Nguyên nhân khiến cho đường AD dốc xuống là do 3 hiệu ứng: - Hiệu ứng của cải: P↓→ người tiêu dùng cảm thấy mình có nhiều của cải hơn YD tăng → tiêu dùng tăng → AD tăng - Hiệu ứng lãi su
Trang 1CHƯƠNG III: XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG CÂN BẰNG
3.1 CÁC LÝ THUYẾT XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG
Đường tổng cầu (AD)
Khái niệm: Đường tổng cầu cho biết tổng lượng cầu về hàng hoá và dịch
vụ tại mỗi mức giá (Sau này khi học vĩ mô 2, các anh chị sẽ có khái niệm khác rõ hơn về đường tổng cầu và cách thiết lập đường tổng cầu)
Hình dạng đường AD: đường AD có dạng dốc xuống, thể hiện mối quan
hệ tỷ lệ nghịch giữa mức giá và sản lượng Nguyên nhân khiến cho đường AD dốc xuống là do 3 hiệu ứng:
- Hiệu ứng của cải: P↓→ người tiêu dùng cảm thấy mình có nhiều của cải hơn (YD tăng) → tiêu dùng tăng → AD tăng
- Hiệu ứng lãi suất: P↓→ người tiêu dùng cần ít tiền hơn cho việc mua hàng hóa và dịch vụ → tăng tiết kiệm + tăng việc nắm giữ các tài sản sinh lãi → lãi suất giảm → đầu tư tăng → AD tăng
- Hiệu ứng tỷ giá hối đoái: P↓→ i↓→ đầu tư ra tăng → cung nội tệ tăng (do mọi người đều muốn đổi ngoại tệ để đầu tư ra) → nội tệ mất giá →
e (số nội tệ / 1 đồng ngoại tệ ) tăng → NX tăng
3.1.1 Quan điểm cổ điển
Trong chương 1, chúng ta đã biết đường tổng cung thể hiện tổng lượng hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp sản xuất ra và muốn bán tại mỗi mức giá Đồng thời, chúng ta cũng biết hình dạng đường tổng cung phụ thuộc rất nhiều vào thời gian nghiên cứu (tức thời gian để thay đổi các yếu tố sản xuất)
Quan điểm cổ điển cho rằng, trong điều kiện tự do cạnh tranh thì giá cả và tiền lương hoàn toàn linh hoạt, nghĩa là chúng biến động nhanh chóng để lập lại sự cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu Do giá cả và tiền lương có thể biến động linh hoạt nên đường tổng cung hoàn toàn thẳng đứng, không phụ thuộc vào giá cả
Trang 2Mọi sự biến động của tổng cầu chỉ có thể làm tăng hoặc giảm mức giá chung chứ không làm thay đổi sản lượng
Hình 3.1: Quan điểm cổ điển.
Quan điểm cổ điển cho ta thấy:
- Sản lượng cân bằng của quốc gia luôn được duy trì ở mức sản lượng tiềm năng
- Chính sách kinh tế của chính phủ không có tác dụng
Theo quan điểm này, chỉ có tổng cung mới quy định thu nhập, sản lượng của nền kinh tế Vì vậy, muốn thay đổi sản lượng cân bằng, chỉ có thể tác động vào các nguồn lực làm thay đổi đường tổng cung, cụ thể đó là các yếu tố về lao động, tư bản, tài nguyên và công nghệ Do đó, quan điểm này thích hợp để lý giải nền kinh tế trong dài hạn, khi mà giá cả và tiền lương linh hoạt Tuy nhiên, mô hình này không giải thích được các vấn đề trong kinh tế như:
- tình trạng thất nghiệp cao trong những năm 1930 (đại khủng hoảng) Đặc biệt, năm 1933-năm tồi tệ nhất của cuộc Đại suy thoái, ¼ lực lượng lao động của Mỹ không có việc làm
- sự sụt giảm sản lượng do sự chậm biến động của giá cả và tiền lương
3.1.2 Quan điểm của Keynes
Chứng kiến sự sụt giảm sản lượng và tình trạng thất nghiệp cao của nền kinh tế trong cuộc Đại khủng hoảng, John Maynard Keynes – nhà kinh tế học Anh – đã nghi ngờ tính xác thực của lý thuyết cổ điển và cho ra đời tác phẩm “Lý
Trang 3thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ” Trong đó, Keynes cho rằng giá cả
và tiền lương là cứng nhắc do:
- Tiền lương được quy định theo hợp đồng dài hạn
- Giá cả một số mặt hàng do chính phủ quy định
- Sức ỳ của các tổ chức lớn có quyền quyết định giá một số sản phẩm
Do giá cả và tiền lương là không linh hoạt, nên quan điểm của Keynes phù hợp để lý giải nền kinh tế trong ngắn hạn Theo đó, khi tất cả giá cả và tiền lương cứng nhắc, doanh nghiệp sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của người mua và họ dễ dàng thuê đủ công nhân để sản xuất đủ nhu cầu đó của khác hàng Đường tổng cung sẽ là một đường hoàn toàn nằm ngang Sản lượng cân bằng của nền kinh tế
sẽ do một mình tổng cầu quyết định
Hình 3.2: Quan điểm của Keynes
Ý nghĩa của mô hình của Keynes:
- thất nghiệp có thể xảy ra, thậm chí kéo dài khi tổng cầu giảm
- Vai trò của chính phủ là quan trọng: điều chỉnh tổng cầu thông qua các chính sách kinh tế
Nhược điểm của mô hình Keynes: chưa giải thích được tình trạng nền kinh
tế vừa suy thoái, vừa có lạm phát cao
Tuy nhiên, cách tiếp cận của Keynes được đánh giá cao vì nó tỏ ra gần gũi với thực tế biến đổi của đời sống kinh tế hàng ngày Chính vì vậy, chúng ta sẽ
Trang 4nghiên cứu cách thức tổng cầu quyết định sản lượng như thế nào dựa trên cách tiếp cận của trường phái Keynes
3.2 XÁC ĐỊNH SẢN LƯỢNG CÂN BẰNG QUỐC GIA
Giả thiết:
Giá cả, tiền lương đã cho và không đổi.Vì vậy, không có lạm phát và đường tổng cung là một đường nằm ngang Tức các hãng sản xuất kinh doanh có khả năng và sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của nền kinh tế Do đó, tổng cầu sẽ một mình quyết định mức sản lượng cân bằng
Các tác nhân kinh tế: Nền kinh tế vĩ mô hoàn chỉnh có 4 tác nhân kinh tế:
hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và người nước ngoài
3.2.1 CÁC YẾU TỐ CỦA TỔNG CẦU
Tổng cầu: là toàn bộ số lượng hàng hoá và dịch vụ mà mọi người muốn
mua Do trong nền kinh tế của chúng ta có 4 tác nhân kinh tế và cùng tạo nên tổng
cầu Chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu mỗi chủ thể kinh tế đó tham gia vào tổng cầu bằng những đại lượng nào?
Tiêu dùng và tiết kiệm của hộ gia đình
Khái niệm tiêu dùng: Tiêu dùng là toàn bộ chi tiêu của các hộ gia đình về
tư liệu sinh hoạt hằng ngày trong giới hạn thu nhập khả dụng (Y D ) có được.
Yếu tố ảnh hưởng: - thu nhập khả dụng
- của cải hay tài sản, bao gồm tài sản thực lẫn tài sản tài chính (cổ phiếu, sổ tiết kiệm …)
- yếu tố xã hội, tâm lý, tập quán sinh hoạt, lãi suất … Trong đó, yếu tố thu nhập khả dụng có vai trò quan trọng nhất Tuỳ theo lượng thu nhập khả dụng (gọi tắt là thu nhập) mà người tiêu dùng sẽ chi những tỷ
lệ khác nhau cho các loại hàng hóa Chẳng hạn khi thu nhập thấp, tỷ lệ thu nhập chi cho nhu yếu phẩm khá cao, khi thu nhập tăng lên, tỷ lệ thu nhập chi cho nhu yếu phẩm giảm xuống, còn tỷ lệ thu nhập chi cho nhu cầu giải trí, học hành, du
Trang 5lịch…tăng lên Đặc biệt, người tiêu dùng sẽ quyết định tiêu dùng dựa trên các dự tính về khả năng thu nhập lâu bền1 hoặc thu nhập có được trong cả đời
Đối với yếu tố tập quán sinh hoạt, một ví dụ cụ thể là Lý thuyết về Vòng đời của con người Khi còn trẻ, con người tiêu dùng nhiều hơn số thu nhập họ kiếm được, và thường họ phải nhận sự trợ cấp từ gia đình (giai đoạn này kéo dài đến khi họ đi làm) Khi vào giai đoạn trung niên, người dân sẽ có thu nhập cao và
ổn định hơn Họ cũng tiêu dùng ít hơn so với thu nhập để tiết kiệm tiền cho khi về già Lý thuyết này sẽ được minh hoạ trong đồ thị 3.1 sau:
Hình 3.1: Lý thuyết vòng đời của con người
Hàm tiêu dùng: biểu thị mối quan hệ giữa tổng tiêu dùng và tổng thu nhập, trong đó, tiêu dùng là một hàm của thu nhập và có dạng như sau:
C = C 0 + MPC.YD (3.2)
YD – Thu nhập khả dụng
C0 – Tiêu dùng không phụ thuộc vào thu nhập (còn gọi là tiêu dùng tối thiểu hay tiêu dùng tự định)
MPC (Cm) – Khuynh hướng tiêu dùng cận biên (Marginal Propensity to Consume) với 0 < MPC < 1
1 Milton Friedman, A Theory of the Consumption Function (New York: National Bureau of Economic Research, 1956 Theo đó, thu nhập của một cá nhân được chia ra làm 2 loại: thu nhập lâu bền (thu nhập người tiêu dùng dự định có được) và thu nhập tạm thời (thu nhập ngoài dự đoán: trúng xổ số…) Khi tiêu dùng, người dân chỉ chi tiêu dựa trên thu nhập lâu bền vì họ dự tính thu nhập tạm thời bằng 0
Trang 6MPC biểu thị mối quan hệ giữa sự gia tăng tiêu dùng với sự gia tăng thu nhập khả dụng, theo đó, nếu thu nhập khả dụng tăng thêm 1 đơn vị thì tiêu dùng
có xu hướng tăng lên là bao nhiêu
Ta có công thức:
MPC =
D
Y
C
∆
∆
Hình 3.2 minh họa cho hàm tiêu dùng Độ dốc của hàm tiêu dùng chính là MPC
Hình 3.2: Hàm tiêu dùng
Hàm tiết kiệm: Với cách hiểu tiết kiệm là phần còn lại sau khi tiêu dùng, ta có:
S = YD – C Hay S = -C0+ (1 – MPC).YD
Hay S = -C 0+ MPS.YD
Trong đó: S – hàm tiết kiệm Do khi thu nhập khả dụng tăng, tiêu dùng
và tiết kiệm đều tăng nên tiết kiệm là một hàm đồng biến với thu nhập khả dụng
MPS – khuynh hướng tiết kiệm biên (0 < MPS < 1): cho biết nếu thu nhập khả dụng tăng thêm 1 đơn vị thì các gia đình dự kiến tăng tiết kiệm lên bao nhiêu
MPS =
D
Y
S
∆
∆
Trang 7Do thu nhập khả dụng chỉ có thể đem đi tiêu dùng hoặc để tiết kiệm nên ta
có:
MPC + MPS = 1 (3.3.1)
Ví dụ: nếu MPC = 0,8; khi thu nhập khả dụng tăng 1.000.000 đ thì dân cư
có xu hướng tiêu dùng thêm 800.000 đ, còn 200.000 đ sẽ được giữ lại tiết kiệm
(MPS = 0,2)
Ta sẽ hiểu rõ hơn về hàm tiêu dùng và tiết kiệm trong đồ thị sau:
C
Hình 3.3: Đường tiêu dùng và đường tiết kiệm
Hình 3.3a mô tả hàm tiêu dùng Đường phân giác 45o hội tụ tất cả các điểm
mà tại đó, tiêu dùng bằng thu nhập khả dụng Đường C=C 0+MPC.YD là đường
tiêu dùng dự kiến, nó có hướng dốc lên vì thu nhập khả dụng cao hơn dẫn đến tiêu
dùng nhiều hơn Độ dốc của đường này chính là xu hướng tiêu dùng cận biên
(MPC) Giao điểm giữa đường tiêu dùng dự kiến và đường phân giác gọi là điểm
vừa đủ (điểm V) hay còn gọi là điểm trung hoà Nói cách khác, V là điểm thu nhập
vừa đủ để chi tiêu Phía dưới điểm vừa đủ V, tiêu dùng cao hơn thu nhập, còn phía
C 0
-C 0
C = C 0 + MPC.YD
S = -C 0 + MPS.YD
0
0
S
V
Y
Y
Y
Y
a)
b)
450
Trang 8trên điểm V, tiêu dùng ít hơn thu nhập, số dôi ra đó có thể để dành hoặc gởi tiết kiệm …
Hình 3.3b mô tả hàm tiết kiệm Trong đó, tại điểm vừa đủ V, tiết kiệm = 0 Dưới điểm V, tiết kiệm âm, nói cách khác, người tiêu dùng phải vay nợ Còn trên điểm V, tiếu kiệm tăng khi mức thu nhập tăng lên
Hàm đầu tư
Đây là thành phần quan trọng thứ 2 của tổng cầu hay tổng chi tiêu
Khái niệm: Chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp là các khoản chi để mua sản phẩm đầu tư và chênh lệch hàng tồn kho trong năm của doanh nghiệp.
Vai trò: đầu tư là bộ phận lớn, hay thay đổi trong tổng chi tiêu Đầu tư có
vai trò lớn trong kinh tế vĩ mô Thứ nhất, do là bộ phận lớn và hay thay đổi, nên
những thay đổi thất thường về đầu tư có ảnh hưởng lớn đến sản lượng và thu nhập
trong ngắn hạn (ảnh hưởng tổng cầu) Thứ hai, đầu tư dẫn đến tích lũy cơ bản, có
tác dụng mở rộng sản xuất Vì vậy, về dài hạn, đầu tư làm tăng sản lượng tiềm năng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (ảnh hưởng tổng cung)
Yếu tố ảnh hưởng:
Sản lượng quốc gia: khi GNP tăng, thu nhập của dân chúng tăng, doanh nghiệp tìm thấy cơ hội tăng lợi nhuận bằng cách tăng đầu tư để tăng sức sản xuất
Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí đầu tư: lãi suất cho vay, thuế (VD: thuế đánh vào lợi tức, lợi nhuận)…
Dự đoán của các doanh nghiệp về tình trạng nền kinh tế, từ đó, họ dự định
sẽ bổ sung vào tài sản cố định và hàng tồn kho như thế nào để sản xuất và bán trong tương lai
Đồ thị hàm đầu tư:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hình dạng đồ thị của hàm đầu tư Quan điểm thứ 1 cho rằng, chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp là một nhân tố hết sức nhạy cảm với môi trường đầu tư Do đó, để đơn giản, đầu tư được xem như là một biến ngoại sinh, đã được cho trước Khi đó, đầu tư là một hằng số:
Trang 9I = I 0
Hình 3.3: Đầu tư là một biến ngoại sinh
Quan điểm thứ 2: Xét hàm đầu tư theo biến số sản lượng quốc gia Y: chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp có quan hệ đồng biến với sản lượng quốc gia Hàm đầu tư có dạng:
I = I 0 + MPI Y
I 0 : đầu tư tự định
MPI: Khuynh hướng đầu tư biên , phản ánh lượng thay đổi của chi tiêu
đầu tư khi thu nhập thay đổi 1 đơn vị MPI =
Y
I
∆
∆
và 0<MPI Lúc này, đồ thị của hàm đầu tư theo sản lượng, thu nhập có dạng:
Hình 3.4: Hàm đầu tư theo thu nhập
Quan điểm thứ 3: Xét hàm đầu tư theo biến số lãi suất: chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp sẽ có quan hệ nghịch biến với lãi suất i Do đó, hàm đầu tư sẽ có dạng :
I = I 0 + MPI i i với MPI i là khuynh hướng đầu tư biên (theo lãi suất)
Trang 10Hình 3.5:Hàm đầu tư theo lãi suất
Tổng quát: I = I 0 + MPI Y + MPIi i
Tuy nhiên, để đơn giản, trong mô hình xác định sản lượng cân bằng, ta tạm thời bỏ qua không xét đến biến số lãi suất (tức cho lãi suất là cố định) Nên hàm đầu tư lúc này chỉ có dạng :
Nguồn thu của chi tiêu chính phủ: thuế ròng T
Nguồn thu quan trọng của ngân sách chính phủ là thu từ thuế Gọi T: thuế ròng – phần còn lại của thuế sau khi chính phủ đã thực hiện các khoản chi chuyển nhượng Như vậy, ta có:
T = Ti + Td – Tr
= Tx - Tr Thuế ròng là một hàm của thu nhập Do chính phủ thường thu thuế trên cơ
sở các mức thuế suất quy định cho từng loại thuế, nên khi thu nhập tăng, thuế ròng
tự động tăng lên vì số thu về thuế tăng, cho dù thuế suất không thay đổi Và vì thuế ròng đồng biến với thu nhập, nên ta có hàm thuế ròng T theo sản lượng quốc gia Y có dạng:
T = T0 + MPT Y Với: T0 : Thuế ròng tự định
Trang 11MPT: thuế ròng biên – đại lượng phản ảnh thay đổi của thuế ròng
khi sản lượng, thu nhập thay đổi 1 đơn vị với MPT =
Y
Tx
∆
∆
Khi có chính phủ can thiệp, thu nhập khả dụng Yd lúc này được xác định như sau:
Yd = Y – T
= Y – T0 – MPT.Y
= - T0 + (1-MPT)Y
=> C = C0 + MPC Yd
= C0 + MPC [ -T0 + (1-MPT)Y]
= C0 – MPC.T0 + MPC(1-MPT).Y Đặt C0’ = C0 – MPC.T0
MPC’ = MPC(1-MPT)
Ta có thể viết lại hàm tiêu dùng như sau : C = C0’ + MPC’.Y Trong đó : MPC’ được gọi là khuynh hướng tiêu dùng biên theo sản lượng Còn MPM : khuynh hướng tiêu dùng biên theo thu nhập khả dụng
Như vậy, tại mỗi mức thu nhập, tiêu dùng của hộ gia đình đều bị giảm đi so với trường hợp không có thuế (C0’ < C0 , và MPC’ < MPC) Ngoài ra, do MPC là
độ dốc của đường tiêu dùng, nên đường tiêu dùng khi có thuế sẽ có độ dốc nhỏ hơn đường tiêu dùng khi không có thuế ròng Như vậy, ta có đồ thị :
Hình 3.7: Đường tiêu dùng trước và sau khi có thuế ròng T
Trang 12Từ nghiên cứu trên, ta thấy, thuế ròng có ảnh hưởng tới hàm tiêu dùng, từ
đó ảnh hưởng đến tổng cầu và sản lượng cân bằng Cụ thể, khi tăng thuế ròng, sản lượng cân bằng sẽ giảm và ngược lại Điều này gợi ra rằng khi tổng cầu và sản lượng cân bằng thấp hơn mức toàn dụng nhân công, thuế thấp hơn hay mức trợ cấp chuyển nhượng cao hơn sẽ làm tăng tổng cầu và dịch chuyển mức sản lượng cân bằng tiến gần hơn đến mức toàn dụng nhân công của nó
Chi tiêu của Chính phủ
chi đầu tư của chính phủ
Hàm chi tiêu của chính phủ: chi tiêu của chính phủ là một biến ngoại sinh, dựa trên 2 lý do:
- Chính phủ không ứng xử theo cùng quy tắc như người tiêu dùng hay các doanh nghiệp
- Nhiệm vụ của kinh tế vĩ mô là tư vấn cho chính phủ về các quyết định chi tiêu và thuế, nên nếu không xét ý đồ sử dụng các khoản chi tiêu để tác động đến sản lượng thì có thể nói quyết định chi tiêu của chính phủ
là độc lập với sản lượng
Do đó, hàm chi tiêu của chính phủ sẽ có dạng: G = G0
Tức chi tiêu của Chính phủ là một số ấn định trước và được quốc hội thông qua ngân sách chi tiêu hàng năm Chi tiêu chính phủ làm tăng thu nhập quốc dân,
do đó cũng làm tăng tổng cầu
Ngân sách chính phủ : là tổng các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng năm của chính phủ, bao gồm các khoản thu (chủ yếu từ thuế) và các khoản chi ngân sách Nếu ta gọi B là hiệu số giữa thu và chi ngân sách:
B = T – G Thì khi B>0: Thặng dư ngân sách
B = 0: Cân bằng ngân sách B<0: Thâm hụt ngân sách
Trang 13NGHIÊN CỨU TÌNH HUỐNG: Chính sách cắt giảm thuế năm 1964 của Mỹ
Khi John Kennedy lên làm tổng thống Mỹ năm 1964, ông đã đưa một số nhà kinh tế trẻ vào làm việc trong Hội đồng Cố vấn Kinh tế Một trong những kiến nghị đầu tiên của Hội đồng là tăng thu nhập quốc dân bằng cắt giảm thuế Chính sách này đã dẫn đến việc cắt giảm đáng kể thuế thu nhập cá nhân và công ty năm
1964 để khuyến khích tăng chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư, dẫn đến mức thu nhập
và việc làm cao hơn Đúng như dự đoán của các Cố vấn, chính sách cắt giảm thuế
đã dẫn đến thời kỳ bùng nổ kinh tế Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế năm 1964 là 5.3% đã tăng lên 6.0% năm 1965, và tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 5.7% năm 1963 xuống còn 5.2% năm 1964; 4.5% năm 1965
Một số các nhà kinh tế trọng cung giải thích cho hiện tượng trên là: khi công nhân được phép giữ lại phần thu nhập lớn hơn, họ sẽ cung nhiều lao động hơn, qua đó làm tăng tổng cung về hàng hóa và dịch vụ Song những người theo quan điểm của Keynes lại nhấn mạnh tác động của chính sách thuế đến với tổng cầu như đã phân tích ở trên Và họ coi chính sách cắt giảm thuế kể trên là một minh chứng cho tính đúng đắn của kinh tế học Keynes
Trong mô hình tổng cầu này, chúng ta mở rộng đến khu vực Ngoại thương, tức khu vực xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Xuất khẩu ròng
Khái niệm:
- Xuất khẩu là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ở trong nước
để bán ra nước ngoài
- Nhập khẩu là lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài,
được nhân dân trong nước mua vào
Các yếu tố ảnh hưởng đến cầu về xuất khẩu, nhập khẩu:
Xuất khẩu chịu tác động của nhiều nhân tố: thuế, giá cả, kiểu dáng, chất lượng, chính sách ngoại thương, tỷ giá hối đoái, thị hiếu của người nước ngoài đối với hàng trong nước… Tuy nhiên, khi xét mối quan hệ giữa xuất khẩu với sản