MỞ ĐẦU Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn
Trang 11.3.5 Quản lý lãi suất,tỷ giá
PHẦN II : THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT 2009
2.1 Công cụ nghiệp vụ thị trưởng mở
2.2 Công cụ dự trữ bắt buộc
2.3 Công cụ cho vay tái chiết khấu
2.4 Công cụ hạn mức tín dụng
2.5 Công cụ lãi suất,tỷ giá
PHẦN III : ĐÁNH GIÁ VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
3.1 Đánh giá quá trình thực hiện CSTT năm 2009
3.1.1 Những việc đạt được trong việc thực thi CSTT năm 2009 3.1.2 Những vấn đề còn tồn tại trong việc thực thi CSTT năm 2009 3.2 Phương hướng CSTT cho năm 2010
KẾT LUẬN
Trang 2MỞ ĐẦU
Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ mô như: công ăn việc làm, tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền kinh tế Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế Đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ cụ thể
là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao
Vượt xa những dự báo lạc quan nhất, chỉ số giá tiêu dùng (lạm phát) tháng 12 tiếp tục giảm tháng thứ 3 liên tiếp, giúp cho lạm phát cả năm 2008 chỉ dừng lại ở dưới 20% Điều này tiếp tục khẳng định mục tiêu chống lạm phát đã đạt hiệu quả rõ rệt, và mục tiêu số một hiện nay là ngăn chặn suy thoái kinh tế nên Việt Nam sẽ áp dụng chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát, giảm lãi suất để kích thích đầu tư và hiện đã đưa lãi suất về gần với mức lãi suất trước khi xảy ra khủng hoảng tài chính thế giới Đi liền với đó
là tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng hoạt động hiệu quả, tính thanh
khoản được bảo đảm Không để hệ thống ngân hàng (quốc doanh và cổ phần) mất ổn định
Trang 3PHẦN I : CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
1.1 Khái niệm và vị trí của CSTT
Khái niệm : CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô do Ngân hàng trung ương khởi thảo và thực thi, thông qua các công cụ , biện pháp của mình nhằm đạt các mục tiêu :ổn định giá trị đồng tiền, tạo công ăn việc làm ,tăng trưởng kinh tế
Vị trí : trong hệ thống các công cụ đIều tiết vĩ mô
của Nhà nước thì chính sách tiền tệ là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ Song nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như chính sách tài khoá,chính sách thu nhập,chính sách kinh tế đối ngoại Đối với Ngân hàng trung ương ,việc hoạch định và thực thi chính sách chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản nhất ,mọi hoạt động của nó đều nhằm làm cho chính sách tiền tệ quốc gia được thực hiện có hiệu quả hơn
1.2 Mục tiêu của CSTT
• Ổn định giá trị đồng tiền
• Tăng công ăn việc làm
• Tăng trưởng kinh tế
• Ngăn ngừa lạm phát
1.3 Các công cụ của CSTT
1.3.1 Nghiệp vụ thị trưởng mở NHTW thực hiện nghiệp vụ thị trương mở
là công cụ của chính sách tiền tệ mà NHTW thường dùng ,mua hoặc bán trái phiếu của chính phủ cho công chúng.Khi muốn tăng cung tiền NHTW chỉ đạo mua trái phiếu trên thị trường Ngược lại để cắt giảm cung tiền,NHTW thực hiện nghiệp vụ bán trái phiếu Mục tiêu xây
Trang 4dựng và phát triển Thị trường TPCP là mở rộng thị trường, tăng
cường tính thanh khoản trên thị trường TPCP, liên kết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăng cường công tác giám sát thị trường1.3.2 Dự trữ bắt buộc: là quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ giữa
tiền mặt và tiền gửi mà các NHTM bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản Các ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng không được phép giữ tiền mặt ít hơn
tỷ lệ này Đây là một trong những công cụ của ngân hàng trung
ương nhằm thực hiện chính sách tiền tệ bằng cách làm thay đổi số nhân tiền tệ
1.3.3 Chính sách tái chiết khấu : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho
vay ngắn hạn đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi suất tái chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay tái chiết khấu
1.3.4 Quản lý hạn mức tín dụng là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ
của các NHTM không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình
1.3.5 Quản lý lãi suất : NHTW đưa ra một khung lãi suất hay ấn dịnh một
trần lãi suất cho vay để hướng các NHTM điều chỉnh lãi suất theo giới hạn đó, từ đó ảnh hưởng tới qui mô tín dụng của nền kinh tế và
NHTW có thể đạt được quản lý mức cung tiền của mình
Trang 5PHẦN II : THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ CỦA CSTT 2009
2.1 Công cụ Nghiệp vụ thị trường mở (OMO - open market operations) Thị trường trái phiếu chính phủ:
Thị trường phát hành và giao dịch trái phiếu chính phủ (TPCP) năm 2009
có những nét đặc trưng riêng khi trong năm này, lần đầu tiên, Chính phủ thực hiện việc phát hành TPCP ngoại tệ qua TTCK Việt Nam và hệ thống giao dịch trái phiếu chính phủ chuyên biệt chính thức hoạt động tại Sở GDCK Hà Nội Những tổng kết chính về thị trường trái phiếu :
1) Thị trường sơ cấp :
- So với năm 2008, tỷ lệ thành công của các phiên đấu thầu trái phiếu chính phủ bằng VND trong năm 2009 có xu hướng giảm mạnh Cụ thể, năm 2008 huy động 6.060 tỷ đồng/26.600 tỷ đồng khối lượng gọi thầu, tỷ lệ thành công 22,78%; năm 2009 huy động 2.578,5 tỷ đồng/62.700 tỷ đồng khối lượng gọi thầu, tỷ lệ thành công 4,18%
-Tính đến ngày 30/11/2009, Sở GDCK Hà Nội (HNX) đã tổ chức 58 phiên đấu thầu, trong đó, đấu thầu trái phiếu bằng VND tổ chức 52 phiên, huy động được 2.578,5 tỷ đồng/khối lượng gọi thầu 62.700 tỷ đồng, tỷ lệ thành công 4,11%; đấu thầu trái phiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (USD) 6 phiên, huy động được 387,11 triệu USD, tương đương 6.774 tỷ đồng (ước tỷ giá 17.500 đồng)/khối lượng gọi thầu 550 triệu USD, tương đương 9.625 tỷ đồng, tỷ lệ thành công là 70,38% Tổng nguồn vốn huy động được từ đấu thầu trái phiếu bằng USD và VND là 9.352 tỷ đồng/khối lượng gọi thầu 72.325 tỷ đồng
Trang 62) Thị trường thứ cấp:
- Kết quả giao dịch từ ngày 24/9/2009 đến 15/12/2009:
+ Giao dịch thông thường: tổng KLGD là 89,7 triệu trái phiếu với GTGD đạt 9.220,6 tỷ đồng Giao dịch mua bán lại: tổng giá trị mệnh giá trái phiếu giao dịch đạt 1.204 tỷ đồng với GTGD lần một là 406,56 tỷ đồng 23/30 thành viên có giao dịch, trong đó bao gồm 12 CTCK (68% giá trị giao dịch)
và 11 NHTM (32% giá trị giao dịch)
=> Giao dịch trái phiếu có xu hướng giảm rõ rệt từ tháng 6/2009: Giá trị giao dịch của 6 tháng đầu năm chiếm hơn 70% tổng giá trị giao dịch cả năm 2009
Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức được Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mục tiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế
Vốn trái phiếu Chính phủ: Trong khoảng 145,6 nghìn tỷ đồng, tương đương
với 8 tỷ USD, thuộc gói kích thích kinh tế sử dụng cho năm 2009, trái phiếu Chính phủ là phần vốn chủ lực
Nhiệm vụ chi với trái phiếu Chính phủ năm 2009 bao gồm hai khoản chính
là 56 nghìn tỷ đồng trong kế hoạch, 7.183 tỷ đồng vốn trái phiếu chuyển nguồn từ năm 2008 sang
Trang 7- Thực hiện giải ngân: năm 2009 là 45 nghìn tỷ đồng, đạt 80,4% kế hoạch giao Phần chuyển nguồn từ năm 2008 sang năm 2009 thực hiện hoàn thành 100%.
+ Nguồn vốn trái phiếu chính phủ dành cho giao thông, thủy lợi tính tới nay chỉ đạt 45,1% kế hoạch, trong đó trung ương chỉ đạt 33,5%; địa phương đạt 36,8%
+Vốn trái phiếu Chính phủ cho y tế và giáo dục có mức độ giải ngân rất thấp Y tế chỉ đạt 35,2%, giáo dục 60% Cụ thể như với thành phố Hà Nội, vốn trái phiếu chính phủ dành cho lĩnh vực y tế năm 2008 chuyển sang năm
2009 là 70 tỷ đồng, nhưng mới thanh toán được khoảng 1,8 tỷ đồng
+Với Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, vốn trái phiếu Chính phủ tỷ
lệ thực hiện thấp hơn so với các nguồn vốn khác Cho đến tháng 9/2009, Bộ này mới thực hiện được 2.219 tỷ đồng, trên tổng số vốn trái phiếu Chính phủ thuộc kế hoạch được giao và kế hoạch bổ sung là 4.150 tỷ đồng, chỉ bằng 53%
+Ở Bộ Giao thông Vận tải, tình hình có khả quan hơn Nguồn trái phiếu chính phủ thực hiện 9 tháng đầu năm 2009 đạt 65,1% kế hoạch, giải ngân đạt 60,3% kế hoạch
2.2 Dự trữ bắt buộc
Quyết định về dự trữ bắt buộc có hiệu lực thi hành kể từ kỳ duy trì dự trữ bắt buộc tháng 3 năm 2009 và thay thế Quyết định số 3158/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 12 năm 2008 và Điều 2 Quyết định số 2951/QĐ-NHNN ngày 03 tháng
12 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Trang 8-Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng đồng Việt Nam áp dụng như sau:
Các ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng hợp tác, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương là 1% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc
-Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng ngoại tệ áp dụng như sau:
+ Các ngân hàng thương mại Nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam), Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng
Trang 9liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính là 7% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc +Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng thương mại
cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 6% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc
- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi từ 12 tháng trở lên bằng ngoại tệ áp dụng như sau:
+ Các ngân hàng thương mại nhà nước (không bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam), Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần đô thị, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính là 3% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc
+ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân trung ương, ngân hàng hợp tác là 2% trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc
2.3 Cho vay tái chiết khấu
Ngày 10/4/2009, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết định số 837/QĐ-NHNN thay thế cho quyết định số 173/QĐ-NHNN ngày 23/1/2009 Theo Quyết định , các mức lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng
và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được áp dụng từ ngày 10/4/2009 đều giảm 1,0%/ năm so với các mức lãi suất đã được quy định ở Quyết định 173/QĐ-NHNNN ngày
Trang 10Cụ thể, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 8,0%/năm xuống còn 7,0 %/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 6,0%/năm xuống còn 5,0 %/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng giảm từ 8,0%/năm xuống còn 7,0 %/năm.
Song từ cuối tháng 11/2009 để phù hợp với diễn biến mới của nền kinh tế, NHNN đã điều chỉnh biên độ ấn định tỷ giá xuống +/-3%, theo đó bắt đầu từ tháng 12/2009 lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng được điều chỉnh tăng lên 1% Việc điều chỉnh tăng giảm lãi suất và biên độ tăng giảm tỷ giá đã thực sự khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và an sinh xã hội
2.4 Hạn mức tín dụng
Bản chất của hạn mức tăng trưởng tín dụng của NHNN đặt ra nhằm thực thi chính sách tiền tệ, tránh nguy cơ lạm phát cũng như tăng trưởng quá nóng và không bền vững của nền kinh tế
Đến nay, mức tăng trưởng tín dụng đã tiến gần đến giới hạn do Ngân hàng nhà nước quy định (NHNN mới công bố mức tăng trưởng tín dụng của các NHTM đến hết quý 3/2009 đạt 28%, sát ngưỡng mục tiêu năm 2009 là 30%) nên nhiều người không khỏi băn khoăn hoạt động của các ngân hàng thương mại thời gian tới sẽ ra sao Phải chăng các ngân hàng thương mại sẽ phải giảm hoặc thậm chí ngừng cấp tín dụng cho nền kinh tế để giữ mức 30%
Trang 11Qua phân tích, chúng tôi thấy, mặc dù dư nợ tín dụng đã tăng khá cao; tuy nhiên, lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát Nếu so với tháng 12/2008, CPI tính đến cuối tháng 9 tăng 4,11% Cho dù CPI tháng 9 tăng cao hơn so với các tháng đầu năm 2009, nhưng chỉ ở mức 0,62% và chủ yếu là do giá một số hàng thiết yếu trên thị trường thế giới tăng và nhu cầu tăng đột biến về một
số hàng hoá, dịch vụ vào những ngày lễ đặc biệt như Quốc khánh, lễ khai giảng năm học mới, lễ Vu Lan, và Tết Trung thu Như vậy, việc tăng chỉ số giá tiêu dùng trong thời gian qua vẫn ở mức hết sức an toàn
Nền kinh tế của chúng ta đã thoát khỏi thời kỳ khó khăn nhất và đang dần lấy lại đà tăng truởng, GDP tăng đều qua các quý từ 3,14% (quý 1) đến 4,46% (quý 2) và 5,76% (quý 3) là nhờ chính sách hỗ trợ lãi suất và sự tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua Chắc chắn rằng, thời gian tới, nền kinh
tế vẫn tiếp tục cần vốn cho đầu tư phát triển để đưa GDP cả năm đạt ít nhất 5% như chỉ tiêu kế hoạch đã được Quốc hội thông qua Để chống suy thoái, tăng trưởng tín dụng của hầu hết các nước đều cao hơn các năm trước đây Ở Trung Quốc, tỷ lệ này đến nay đã vào khoảng 40%
Vì vậy, chúng ta không thể kiềm chế sự phát triển của nền kinh tế để cố định mức tăng trưởng tín dụng ở 30% một cách chủ quan, trong khi tăng trưởng
Trang 12tín dụng chưa gây ra hiệu ứng đáng lo ngại về lạm phát Hay nói cách khác, chắc chắn NHNN sẽ tiếp tục có sự điều chỉnh thích hợp và hoạt động của các ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục ổn định.
2.5 Lãi suất, tỷ giá:
Từ ngày 1/2/2009 lãi suất cơ bản 8,5% hạ xuống còn 7%
Nhà nước cho biết việc điều chỉnh giảm lãi suất nêu trên là nhằm triển khai các giải pháp cấp bách của Chính phủ, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động, trong điều kiện nền kinh tế bị tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới
Những ngày đầu năm 2009, lãi suất cả cho vay và huy động tiếp tục được
hạ xuống Theo nhận định chung của nhiều chuyên gia, lãi suất sẽ tiếp tục xu hướng hạ trong năm 2009
Ngày 7/1/2009, Ngân hàng Đầu tư - Phát triển (BIDV) đã quyết định giảm lãi suất lần thứ nhất trong năm 2009 Mức giảm khá sâu và đưa đáy lãi suất thấp nhất về 6,5%, thấp hơn cả lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.Trong khi đó, Ngân hàng Quân đội từ ngày 6/1 đã điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi của khách hàng cá nhân bằng đồng Việt Nam, mức giảm từ 0,2% đến 0,53% và USD có mức giảm từ 0,2% đến 0,3%
Nhằm hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp và người dân như đẩy mạnh công tác tuyên truyền và công bố công khai, rộng rãi các