1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận một số định hướng, khuyến nghị cho việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam đến năm

16 403 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 183,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 – 2013 Công cụ của chính sách tiền tệ là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để điều chỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới m

Trang 1

MỤC LỤC

A NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2011 – NỬA ĐẦU 2013 2

I Tổng quan chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 – 2013 2

1 Công cụ lãi suất 2

2 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc 4

3 Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) 5

4 Tăng trưởng tín dụng 6

II Đánh giá chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 – nửa đầu 2013 7

1 Những kết quả tích cực 7

2 Một số vấn đề hạn chế 8

B MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2015 9

I Định hướng mục tiêu việc điều hành chính sách tiền tệ đến năm 2015 9

II Một số vấn đề cần xử lý 10

1 Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ 10

2 Xử lý nợ xấu, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 12

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16

Trang 2

A NHÌN LẠI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ GIAI ĐOẠN 2011 – NỬA ĐẦU 2013

I Tổng quan chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 – 2013

Công cụ của chính sách tiền tệ là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để điều chỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền tệ, nhằm đạt được mục tiêu cao nhất của CSTT đã đề ra

Theo quy định của luật NHNN 2010, Thống đốc NHNN có quyền quyết định lựa chọn sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ đã được Chính phủ đề ra

Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ đã được NHNN sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường

mở, kiểm soát hạn mức tín dụng,

1 Công cụ lãi suất

Lãi suất là một trong những công cụ gián tiếp để điều hành CSTT, NHN thông qua công cụ này để điều khiển mức cung tiền cho nền kinh tế, nhằm đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia

Cơ chế điều hành lãi suất của NHNN từ 2011 đến 2013:

Các lãi suất chủ chốt của NHNN được điều hành theo cơ chế: “trần” là lãi suất tái cấp vốn, “Sàn” là lãi suất chiết khấu, biên độ giao động +/- 2% để điều tiết thị

trường, lãi suất cơ bản và lãi suất thị trường mở được ấn định biến động trong biên độ giữa lãi suất tái cấp vốn (trần) và lãi suất chiết khấu (sàn)

Từ tháng 6/2011: Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc:

Lãi suất tái chiết khấu < lãi suất huy động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn

Từ tháng 1/2011-4/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cố định theo

xu hướng giảm dần (14%/năm, 13%/năm, 12%/năm, 11%/năm) và lãi suất cho vay thỏa thuận ở tất cả các đối tượng và kỳ hạn vay vốn của khách hàng

Trang 3

Tháng 5/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động (11%/năm) và “trần” lãi suất cho vay ngắn hạn theo biên độ (lãi suất cho vay = lãi suất huy động + 3%/năm) với 4 đối tượng cho vay ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, Doanh nghiệp vừa

và nhỏ, công nghiệp phụ trợ), còn các đối tượng cho vay khác và cho vay trung dài hạn đều lãi suất thỏa thuận

Tháng 6/2012, NHNN quy định “trần” lãi suất huy động cố định (9%/ năm) và

“trần” lãi suất cho vay cố định(13%/ năm) với 4 đối tượng sản xuất kinh doanh ưu tiên còn các đối tượng khác đều cho vay theo lãi suất thỏa thuận

Các mức lãi suất điều hành khác cũng giảm mạnh:

cấp vốn giảm từ 15%/ năm xuống 9%/năm

tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011

6 tháng đầu năm 2013

Lãi suất huy động và cho vay đều ở xu hướng giảm mạnh Trong 6 tháng đầu năm, NHNN có 3 lần điều chỉnh giảm lãi suất:

chiết khấu (6%), cho vay qua đêm trong thanh toán liên ngân hàng (9%), lãi suất cho

Trang 4

vay 5 lĩnh vực ưu tiên (10%/năm) Trần lãi suất huy động giảm từ 8% xuống 7,5%/năm

7%/năm; lãi suất tái chiết khấu còn 5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng còn 8%/năm Lãi suất cho vay với các lĩnh vực ưu tiên giảm còn 10%/năm

tháng xuống 7%/năm, kỳ hạn 6 tháng trở lên được thả nổi, trần lãi suất kỳ hạn dưới 1 tháng còn 1,2%/năm Trần lãi suất USD cũng giảm 0,75% xuống còn 1,25%/năm

2 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi bằng VND áp dụng theo QĐ 379/QĐ-NHNN ngày 24/2/2009 (áp dụng từ kỳ dự trữ tháng 3/2009)

- Các NHTM Nhà nước (không bao gồm NHNN & PTNT), NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính : 3%

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : 1%

- NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương : 1%

- TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở, Ngân hàng Chính sách xã hội : 0%

- Các NHTM Nhà nước (không bao gồm NHNo & PTNT), NHTMCP đô thị, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính : 1%

- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : 1%

- NHTMCP nông thôn, ngân hàng hợp tác, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương : 1%

Trang 5

- TCTD có số dư tiền gửi phải tính dự trữ bắt buộc dưới 500 triệu đồng, QTĐN cơ sở, Ngân hàng Chính sách xã hội : 0%

3 Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)

Trong thời gian 2011-2013, NHNN điều hành công cụ Nghiệp vụ Thị trường mở theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số 01/2007/QĐ-NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-01/2007/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-01/2007/QĐ-NHNN Theo đó, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng Các loại giấy tờ có giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở hiện nay là:Tín phiếu NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu địa phương do UBND thành phố Hà nội, UBNN thành phố Hồ Chí Minh phát hành

Năm 2011

Tháng 5/2011, Ngân hàng Nhà nước đã tăng lãi suất thị trường mở (OMO) từ 13%/năm lên 14%/năm rồi tiếp tục đã tăng lên 15%/năm

Như vậy, lãi suất trên thị trường mở đã tăng 2% sau hai lần điều chỉnh trong tháng 5 và tăng 8% kể từ tháng 11/2010

Đến tháng 7, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quyết định giảm lãi suất thị trường mở (OMO) về mức 14%/năm sau một thời gian duy trì trên mức 15%/năm Việc NHNN giảm lãi suất OMO ở một khía cạnh sẽ trợ giúp các NH thương mại hạ nhiệt lãi suất huy động và cho vay

Tháng 12, NHNN đã bơm ròng khoảng 16.428 tỷ đồng qua thị trường mở Kỳ hạn giao dịch bao gồm 7 ngày và 14 ngày Lãi suất giao dịch tiếp tục được duy trì ở mức 14%/năm

Đầu năm 2012

Tháng 3/2012 NHNN hút ròng gần 15.000 tỷ đồng, trong đó thực hiện qua giao dịch “outright” (bán đứt) là 14.363 tỷ đồng Tính chung trong tháng 3, NHNN bơm ra thị trường 28.276 tỷ đồng, hút ròng về 35.189 tỷ

Đầu năm 2013

Trang 6

Tổng cộng trong 6 tháng, NHNN hút ròng 8.836 tỷ đồng trên thị trường mở (OMO), giảm mạnh so với lượng hút hơn 60.500 tỷ cùng kỳ năm 2012

Tính đến 25/6, trạng thái mua kỳ hạn trên OMO âm 21.186 tỷ đồng, trong đó lượng trúng thầu là 91.847 tỷ và đến hạn thanh toán 113.033 tỷ đồng Trạng thái bán tín phiếu là dương 12.350 tỷ đồng, trong đó trúng thầu 132.491 tỷ đồng và đến hạn thanh toán 144.841 tỷ đồng

4 Tăng trưởng tín dụng

Năm 2011

Hệ thống ngân hàng Việt Nam bắt đầu triển khai luật NHNN và luật các TCTD mới đây là cột mốc quan trọng nhằm đẩy nhanh hơn nữa quá trình đổi mới ngành ngân hàng theo cơ chế thị trường

Huy động nguồn vốn từ các TCTD nước ngoài phải tăng và dư nợ cho vay khách hàng cũng phải tăng Cơ cấu tín dụng tập trung đầu tư cho lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, cho vay kinh doanh bất động sản và kinh doanh chứng khoán chiếm tỷ trọng thấp Theo báo cáo tổng kết ngành ngân hàng năm 2011, cả năm tổng phương tiện thanh toán tăng 10%, tín dụng tăng 12-13%, trong đó tín dụng VND tăng 10,2%, tín dụng ngoại tệ tăng 18,7%

Năm 2012

NHNN đã kiểm soát cung tiền ở mức hợp lí, mà nhất là tăng trưởng tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

các mức là 17%, 15%, 8% và 0%, quy định tỉ trọng dư nợ tín dụng cho lĩnh vực không khuyến khích là 16%

Năm 2013

Tín dụng toàn hệ thống đến cuối tháng 6 ước tăng 4,5% so với cuối năm 2012, trong đó tín dụng bằng VND tăng 7,55%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 9,4%

Trang 7

Tại Hà Nội, tín dụng tại thời điểm cuối tháng 6 ước tăng 1,7% so cuối năm

2012, trong đó dư nợ ngắn hạn tăng 1,3%, dư nợ trung và dài hạn tăng 2,3%

Tại TP.Hồ Chí Minh, tín dụng đến cuối tháng 6 ước tăng 3,1% so với cuối năm

2012

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến hết tháng 5, nợ xấu của toàn hệ thống giảm xuống 4,65% trên tổng dư nợ, thay vì 6% vào khoảng tháng 2 và 8,6% -10% hồi tháng 10/2012 Nợ xấu của các TCTD tại T.P Hồ Chí Minh là 5,91%, nợ xấu của các TCTD tại Hà Nội là 6,58%

II Đánh giá chính sách tiền tệ giai đoạn 2011 – nửa đầu 2013

1 Những kết quả tích cực

Năm 2011

vĩ mô và chỉ đạo của chính phủ

mức 22% trong tháng 10/2011 xuống 20% trong tháng 11 và 18.13% trong tháng 12

cơ không còn khả năng thao túng thị trường

Năm 2012

Nửa đầu 2013

hệ thống ngân hang được đảm bảo

Trang 8

- Lãi suất giảm, góp phần tháo gỡ khó khan cho các doanh nghiệp và nền kinh tế.

với đầu năm và tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh

đã được NHNN can thiệp kịp thời nên thị trường và tỷ giá đã nhanh chóng ổn định trở lại

TCTD về cơ bản đã kết thúc, chấm dứt tình trạng “vàng hóa” trong hệ thống TCTD, chuyển quan hệ huy động, cho vay vàng sang quan hệ mua-bán vàng Việc thị trường vàng dần đi vào ổn định hơn cũng giúp loại trừ các tác động tiêu cực của thị trường này tới tỷ giá và thị trường ngoại hối

trong năm 2012 và 7 tháng đầu năm 2013 là 86.3/138.98 nghìn tỷ đồng

2 Một số vấn đề hạn chế

Năm 2011

tài xử lý các vi phạm chưa nghiêm dẫn tới hiện tượng các TCTD sử dụng các biện pháp kỹ thuật để “lách” các quy định của NHNN, tạo ra sự méo mó trong số liệu về huy động vốn, tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán, gây khó khăn trong điều hành chính sách tiền tệ, mặc dù, gần đây hiện tượng này đã giảm nhưng vẫn chưa được giải quyết triệt để

nhưng tình trạng đô-la hóa vẫn chưa được giải quyết triệt để; tín dụng ngoại tệ tăng cao, một số TCTD có hệ số sử dụng vốn vượt 100%, một số TCTD huy động vốn nước ngoài để tăng trưởng tín dụng cao, tiềm ẩn rủi ro khi các nguồn vốn nước ngoài

bị rút đột ngột Trên thị trường vẫn còn tình trạng các TCTD lách các quy định về tỷ giá làm tăng bất ổn trên thị trường ngoại hối

bộc lộ rõ khi NHNN triển khai các biện pháp nhằm lập lại trật tự, kỷ cương trong lĩnh vực ngân hàng

Năm 2012

Trang 9

- Vẫn chưa xác định được số nợ xấu trong hệ thống ngân hang.

cho mục đích trung, dài hạn

Nửa đầu năm 2013

tăng trưởng tín dụng cuối năm 2013: 12%

khó khăn cho doanh nghiệp, cải cách DNNN, quản lý đầu tư công và nợ công, hâm nóng trở lại thị truờng bất động sản, trong khi nhu cầu về nguồn lực để đáp ứng các nhiệm vụ chi quan trọng, cấp thiết về quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều và cấp thiết

B MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG, KHUYẾN NGHỊ CHO VIỆC ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

ĐẾN NĂM 2015.

I Định hướng mục tiêu việc điều hành chính sách tiền tệ đến năm 2015

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, việc hoạch định mục tiêu chính sách tiền

tệ phải thận trọng, hiệu quả, cần nhất quán và kiên định quan điểm ưu tiên kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng bền vững, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu toàn diện nền kinh tế

Chính sách tiền tệ mặc dù đã điều hành nới lỏng đáng kể từ năm 2012 nhưng đến giữa năm 2013, tín dụng tăng thấp so với định hướng Mặc dù mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ đã được xác định khá rõ trong Luật NHNN 2010 nhưng thực tế điều hành đã cho thấy chính sách tiền tệ vẫn phải quan tâm đến những mục tiêu khác như bảo đảm an toàn hệ thống, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chống đô la hóa Điều này làm phức tạp quá trình điều hành chính sách tiền tệ Hiện tại, các điều kiện cần cho một chính sách tiền tệ mục tiêu lạm phát chưa đầy đủ thì mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ từ nay đến năm 2015 vẫn nên là đa mục tiêu trong đó chú trọng mục tiêu lạm phát và tăng trưởng kinh tế Mục tiêu hoạt động của chính sách tiền tệ là khối lượng cung ứng tiền (M2)

Trang 10

- Kiểm soát chỉ tiêu lạm phát mục tiêu 2013-1015 từ: 8 % - 9%/năm

Trong giai đoạn cuối năm 2013, lạm phát sẽ hầu như không chịu ảnh hưởng của chính sách tiền tệ cũng như chính sách tài khóa mà phụ thuộc nhiều vào chính sách diều hành giá cả hàng hóa cơ bản và dịch vụ công, nên lạm phát năm 2013 dự kiến sẽ giao động quanh mức 8 - 9%, cao hơn mức 7% kế hoạch từ đầu năm

Trong giai đoạn 2014 – 2015, cần điều hành chính sách tiền tệ kết hợp với chính sách tài khóa nhằm đưa lạm phát ở mức 8 - < 10%/năm Nếu điều hành lạm phát trong giai đoạn này ở mức < 8%/năm, thì phải thực hiện giải pháp: tăng cường thắt chặt tiền

tệ, tài khóa trong khi tổng cầu đang suy kiệt, hoặc phải kiểm soát chặt lạm phát chi phí đẩy bằng cách hạn chế nhập khẩu và giản lộ trình điều chỉnh giá bao cấp sang giá thị trường của các ngành hàng nhà nước đang quản lý giá Các giải pháp nêu trên đều tác động tiêu cực đến mục tiêu phục hồi tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô Do vậy, sẽ đạt được hiệu quả bền vững và cao hơn, nếu lạm phát mục tiêu trong giai đoạn

2014 - 2015 được điều hành trong khoảng 8% - 9%

- Kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và tín dụng 2013-2015:

Quan điểm điều hành tăng trưởng M2 và tín dụng nên theo hướng nới rộng tín dụng và M2 so với mức thực hiện 2011-2012 ở mức hợp lý; hỗtrợ kích cầu bằng lãi suất thấp một số lĩnh vực tiêu dùng thiết yếu( nhà ở cho người thu nhập thấp và trung bình;…) và các ngành hàng sản xuất không đủ sản lượng đang phải nhập khẩu trong các lĩnh vực nông sản, thực phẩm, nguyên liệu.

Tính đến hết tháng 8/2013 tổng phương tiện thanh toán tăng 9,16% so với cuối băn 2012, con số này phù hợp với mục định hướng tăng trưởng M2 14 - 16% cho cả năm 2013 Vì vậy mục tiêu của chính sách tiền tệ đến hết năm 2013 là đạt mức tăng trưởng M2 phải đạt mức dự kiến và cao nhất có thể nhằm hỗ trợ cho suy giảm tổng cầu của nền kinh tế chưa được phục hồi

Trong giai đoạn 2014 – 2015, theo nghiên cứu mô hình hàm cầu tiền của các chuyên gia cho thấy để đạt được tốc độ tăng trưởng khoảng 5,5%/năm và tỷ lệ lạm phát khoảng 8 - 9% bình quân thời kỳ 2013 - 2015 thì cung ứng tiền tệ cần tăng bình quân khoảng 17%/năm

II Một số vấn đề cần xử lý

1 Hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ

Trang 11

Chính sách tiền tệ có vai trò quan trọng trong việc góp phần cải thiện kinh tế và tăng mức sống của xã hội Do đó, việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách tiền tệ luôn được các nước đặc biệt quan tâm Để hoàn thiện đồng thoài nhiều giải pháp và ta có thể chia thành hai nhóm sau:

Việc hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt nam trong giai đoạn tới không thể tách rời quá trình hoàn thiện hệ thống ngân hàng nói chung và bộ máy tổ chức, điều hành của ngân hàng nhà nước nói riêng Bởi lẽ, hệ thống ngân hàng - trước hết là bộ máy tổ chức ngân hàng trung ương tương đối độc lập, lành mạnh và vững chắc- là yếu tố đầu tiên đảm bảo tính hiệu lực của chính sách tiền tệ

điểm dung hòa giữa các mục tiêu của chính sách tiền tệ, để đi đến việc kết hợp hài hòa các mục tiêu kinh tế vĩ mô

cho vay chiết khấu, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở Các công cụ của chính sách tiền tệ thường được sử dụng là: duy trì nguyên tắc lãi suất thực dương, quy định

tỷ lệ dự trữ bắt buộc phù hợp với các tổ chức tín dụng, duy trì chế độ tỷ giá hối đoái ổn định

trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ

quan mà chính phủ đã ban hành, từ đó đảm bảo tính hiệu lực của hai Bộ luật ngân hàng cũng như toàn bộ hệ thống văn bản pháp quy của ngành

thực hiện nhanh chóng và kịp thời

b Nhóm giải pháp liên quan đến việc hoàn thiện các công cụ của chính sách tiền tệ

độ phù hợp làm cho lãi suất cơ bản thực sự đóng vai trò là tín hiệu để điều tiết lãi suất

Ngày đăng: 07/12/2015, 17:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w