Truyền thông băng hẹp Truyền thông băng hẹp là công nghệ truyền thông chỉ sử dụng đủ phổ tần số để mang tín hiệu dữ liệu không hơn.. Bởi vì băng tần của nó là khá hẹp, nên các tín hiệu b
Trang 1KỸ THUẬT TRẢI PHỔ
Để có thể quản lý và troubleshoot mạng WLAN một cách hiệu quả thì kiến thức về các công nghệ trải phổ là không thể thiếu Vì thế trong bài này chúng ta sẽ đề cập đến các công nghệ trải phổ đang được sử dụng theo quy tắc của FCC (ở Mỹ) Chúng ta sẽ phân biệt và so sánh 2 công nghệ trải phổ chính là FHSS và DSSS
I Giới thiệu về trải phổ
Trải phổ là một kỹ thuật truyền thông được đặc trưng bởi băng thông rộng và công suất
thấp Truyền thông trải phổ sử dụng các kỹ thuật điều chế (modulation) khác nhau cho
mạng WLAN và nó cũng có nhiều thuận lợi so với người tiền nhiệm của nó là truyền thông băng hẹp Tín hiệu trải phổ trông giống như nhiễu, khó phát hiện và thậm chí khó để
chặn đứng hay giải điều chế (demodulation) nếu không có các thiết bị thích hợp
Jamming và nhiễu (interference) thường có ảnh hưởng với truyền thông trải phổ ít hơn
so với truyền thông băng hẹp Vì những lý do này mà trải phổ đã được sử dụng trong quân
sự trong một thời gian dài Để có thể hiểu được trải phổ là gì, trước hết chúng ta phải thảo luận các khái niệm của truyền thông băng hẹp
1 Truyền thông băng hẹp
Truyền thông băng hẹp là công nghệ truyền thông chỉ sử dụng đủ phổ tần số để mang tín
hiệu dữ liệu không hơn Nhiệm vụ của FCC (Federal Communication Commission) là
hạn chế việc sử dụng tần số càng nhiều càng tốt, chỉ cho phép sử dụng tần số ở một mức
đủ để hoàn thành công việc Trải phổ hoàn toàn ngược lại với nhiệm vụ mà FCC đang thực hiện vì nó sử dụng băng tần rộng hơn mức cần thiết để truyền thông tin Điều này cho chúng ta biết được một ít khái niệm về tín hiệu như thế nào được gọi là trải phổ Một tín hiệu được gọi là một tín hiệu trải phổ khi băng thông của nó rộng hơn nhiều so với mức cần thiết để truyền thông tin
Hình dưới minh họa sự khác nhau giữa truyền thông băng hẹp và truyền thông trải phổ
Chú ý là một trong những đặc điểm của băng hẹp là công suất đỉnh (peak power) cao Khi
sử dụng dãy tần số càng nhỏ để truyền thông tin thì công suất yêu cầu càng lớn Để cho tín hiệu băng hẹp có thể nhận được chúng phải nằm ở trên mức nhiễu chung (còn gọi là nhiễu
nền - noise floor) một lượng đáng kể Bởi vì băng tần của nó khá là hẹp, nên công suất
đỉnh cao bảo đảm cho việc tiếp nhận tín hiệu băng hẹp không có lỗi
Trang 2Một chứng cứ thuyết phục chống lại truyền thông băng hẹp (ngoài việc yêu cầu sử dụng công suất đỉnh cao) là tín hiệu băng hẹp có thể bị jammed (tắt nghẽn) hay interference (nhiễu) rất dễ dàng Jamming là một hành động cố ý sử dụng công suất rất lớn để truyền tín hiệu không mong muốn vào cùng dãy tần số với tín hiệu mong muốn Bởi vì băng tần của nó là khá hẹp, nên các tín hiệu băng hẹp khác bao gồm cả nhiễu có thể hủy hoại hoàn toàn thông tin bằng cách truyền tín hiệu băng hẹp công suất rất cao, cũng giống như một đoàn tàu đang chạy qua làm cho các bạn không thể tâm sự với bạn gái của mình í mà
2 Công nghệ trải phổ
Công nghệ trải phổ cho phép chúng ta lấy cùng một lượng thông tin như trong ví dụ
truyền băng hẹp trước và trải chúng ra trên một vùng tần số lớn hơn nhiều Ví dụ, chúng ta
có thể sử dụng 1 MHz và 10 Watt đối với băng hẹp nhưng 20 MHz và 100 mW đối với trải phổ Bằng việc sử dụng phổ tần số rộng hơn, chúng ta sẽ giảm được khả năng dữ liệu
sẽ bị hư hỏng hay jammed Một tín hiệu băng hẹp cố gắng jamming tín hiệu trải phổ sẽ giống như là việc ngăn chặn một phần nhỏ thông tin nằm trong dãy tần số băng hẹp Nên
hầu hết thông tin sẽ được nhận mà không thấy lỗi Ngày nay thì các bộ phát tần số (RF
radios) trải phổ có thể truyền lại bất kỳ một lượng thông tin nhỏ nào đã bị mất do nhiễu
băng hẹp
Trong khi băng tần trải phổ là tương đối rộng, thì công suất đỉnh của tín hiệu lại rất thấp Đây chính là yêu cầu thứ 2 đối với một tín hiệu được xem như là trải phổ Một tín hiệu được xem là trải phổ khi nó có công suất thấp Hai đặc điểm này của trải phổ (sử dụng băng tần số rộng và công suất rất thấp) làm cho bên nhận (receiver) nhìn chúng giống như
là một tín hiệu nhiễu Noise (nhiễu) cũng là tín hiệu băng rộng công suất thấp nhưng sự khác biệt là nhiễu thường là không mong muốn Hơn nữa, vì bộ nhận tín hiệu xem các tín
Trang 3hiệu trải phổ như là nhiễu, nên các receiver sẽ không cố gắng demodulate (giải điều chế) hay diễn giải nó làm cho việc truyền thông có thêm một ít sự bảo mật
3 Ứng dụng của trải phổ
Sự bảo mật này đã làm hấp dẫn quân đội trong việc sử dụng công nghệ trải phổ trong suốt các năm 1950 – 1960 Bởi vì đặc tính gống nhiễu nên tín hiệu trải phổ có thể được truyền
đi trước mũi kẻ địch mà không bị phát hiện Thông thường, sự nhận thức về bảo mật trong truyền thông chỉ đúng khi không ai sử dụng cùng công nghệ đó Nếu như một nhóm khác
đã sử dụng cùng một công nghệ, thì các truyền thông trải phổ này sẽ bị phát hiện
Vào năm 1980, FCC đưa ra một tập các quy tắc làm cho công nghệ trải phổ được phổ biến cho công chúng và khuyến khích việc nghiên cứu, đầu tư để thương mại hóa công nghệ trải phổ Mặc dù lúc đầu chúng ta có thể nghĩ là quân đội đã đánh mất lợi thế của họ, nhưng thật sự thì không phải Vì băng tần được sử dụng bởi quân đội là khác với băng tần được phổ biến cho công chúng Quân đội cũng sử dụng các kỹ thuật điều chế và mã hóa khác để đảm bảo rằng truyền thông trải phổ của họ là khó bị ngăn chận hơn là của công chúng
Kể từ năm 1980, các cuộc nghiên cứu bắt đầu trở nên nghiêm túc hơn công nghệ trải phổ
đã được sử dụng trong điện thoại không dây, hệ thống định vị toàn càu GPS, điện thoại tế bào số (CDMA), hệ thống truyền thông cá nhân (PCS) và bây giờ là WLAN Những nhà say mê vô tuyến nghiệp dư đã bắt đầu có được nhiều kinh nghiệm hơn về công nghệ trải phổ
Ngoài WLAN thì WPAN (Wireless Personal Area Network), WMAN (Wireless
Metropolitant Area Network) và WWAN (Wireless Wide Area Network) cũng tận
dụng được những lợi thế của công nghệ trải phổ WPAN sử dụng công nghệ Bluetooth để tận dụng lợi thế của việc yêu cầu công suất rất thấp để cho phép thành lập mạng không dây trong khoảng cách rất ngắn WWAN và WMAN có thể sử dụng angten định hướng cao có độ lợi cao để thiết lập kế nối RF tốc độ cao, khoảng cách xa với công suất khá thấp
Wireless Local Area Network
WLAN, WMAN và WWAN sử dụng cùng một công nghệ trải phổ theo các cách khác nhau Ví dụ, WLAN có thể được sử dụng trong một tòa nhà để cung cấp kết nối cho người
Trang 4dùng di động, hay có thể sử dụng Bridge để kết nối tòa nhà với tòa nhà băng qua một campus Đây là các trường hợp sử dụng công nghệ trải phổ rất phù hợp với đặc điểm của mạng LAN
Hầu hết các ứng dụng của công nghệ trải phổ ngày nay đều dựa trên sự kết hợp giữa các thiết bị tương thích chuẩn 802.11 WLAN và các thiết bị tương thích chuẩn 802.15
Bluetooth Hai công nghệ này chia sẻ chung một thị trường rộng lớn Chúng cùng tuân theo quy tắc của FCC, và gây nhiễu lẫn nhau rất lớn Nhiều cuộc khảo sát, thời gian và tài nguyên đã được bỏ ra để làm cho 2 công nghệ này có thể chung sống được với nhau một cách hòa bình
Wireless Personal Area Network
Công nghệ phổ biến nhất của WPAN là Bluetooth được đặc tả trong chuẩn IEEE 802.15 Những nguyên tắc của FCC liên quan đến trải phổ là rất rộng lớn cho phép những kiểu trải phổ khác nhau được cài đặt Một số dạng trải phổ giới thiệu khái niệm nhảy tần
(Frequency Hopping) có nghĩa là hệ thống truyền và nhận sẽ nhảy từ tần số này sang tần
số khác nằm trong dãy tần số mà chúng được phép sử dụng Ví dụ, Bluetooth nhảy xấp xỉ
1600 lần trong một giây trong khi công nghệ HomeRF (một công nghệ WLAN băng tần rộng) nhảy xấp xỉ 50 lần trong một giây Cả 2 công nghệ này khác biệt rất lớn với chuẩn 802.11 WLAN (thường chỉ nhảy 5 – 10 lần trong một giây)
Những công nghệ này đã có những ứng dụng khác nhau trong thị trường, nhưng tất cả đều tuân theo quy tắc của FCC Ví dụ, một mạng nhảy sóng WLAN tiêu biểu có thể được triển khai như là một giải pháp không dây cho doanh nghiệp trong khi HomeRF chỉ được triển khai trong môi trường gia đình do bị FCC giới hạn ở mức công suất thấp
Wireless Metropolitant Area Network
Một công nghệ trải phổ khác được sử dụng như là một kết nối không dây trải rộng toàn bộ thành phố sử dụng kết nối điểm-điểm công suất cao để thiết lập mạng Loại kết nối này còn được biết với tên gọi là WMAN Meshing (mạng lưới) nhiều kết nối không dây điểm điểm để hình thành nên một mạng băng qua một vùng địa lý rất lớn được xem như là một mạng WMAN nhưng cũng sử dụng cùng một công nghệ như là WLAN
Sự khác nhau giữa WLAN và WMAN nếu có (trong đa số trường hợp) là WMAN sử dụng dãy tần số cấp phép thay vì dãy tần số không cấp phép như trong WLAN Lý do cho sự khác biệt này là các tổ chức triển khai mạng sẽ có quyền điều khiển dãy tần số nơi mà WMAN được triển khai mà không cần lo lắng có ai đó cũng đang triển mạng làm nhiễu
Trang 5đến mạng WMAN của họ Điều này cũng đúng đối với WWAN.
4 FCC Specification
Mặc dù có nhiều cài đặt khác nhau của công nghệ trải phổ nhưng chỉ có 2 loại được đặc tả bởi FCC Những quy tắc cho các thiết bị trải phổ được quy định trong Title 47, là một tập
các luật được thông qua bởi quốc hội dưới tiêu đề “Telegraphs, Telephones and
Radiotelegraphs” Những luật này là nền tảng cho việc hình thành nên những quy tắc của
FCC
Những quy tắc của FCC có thể được tìm thấy trong Codes of Federal Regulation (CFR)
volume 47 part 15 Các thiết bị WLAN được mô tả trong những quy tắc này đôi khi được gọi là “part 15 device”
Những quy tắc của FCC này mô tả 2 loại công nghệ trải phổ là Direct Sequence Spread
Spectrum (DSSS) và Frequency Hopping Spread Spectrum (FHSS)
II Frequency Hopping Spread Spectrum (FHSS)
Trải phổ nhảy tần (FHSS) là một công nghệ sử dụng sự nhanh nhẹn của tần số để trải dữ liệu ra hơn 83 MHz Sự nhanh nhẹn của tần số chính là khả năng của bộ phát tần số
(Radio) có thể thay đổi tần số truyền một cách đột ngột trong dãy băng tần số có thể sử dụng Trong trường hợp nhảy tần đối với mạng WLAN thì dãy tần số có thể sử dụng được (trong băng tần 2.4 GHz ISM) là 83.5 MHz
1 Nguyên lý làm việc của FHSS
Trong hệ thống nhảy tần, sóng mang sẽ thay đổi tần số (hay nhảy) tùy thuộc vào chuỗi
Pseudorandom Chuỗi Pseudorandom là một danh sách của nhiều tần số mà sóng mang
có thể nhảy trong một khoảng thời gian xác định trước khi lặp lại danh sách này
Transmitter sử dụng chuỗi nhảy này để chọn tần số truyền cho nó Sóng mang sẽ vẫn ở một mức tần số nào đó trong một khoảng thời gian xác định (khoảng thời gian này còn
được gọi là Dwell time) và sau đó sử dụng một khoảng thời gian ngắn để nhảy sang tần số tiếp theo (khoảng thời gian ngắn này được gọi là Hop time) Khi danh sách tần số đã được
nhảy hết, transmitter sẽ lặp lại từ đầu danh sách này
Hình dưới minh họa một hệ thống nhảy tần sử dụng một chuỗi nhảy gồm 5 tần số qua dãy tần số 5 MHz Trong ví dụ này thì chuỗi nhảy là
Trang 61 2.449 GHz
2 2.452 GHz
3 2.448 GHz
4 2.450 GHz
5 2.451 GHz
Sau khi radio đã truyền thông tin trên sóng mang 2.451 GHz (tức là đã nhảy đến cuối chuỗi nhảy) thì radio sẽ lặp lại chuỗi nhảy từ đầu ở 2.449 GHz Tiến trình lặp lại này sẽ còn tiếp tục cho đến khi thông tin được nhận hoàn toàn
Radio của bên nhận sẽ đồng bộ hóa chuỗi nhảy với radio của bên truyền để có thể nhận được thông tin trên những tần số thích hợp vào những thời điểm thích hợp Tín hiệu sau
đó được demodulate và sử dụng bởi máy tính nhận
2 Tác dụng của nhiễu băng hẹp
Nhảy tần là một phương pháp truyền dữ liệu trong đó hệ thống truyền và nhận nhảy theo một dạng chấp nhận được của tần số Cũng giống như các công nghệ trải phổ khác, hệ thống nhảy tần là kháng cự (nhưng không miễn nhiễm) đối với nhiễu băng hẹp Trong ví
dụ của chúng ta ở trên, nếu tín hiệu bị nhiễu trên tần số 2.451 GHz thì chỉ phần đó của tín hiệu trải phổ sẽ bị mất, phần còn lại của tín hiệu trải phổ sẽ vẫn được giữ nguyên và dữ liệu bị mất sẽ được truyền lại (có thể ở tần số khác)
Trong thực tế, nhiễu tín hiệu băng hẹp có thể xuất hiện trong nhiều Megahertz của băng
Trang 7thông Vì băng nhảy tần trải rộng 83.5 MHz nên nhiễu băng hẹp chỉ gây sự giảm cấp nhỏ đối với tín hiệu trải phổ
3 Hệ thống nhảy tần
Công việc của IEEE là tạo ra chuẩn hoạt động tuân theo quy tắc của FCC IEEE và chuẩn OpenAir liên quan đến hệ thống FHSS mô tả:
+ Dãy tần số nào có thể được sử dụng
+ Chuỗi nhảy
+ Dwell time
+ Tốc độ dữ liệu
Chuẩn 802.11 xác định tốc độ dữ liệu là 1 Mbps và 2 Mbps, OpenAir (một chuẩn được tạo
ra bởi diễn đàn tương thích mạng không dây WLIF mà bây giờ không còn tồn tại nữa) xác định tốc độ dữ liệu là 800 Kbps và 1.6 Mbps Để cho hệ thống nhảy tần có thể tương thích với chuẩn 802.11 hay OpenAir thì nó phải hoạt động trong băng tần 2.4 GHz ISM (được định nghĩa bởi FCC từ 2.4000 GHz đến 2.5000 GHZ) Cả 2 chuẩn này đều cho phép hoạt động trong dãy tần số 2.4000 GHz đến 2.4835 GHz
Vì WLIF(Wireless LAN Interoperability Forum) không còn hỗ trợ OpenAir nữa nên
chúng ta chỉ tập trung vào IEEE 802.11 khi khảo sát về FHSS
Channels
Một hệ thống nhảy tần sẽ hoạt động sử dụng một dạng nhảy (hop pattern) xác định được gọi là channel (kênh) Hệ thống nhảy tần thường sử dụng hop pattern chuẩn của FCC hay chỉ là một tập con của nó Một số hệ thống nhảy tần cho phép hop pattern được tạo ra tùy
ý và thậm chí còn cho phép đồng bộ hóa giữa hệ thống để loại bỏ xung đột trong môi trường dùng chung (co-located)
Trang 8Mặc dù trong nhiều hệ thống có thể có đến 79 Access Point (AP) đồng bộ co-located,
nhưng mỗi radio nhảy tần phải được đồng bộ hóa với nhau một cách chính xác để không gây nhiễu (truyền trên cùng một tần số) đến radio nhảy tần khác trong cùng một vùng Chi phí của một hệ thống như vậy là rất lớn và thường không được xem như là một tùy chọn (option) Nếu sử dụng radio đã đồng bộ thì thường chỉ xét đến 12 hệ thống co-located là tối đa
Nếu sử dụng radio không đồng bộ thì 26 hệ thống có thể co-located trong WLAN, con số này được xem như là số tối đa trong môi trường WLAN Việc tăng traffic (lưu lượng) một cách đáng kể hay truyền những file lớn một cách thường xuyên sẽ gây ra một sự hạn chế thực tế về số lượng hệ thống co-located tối đa vào khoảng 15 Nếu nhiều hơn 15 hệ thống nhảy tần co-located trong môi trường như thế sẽ gây ra nhiễu và xung đột bắt đầu làm giảm băng thông tổng cộng của WLAN
Dwell time
Khi thảo luận về hệ thống nhảy tần nghĩa là chúng ta đang thảo luận về hệ thống phải truyền trên một tần số xác định trong một khoảng thời gian và sau đó nhảy sang một tần số khác để tiếp tục truyền Khi một hệ thống nhảy tần truyền trên một tần số, nó phải dùng tần số đó trong một khoảng thời gian xác định, khoảng thời gian này được gọi là Dwell time Một khi dwell time kết thúc, hệ thống sẽ chuyển sang một tần số khác và bắt đầu truyền tiếp
Trang 9Giả sử rằng hệ thống nhảy tần truyền trên chỉ 2 tần số 2.401 GHz và 2.402 GHz Hệ thống
sẽ truyền trên tần số 2.401 GHz trong một khoảng thời gian dwell time (ví dụ 100
milisecond) Sau 100 ms radio phải thay đổi tần số truyền của nó sang 2.402 GHz và truyền thông tin tại tần số đó trong khoảng 100 ms Vì trong ví dụ chúng ta chỉ sử dụng 2 tần số nên radio sẽ nhảy trở lại tần số 2.401 GHz và tiếp tục tiến trình truyền
Hop Time
Khi xem xét hành động nhảy của radio nhảy tần, dwell time chỉ là một phần của quá trình nhảy Khi radio nhảy tần nhảy từ một tần số A sang một tần số B, nó phải thay đổi tần số truyền theo một trong 2 cách Nó phải chuyển sang một mạch (điện) khác để có thể truyền
ở tần số mới hoặc nó phải thay đổi một số thành phần của mạch hiện tại để có thể chuyển sang một tần số mới Trong cả 2 trường hợp, quá trình thay đổi phải được hoàn tất trước khi việc truyền có thể bắt đầu, khoảng thời gian thay đổi này bao gồm độ trễ của mạch điện Khoảng thời gian nhỏ này là khoảng thời gian mà radio không thể truyền tín hiệu được gọi là Hop time Hop time được đo bằng microsecond (us), với khoảng thời gian dwell time tương đối lớn vào khoảng 100-200 ms thi hop time là không đáng kể Một hệ thống 802.11 FHSS thường nhảy giữa các kênh khoảng 200-300 us
Với dwell time rất ngắn khoảng 500-600 us được sử dụng trong một số hệ thống nhảy tần như Bluetooth thì hop time có thể rất đáng kể Nếu chúng ta nhìn vào tác dụng của hop time đối với băng thông dữ liệu, chúng ta sẽ phát hiện rằng hop time càng lớn (trong mối liên quan với dwell time) thì tốc độ truyền dữ liệu càng chậm Điều này cũng có nghĩa là dwell time càng lớn thì tốc độ càng cao
Dwell Time Limits
FCC xác định dwell time tối đa của hệ thống trải phổ nhảy tần FHSS vào khoảng 400 ms trên một sóng mang trong bất kỳ khoảng thời gian 30 giây nào Ví dụ, nếu một transmitter
sử dụng một tần số trong 100 ms, sau đó nhảy suốt toàn bộ chuỗi 75 hop (mỗi hop đều có
100 ms dwell time) rồi trở về lại tần số ban đầu, thì xem như nó đã sử dụng nhiều hơn 7.5 giây một ít trong chuỗi nhảy này Lý do không chính xác là 7.5 giây chính là hop time Việc nhảy suốt chuỗi nhảy 4 lần liên tiếp sẽ sinh ra 400 ms cho mỗi tần số sóng mang và khoảng thời gian này hơi vượt quá 30 giây một ít (7.5 * 4 lần) là mức cho phép của FCC Một ví dụ khác minh họa hệ thống FHSS tuân theo quy tắc FCC là việc sử dụng 200 ms dwell time nhảy qua chuỗi nhảy chỉ 2 lần trong khoảng 30 giây, hay 400 ms dwell time
Trang 10nhảy qua chuỗi nhảy chỉ 1 lần trong suốt 30 giây Các trường hợp trên là rất lý tưởng cho việc cài đặt FHSS của các nhà sản xuất thiết bị Sự khác biệt chính trong các ví dụ trên là hop time đã ảnh hưởng như thế nào đến băng thông việc sử dụng dwell time 100 ms sẽ nhảy gấp 4 lần khi sử dụng dwell time 400 ms, nên sẽ tốn thêm 3 hop time giữa các lần nhảy, làm cho giảm băng thông
Thông thường thì radio nhảy tần sẽ không được lập trình để hoạt động ở mức giới hạn bởi luật, thay vào đó, nó cung cấp một số khoảng trống giữa giới hạn luật và khoảng hoạt động thực tế cho phép người sử dụng có thể điều chỉnh một cách linh động Bằng cách điều chỉnh dwell time, administrator có thể tối ưu mạng FHSS nơi có nhiễu xảy ra Trong một vùng có ít nhiễu thì dwell time càng lớn thì băng thông càng lớn Ngược lại trong một vùng mà nhiễu rất đáng kể sẽ làm cho tăng số lượng truyền lại các gói tin bị hỏng do nhiễu, vì thế dwell time nhỏ được ưa thích hơn
4 Các quy tắc của FCC liên quan đến FHSS
Vào 31 tháng 8 năm 2000 FCC đã thay đổi các quy tắc liên quan đến việc cài đặt FHSS Các quy tắc thay đổi cho phép các hệ thống nhảy tần linh động và mạnh mẽ hơn Các
nguyên tắc được chia ra thành 2 loại: trước 31/8/2000 và sau 31/8/2000 và FCC cho phép
nhà sản xuất tùy chọn nguyên tắc để cài đặt vào thiết bị của mình tùy thuộc vào nhu cầu Nếu nhà sản xuất quyết định chọn quy tắc trước 31/8/2000 thì họ sẽ bị giới hạn bởi quy tắc ấy Ngược lại nếu họ chọn quy tắc sau 31/8/2000 thì họ bị giới hạn bởi cả 2 quy tắc trên Một nhà sản xuất không thể sử dụng hỗn hợp một phần từ quy tắc này với một phần của quy tắc khác
Trước 31/8/2000, hệ thống FHSS được quy định bởi FCC và IEEE sử dụng ít nhất 75 trong số 79 tần số sóng mang có thể trong một tập các tần số nhảy với công suất phát tối
đa là 1 Watt ở bộ phát định hướng (intentional radiator) Mỗi tần số mang là một một hệ
số nhân của 1 MHz giữa 2.402 GHz đến 2.480 GHz Quy tắc này phát biểu rằng hệ thống
phải nhảy trên ít nhất 75 trong số 79 tần số trước khi lặp lại hop pattern.
Quy tắc này đã được chỉnh sửa vào 31/8/2000 phát biểu lại rằng chỉ cần 15 hop trong một pattern là đủ, nhưng nhiều thay đổi khác cũng phát sinh từ đó Ví dụ, công suất phát tối đa của một hệ thống tuân theo quy tắc mới này là 125 mW và có thể có tối đa 5 MHz băng thông sóng mang Hãy lưu ý rằng việc tăng băng thông cho cùng một lượng thông tin sẽ