1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Phong cách thơ nguyễn duy

19 3,8K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 389,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu những tổ hợp từ trùng điệp như ``lửa lựu lập loè``, ``lóng lánh ánh trăng loe`` thật hiếm hoi trong thơ Nguyễn Du, Nguyến Khuyến và rất nhiều nhà thơ khác thì chúng lại xuất hiện với tần số khá cao trong thơ Nguyễn Duy. Ngoài hai hiện tượng tiêu biểu trên, có thể tìm thấy trong thơ ông rất nhiều những kết hợp độc đáo như vậy: ``Ngắn ngun ngủn ngày người Gió chi mà gió thế`` (Trở gió), ``Cái thời loang lổ đang trôi Thôi thì thong thả tới thời trắng tinh`` (Thời gian), ``Mềm mại mánh mung mưu mẹo mập mờ con bài bịp tàng hình nuôi dưỡng mơ mộng`` (Mirage)...Khi bắt gặp những câu thơ ấy của ông, người đọc vừa có cảm giác như Nguyễn Duy đang hồn nhiên chơi trò ghép chữ, lại vừa nhận thấy đây là sự thể nghiệm công phu của nhà thơ, cứ như ông đang xáo tung cả kho ngôn ngữ lên, sắp xếp lại theo ngẫu hứng của mình để ``tạo nên những tiếng vang bên trong chữ`` (Tố Hữu) 39, tr.411. Sự sử dụng trùng phức những phép điệp này còn đem đến cho thơ Nguyễn Duy một nhạc điệu thật lạ, các âm các từ như dính vào nhau, ngân theo một âm hưởng chủ đạo, nếu âm, từ được láy lại có âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát, thì câu thơ có nhạc điệu du dương, mềm mại: ``Gió chiều náo động trong tôi long lanh ánh lá lặng rồi lại lay`` (Người đang yêu). Nhưng nếu những âm, từ ấy có âm điệu gồ ghề trúc trắc, thì Nguyễn Duy đã thực sự tạo nên một đợt sóng ngôn từ dao động hình sin một thứ ``âm nhạc hiện đại`` với ``những trái khoáy ngang phè, những nghịch phách tương phản`` (Vương Trí Nhàn) 61, tr.261 khiến người đọc yếu bóng vía choáng váng: ``Véo véo từ trường nhiễu sinh học khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng Cha cha cha tuyt tănggô vanxơ tơlơmơ khớp ngựa ô sàn nhảy lên giường xuống đường ra chợ Lamba đa đời thường em nhảy kiểu vắt cẳng lên cổ rụng gối rối ruột tuột linh hồn`` (Khiêu vũ). Với cách sử dụng những phép trùng điệp cực kỳ khéo léo như vậy, Nguyễn Duy đã chạm đến sự vi diệu của thơ vì mỗi tiếng, mỗi chữ trong thơ ông ``ngoài công dụng gợi lên sự vật, bỗng tự phá bung mở rộng ra, gọi đến chung quanh những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy`` (Nguyễn Đình Thi) 4, tr.24. Trong thơ Việt Nam hiện đại, nhà thơ Tố Hữu được coi là người ``sử dụng trùng điệp tài tình và đặc sắc`` (Trần Đình Sử) 77, tr.326. Nhưng với nhà thơ đã tạo ra ``một giọng thơ quyền uy duy nhất hấp dẫn`` 77, tr.65 trong thơ ca Cách mạng ấy, ``luyến láy thanh vận chỉ đóng vai trò bổ sung như một thứ bồi âm làm cho thơ đậm đà ý vị. Những chỗ nào yếu tố luyến láy phát triển thì ở đó cái giọng điệu riêng của nhà thơ liền bị hoà tan`` 77, tr.333. Trong thơ Nguyễn Duy, ngược lại, những chỗ ``luyến láy`` ấy lại thể hiện rất rõ giọng điệu riêng độc đáo của ông. 3.2.4. Phương thức ``thơ hoá`` ngôn ngữ đời thường Nhưng có lẽ phương thức tái tạo từ đặc sắc nhất ở Nguyễn Duy là phương thức ``thơ hoá`` ngôn ngữ đời thường. Khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy trong khoảng mười năm trở lại đây

Trang 1

Phong cách thơ Nguyễn Duy

3.2.3 Phương thức trùng điệp

Với phương thức trùng điệp sử dụng tất cả các cấp độ: điệp phụ âm đầu, điệp phần vần, điệp từ, điệp ngữ, điệp câu, Nguyễn Duy cũng tạo nên những kết hợp từ rất độc đáo mà biểu hiện rõ nhất là ở hệ thống từ láy được sử dụng trong thơ ông Chỉ cần

làm phép thống kê số lượng từ láy trong tập thơ Anh trăng và những tập thơ của những

nhà thơ cùng thời như Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Lê Anh Xuân, ta sẽ thấy rõ ông

có khuynh hướng dùng từ láy nhiều hơn các nhà thơ khác:

Bảng 3.2: BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ TỪ LÁY

tt Tên tác giả Tên tập thơ T số

bài

Số từ láy

Tỉ lệ từ láy/

bài

Ghi chú

Thảo

Dấu chân qua trảng cỏ

41 134 3,26 từ /

bài

Nxb Tác phẩm mới, 1978

2 Phạm Tiến

Duật

Ở hai đầu núi

bài

Nxb Tác phẩm mới, 1981

3 Lê Anh

Xuân

bài

Nxb Văn nghệ giải phóng, 1975

Duy

bài

Nxb Tác phẩm mới, 1984 Nếu quan niệm như Nguyễn Phan Cảnh: ``Từ láy là tài sản có giá trị nhất của ngôn ngữ nghệ thuật`` [10, tr.82] thì riêng mật độ từ láy trong thơ Nguyễn Duy cũng

đã chứng tỏ được tài sử dụng ngôn ngữ của ông Khi sử dụng từ láy, cũng như các nhà thơ khác, Nguyễn Duy đã khai thác triệt để tính chất tượng hình và tượng thanh của loại từ này để thể hiện thái độ, cảm xúc của mình Nhìn vào hệ thống từ láy ông sử dụng trong các tập thơ, ta thấy có những từ rất quen thuộc, phần nào đã bị ``mòn`` về nghĩa như: rập rờn, rung rinh, ngỡ ngàng, thì thầm, nghiêng nghiêng Nhưng cũng có những từ khá mới lạ như: thập thững, nhỏng nhảnh, lênh phênh, lõng thõng, ngấp nga ngấp ngoáng, xất bất xang bang Nếu từ ``thập thững`` trong câu thơ: ``Quán cháo,

đồng Giao thập thững những đêm hàn`` (Đò Lèn) không chỉ diễn tả được những bước

chân run rẩy, tất bật mà còn như mô phỏng sự hụt hơi của người bà tuổi già sức yếu phải vất vả trong cuộc mưu sinh thì từ ``nhỏng nhảnh`` trong câu thơ: ``Em nhỏng

nhảnh đi qua thời ảo ảnh (Gửi lại trường Lômônôxốp) lại như thâu tóm được tất cả sự đỏng đảnh, nhí nhảnh, vô tư hồn nhiên của cô gái trẻ Nếu từ ``lênh phênh`` (Chiều mận Hậu) diễn tả thật tài tình sự bềnh bồng, mỏng manh của cầu Thăng Long trên

Trang 2

sông Hồng đang cuồn cuộn trong mùa nước lũ thì từ ``lõng thõng`` (Vợ ốm) lại ghi

được trọn vẹn cảm giác hốt hoảng đến rụng rời cả tay chân của nhà thơ khi nghe tin vợ

ốm Nếu ``ngấp nga ngấp ngoáng`` (Gặp ma) thể hiện sự bàng hoàng không kìm được tiếng kêu khi nhà thơ tưởng bóng mình trên tường là ma thì ``xất bất xang bang`` (Vợ ốm) lại gợi lên rất rõ hình ảnh nhà thơ đang tất bật ngược xuôi, xơ xác, tơi tả vì phải

thay vợ gánh cả ``việc thiên việc địa việc nhà``

Không chỉ dừng lại ở việc khéo léo tạo nên những từ láy mới lạ, Nguyễn Duy còn sử dụng phối hợp phép trùng điệp ở nhiều cấp độ Tiêu biểu cho đặc điểm độc đáo

này là dòng thơ: ``Muối lung linh cùng nắng lung linh trắng lấp cái nhìn`` (Muối trắng) Cả dòng thơ gồm mười một chữ, nhưng từ láy ``lung linh`` được sử dụng hai

lần, phụ âm ``L`` được lặp lại năm lần, khi đọc lên, sự trùng điệp ấy như lần lượt hắt lên cái lấp lánh của muối dưới ánh mặt trời, giúp người đọc chợt nhận ra nét duyên thầm của muối Hoặc trong hai dòng thơ sau chỉ gồm mười bốn chữ, nhưng cũng sử dụng đến ba từ láy: ``ngượng ngùng``, ``ngơ ngẩn``, ``hây hây``, ngoài ra phụ âm

``ng``, ``h`` được lặp lại ba lần và nguyên âm ``o``, ``a`` có thể xếp cùng vào một khuôn vần: ``Vở che ngực nhú ngượng ngùng / Ta ngơ ngẩn ngó má hồng hây hây``

(Ao trắng má hồng) Tất cả những sự trùng điệp đó biến câu thơ thành một dòng âm

thanh kết dính nhau không chỉ phá vỡ nhịp điệu hài hoà vốn có của thể thơ lục bát mà như còn lưu giữ nguyên vẹn sự ngượng ngập nhưng cũng đầy háo hức, rạo rực của chàng trai mới lớn khi phát hiện ra bí mật của bạn gái mình

Nếu những tổ hợp từ trùng điệp như ``lửa lựu lập loè``, ``lóng lánh ánh trăng loe`` thật hiếm hoi trong thơ Nguyễn Du, Nguyến Khuyến và rất nhiều nhà thơ khác thì chúng lại xuất hiện với tần số khá cao trong thơ Nguyễn Duy Ngoài hai hiện tượng tiêu biểu trên, có thể tìm thấy trong thơ ông rất nhiều những kết hợp độc đáo như vậy:

``Ngắn ngun ngủn ngày người / Gió chi mà gió thế`` (Trở gió), ``Cái thời loang lổ đang trôi / Thôi thì thong thả tới thời trắng tinh`` (Thời gian), ``Mềm mại mánh mung mưu mẹo mập mờ / con bài bịp tàng hình nuôi dưỡng mơ mộng`` (Mirage) Khi bắt

gặp những câu thơ ấy của ông, người đọc vừa có cảm giác như Nguyễn Duy đang hồn nhiên chơi trò ghép chữ, lại vừa nhận thấy đây là sự thể nghiệm công phu của nhà thơ,

cứ như ông đang xáo tung cả kho ngôn ngữ lên, sắp xếp lại theo ngẫu hứng của mình

để ``tạo nên những tiếng vang bên trong chữ`` (Tố Hữu) [39, tr.411] Sự sử dụng trùng phức những phép điệp này còn đem đến cho thơ Nguyễn Duy một nhạc điệu thật lạ, các âm các từ như dính vào nhau, ngân theo một âm hưởng chủ đạo, nếu âm, từ được láy lại có âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát, thì câu thơ có nhạc điệu du dương, mềm

mại: ``Gió chiều náo động trong tôi / long lanh ánh lá lặng rồi lại lay`` (Người đang yêu) Nhưng nếu những âm, từ ấy có âm điệu gồ ghề trúc trắc, thì Nguyễn Duy đã thực

sự tạo nên một đợt sóng ngôn từ dao động hình sin - một thứ ``âm nhạc hiện đại`` với

``những trái khoáy ngang phè, những nghịch phách tương phản`` (Vương Trí Nhàn)

Trang 3

[61, tr.261] khiến người đọc yếu bóng vía choáng váng: ``Véo véo từ trường nhiễu sinh học / khoan nhặt vô thường ríu rít tít mù loảng xoảng / Cha cha cha tuyt tănggô vanxơ tơlơmơ / khớp ngựa ô sàn nhảy lên giường xuống đường ra chợ / Lamba đa đời

thường em nhảy kiểu vắt cẳng lên cổ / rụng gối rối ruột tuột linh hồn`` (Khiêu vũ) Với

cách sử dụng những phép trùng điệp cực kỳ khéo léo như vậy, Nguyễn Duy đã chạm đến sự vi diệu của thơ vì mỗi tiếng, mỗi chữ trong thơ ông ``ngoài công dụng gợi lên

sự vật, bỗng tự phá bung mở rộng ra, gọi đến chung quanh những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra chung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy`` (Nguyễn Đình Thi) [4, tr.24] Trong thơ Việt Nam hiện đại, nhà thơ Tố Hữu được coi là người

``sử dụng trùng điệp tài tình và đặc sắc`` (Trần Đình Sử) [77, tr.326] Nhưng với nhà thơ đã tạo ra ``một giọng thơ quyền uy duy nhất hấp dẫn`` [77, tr.65] trong thơ ca Cách mạng ấy, ``luyến láy thanh vận chỉ đóng vai trò bổ sung như một thứ bồi âm làm cho thơ đậm đà ý vị Những chỗ nào yếu tố luyến láy phát triển thì ở đó cái giọng điệu riêng của nhà thơ liền bị hoà tan`` [77, tr.333] Trong thơ Nguyễn Duy, ngược lại, những chỗ ``luyến láy`` ấy lại thể hiện rất rõ giọng điệu riêng độc đáo của ông

3.2.4 Phương thức ``thơ hoá`` ngôn ngữ đời thường

Nhưng có lẽ phương thức tái tạo từ đặc sắc nhất ở Nguyễn Duy là phương thức

``thơ hoá`` ngôn ngữ đời thường Khi nghiên cứu ngôn ngữ thơ Nguyễn Duy trong khoảng mười năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã rất chú ý đến sự cập nhật loại ngôn ngữ có tính chất ``cơm bụi``, ``vỉa hè`` trong thơ ông và cho rằng đây là một đột biến mới lạ, thể hiện khuynh hướng ``cơm bụi hoá`` thơ Thực ra đây không phải là sự chuyển biến bất ngờ, mà chỉ là sự nối dài khuynh hướng đưa ngôn ngữ thơ trở về gần với ngôn ngữ đời thường vốn đã xuất hiện trong thơ ông từ những giai đoạn đầu của hành trình sáng tạo Chỉ có điều, trước đây, các yếu tố của ngôn ngữ đời thường xuất hiện trong thơ ông thường là những thán từ : ơ hay, ơ kìa, chao ; những

từ hô gọi: ai ơi, em ơi, tre ơi, lúa ơi, người ơi ; những từ đưa đẩy: cho dù, là thế đấy,

đã đành ; phương ngữ của nhiều miền đất: siêng, ước chi, hà tiện, không răng, xả láng hoặc sự vận dụng rất nhuần nhuyễn thành ngữ, ca dao: ``Năm qua đi, tháng qua

đi / Tre già măng mọc có gì lạ đâu`` (Tre Việt Nam), và có nhiều khi là nguyên vẹn những đối thoại đời thường: ``- Răng mà khóc, con ơi`` (Bà mẹ Triệu Phong), ``- Nhà

mẹ hẹp nhưng còn mê chỗ ngủ`` (Hơi ấm ổ rơm)

Những năm sau này, ông lại tiếp tục đưa thơ về gần với cuộc sống đời thường hơn nữa bằng việc cập nhật rất nhiều những từ ngữ mang tính chất ``bụi bặm``, ``vỉa

hè`` như động cỡn: ``vu vơ động cỡn tâm thần tâm linh`` (Bao cấp thơ) , siêu: ``yêu siêu cỡ đó trước sau mấy người`` (Kính thưa Thị Màu), vô tư: ``vô tư thế chấp đời người`` (Vô tư) , ngoẻo: ``loài Thánh ngoẻo lâu rồi`` (Thắp nhang và khấn) , cắm: ``Ta nhớ ta còn cắm những món nợ lớn`` (Nhớ nhà), đếch: ``Đếch tiên nga đâu đếch Thượng đế đâu`` (Mirage) , ngứa nghề: ``ngứa nghề hát ngọng nghẹo thôi`` (Xẩm

Trang 4

ngọng) , cực kỳ, cực nhớ, cực thèm, cực ngon, cực nhẹ (Cơm bụi ca), miếng ăn chùa (Ngọt ngào) Và có nhiều câu thơ của ông như là sự lắp ghép ngôn ngữ đời thường

bởi như còn giữ nguyên sự thô tháp, sống sít, chua ngoa, sỗ sàng của thứ ngôn ngữ nơi vỉa hè, chợ búa:

Giường bụi vãng lai chợ đài thọ Chí Phèo yêu Thị Nở Phản hàng thịt tênh hênh nhằng nhịt vết dao nhờn nhợn mỡ

(Liền anh đi chợ)

Với loại ngôn ngữ trên, thơ Nguyễn Duy không chỉ nằm trong khuynh hướng chung ``đưa ngôn ngữ thơ trở về gần với ngôn ngữ đời sống`` (Trần Đăng Suyền) [76, tr.116], ``gần với tiếng nói hàng ngày tự nhiên, bình dị, sinh động`` (Nguyễn Văn Long) [52, tr.83] của thơ Việt Nam hiện đại mà ông còn đưa thơ về gần hơn nữa với một lớp người vốn chiếm số lượng không nhỏ trong thời buổi hiện nay đang lấm trong trong cuộc mưu sinh bên lề công cuộc đô thị hoá, công nghiệp hoá Họ là những nông dân ở vùng quê nghèo khó lên thành phố thử vận may, những cư dân ở đô thị nhưng không chen chân vào ngạch công chức, trong đó có không ít những cử nhân, tú tài thất

cơ lỡ vận Ngôn ngữ của họ không hoàn toàn thuần nhất mà mang tính hỗn hợp : vừa quê mùa vừa phố thị, vừa hài hước, ngang tàng ngổ ngáo vừa uyên thâm Nếu Lê Đạt khổ công săn tìm ``bóng chữ``, ``vân chữ`` [26, tr.8] thì Nguyễn Duy đã nhặt nhạnh chính thứ ngôn ngữ đời thường ấy để viết nên những trang thơ

Với Nguyễn Duy, đây không phải là trò chơi ngôn ngữ mà xuất phát từ tâm niệm: ``Với tôi, làm thơ là sự góp nhặt ngôn ngữ đời thường bởi vì một trong những tiêu chuẩn của ngôn ngữ văn học là phải tự nhiên`` [98, tr.82] Đây cũng là một hướng thử nghiệm kiên trì, bền bỉ: ``Tôi nhặt nhạnh li ti bụi chữ / đốt lò tâm linh chơi trò chơi

luyện thơ`` (Rơi và nhặt) và ``Em ạ người thơ chịu án khổ sai thơ / nhạc hư ảo khiêu

vũ từ ngữ`` (Khiêu vũ) Sự ``góp nhặt``, trò chơi ``luyện thơ``, cuộc ``khiêu vũ với từ

ngữ`` ấy thực chất chính là sự thơ hoá ngôn ngữ đời thường Đây là loại ngôn ngữ

``cứ tưởng như luôn thừa mứa ở quanh ta nhưng lại là cả một thử thách đối với người viết khi đưa lên mặt giấy`` (Anh Ngọc) [62, tr.362], vì nó rất sinh động nhưng được sử dụng trong diện rộng nên dễ ``đóng băng``, sớm trở nên công thức, đơn điệu, và nếu nhà thơ không khéo léo trong việc dụng chữ, lời thơ sẽ trở nên nôm na, dễ dãi, thậm chí còn trở thành trò đùa suồng sã khó lòng được chấp nhận Nhiều câu thơ của Bùi Chí Vinh đã từng bị phê phán chính vì đã không vượt qua thử thách này Nhưng Nguyễn Duy đã vượt qua rào cản ấy bằng cách tái tạo lại, cấp cho những từ ngữ đời thường ấy những nghĩa mới Những từ đưa đẩy vốn chỉ có chức năng tạo nét dư trong giao tiếp khi đi vào thơ Nguyễn Duy bỗng trở nên nặng trĩu cảm xúc, suy tư Chẳng hạn với những từ ``thế thôi``, ``gọi là`` được sử dụng liên tiếp trong câu thơ: ``Quà

đồng chỉ có thể thôi, gọi là `` (Bát nước ngô của mẹ Việt ở Cam Lộ), nhà thơ đã diễn

tả được sự áy náy không yên, sự nghẹn ngào yêu thương của một bà mẹ nghèo Quảng

Trang 5

Trị chỉ có mấy bắp ngô dành cho những đứa con chiến sĩ ``giữa buổi nắng nôi`` nghỉ chân tại nhà mình Hoặc trong khổ thơ sau: ``Này em buồn mà làm gì / thời trong leo lẻo lỡ đi qua rồi / cái thời loang lổ đang trôi / thôi thì thong thả tới thời trắng tinh``

(Thời gian) Nếu không có những từ ``này em``, ``thôi thì``, làm sao Nguyễn Duy có

thể tạo ra một giọng điệu tâm tình vừa điềm đạm vừa pha chút đắng cay tiếc nuối khi ông chiêm nghiệm về thời gian Đối với những ngôn ngữ có tính chất ``bụi bặm``,

``vỉa hè``, Nguyễn Duy lại tiếp tục làm người đọc ngỡ ngàng vì nhà thơ đã thổi vào tính ``cực bụi`` những cảm xúc ``cực nghiêm`` nhưng cũng thật mãnh liệt, chân thành

Đó là sự giật mình sực tỉnh giữa cuộc vui: ``Mải ham hố chén u mê / hư vô chặn mất

lối về như chơi`` (Chút thu vàng), là những đau đớn dằn vặt vì sự bất lực của bản thân mình: ``Sọ dừa gặp vấn đề trì trệ / tri thức nhồi vào tri thức cứ phòi ra`` (Kim Mộc Thuỷ Hoả Thổ), là thái độ gay gắt phơi bày mặt trái của xã hội nước ta thời kỳ quá độ:

``miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít / mất vệ sinh bội thực tự hào / Sự thật hôn mê -ngộ độc ca ngợi / bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại / biết thế nhưng mà biết làm thế

nào`` (Nhìn từ xa Tổ quốc)

Nếu quan niệm rằng: ``Đặc thù của ngôn từ thơ ca là tính gợi truyền cảm xúc`` (Rozdextvenxki) [69, tr.88] và: ``Đặc điểm quan trọng nhất của ký hiệu thẩm mỹ

là cơ cấu cảm xúc của nó`` (Khrapchenkô) [44, tr.123], thì Nguyễn Duy thực sự đã

``thơ hoá`` được ngôn ngữ ``cơm bụi`` Và nhiều khi, ngôn ngữ ấy trở nên ``đắc địa`` đến mức dường như không thể dùng từ ngữ nào khác để thay thế nó Chẳng hạn như

từ ``quá trời`` trong câu: ``mùa đông đi để lại rùng mình / em để lại tôi quá trời sương

muối`` (Vết thời gian), nếu thay từ ``quá trời`` bằng các từ khác như: quá nhiều, một

trời, cả trời thì làm sao diễn tả được tiếng kêu bàng hoàng, thảng thốt, đau đớn của

người đàn ông thất tình Hoặc trong câu: ``đòn du côn toé máu tâm hồn`` (Vợ ơi ),

thật khó có thể thay thế các từ ``du côn``, ``toé máu`` bằng các từ khác mà vẫn diễn tả được sự phẫn uất lẫn cảm giác choáng váng, đau đớn, tơi tả, kiệt sức của nhà thơ khi phải nếm một ``đòn`` quá nặng của cuộc đời

Với việc ``thơ hoá`` ngôn ngữ ``cơm bụi`` ấy, Nguyễn Duy đã tận dụng được những ưu thế sau: thứ nhất, tạo nên một sự ``lạ hoá`` ngay ở những ngôn từ rất đỗi đời thường, đem đến cho người đọc những bất ngờ thú vị; thứ hai: rút ngắn hơn nữa khoảng cách giữa thơ ca và cuộc đời, bởi vì đó là thứ ngôn ngữ của số đông, nên đã

thực sự đặt vị trí của người sử dụng nó ``chìm nổi giữa đám đông`` (Bao cấp thơ).

Phương thức tái tạo từ này của Nguyễn Duy đã khiến thơ bớt đi sự óng ả nuột nà nhưng lại đậm đà hơi thở chúng sinh Trong thời buổi nhiều nhà thơ mải miết với những cơn thử nghiệm ngôn ngữ ở tầng sâu vô thức để cho ra đời những câu thơ ``tắc tị`` hoặc ``vọt trào`` thì với những câu thơ trên, Nguyễn Duy thực sự đã đem đến cho người đọc cảm giác ``đang được hưởng thứ gió tươi trên đồng đất, chứ không phải thứ gió lọc qua máy điều hoà, được chén thứ thực phẩm tươi sống trên sông hồ, chứ không

Trang 6

phải bảo quản trong tủ lạnh`` (Chu Văn Sơn) [74, tr.50] Có lẽ tất cả tài năng điều khiển ngôn ngữ của Nguyễn Duy đều kết tụ ở phương thức tái tạo ngôn ngữ độc đáo này Ở đây, vừa có sự mộc mạc giản dị lại vừa có sự khéo léo, tinh tế nhạy cảm, vừa

có sự tự nhiên ngẫu hứng lại vừa có sự chắt lọc công phu Đúng là Nguyễn Duy vừa

``luyện thơ`` từ ``bụi chữ`` bằng ``lò tâm linh`` (Rơi và nhặt), lại vừa ``khiêu vũ từ ngữ`` (Khiêu vũ), trong đó từ ``khiêu vũ`` được hiểu với nghĩa chỉ sự khéo léo ``dìu``

thơ đi giữa ranh giới mong manh của các đối cực: mộc mạc và tinh tế, nhẹ nhàng và sâu cay, bỡn cợt và nghiêm túc, nếu ``hớ hênh nghiêng chút bên này`` thì trở thành sỗ sàng, phản cảm, ``hớ hênh nghiêng chút bên kia`` thì sáo mòn, công thức

Nhưng không phải lúc nào Nguyễn Duy cũng thành công trong vai trò của nhà ``luyện thơ`` giàu kinh nghiệm và một vũ công tài hoa, bởi vì đã có lúc thơ ông trở nên nôm na dễ dãi Cũng có khi, vì bỏ qua mối quan hệ với ngữ cảnh, nên cách nói năng đời thường ấy lại tạo nên một sự phản cảm đáng tiếc: ``Rơm rạ ơi ta trở về đây / ráng chiều cháy cái màu rơm rạ cháy / đồng hí hoáy cố nhân đi cấy / mông nứt đôi

nhẫn nại chổng lên trời`` (Về đồng) Với những câu thơ này, Nguyễn Duy đã khiến

cho không ít người lo ngại rằng ông đang ``làm mờ ranh giới thể loại`` (Vũ Văn Sỹ) [80, tr.73] giữa thơ và văn xuôi, giữa thơ trữ tình và thơ trào phúng Và những năm gần đây, trong thơ ông bắt đầu xuất hiện dấu hiệu của phương thức ``cắt dán`` - một phương thức được xem là tiêu biểu cho trào lưu văn học hậu hiện đại Đã có những câu thơ của ông kiểu như: ``Ngẫu nhiên người loạng quạng ngẫu vương / ta ngẫu hứng

nhau phút tình cờ ấm ớ`` (Giọt trời) phảng phất bóng dáng của lối viết ``tự động``

(ériture automatique) bị xếp vào loại thơ ``tắc tị`` ``khiến bạn đọc chẳng hiểu mô tê gì`` (Chu Thị Thơm) [87, tr.9] Phải chăng Nguyễn Duy lại bắt đầu một sự thử nghiệm mới bởi vì: ``Nhà văn cần phải thường xuyên kiếm tìm phong cách mới cho mình`` (Vladimiro Nabokov) [59, tr.11] Nhưng cho đến thời điểm này, việc nhặt nhạnh ``bụi chữ`` của chúng sinh để luyện thành thơ và sự ``khiêu vũ`` diệu nghệ với từ ngữ của Nguyễn Duy vẫn là một hướng đi riêng của ông, tạo nên những hiệu quả thẩm mỹ mới

mẻ, độc đáo, không lẫn vào ai được

3.3 GIỌNG ĐIỆU THƠ NGUYỄN DUY

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, nói đến giọng điệu văn chương là nói đến

``Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng, đạo đức của nhà văn đối với hiện tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn qui định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa, gần, thân, sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm`` [33, tr.112], hay nói cách khác, giọng điệu văn chương là sự ``biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua lời văn nghệ thuật`` (Nguyễn Đăng Điệp) [28, tr.34] Cũng như thể loại và ngôn ngữ, giọng điệu được xem là bình diện quan trọng khi nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà thơ Nhưng nếu xem phong cách

là một hệ thống phức tạp, thì giọng điệu là yếu tố trước hết phải chú ý tới, vì: ``Đề tài,

Trang 7

tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường giọng điệu nhất định, trong phạm vi của một thái độ cảm xúc nhất định đối với đối tượng sáng tác, đối với

những mặt khác nhau của nó`` (Khrapchenkô) [45, tr.294] Từ điển thuật ngữ văn học

cũng khẳng định: ``Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn`` [33, tr.113] Phương Lựu phát biểu mạnh mẽ, gay gắt hơn: ``Nếu cá tính nhà văn mờ nhạt, không tạo ra được tiếng nói riêng, giọng điệu riêng thì đó là một sự tự sát trong văn học``

[54, tr.236] Trong công trình nghiên cứu Giọng điệu thơ trữ tình, Nguyễn Đăng Điệp

cũng cho rằng: giọng điệu là ``thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của người nghệ sĩ`` [28, tr.11] Và gần đây nhất, Louise Gluck - nữ giáo

sư trường Đại học Williams, nữ thi sĩ vừa được bình chọn là ``Thi khôi Hoa Kỳ`` lần thứ 12 (2004) - nhấn mạnh: ``Bài thơ, bất kể nội dung nó nói gì, sống sót không nhờ nội dung mà nhờ giọng nói Nói giọng là tôi muốn chỉ cái phong cách của tư tưởng`` [7, tr.20] Chính vì vậy, nghiên cứu giọng điệu cũng là hướng đi rất quan trọng để khám phá phong cách thơ Nguyễn Duy

Cũng như các nhà thơ khác, giọng điệu thơ Nguyễn Duy không phải là hiện tượng thuần nhất mà được tạo nên bởi nhiều giọng khác nhau, trong đó nổi bật hai giọng điệu chính: kể lể tâm tình và ngang tàng tếu táo

3.3.1 Giọng kể lể tâm tình

Là một nhà thơ ngay từ khi mới cầm bút đã khao khát muốn giãi bày những

``cảm xúc và suy nghĩ trước những chuyện lớn chuyện nhỏ quanh mình``, trước những điều ``người khác có thể cho là chuyện thoáng qua thì ở anh nó lắng sâu và dường như dừng lại`` (Hoài Thanh) [83, tr.230], và luôn tâm niệm thơ mình phải như tiếng đàn

bầu lẩy lên ``những tâm tình ở đằng sau tâm tình`` (Đàn bầu), nên việc hình thành

trong thơ Nguyễn Duy giọng điệu kể lể tâm tình là điều đương nhiên Để thể hiện

``điệu hồn`` ấy, không kể truyện thơ Trở lại khúc hát ru có đầy đủ mọi yếu tố của một

tác phẩm tự sự, nhiều bài thơ của Nguyễn Duy được triển khai từ một sự việc gồm nhiều chi tiết, sự kiện diễn biến trong một không gian, thời gian nhất định Có thể coi

đó là những cốt truyện nho nhỏ khá hấp dẫn rất dễ chuyển từ ngôn ngữ trữ tình của thơ

sang ngôn ngữ tự sự của văn xuôi Chẳng hạn Tre Việt Nam là câu chuyện về đời tre trải dài từ ``ngày xưa`` đến ``mai sau``; Bầu trời vuông kể về phút nghỉ ngơi dưới mái tăng của người lính sau trận đánh; Hơi ấm ổ rơm kể chuyện một đêm lỡ đường; cuộc đời của người bà, người bố là cốt truyện của Đò Lèn, Cầu Bố; Am ảnh cát ghi lại

quãng cuối đời của bà mẹ liệt sĩ Có những bài thơ của ông chỉ gồm hai câu như:

``Ngấp nga ngấp ngoáng kêu ma / hoá ra lại gặp bóng ta trên tường`` (Gặp ma) nhưng

ta vẫn có thể dựng thành truyện cười hoặc truyện ngụ ngôn thú vị Khi kể lại những câu chuyện này, Nguyễn Duy rất ít khi ``thác lời`` mà thường đóng vai người kể

chuyện ở ngôi thứ nhất: ``Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm`` (Hơi ấm ổ rơm);

Trang 8

``Võng chành như chiếc thuyền câu / ru tôi trôi giữa nông sâu tiếng đàn`` (Đàn bầu);

``Đằng ấy lúc lắc tớ lúc lắc`` (Nằm võng đi ra bể); ``Ta dù lếch thếch lôi thôi / mong thơ sinh hạ cho đôi ba dòng`` (Bao cấp thơ); ``Anh vặt trăng sao rịt lành vết thương / thấm giọng giọt sương nước mắt em long lanh mảnh vỡ`` (Nấp vào bóng mình) Những đại từ nhân xưng ``tôi``, ``ta``, ``anh``, ``tớ`` thường xuyên đi về trong

những trang thơ ấy đã tạo nên sự chân tình gần gũi, rút ngắn khoảng cách giữa nhà thơ

và người đọc, tạo không khí thích hợp để kể lể tâm tình

Cũng như Nguyễn Bính, Nguyễn Duy đã kế thừa trọn vẹn giọng kể của ca dao dân ca, nhưng nếu sự kể lể của Nguyễn Bính thường ``bộc lộ một cái tật: dông dài``, gắn liền với những ``than vãn`` não nuột (Chu Văn Sơn) [75, tr.168-169] thì cách kể của Nguyễn Duy thường rất ngắn gọn và là phương tiện để bộc lộ tâm tình nhẹ nhàng đằm thắm Chính vì vậy nếu thơ Nguyễn Bính dày đặc những từ cảm thán, phép cường điệu và lối chì chiết đay đả, thì Nguyễn Duy lại sử dụng nhiều từ hô gọi có âm điệu thiết tha (Xem 3.2, tr.60) và rất nhiều những từ đệm với mục đích diễn giải và tạo không khí thân tình nhẹ nhàng, ấm áp: ``Nhà tôi đó, không cổng và không cửa / ai ghé

qua cứ việc hút thuốc lào`` (Cầu bố), ``Hậu hoa hậu còn gập ghềnh lắm / thua cũng thương mà được cũng thương`` (Hoa hậu vườn nhà ta) Và ngay cả khi viết về những

câu chuyện có tính chất bi thương, nhà thơ đã từng tự nhủ ``và thơ ơi đừng sướt mướt

làm gì`` (Bài ca cho người ly hôn) ấy vẫn thường dùng từ ngữ có sắc thái điềm đạm ôn

hoà Ông đã dùng cụm từ ``bạn tôi qua đời rồi`` để nói đến sự ra đi của đồng đội vì

``Sốt cơn ác tính cháy da`` (Người đang yêu) Để thể hiện nỗi đau của một người lính

khi trở về vợ đã sinh con với người khác, ông viết: ``Ôi, nếu không vì tám năm cách

trở / làm gì nên nỗi nào`` (Trở lại khúc hát ru) Và đây là những lời thơ ông viết về nỗi

đau hôn nhân tan vỡ: ``Sự dối lừa xúc phạm tình yêu / đành chấp nhận bước lỡ làng định mệnh`` (Tình ca cho người ly hôn) Dường như mọi cảm xúc của nhà thơ

đều được dồn nén, ẩn đằng sau câu chữ Cũng đau đáu hồn đất đai quê kiểng như nhau, nhưng nếu nước mắt Nguyễn Bính ướt đẫm từng trang thơ thì những đắng cay đau xót của Nguyễn Duy lại lặn vào bên trong để ông luôn đem đến cho người đọc những lời tâm tình chân thành, điềm đạm, ấm áp, vực họ bước qua những nỗi đau tưởng chừng không thể nào qua được Đây chính là sự đồng vọng của thái độ sống:

``Đừng than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc còn chồi nảy cây`` (Ca dao) của cha ông thuở nào

So với các nhà thơ thuộc thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, không phải chỉ Nguyễn Duy có giọng thơ kể lể Khi tác động của hoàn cảnh lịch sử khiến thơ ca mở rộng biên độ phản ánh ``đưa chất sống thực tế vào thơ`` (Mã Giang Lân) [94, tr.304] thì kể lể cũng trở thành một giọng điệu chung của thơ chống Mỹ Nhưng sự kể lể của mỗi nhà thơ đều gắn liền với những sắc thái biểu cảm khác nhau

Phạm Tiến Duật kể về Tiểu đội xe không kính, về cuộc gặp gỡ cô gái thanh niên xung

Trang 9

phong, về chuyện ``Cái vết thương xoàng mà đưa viện`` thể hiện chất ``trẻ trung, hóm hỉnh, tinh nghịch`` (Trần Đăng Suyền) [76, tr.135] Nguyễn Khoa Điềm kể về

Đất ngoại ô quê mình, kể về những ngày tuổi trẻ miền Nam xuống đường đấu tranh

chống Mỹ bộc lộ chất ``giàu suy tưởng, cảm xúc`` (Tôn Phương Lan) [94, tr.493]

Thanh Thảo kể về Bài ca ống cóng, Tổ ba người, Dấu chân qua trảng cỏ bằng

``giọng thơ trầm, giàu nghĩ ngợi với những liên tưởng độc đáo, bất ngờ mang ý nghĩa

khái quát sâu xa`` (Bích Thu) [94, tr.427] Hữu Thỉnh kể về Chuyến đò đêm giáp ranh , Giấc ngủ trên đường ra trận, Sau trận đánh bộc lộ sự ``đằm thắm hồn hậu

nghiêng về phía rợp mát``, ``lắng yêu thương lấn át cái ồn ào sôi sục`` (Lưu Khánh

Thơ) [94, tr.421] Bùi Minh Quốc ``diễn giải`` về Kỷ niệm ở sông Trà, Đôi mắt Việt Nam để ``thiên về ngợi ca, hướng về vẻ đẹp lãng mạn`` (Vũ Tuấn Anh) [94, tr.471].

Còn Nguyễn Duy thường kể về những chuyện đời thường nhỏ nhặt với nỗi niềm tâm tình nhẹ nhàng, chân chất, điềm đạm, đằm thắm, đậm đà chất ca dao Chính vì vậy, trên cái nền ``tiết tấu quân hành thời chiến`` (Văn Long) [51, tr.55], cũng như một số những nhà thơ trẻ khác, Nguyễn Duy đã tìm được giai điệu riêng cho mình

Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, Đại hội VI của Đảng đã mở ra bầu không khí dân chủ làm bừng tỉnh trong văn học cái tôi tự ý thức tạo nên giọng điệu chung cho thơ thời kỳ này là ``giãi bày, bộc bạch`` (Mã Giang Lân) [46, tr.376] Nhưng sự ``giãi bày, bộc bạch `` ấy được bộc lộ ở rất nhiều cung bậc khác nhau Với Đặng Đình Hưng,

đó là sự đau đớn đến tê dại cả cảm xúc trong ``cơn thể nghiệm cuối cùng`` với những thèm muốn dữ dội: ``Thèm ngửi, nếm, sờ mó, nhai nuốt, có khi nuốt chửng một mùi hương tóc, một vết chân người, một cái hôn bất tận`` (Hoàng Cầm) [72, tr.27] Với Bằng Việt, đó là những ``hy vọng, lo âu, phập phồng sáng tạo`` (Vũ Quần Phương)

[72, tr.345] khi Ném câu thơ vào gió Với Hoàng Hưng, là hành trình gian nan ``đi tìm

mặt mình`` Với Phùng Khắc Bắc, là ``sự thụ cảm trí tuệ về người lính và số phận con người sau chiến tranh`` (Vũ Văn Sỹ) [49, tr.504] Giữa những giọng thơ tiêu biểu đó, Nguyễn Duy vẫn kiên trì giữ nguyên giọng kể lể tâm tình đôn hậu, ấm áp, điềm đạm,

tỉnh táo Bài thơ tiêu biểu nhất cho giọng điệu này của ông là bài Nấp vào bóng mình :

``Anh vô danh đứng lên bằng đôi chân hy vọng của mình / cây vô danh đứng lên bằng chính rễ của nó / đất đai khô cằn chưa bao giờ bình yên / Không hiểu nổi tại sao anh

và cây bị chém bị đốn / không lẩn trốn và không thể trốn / anh nấp vào bóng anh `` Với những câu thơ dài nhưng nhịp thơ lại chậm rãi đều đặn được láy đi lại lại bởi những điệp từ ``vô danh``, ``không``, ``anh``, ``cây``, và đặc biệt với những từ ngữ:

``bình thản``, ``lại đứng lên``, ``anh chờ em``, ``nấp vào bóng anh``, bài thơ có giọng tâm tình trầm lắng, điềm đạm, nhưng là cái trầm lặng điềm đạm khiến tâm hồn người đọc nổi sóng bởi vừa yêu thương da diết vừa cảm phục sự vững vàng của nhà thơ

trước cuộc đời Những bài thơ khác của ông như Ta chờ mùa hạ sang, Giã từ A-Rê-Khô-Vơ, Rau muối, Chiều mận Hậu, Kính gửi tuổi học trò, Hạ thuỷ đều có chung giọng điệu này Đặc biệt ở những bài thơ ông viết dành riêng tặng vợ như Dịu và nhẹ,

Trang 10

Mời vợ uống rượu giọng kể lể tâm tình lại càng da diết, đằm thắm: ``Nhẹ nhàng

tiếng bóng liêu xiêu / em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng / Má hồng về xứ hồng hoang / tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi / Dịu dàng vang tiếng mắt cười / bỏ qua sấm

chớp một thời xa xăm (Dịu và nhẹ) Không biết trên đời này, có nhà thơ nào viết về

mái tóc hoa râm, gò má nhạt màu thanh xuân và ánh mắt cười của vợ tha thiết như Nguyễn Duy ? Không một từ cám ơn, không một lời ca ngợi, tự giọng điệu bài thơ đã diễn tả sâu lắng đến ngàn lần nỗi niềm ấy của nhà thơ

Kiên trì giữ vững giọng tâm tình ấm áp trong thời kỳ thơ Việt Nam đang bứt phá tìm những hướng đi mới, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục khẳng định tiếng nói riêng của hồn thơ mình Nhưng có một thực tế rằng giọng kể lể tâm tình ấy của Nguyễn Duy trong giai đoạn sáng tác này không hoàn toàn thuần nhất như trước nữa mà có sự xuất hiện song song hoặc đan xen của một giọng điệu khác cũng là giọng điệu chính trong thơ ông: Giọng tếu táo, ngang tàng

3.3.2 Giọng tếu táo, ngang tàng

Nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân cho rằng: ``Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi nganh ngạnh và ương bướng nữa, nếu cần`` [91, tr.205] Thực ra, cái ``ngang ngạnh`` này đã xuất hiện từ trước đó, ngay từ khi giọng thơ chủ đạo của thời đại chống Mỹ là ``hào hùng, sảng khoái, lạc quan`` (Nguyễn Đăng Điệp) [28, tr.193], là ``khúc ca chiến thắng, chất thơ quyện hoà cùng chất thép, niềm lạc quan cách mạng vượt lên những tổn thất đau thương`` (Bùi Văn Nguyên) [60, tr.119] thì Nguyễn Duy đã day dứt viết về ``cái thời con gái đi qua cánh

rừng`` (Người con gái) của các cô gái thanh niên xung phong, mái đầu ``mộng du trắng xoá`` của những người cha ``nửa đời Việt Bắc nửa đời Trường Sơn`` (Người cha) ``Thời sung sức nhất`` khoác áo lính với ông không phải là để viết lên bài hát

``thô sơ và hực sáng`` (Thanh Thảo) của thế hệ mình mà đơn giản chỉ là hành trình

``đi tìm thân nhân`` ``suốt những năm giông bão`` (Tìm thân nhân) Khi đuổi theo

thàng lính nguỵ vừa ``bắn sượt thái dương`` mình, ông không có ý định nổ súng mà

chỉ tâm niệm ``cứu hắn sống đời người mới khó`` (Đứng lại) Sự ``lệch chuẩn`` chệch

ra khỏi những chuẩn mực bất thành văn của thời đại ấy chẳng phải là biểu hiện của sự

``ngang ngạnh``, ``ương bướng`` hay sao ?

Nhưng phải công nhận rằng, từ những năm tám mươi, do sự xúc tác của hoàn

cảnh thời ``quá độ`` ``ào ạt sóng gió`` (Mười năm bấm đốt ngón tay), không khí dân

chủ của thời ``mở cửa``, sự thay đổi môi trường sống từ Thanh Hoá chiêm trũng vào Sài Gòn ồn ào náo nhiệt nhiều nắng, nhiều gió, nhiều bụi đã khiến giọng điệu ấy bỗng nổi lên thành giọng điệu chính trong thơ Nguyễn Duy Sự táo bạo đụng đến những vấn

đề ``kinh mạch``, ``huyệt đạo`` của xã hội, sự ``rũ gan ruột mình ra`` (Chữ dùng của Nguyễn Duy) [95, tr.9] bằng thứ ngôn ngữ ``cơm bụi`` được ``thơ hoá`` (Xem 3.2, tr.61) đã tạo nên trong thơ Nguyễn Duy giọng thơ tếu táo ngang tàng: ``Chích một giọt

Ngày đăng: 04/12/2015, 10:05

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2: BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ TỪ LÁY - Phong cách thơ nguyễn duy
Bảng 3.2 BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ TỪ LÁY (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w