm tra kích thước, độ phẳng, độ bền
và phân loại sản phẩm), mức tiêu hao nguyên nhiên liệu, năng lượng thấp Có thể khẳng định trình độ công nghệ sản xuất gạch gốm ốp lát của chúng ta ngang bằng các nước trong khu vực và tiếp cận được với trình độ tiên tiến nhất của thế giới
Ngành công nghiệp sản xuất kính xây dựng Việt Nam đã đi đúng hướng, chỉ trong thời gian ngắn đã tiếp cận được với công nghệ tiên tiến của thế giới trong sản xuất kính phẳng như công nghệ kính nổi (Float) tiên tiến nhất hiện nay, trong công nghệ gia công kính tôi nhiệt an toàn, kính dán an toàn nhiều lớp, kính màu, kính gương.v.v…làm chủ được công nghệ sản xuất kính
Công tác thi công, xây lắp:
Hoạt động thi công xây lắp đặc biệt phát triển mạnh mẽ nhờ hội nhập quốc
tế Các công trình đầu tư của nước ngoài đã tiên phong đi đầu trong việc ứng dụng các công nghệ thi công xây dựng tiên tiến, khởi đầu cho các hoạt động cạnh tranh, đổi mới trong nước Các công nghệ tiên tiến được du nhập phổ biến có các công nghệ về xử lý nền móng và các công trình ngầm, công nghệ xây nhà tháp cao chọc trời, công nghệ tiết kiệm và hiệu quả năng lượng… các công nghệ này đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới nhưng chỉ mới lần lượt được áp dụng vào Việt Nam trong những năm gần đây
Lĩnh vực công nghệ xây dựng có nhiều đầu tư đổi mới, với tỷ trọng đạt tới trên 70% năng lực toàn Ngành Đến thời điểm hiện tại, Việt Nam đã làm chủ công nghệ xây nhà cao tầng, công nghệ xây nhà nhịp khẩu độ lớn thuộc nhiều dạng loại, làm chủ thi công các công trình ngầm
4 Định hướng phát triển công nghệ của ngành Xây dựng
- Hoàn thiện hệ thống Tiêu chuẩn chuyên ngành xây dựng theo hướng đồng
bộ, đáp ứng yêu cầu hoạt động xây dựng và hội nhập quốc tế
Trang 8- Nghiên cứu áp dụng công nghệ hiện đại trong công tác lập, quản lý quy hoạch xây dựng đô thị và điểm dân cư nông thôn;
- Nghiên cứu, làm chủ và áp dụng công nghệ: khảo sát, thiết kế và thi công xây dựng ngầm; khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình trên biển, ven biển, hải đảo;
- Nghiên cứu, áp dụng các giải pháp thiết kế, thi công tiên tiến cho các công trình vượt khẩu độ lớn, công trình có chiều cao lớn; Công nghệ xây dựng nhà ở hàng loạt; Công nghệ xử lý nền đất yếu - (kết hợp với doanh nghiệp, áp dụng thử nghiệm và nhân rộng);
- Nghiên cứu, hướng dẫn các giải pháp kỹ thuật giảm nhẹ tác động của thiên tai lên các công trình xây dựng (bão, lốc xoáy, lũ lụt, trượt lở đất, );
- Nghiên cứu, áp dụng công nghệ mới trong sản xuất VLXD và sản phẩm xây dựng như xi măng, kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát, tấm lợp và các VLXD khác có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế;
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao nhằm tạo ra các sản phẩm VLXD mới, đáp ứng nhu cầu trong nước, thay thế sản phẩm nhập ngoại;
- Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và áp dụng các công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải làm nguyên liệu trong các dây chuyền sản xuất VLXD; Công nghệ tái sử dụng chất thải trong xây dựng – (kết hợp với doanh nghiệp để đầu tư và áp dụng công nghệ);
- Nghiên cứu công nghệ, giải pháp nhằm tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất vật liệu xây dựng
Trong lĩnh vực cơ khí và chế tạo các sản phẩm cơ khí Xây dựng–Giao thông
- Nghiên cứu làm chủ và áp dụng các công nghệ hàn, công nghệ gia công kim loại tiên tiến để gia công chế tạo các kết cấu xây dựng kim loại;
- Nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm phụ tùng cơ khí và thiết bị trong dây chuyền công nghệ sản xuất xi măng, thiết bị cho Nhà máy nhiệt điện công suất 600MW và công nghệ sản xuất VLXD khác;
- Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo các loại máy móc, thiết bị chuyên dùng trong thi công xây dựng – (Kết hợp với doanh nghiệp để đầu tư và triển khai sản xuất, cung cấp cho thị trường)
Nhìn chung, các công nghệ đầu tư đổi mới được khai thác đạt kết quả tốt Bước đầu hoạt động nghiên cứu tự chế tạo theo hướng nhân công nghệ đã được hình thành ở các đơn vị chế tạo cơ khí, lắp máy và sản xuất vật liệu xây dựng (như: COMA, LILAMA, Viglacera…vv)
Với những kết quả được kiểm nghiệm từ thực tiễn, có thể thấy ngành Xây dựng đang có những đột phá mạnh mẽ trên hàng loạt lĩnh vực Tuy nhiên, vẫn còn
Trang 9một số tồn tại cần tiếp tục khắc phục và hoàn thiện trong thời gian tới Theo đó, với những mục tiêu đề ra ở một số lĩnh vực như cơ khí xây dựng, lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật môi trường, lĩnh vực phát triển nhà ở đô thị và nông thôn cần phấn đấu đạt tỷ
lệ công nghiệp hóa cao đối với các cấu kiện định hình sẵn Đồng thời, tiếp tục rà soát hoàn thiện 4 nhóm giải pháp phát triển KH&CN trên nền căn cứ từ các văn bản cơ chế chính sách của Nhà nước để rà soát tổ chức, sắp xếp hợp lý phát triển lực lượng KH&CN Ngành nhằm thực sự tạo chuyển biến đổi mới về quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ, sao cho gắn kết thực sự hữu cơ giữa KH&CN với tổ chức kinh tế; đảm bảo sự gắn kết lợi ích của người sáng tạo với lợi ích của các thành phần kinh tế - xã hội, xây dựng được đội ngũ cán bộ KH&CN ngành vững mạnh và thực sự tạo lập được thị trường KH&CN Xây dựng vào năm 2010