“Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học qui định trong Luật giáo dục; khắc phục những m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
-
NGUYỄN THỊ THANH MINH
PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG THCS
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 2-
NGUYỄN THỊ THANH MINH
PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở TRƯỜNG THCS
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn văn
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 3Tôi xin gởi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người
trong suốt thời gian qua đã tận tình, chu đáo chỉ dẫn và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô là giảng viên trường Đại học Sư
phạm TP HCM đã hết lòng giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi trong suốt thời
gian qua
Xin chân thành cảm ơn Khoa Ngữ Văn, Phòng Khoa học Công nghệ -
Sau Đại học trường Đại học Sư phạm TP HCM; Ban Giám hiệu, giáo viên và
học sinh các trường THCS Chu Văn An, THCS Nguyễn Du, THCS Minh Đức,
THCS Đồng Khởi, THCS Văn Lang, THPT Trần Đại Nghĩa THCS Huỳnh
Khương Ninh, THCS Trần Văn Ơn, THCS Võ Trường Toản, THCS Đức Trí,
THPT Lương Thế Vinh - Quận 1, cô Trần Thị Hoa – Tổ trưởng Tổ Văn,
phòng Giáo dục Quận 1, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ
tôi trong quá trình thực nghiệm dự giờ, xin ý kiến khảo sát từ đội ngũ giáo
viên dạy Văn và các em học sinh của trường để hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn
Trang 4Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Lí do chọn đề tài 1
Lịch sử vấn đề 8
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
Phương pháp nghiên cứu 10
Giới hạn của đề tài 11
Đóng góp của luận văn 11
Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG 1: VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN BẬC THCS 1.1 Vai trò, vị trí của văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 13
1.2 Văn bản nhật dụng 1.2.1 Khái niệm văn bản nhật dụng 14
- Nhật dụng - Văn bản nhật dụng 1.2.2 Đặc điểm chung của văn bản nhật dụng 15
1.2.3 Nội dung nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS 1.2.3.1 Chủ đề chung của chương trình………… 16
1.2.3.2 Nội dung cụ thể của các văn bản 16
Trang 5Ở TRƯỜNG THCS
2.1 Phương pháp và phương pháp dạy học :
2.1.1 Khái niệm Phương pháp ( PP ) 27
2.1.2 Khái niệm Phương pháp dạy học ( PPDH ) 27
2 2 Phương pháp dạy VBND 2.2.1 Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan 28
2.2.2 Dạy - học tích cực 40
2.2.2.1 Dạy học hợp tác 42
2.2.2.2 Dạy học theo dự án 49
2.2.2.3 Thuyết trình 55
2.2.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy 58
2.2.3 Kết hợp dạy VBND với dạy học “Chủ đề tự chọn” và “Chương trình địa phương” 62
2.2.4 Đa dạng hóa hình thức kiểm tra, đánh giá 70
2 3 Phương pháp học VBND
2.3.1 Đọc – hiểu VBND 74
2.3.2 Sử dụng công nghệ thông tin để tìm kiếm, phân tích và tổng hợp tư liệu, hỗ trợ quá trình học VBND 76
2.3.3 Tự học và học tập hợp tác 79
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Tổ chức thực nghiệm 81
3.2 Kết quả thực nghiệm 82
3.2.1 Về nhận thức và phương pháp giảng dạy của đội ngũ GV… 82 3.2.2 Về năng lực tiếp nhận VBND của HS 91
Trang 63.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 105
3.5.1 Giáo án Ngữ văn 6 105
3.5.2 Giáo án Ngữ văn 7 114
3.5.3 Giáo án Ngữ văn 8 127
3.5.4 Giáo án Ngữ văn 9 136
KẾT LUẬN 1 Những vấn đề mà luận văn đã giải quyết được 146
2 Hướng phát triển của đề tài 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 Giáo án thực nghiệm 153
2 Mẫu phiếu khảo sát thực tế D&H VBND ở trường THCS 169
3 Phiếu khảo sát thực tế D&H VBND ở trường THCS 178
4 DVD tư liệu hỗ trợ việc dạy – học VBND
Trang 8Bảng 1.1 Tổng hợp nội dung các VBND chương trình Ngữ văn THCS…….16
Bảng 2.1 Hệ thống nguồn tư liệu phục vụ dạy – học VBND……… 36
Bảng 2.2 Hệ thống nội dung Chương trình địa phương……… 64
Bảng 2.3 Hệ thống nội dung Chủ đề tự chọn phần VBND……….69
Bảng 2.4 Mô hình dạy học hợp tác hai chiều DẠY – TỰ HỌC……….73
Bảng 3.1 Tổng hợp ý kiến về những VBND mà GV gặp khó khăn trong quá
trình giúp HS tiếp nhận và đề xuất hướng khắc phục……….85
Bảng 3.2 Thống kê kết quả nhận xét VBND trong chương trình Ngữ văn….86 Bảng 3.3 Tổng hợp ý kiến về công tác chuẩn bị cho bài dạy VBND…… 88
Bảng 3.4Tổng hợp ý kiến về những PPDH VBND mà GV đã áp dụng…….88
Bảng 3.5 Tổng hợp ý kiến GV về tri thức HS tiếp nhận được quan trọng nhất qua việc học các VBND……….90
Bảng 3.6 Tổng hợp ý kiến HS về hình thức học tập đã được GV tổ chức… 91
Bảng 3.7 Tổng hợp ý kiến về công tác chuẩn bị bài của HS……… 92
Bảng 3.8 Tổng hợp ý kiến HS về khả năng tiếp nhận VBND……….93
Bảng 3.9 Tổng hợp nhận xét của HS về các VBND đã học………94
Bảng 3.10 Tổng hợp nhận thức của HS sau khi học VBND……… 95
Bảng 3.11 Tổng hợp khả năng tạo lập VBND của HS……….… 96
Bảng 3.12 Tổng hợp ý kiến HS sau khi học VB 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
-1.1 Cơ sở khoa học:
Giáo dục đào tạo vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn lực “con người” phát triển về số lượng, mạnh về chất lượng
trong giai đoạn đất nước ta đang chuyển mình đi lên, hội nhập với cộng đồng
nước và đội ngũ những người làm công tác giáo dục hết sức quan tâmviệc đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương
nhập tri thức thế giới Trên lĩnh vực giáo dục, đổi mới PPDH là một vấn đề đã được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỷ qua Các nhà nghiên cứu PPDH đã không ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới của lý luận dạy học hiện đại để đưa nền giáo dục nước ta ngày càng hiện đại hơn, đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Khoa học PPDH bộ môn Ngữ văn cũng không đi ra ngoài quỹ đạo chung đó
ghị quyết của Đảng Luật giáo dục
Nghị quyết 02/NQ – HNTW khóa VIII của Đảng đã nêu bật yêu cầu:
“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09-12-2000, của Quốc hội khóa X
về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông:
Trang 10“Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học qui định trong Luật giáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương trình, sách giáo khoa; tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực
tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh…”.[12.tr.5]
Luật giáo dục 2005, Điều 5 [12.tr.21], đặc biệt là chỉ thị số 14 (4 – 1999), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), điều 28.2 cũng đã ghi rõ:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” [12.tr.22]
Như tài liệu “Những vấn đề chung về đổi mới
giáo dục Trung học sơ sở” môn Ngữ văn đã nêu rõ mục tiêu đổi mới chương
trình, sách giáo khoa (SGK) cấp Trung học cơ sở (THCS):
+ Về mục tiêu chung: Các kiến thức và kĩ năng thực hành được củng
cố để tạo ra 4 năng lực chủ yếu cho HS: năng lực hành động, năng lực thích ứng, năng lực cùng sống và làm việc, năng lực tự khẳng định mình Các năng lực ấy phù hợp với 4 trụ cột giáo dục thế giới thế kỉ XXI là: học để biết; học
để làm việc; học để làm người; học để hòa nhập [12.tr.18]
+ Về phương pháp (PP): “Phương pháp là linh hồn của một nội dung
đang vận động”, “Học phương pháp chứ không học dữ liệu”, “Thầy giáo tồi
Trang 11truyền đạt chân lí, Thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí”, “Phương pháp tốt
là làm đơn giản những phức tạp, Phương pháp tồi là làm phức tạp những đơn giản”, “Thầy giỏi có thể vừa dạy được cho mọi người hiểu được, vừa tối ưu hóa năng lực cụ thể” [12.tr.19]
Và những năm gần đây, nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục, SGK phổ thông trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010” đã xác định phải tập trung vào đổi mới PPDH - dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo học tập của HS dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV:
“Đổi mới PPDH luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu, nội
dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc
cả lớp, giữa học trong phòng học và học ngoài hiện trường; đổi mới môi trường giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng…” [12.tr.9-10]
Từ năm 1997, việc xây dựng lại chương trình, biên soạn lại SGK các môn học và những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS đã đặt ra những yêu cầu cấp thiết về đổi mới PPDH Chương trình mới của THCS cũng đã được ban hành vào ngày 24/01/2002, và Văn – Tiếng Việt là một môn học có nhiều thay đổi Ba phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm văn được tích hợp chặt chẽ trong một chương trình và một SGK, với tên môn học là Ngữ văn Ngoài yêu cầu về vận dụng quan điểm tích hợp tính tư tưởng, phù hợp với tâm lý lứa tuổi THCS, chương trình mới còn đáp ứng yêu cầu nội dung là tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa HS trở lại những vấn đề vừa quen thuộc, gần gũi hàng ngày, vừa có tính lâu dài mà mọi người đều quan tâm Vì lẽ đó
mà các văn bản nhật dụng ( VBND ) được đưa vào chương trình Ngữ văn THCS đã hương trình phần nào giảm bớt tính hàn lâm đã thực hiện được sứ mệnh giúp HS tiếp nhận tri thức, hòa nhập cuộc sống, gắn học với hành, gắn kiến thức với thực tiễn hết sức phong phú, sinh động từ cuộc
Trang 12sống, giúp HS thực sự là những cá nhân chủ động, tích cực quan tâm đến cuộc sống, đến những vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong xã hội (XH) và trên thế giới; và có ý thức góp tiếng nói cũng như chung tay hành động vì cuộc sống tốt đẹp cho cộng đồng
1.2 Cơ sở thực tiễn:
rên thế giới, yêu cầu dạy học Văn gắn với thực tế cuộc sống
đã được đặt ra từ lâu
Ở Anh, trong Qui định mới của Chương trình quốc gia công bố
năm 1995 có đặt rõ yêu cầu phải cho HS tiếp xúc với một “phạm vi văn bản rộng rãi” mà mục tiêu là : “Học sinh cần được dạy nhận biết, phân tích và đánh giá đặc điểm của những loại văn bản khác nhau trong các ấn phẩm và trên các phương tiện truyền thông đại
chúng khác.” (chuyển dẫn từ Hê-len Ác-nôn, Đọc để khám phá,
Hiệp hội đọc sách Vương quốc Anh xuất bản, 1997, tr.12 ) Đây chính là con đường ngắn nhất để giúp HS hiểu biết và có kĩ năng ứng dụng thực tiễn khi đã được tiếp cận với các kiểu văn bản gần
gũi với thực tế cuộc sống Ở Pháp, chương trình Ngữ văn chủ
trương dạy văn bản thuộc thể loại báo chí như tất cả các thể loại văn học khác, tăng tính ứng dụng cho HS Trung Quốc, trong văn
, người học được tiếp cận với cả những bài nặng màu sắc khoa học tự nhiên của Thẩm Quát (đời Tống); hay những văn bản đề cập tới phương pháp toán học của Hoa La Canh HS được tiếp cận một cách đa dạng về các kiểu văn bản, nên năng lực nhận thức của các
em trước những vấn đề xã hội như càng rõ hướng hơn
Mĩ, trong chuẩn môn học tiếng Anh nghệ thuật của bang Niu Oóc,
Trang 13công bố tháng 3 năm 1996, người ta có nêu một hồi kí viết về vụ thảm sát Mĩ Lai ở Việt Nam -
- không chỉ giúp HS hiểu biết về lịch sử thế giới mà còn đưa HS đến gần hơn với giá trị nhân bản khi nhận thức tội ác mà chiến tranh gây ra cho con người, để từ đ các em có thái độ đúng đắn trước những cuộc chiến tranh xâm lược
1945, trong cuốn Việt
Nam văn học sử yếu, , GS Dương Quảng Hàm cũng đã đưa vào trên mười VB giống như VBND theo quan niệm hiện nay…
( Dẫn theo SGV Ngữ văn 6, tập 2 NXBGD, TP.HCM, 2002, tr.146 )
iện nay,
nghiêng về các môn học mang tính đáp ứng xu hướng thời hiện đại như Kinh
tế, Ngoại ngữ, Tin học …Phần lớn HS học môn văn
các kì kiểm tra, thi cử mong muốn hiểu biết, khám phá, nên thiếu ý thức tự học, chưa mạnh dạn bày tỏ chính kiến; không có kĩ năng vận
môn văn có chiều hướng giảm sút Những bài văn khô cứng, nghèo nàn ý tứ, thiếu hiểu biết thực tế, thậm chí sai kiến thức đã khiến dư luận XH và đông đảo phụ huynh hết sức quan tâm, lo lắng cho cách học văn hiện nay Thực tế
, tiết học sinh động, thú vị, có sức thu hút HS tham gia nhiệt tình vào quá trình học, chủ động tiếp nhận tri thức, năng động vận dụng tri thức vào việc tạo lập văn bản, vào giao tiếp cộng đồng và tương tác với cuộc sống
đưa các em đến gần hơn với văn học – con đường gắn kết với cuộc sống– có tâm huyết với nghề, có tình yêu dành cho HS, có ý thức không ngừng đổi mới, nhất là trong PPDH
Trang 14Tất cả những điều trên càng cho ta thấy việc đưa VBND vào chương trình Ngữ văn trong chiến lược đổi mới nội dung chương trình, SGK và PPDH là việc làm cần thiết, phù hợp xu thế lịch sử, đáp ứng yêu cầu hội nhập
và phát triển của XH hiện đại Chương trình THCS mới ( Quyết định số 03/2002/QĐ – BGD&ĐT ngày 24 – 01 – 2002 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ) với những thay đổi quan trọng - như đưa VBND vào chương
trình Ngữ văn - chính là một khâu then chốt của đổi mới PPDH
, từ khi triển khai dạy chính thức chương trình SGK mới, nhiều GV lúng túng khi dạy VBNDVBND không định hình ở một thể loại, một kiểu VB nào - có thể là một tác phẩm văn chương, một bài xã luận đăng trên báo, cũng có thể là một phần trích báo cáo hội nghị quốc tế, hay công ước quốc tế về quyền con người VBND mới lạ trong đề tài, chủ đề ( dân số, môi trường, chiến tranh hạt nhân…), đa dạng trong thể loại ( truyện ngắn, bút kí, tham luận…), kết hợp linh hoạt các phương thức biểu đạt trong cùng một văn bản (tự sự kết hợp nghị luận, biểu cảm kết hợp nghị luận, thuyết minh
rong khi trước đó, lí luận dạy học văn chưa từng có nghiên cứu hay đặt vấn đề về PPDH VBND Vì vậy, việc hướng dẫn HS đọc - hiểu, việc thiết kế giáo án theo yêu cầu đổi mới phương pháp (ĐMPP) của GV gặp không ít khó khăn lựa chọn PPDH, hay sử dụng phương tiện dạy học sao cho tương thích với từng VB ở những đề tài, những cấp lớp khác nhau
: trang bị cho HS những tri thức khoa học cần thiết, ứng dụng tri thức vào thực tiễn, góp phần hình thành nhân cách
và phát huy tính tích cực, chủ động, biết nhận thức và có trách nhiệm với cộng đồng các VBND hình thức phi văn học như công ước quốc
tế, tham luận diễn đàn quốc tế, khi thiết kế giáo án GV không chỉ dừng ở
Trang 15“hiểu” nội dung, “thấy” nghệ thuật mà còn phải nhận ra mối liên hệ chặt chẽ giữa VB với những vấn đề mà XH quan tâm ( một điều hoàn toàn kh c hẳn với PPDH tác phẩm văn chương ) Cho nên, trước khi tiếp nhận một VBND,
GV và HS sự nỗ lực tìm tòi, chọn lựa, tổng hợp tư liệu trong và ngoài văn bản một cách có hiệu quả Tất cả trở thành áp lực đối với GV dạy văn
PPDH nhưng rồi thấy “cái mới” đòi hỏi sự đầu tư nhiều về thời gian, công sức
… nên trở về thói quen “đọc - chép”, hoặc chỉ khai thác giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản mà bỏ qua sợi dây nối kết VB với thực tế đời sống xã hội và trên thế giới Nhiều HS văn học
thờ ơ với đời sống xã hội Các em không quan tâm nắm bắt những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước; hoặc nếu có “biết” thì cũng chỉ dừng ở mức nắm thông tin, tên gọi sự kiện mà không “hiểu”, không “nhận thức” được tác động lâu dài của những vấn đề ấy đối với cuộc sống của chính mình và cộng đồng
tiết dạy - học VBND có không khí sinh động , với sự góp sức hiệu quả của tư liệu phim, tranh ảnh cập nhật từ thực tế đời sống xã hội và thầy - trò cùng trao đổi, sẻ chia trên lớp ,
Từ những lý do trên, tôi mong muốn được tìm hiểu, chia sẻ và góp sức cùng đội ngũ GV dạy Văn lựa chọn những PPDH tối ưu nhất cho việc giảng dạy VBND Qua nghiên cứu tài liệu, tìm hiểu và dự giờ thực tế, tôi muốn đóng góp kinh nghiệm và trình bày những đề xuất cụ thể của mình về PPDH các VBND, để
Trang 162 Lịch sử vấn đề
Năm 2001, tên gọi và các hình thức trình bày của VBND trong chương trình thay SGK đã trở nên gần gũi và quen thuộc đối với GV - HS SGK Ngữ văn 10% lượng VBND trong chương trình Ngữ văn THCS đã giới thiệu
Năm 2005, cuốn “Mấy vấn đề về giảng dạy môn Phương pháp dạy học
Ngữ văn trong chương trình Cao đẳng sư phạm mới” của tác giả Trần Đình
Chung - NXB ĐHSP HN – trình bày cụ thể các định hướng dạy học VBND
Tháng 3/2008, bài viết “Nên dạy các văn bản nhật dụng trong sách
Ngữ văn như thế nào” của TS Đỗ Ngọc Thống ( Viện Khoa học Giáo dục )
cũng những thống nhất cơ bản về định hướng dạy học VBND
, trên các tạp chí “Thế giới trong ta”, “Văn học và tuổi trẻ”,
GV của các trường THCS nhiều chuyên đề đổi mới PPDH đối với VBND Đến nay, sau 9 năm thực hiện đổi mới nội dung, chương trình
thao giảng, tổ chức chuyên đề, hoặc trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp, tham gia diễn đàn “Đổi mới phương pháp” trên các tạp chí chuyên ngành… Việc làm này đã có những đóng góp đáng trân trọng trong việc góp phần xây dựng PPDH đối với VBND nói riêng, với môn Ngữ văn nói chung
mới, GV vẫn chưa thể áp dụng đối với tất cả các bài dạy hoặc với đặc thù điều
Trang 17kiện của trường học, của vùng miền khác nhau Thực tiễn dạy học VBND
, chúng ta cần phải tiếp cận, trao đổi và nghiên cứu sâu hơn, có hệ thống hơn nữa các VBND về tri thức lẫn PPDH , chúng ta cần đóng góp thêm những nhận thức, đề xuất vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn, khả thi, đáp ứng yêu cầu D&H ngày càng cao của VBND nói riêng, môn Ngữ văn nói chung, đặc biệt là phát huy tính tích cực và
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu :
đổi mới của giáo dục đào tạo nói chung, của bộ môn Ngữ văn nói riêng
- chuyên môn: Góp phần khẳng định tính thiết thực trong việc D&H ác định được PP đặc thù cho giảng dạy VBND
- GV: Góp thêm kinh nghiệm để dạy tốt phần VBND
- HS: Tìm ra những biện pháp nâng cao năng lực nhận thức, quan sát, đánh giá các vấn đề đời sống XH, từ đó hòa nhập với cuộc sống cộng đồng, đến gần hơn với hiện thực của cuộc sống xung quanh và ý thức được vai trò của tiếng nói cá nhân trong cái chung của toàn XH
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu sâu hơn những tri thức về đặc trưng của VBND
- Tìm hiểu thực tế ứng dụng PPDH các VBND tại trường phổ thông, trên cơ sở đó đề xuất hướng giải quyết một số vướng mắc về kiến thức và PPDH, đáp ứng thực tế điều kiện dạy và học tại các trường THCS
tập trong giờ học VBND,
Trang 18với đời sống, quan tâm những vấn đề quen thuộc, gần gũi hàng ngày, có ý nghĩa lâu dài, quan trọng cộng đồng cũng như tất cả các quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu các VBND và PPDH của GV ở các trường THCS
+ Song song đó, nghiên cứu PP học của HS khi tiếp nhận các VBND ở từng cấp lớp học
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Trong chương trình Ngữ văn THCS, những VBND được chọn giảng dạy ở từng cấp lớp học ( lớp 6, 7, 8, 9 ) chiếm tỉ lệ không nhiều so với các thể loại văn bản khác, nhưng có giá trị Dạy VBND còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết Tuy nhiên do năng lực và thời gian nghiên cứu không dài nên người thực hiện luận văn xác định triển khai và nghiên cứu vấn đề trong những phạm vi sau :
- Đặc trưng cơ bản của VBND và ý nghĩa của việc dạy VBND trong chương trình Ngữ văn
- Một số PPDH cụ thể đối với các VBND
- Tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm tại một số trường THCS
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra, khảo sát :
+ Điều tra, khảo sát để nắm bắt thông tin xác thực nhất về việc D&H VBND trong nhà trường thông qua thực tế giảng dạy, qua PPDH của GV và các hình thức học tập của HS, dự giờ ở trường THCS trực tiếp
+ Khảo sát SGK, SGV, sách thiết kế giáo án và một số bài viết, bài nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, lí luận và các thầy cô giáo ở trường phổ thông về việc giảng dạy phần VBND
Trang 195.2 Phương pháp phân tích tổng hợp:
+ Phân tích và xử lý các nguồn tư liệu, thông tin chuyên môn
+ Phân tích kết quả thực nghiệm tổng hợp thực tiễn đề xuất PPDH VBND ở trường THCS
5.4 Phương pháp so sánh – đối chiếu:
+ So sánh giữa các bài viết, bài nghiên cứu về cách giảng dạy, cách tổ chức cho HS tiếp nhận một VBND
+ Đối chiếu VBND cụ thể để xác định PPDH phù hợp
5.5 Phương pháp thống kê:
Thống kê kết quả khảo sát và kết quả thực nghiệm
6 Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tìm hiểu thực tiễn D&H cũng như các PPDH đối với phần VBND ở trường THCS, trên cơ sở đó, đóng góp, đề xuất việc ứng dụng những PPDH phù hợp, thiết thực cho quá trình dạy của GV và quá trình học của HS
7 Đóng góp của luận văn
7.1 Về lí luận :
- Trình bày những lý giải khoa học về VBND để hiểu hơn về tầm quan trọng của việc giảng dạy phần VB này trong chương trình Ngữ văn mới
Trang 20- Lựa chọn và đề xuất những PP cũng như biện pháp dạy học ( BPDH ) thích hợp để vận dụng vào việc D&H VBND
7.2 Về thực tiễn :
- Đóng góp cái nhìn tổng thể về thực trạng D&H VBND
- Xây dựng PPDH cụ thể, có tính khả thi cho quá trình D&H VBND
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo của GV và HS trong tiết học VBND
- Thiết kế mẫu một số giáo án cụ thể
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương, với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Tìm hiểu chung về VBND trong chương trình Ngữ văn
Trang 21CHƯƠNG 1:
VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN BẬC THCS
1.1 Vai trò, vị trí của văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn
: văn học địa phương
đời sống, đưa HS trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài, trọng đại mà tất cả các cộng đồng dân tộc cùng quan tâm hướng tới (SGV NV7 (2003 ), Nxb GD) – những vấn đề
trình Ngữ văn trước đây
cho từng đơn vị bài học Tính “mở” ấy thể hiện ở việc khi người dạy và người học nắm bắt chủ đề VB, phải liên hệ và gắn kết những
Trang 22vấn đề mà VB đặt ra với thực tế đời sống cộng đồng, XH, cũng như thế
dân, ý thức cộng đồng, hòa nhập tốt hơn với cuộc sống XH mà
:
học để biết; học để làm việc; học để làm người; học để hòa nhập
1.2 Văn bản nhật dụng
1.2.1 Khái niệm văn bản nhật dụng
Hiểu từ nét nghĩa cơ bản của từ Hán Việt, “nhật” là ngày và “dụng” là
sử dụng, ứng dụng Hiểu một cách khái quát, “nhật dụng” hướng tới những vấn đề được bàn đến, được quan tâm hàng ngày SGV Ngữ văn 6, tập 2 viết: “Khái niệm Văn bản nhật dụng tạm dịch từ chữ “Everyday texts” của tiếng Anh” “Everyday texts”-
một yêu cầu vừa hiển nhiên, vừa bức thiết
còn phải tiếp tục trao đổi Nếu chỉ hiểu Văn bản nhật dụng là VB được sử dụng để
bàn đến những vấn đề đang diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội thì khái
niệm Văn bản nhật dụng chưa hoàn chỉnh Văn bản nhật
dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại văn học hoặc chỉ kiểu
được nhìn nhận từ chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung VB Cho
nên, nói đến VBND là nói đến tính chất của nội dung VB Đó là những bài
viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, công nghệ thông tin, đổi mới tư duy, dân số, quyền trẻ em, ma túy và tác hại của
Trang 23các tệ nạn xã hội , VBND có thể dùng tất cả các thể tài cũng như các kiểu VB Tuy nhiên, do thể hiện tính thời sự cao nên các tác phẩm thông tấn – báo chí thường phù hợp hơn [45, tr.7-9]
ần phân biệt VBND với VB điều hành ( ở Trung Quốc gọi đó là
Văn bản ứng dụng ) Trong chương trình Ngữ văn, bên cạnh các kiểu VB như
tự sự, miêu tả, nghị luận, biểu cảm, thì còn có VB điều hành là loại
VB rất phổ biến và gần gũi trong cuộc sống hàng ngày, nhưng dùng để ra lệnh, chỉ thị, yêu cầu, đề nghị, điều khiển, hướng dẫn … một đối tượng nào
đó Chương trình dạy học của các nước rất chú ý đến việc dạy cho HS trong nhà trường phổ thông các loại VB này Có thể kể ra một số hình thức VB điều hành đã đưa vào nhà trường như: Thư , Báo cáo, Đơn từ, Biên bản, Hợp
đồng … Từ đây, có thể thấy VB Hành chính – Công vụ trong chương trình
Ngữ văn bậc THCS chỉ là một hình thức của VB điều hành ( VB ứng dụng )
[47, tr 27] Như vậy, rõ ràng VBND hoàn toàn khác với các VB điều hành, ứng dụng cả về phương diện hình thức thể hiện - cách thức tạo lập VB - lẫn phương diện nội dung thông tin
1.2.2 Đặc điểm chung của văn bản nhật dụng
thấy hai đặc điểm nổi bật của VBND :
- Về nội dung: tính cập nhật về đề tài –“Một nội dung mà chương trình Ngữ văn quan tâm là sự cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài trọng đại mà tất cả các dân tộc cùng quan tâm, hướng tới ( SGV NV7
(2003 ), Nxb GD )
Trang 24- Về hình thức: tính đa dạng về hình thức – “VBND có thể thuộc bất cứ kiểu văn bản hay thể loại nào” ( SGV NV7 (2003 ), Nxb GD )
Đây cũng là hai tiêu chí cơ bản để nhận diện các VBND trong chương trình Ngữ văn mới
1.2.3 Nội dung nhật dụng trong chương trình ngữ văn THCS
1.2.3.1 Chủ đề chung của chương trình
Các VBND trong chương trình Ngữ văn bậc THCS hướng đến những vấn đề thời sự, cập nhật của đời sống cá nhân và cộng đồng hiện đại:
- : lời báo động về sự gia tăng dân số, sự hủy hoại môi trường, vấn đề sức khỏe, chiến tranh hạt nhân…
quyền sống của trẻ em, di tích lịch sử, bản sắc văn hóa dân tộc
giúp HS hòa nhập hơn vào
1.2.3.2 Nội dung cụ thể của các văn bản
VBND được bố trí giảng dạy ở tất cả các lớp của bậc THCS (13 VB) với một số nội dung (đề tài) cụ thể như sau:
Bảng 1.1Tổng hợp nội dung các VBND chương trình Ngữ văn THCS
Thuyết minh
( Báo Người Hà
Nội )
Bút kí ( Nhiều yếu
tố hồi kí )
2 Bức thư của thủ
lĩnh da đỏ (Xi-at-tơn)
Quan hệ giữa thiên nhiên và con người
Biểu cảm ( kết hợp Nghị luận ) Thư
Trang 253 Động Phong Nha
(Trần Hoàng )
Giới thiệu danh lam thắng cảnh của đất nước
9 Ôn dịch, thuốc lá
(Nguyễn Khắc Viện) Tệ nạn xã hội Thuyết minh
10 Bài toán dân số
vệ bản sắc văn hóa dân tộc
Thuyết minh
Trang 2612 Đấu tranh cho
một thế giới hòa bình
( Ga-bri-en Gac-xi-a
Mac-ket )
Bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh Nghị luận Tham luận
Công ước quốc tế
Bảng hệ thống cho thấy ác VBND:
- Phân phối đều ở 4 khối lớp với số VB, và tiết dạy tương đương nhau
- Được nâng dần về nội dung đề tài, về hình thức thể hiện qua từng cấp lớp, phù hợp với đặc điểm tâm lí và tầm nhận thức của HS
, thái độ ứng xử, phản hồi, cũng như biết quan
Có thể điểm lại nội dung cụ thể của từng VB như sau:
* Các VBND của khối lớp 6: Tập trung về đề tài di tích lịch sử, danh
lam thắng cảnh và thiên nhiên, môi trường
- “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” :
+ Đây là VBND đầu tiên, mở đầu cho cụm bài VBND, của tác giả
Thúy Lan đăng trên báo “Người Hà Nội”
+ Giới thiệu về cây cầu Long Biên, một di tích lịch sử nổi tiếng và thân quen ở Thủ đô Hà Nội, với vai trò là một nhân chứng đau thương của việc Thực dân Pháp xây dựng cây cầu với qui mô lớn, nhằm phục vụ cho cuộc cai trị và đặt ách đô hộ, khai thác thuộc địa lần thứ nhất Cây cầu cũng đã trở thành nhân chứng lịch sử của những tháng năm gian lao mà hào hùng suốt hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ của dân tộc ta
Trang 27hể loại, đ hương thức biểu đạt chính là thuyết minh kết hợp miêu tả và biểu cảm Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác, sinh động về cây cầu, đan xen các hình ảnh lịch sử tái hiện trên nền của cảm xúc, suy tư của tác giả, cầu Long Biên hiện lên như một hình tượng sống động và chân thực, vừa gần gũi bình dị, vừa thân thương, thiêng liêng trong kí
ức và cảm nhận của người đọc nói riêng, của mỗi người Việt Nam nói chung
+ Từ đó, tác giả cùng “Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử” khơi dậy và bồi đắp trong chúng ta tình yêu, niềm tự hào dành cho cầu Long Biên; xây dựng ý thức tự hào, cùng gìn giữ và góp tiếng nói quảng bá về di tích lịch
sử cầu Long Biên nói riêng, các di tích lịch sử trên đất nước ta nói chung
- Văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ”:
+ Các nhà soạn sách lựa chọn và dẫn từ nguồn tài liệu “Quản lí môi trường phục vụ phát triển bền vững” (Dự án VIETPRO – 2020, Hà Nội,
1995), in trong cuốn Chào năm 2000, NXB Đà Nẵng, 1999
+ Đây là một bức thư nổi tiếng, được nhiều người xem là một trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường Thủ lĩnh Xi-at-tơn đã gởi thư trả lời khi tổng thống thứ 14 của nước Mĩ là Phreng-klin Pi-ơ-xơ (năm 1854) tỏ ý muốn mua đất của người da đỏ
+ Ở góc độ thể loại, đây không phải là một văn bản văn học mà là một bức thư phúc đáp, có tính chất ngoại giao, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả và nghị luận
+ Xuất phát từ tình yêu thiên nhiên đất nước, Thủ lĩnh đã nêu lên một vấn đề bức xúc có ý nghĩa to lớn đối với cuộc sống: đó là việc bảo vệ và giữ gìn sự trong lành của thiên nhiên, môi trường Qua VB, HS nhận ra thông điệp sâu sắc: con người phải biết sống hòa hợp với thiên nhiên, biết chăm lo bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ chính mạng sống của mình
Trang 28- Văn bản “Động Phong Nha”:
+ Đây là bài viết của tác giả Trần Hoàng, đăng trong Sổ tay địa danh
du lịch các tỉnh Trung Trung bộ, NXB GD, 1998, giới thiệu về “Đệ nhất kì
quan Phong Nha” của tỉnh Quảng Bình
+ Phong Nha nằm trong quần thể hang động thuộc khối núi đá vôi
+ Phương thức biểu đạt chính của VB là thuyết minh kết hợp miêu tả
và biểu cảm VB khơi gợi lòng yêu quí, tự hào, thích khám phá và có ý thức chăm lo bảo thắng cảnh Việt Nam trong mỗi HS
* Các VBND của khối lớp 7: Nội dung hướng vào những vấn đề về
quyền trẻ em, vai trò của người mẹ, gia đình và nhà trường, về văn hóa
- Văn bản “Cổng trường mở ra”:
+ Đây là bài kí của tác giả Lí Lan, trích từ báo Yêu trẻ số 166 –
1/9/2000, TP HCM Văn bản không có cốt truyện, phương thức biểu đạt chính là tự sự kết hợp biểu cảm VB tâm trạng hồi hộp của người mẹ trong đêm chuẩn bị cho con bước vào ngày khai trường đầu tiên
+ VB thể hiện những cảm xúc đan xen của người mẹ: không chỉ là sự hồi hộp, lo lắng đến không ngủ được mà còn có cả niềm vui với hồi ức của một tuổi thơ áo trắng mẹ được đến trường, được hòa mình dưới mái trường thân yêu, nơi lưu giữ bao kỉ niệm thân thương của đời mẹ Mẹ gởi gắm niềm
hi vọng vào trong ước mơ của con trẻ, vào ngôi trường sẽ mở ra tương lai tươi sáng cho con, và cho bao trẻ thơ khác
Trang 29- Văn bản “Mẹ tôi”:
+ VB mang tính tự truyện nhưng được trình bày dưới dạng một bức
thư của nhà văn Ét – môn – đô đơ A- mi -xi ( nhà văn Italia )
+ Về thể loại, đây là bài tùy bút phương thức biểu đạt chính là biểu cảm tâm trạng và suy nghĩ của người bố qua bức thư gửi cho con – người phạm lỗi vì thốt ra lời thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm
+ Qua bức thư, người cha bộc lộ sự đau buồn và tức giận, đồng thời chia sẻ với con những suy tư về tình nghĩa sâu nặng của người mẹ, tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người con ( và cả người đọc ) Những lời tâm tình, khuyên nhủ của người cha đối với con đã làm hiện lên hình ảnh một người mẹ cao cả và lớn lao: có thể hi sinh tất cả, có thể chịu mọi đau khổ bất hạnh để con đỡ đau đớn và được sống hạnh phúc
+ Từ VB, HS thấm thía sâu sắc rằng: công lao to lớn và tình cảm sâu nặng của người mẹ có ý nghĩa như thế nào đối với con cái; đồng thời nhận ra trong cuộc đời của mỗi chúng ta, người mẹ có một vị trí và ý nghĩa hết sức thiêng liêng, cao cả
- Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê”:
+ VB là truyện ngắn viết phương thức tự sự với miêu tả và biểu cảm về quyền trẻ em Trẻ em có rất nhiều quyền và điều
đó đã được ghi trong Công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc,
năm 1989 Tuy vậy, hiện nay, đề tài sáng tác về quyền trẻ em không nhiều Đặc sắc về nội dung và hình thức thể hiện đã đem lại giải nhì cho truyện ngắn trong cuộc thi thơ – văn viết về quyền trẻ em do Viện khoa học giáo dục và
Tổ chức cứu trợ trẻ em Radda Barnen – Thụy Điển – tổ chức năm 1992
+ VB chủ yếu được khai thác theo tinh thần của một VBND Truyện đề cập đến một vấn đề khá tế nhị, phức tạp hết sức đáng quan tâm (li hôn, li dị), đó là nỗi đau tinh thần mà trẻ thơ phải chấp nhận do cha mẹ gây
Trang 30nên Nhưng chính từ bi kịch tan vỡ gia đình, phải sống thiếu tình cảm của cha mẹ, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng; tình cảm anh em càng thêm yêu thương, gắn bó máu thịt Nội dung chính của truyện không khai thác và miêu tả cảnh đổ vỡ giữa bố mẹ mà tập trung khắc họa tình cảm chân thành, gắn bó yêu thương và tấm lòng vị tha, nhân hậu, trong sáng của anh em Thành, Thủy Điều này có ý nghĩa giáo dục rất lớn không chỉ với HS khi tiếp nhận VB mà còn tác động sâu sắc đến các bậc làm cha mẹ Sức hút của câu chuyện toát lên từ đây, dẫn dắt người đọc HS đến gần với cuộc sống một cách hiệu quả hơn là thế!
+ Từ câu chuyện, vấn đề quyền sống của trẻ em đang bị đe dọa trong XH hiện đại được đặt ra, rất cần đến trách nhiệm của các bậc làm cha
tiếp cận với một vấn đề XH, liên quan đến quyền cần thiết
- Văn bản “Ca Huế trên sông Hương”:
+ VB là bài viết của tác giả Hà Ánh Minh, đăng trên báo Người Hà
Nội Đây không phải là một sáng tác văn học có tính hư cấu, mà chỉ là bài bút
kí, phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, kết hợp yếu tố biểu cảm, giới thiệu về một sản phẩm văn hóa nổi tiếng của một địa danh cố đô Huế Đó là thú nghe ca Huế trên sông Hương thơ mộng – một nét đẹp văn hóa cần được mọi người biết đến, cần được bảo tồn, giữ gìn và phát triển
+ VB giúp người đọc cảm nhận ca Huế không chỉ phong phú ở các điệu hò, điệu lí, là sự kết hợp hài hòa giữa dòng nhạc dân gian và nhạc cung
Trang 31đình, mà còn là cách sinh hoạt độc đáo giữa không gian đêm trăng thanh trên dòng Hương Giang thơ mộng, hòa trong không gian âm nhạc với nhạc công,
ca công và tâm hồn người thưởng thức
+ Qua VB, HS hiểu thêm không chỉ có các danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng mà còn làm say lòng người bởi các làn điệu dân ca và âm nhạc cung đình Ca Huế là một sản phẩm tinh thần quí giá cần được bảo tồn và phát triển Từ đó, HS hiểu hơn về các làn điệu dân ca của đất
* Các VBND của khối lớp 8: Tập trung vào các vấn đề cơ bản như
môi trường, dân số, các tệ nạn xã hội
- Văn bản “ Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000” :
+ VB là tài liệu khoa học của Sở Khoa học Công nghệ Hà Nội, thuộc đề tài bảo vệ môi trường VB được soạn thảo dựa trên bức thông điệp của 13 cơ quan nhà nước và tổ chức phi chính phủ, phát đi ngày 22 tháng 4
năm 2000, nhân lần đầu tiên Việt Nam tham gia hoạt động Ngày Trái Đất
+ Đây là VB thuyết minh về một vấn đề khoa học thể hiện dưới hình thức lời kêu gọi, nên từ ngữ trong VB được sử dụng tương đối dễ hiểu, góp phần đem lại hiệu quả cao khi tác động nhận thức và thống nhất hành động ở
môi trường và sức khỏe của con người
+ Qua VB, mỗi người nhìn nhận lại thói quen sử dụng bao bì ni lông
để có ý thức và hành động đúng, thiết thực góp phần bảo vệ môi trường sống
bằng cách hưởng ứng lời kêu gọi “Một ngày không dùng bao bì ni lông”
- Văn bản “Ôn dịch, thuốc lá”:
+ VB là bài viết của tác giả Nguyễn Khắc Viện, kết hợp giữa phương
thức lập luận và thuyết minh
Trang 32+ VB cung cấp cho bạn đọc những tri thức khách quan và phân tích tác hại ghê gớm của thuốc lá - nguy hiểm hơn cả ôn dịch - đối với sức khỏe của con người, cộng đồng, thậm chí có thể làm suy thoái đạo đức con người
+ VB góp tiếng nói cảnh tỉnh và kêu gọi mọi người từ bỏ thuốc lá,
động cho chiến dịch truyền thông chống hút thuốc lá
- Văn bản “Bài toán dân số”:
+ VB là bài viết của tác giả Thái An - đăng trên báo Giáo dục và
thời đại Chủ nhật, số 28, 1995 - thuộc đề tài dân số và phục vụ cho chủ đề
“Dân số và tương lai của dân tộc, nhân loại”, viết theo phương thức lập luận kết hợp với tự sự Tác giả bắt đầu bằng câu chuyện vui về một bài to
cổ, cách nêu vấn đề nhẹ nhàng mà hấp dẫn Phần cuối bài được trình bày bằng
những lập luận chặt chẽ, số liệu minh chứng phong phú, giàu sức thuyết phục
+ Mượn câu chuyện vui về một bài toán cổ liên hệ sang câu chuyện
đáng buồn, đáng lo về việc gia tăng dân số trên trái đất, VB ấn đề hết sức trọng đại đã được đặt ra: nếu không hạn chế sự gia tăng dân số, con người
sẽ làm hại chính mình, nhất là ở các nước chậm phát triển
+ VB giúp HS nhận thức được sự gia tăng dân số thế giới nhanh chóng như thế nào, các em có ý thức tìm hiểu sâu hơn về tình hình dân số ở Việt Nam
* Các VBND của khối lớp 9: Tập trung vào vấn đề về quyền sống của
con người, vấn đề chống chiến tranh, gìn giữ hòa bình và tình hữu nghị giữa
các dân tộc, vấn đề hội nhập thế giới và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
- Văn bản “Phong cách Hồ Chí Minh”:
+ Bài viết của tác giả Lê Anh Trà được trích từ bài Phong cách Hồ
Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị - trong Hồ Chí Minh và văn hóa Việt
Trang 33Nam, Viện Văn hóa xuất bản, Hà Nội, 1009 - thuộc chủ đề về sự hội nhập với
thế giới và giữ gìn bản sắc dân tộc
+ VB giúp HS hiểu và quí trọng vẻ đẹp của phong cách Bác Hồ Phần thứ nhất của VB nói về vẻ đẹp trong phong cách văn hóa của Bác – sự kết hợp hài hòa giữa phẩm chất, tinh thần dân tộc với tinh hoa nhân loại trong
sự tiếp nhận văn hóa thế giới Phần thứ hai thể hiện vẻ đẹp trong phong cách sinh hoạt của Bác – sự hài hòa giữa giản dị và thanh cao trong nếp sống
+ VB được trình bày phương thức thuyết minh kết hợp nghị luận Trong đó, sự kết hợp giữa kể và bình luận được thể hiện một cách tự nhiên, góp phần làm sáng rõ vẻ đẹp của phong cách Bác Hồ cũng như thể hiện tình cảm yêu kính, ngưỡng mộ của tác giả dành cho Bác
+ Từ nội dung trên, vấn đề nhật dụng được đặt ra: học tập, rèn luyện theo phong cách, và đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm thiết thực, thường xuyên đối với các thế hệ người Việt Nam, nhất là lớp trẻ
- Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình”:
+ Đây là đoạn trích từ bản tham luận nổi tiếng của nhà văn
Cô-lôm-bi-a, Ga-bri-en Gac-xi-a Mac-ket, đọc tại cuộc họp mặt của sáu nguyên thủ quốc gia bàn về việc chống chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình thế giới Phương thức nghị luận với hệ thống lập luận sắc sảo, chứng cớ xác thực, kết cấu so sánh tương phản đặc sắc đã giúp tác giả luận giải một cách thuyết phục
và rõ ràng về hiểm họa hạt nhân đối với nhân loại
+ VB nêu rõ nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa loài người và
sự sống trên trái đất - vấn đề cấp thiết, n
ết để ngăn chặn, xóa bỏ nguy cơ đó
sự tốn kém và tính chất phi lí của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, VB góp tiếng nói thức tỉnh và kêu gọi mọi người cùng hành động để ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, đấu tranh cho một thế giới hòa bình
Trang 34- Văn bản “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em”:
+ VB trích các điều khoản từ Tuyên bố của Hội nghị cấp cao thế
giới về trẻ em, họp tại trụ sở Liên hợp quốc ở Niu Ooc ngày 30 – 9 - 1990,
chứng tỏ sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của cộng đồng quốc tế dành cho trẻ
em trên toàn thế giới
+ Những nội dung trong Bản tuyên bố được luận giải một cách hợp
lí, bố cục mạch lạc, lập luận cụ thể và chặt chẽ, đề cập đến thực trạng bất hạnh của cuộc sống trẻ em trên thế giới, cùng những khả năng có thể cải thiện được cuộc sống của trẻ thông qua các giải pháp cụ thể
+ Qua VB, HS hiểu được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề bảo vệ và chăm sóc trẻ em, để ý thức hơn nữa về quyền, nghĩa vụ của chính mình đối với cuộc sống bản thân và lợi ích chung của cộng đồng
Ở bậc THPT, VBND được học tập trung ở lớp 12 với 2 VB là Nhìn về
vốn văn hóa của dân tộc – Trần Đình Hượu, Thông điệp ngày thế giới phòng chống AIDS - Cô-phi An-nan Riêng, sách Ngữ văn 12 nâng cao đưa thêm 2
VB Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại –Nguyễn Khắc Viện và Tư duy hệ
thống – nguồn sức sống mới của đổi mới tư duy – Phan Đình Diệu
Từ sự phân bổ VBND với các đề tài cụ thể như trên, ta càng thấy rõ mục tiêu của nội dung chương trình SGK: cập nhật và gắn kết HS với đời sống, hòa nhập với XH, với những vấn đề quen thuộc, gần gũi mà “nóng hổi”,
“thiết thực”, có ý nghĩa lâu dài, trọng đại Nội dung nhật dụng phù hợp với đặc điểm tâm lí, nhận thức và năng lực tư duy của đối tượng HS ở từng cấp lớp Tri thức được HS tiếp nhận sẽ giúp các em thích nghi với
XH, tự lí giải thế giới và bản thân; thấy được vai trò cá nhân trong quá trình phát triển của cuộc sống Từ đây, kiến thức học tập được chuyển hóa thành trách nhiệm công dân trong chính HS
Trang 35CHƯƠNG 2:
PHƯƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG
Ở TRƯỜNG THCS 2.1 Phương pháp và phương pháp dạy học :
2.1.1 Khái niệm “Phương pháp”:
Phương pháp (method) trong tiếng Hy Lạp lúc đầu có nghĩa là “men
theo”, sau có nghĩa là “con đường đi tới”, tức là con đường dẫn đến một mục
đích nào đó Paplôp đã viết: “Phương pháp là qui luật khách quan được chuyển dịch vào trong ý thức con người và được sử dụng một cách tự giác và
có kế hoạch, như một công cụ giải thích, cải tạo thế giới.” Ngày nay PP có
nghĩa là tổng thể các con đường, phương thức, phương tiện dùng để chiếm lĩnh đối tượng nhằm đạt được mục đích Vì vậy, phương pháp là cách thức tiến hành một cách tự giác, tuần tự nhằm đạt được những kết quả phù hợp với mục đích đã định. [3 tr 61].
PP và nội dung có quan hệ mật thiết với nhau
Hêghen đã viết: “PP là con đường tiếp cận
hình thức tồn tại của nội dung” Nội dung bao giờ cũng sâu sắc, ít bộc lộ như
hình thức ình thức thường đa dạng, phong phú hơn nội dung, cho nên tiếp cận, nắm được các bình diện của hình thức thì mới khám phá được đối tượng sự vật Như với tác phẩm văn học, nội dung - - hết sức quan trọng, nhưng quan trọng hơn nữa diễn tả nội dung - “như thế nào” - mới tạo nên sức hấp dẫn và của tác phẩm
2.1.2 Khái niệm phương pháp dạy học:
huật ngữ PP có nghĩa là con đường để đạt mục đích PPDH là
con đường để đạt mục đích dạy học - cách thức hành động của GV trong quá
Trang 36người dạy ( ĐMPP ),
hái niệm phương pháp dạy học
hệ thống những hành động có chủ đích của GV theo một trình tự nhất định để tổ chức hoạt động nhận thức và hoạt động thực hành của học sinh sao cho đạt c mục tiêu dạy học: HS hứng thú học tập, niềm tin, niềm vui trong học tập, chủ động, tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập
hiệu quả nhất Đối tượng của hoạt động dạy chính là người học Người
học vừa là đối tượng của hoạt động dạy lại vừa là chủ thể của hoạt động học Nếu người học không chủ động học, không có cách học tốt thì
hoạt động dạy của GV khó có thể đạt được kết quả
Như vậy, phương pháp dạy học bao gồm cách thức dạy của GV và cách
thức học của HS tương tác với nhau - hai chủ thể này hợp tác và hỗ trợ chặt chẽ nhau trong quá trình dạy và học Trong đó, PP dạy đóng vai trò chủ đạo, GV-chủ thể của hoạt động dạy, PP học có tính độc lập tương đối và mang tính chủ động, chịu sự chi phối của PP dạy, HS - chủ thể của hoạt động học
2 2 Phương pháp dạy VBND
Sự xuất hiện các VBND trong chương trình Ngữ văn THCS mới đòi hỏi người GV phải có sự lựa chọn và vận dụng PPDH một cách linh hoạt, phù
dạy VBND không nằm ngoài PPDH Văn nói chung, nhưng có những bước đi
cụ thể cần được GV quan tâm khi thiết kế hoạt động D&H
2.2.1 Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan
Trang 37bàn đến trong VB Cho nên, trong thực tế giảng dạy, hay soạn giảng VBND,
GV cần lưu ý những điểm sau:
- 1: Nhan đề VBND chứa lượng thông tin đậm đặc góp phần làm
rõ chủ đề, thể hiện trực tiếp thông điệp của VB Vì vậy, GV cần
để “đặt vấn đề”, giúp HS phân tích, tìm hiểu ý nghĩa nhan đề, tìm hiểu nội
dung VB trong quá trình dạy – học
1: Trong Ngữ văn 7, nhan đề VB Cuộc chia tay của những con
búp bê gợi lên hình ảnh những con búp bê - món đồ chơi của trẻ em - vốn
là vật vô tri vô giác nhưng đem đến niềm vui cho trẻ, vậy mà lại phải bị chia
nguyên nhân của sự việc ấy
2: Trong Ngữ văn 8, VB Ôn dịch, thuốc lá Ôn
dịch HS dễ dàng nhận ra thái độ giận dữ của tác giả trước một vấn nạn nguy hại đang hủy diệt sức khỏe của con người ấu phẩy tách “Ôn dịch”
tạo điểm nhấn mạnh cho giọng điệu khi đọc, đồng thời tách thành phần
“Thuốc lá” để thấy rõ thuốc lá loại ôn dịch nguy hại đang hoành hành, đe dọa đời sống cộng đồng
- , GV phải nắm chắc đặc điểm, ý nghĩa nội dung trong mỗi VBND, không nên quan niệm VBND là “những sáng tác tiêu biểu” cho các tác phẩm văn học của một thời kì hay một tác giả, để tránh sai lầm khi
giá trị nghệ thuật đặc sắc, GV hướng dẫn HS vẻ đẹp của nghệ
– mà không nhận định, đánh giá sâu về nghệ thuật , GV liên hệ, giáo dục ý thức, tư tưởng tình cảm cho HS phù hợp với
Trang 38vấn đề mà XH đang quan tâm, hướng dẫn HS tự liên hệ, rút ra được bài học cho chính bản thân mình
1: Trong Ngữ văn 9, VB Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của G Mac-ket, GV cho HS nhận thấy nghệ thuật nghị luận hệ thống luận điểm, luận cứ và phép lập luận chặt chẽ giàu sức thuyết phục của VB
cuộc chạy đua vũ trang trên thế giới hiện nay, về hậu quả khủng khiếp mà chiến tranh và vũ khí hạt nhân đã gây ra cho loài người
2: Trong Ngữ văn 7, VB Cuộc chia tay của những con búp bê
nhận nỗi đau tinh thần mà trẻ thơ phải chấp nhận trước sự chia tay của cha mẹ Tuy nhiên, những đứa trẻ vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, tấm lòng nhân hậu, vị tha; tình cảm anh em càng thêm yêu thương, gắn bó máu thịt
3: Trong VB Cầu Long Biên – chứng nhân, lịch sử ( Ngữ văn 6
-tập 2
giúp HS biết và hiểu về cây cầu lịch sử bắc qua sông Hồng một nhân chứng sống động của lịch sử đất nước đã có biết bao kỉ niệm sâu sắc với nhân dân Hà Nội Từ đ , HS có những liên hệ thiết thực đến giá trị và sức sống lâu bền của những di tích lịch sử của địa phương cũng như của đất nước, có ý thức tìm hiểu và tự hào với truyền thống của dân tộc, đồng thời càng ý thức hơn nữa trong việc giữ gìn và bảo vệ các di tích lịch sử ấy
- 3: Trước khi bước vào tiết học chính thức tại lớp, GV phải
tổ chức, triển khai các hướng dẫn cụ thể cho HS tự nghiên cứu nhằm hình thành cho các em cách đọc, cách học, giải quyết các vấn đề đặt ra từ SGK GV phải hướng dẫn và “giao việc” HS – tự nghiên cứu các tài liệu học tập khác
Đây là khâu “tự học” cần thiết và có ý nghĩa quan
Trang 39trọng đối với HS, không chỉ
+ GV không được xem nhẹ thao tác yêu cầu HS đọc phần Chú thích
thông tin , : thời gian, sự kiện thời sự
liên quan đến VB, một số từ ngữ khó, lạ ược Chẳng hạn
văn bản “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” (Ngữ văn 6 –tập 2), phần Chú thích giúp HS hiểu rõ các từ chứng nhân, Ep-phen, cuộc khai thác thuộc
địa lần thứ nhất… Tùy thuộc vào tiến trình của bài dạy mà GV khai thác các
yếu tố trong chú thích một cách linh hoạt và hiệu quả
+ Hướng dẫn HS tìm hiểu và trả lời các câu hỏi của phần“Đọc – hiểu
văn bản” , phân lượng câu hỏi ( yêu cầu cả về số lượng lẫn
nội dung ở từng câu hỏi ), , tái hiện, gợi mở,
phương thức biểu đạt để định hướng cách thức tìm hiểu VB
chi tiết, sự kiện, hay các phương diện của vấn đề được thông tin
-
hai thác hiệu quả kênh chữ và kênh hình Việc sử dụng
đa dạng hóa các biện pháp và phương tiện dạy học đã trở thành yêu cầu thiết
+ Đối với kênh chữ - bề mặt ngôn ngữ của văn bản: GV
quen cho HS ghi nhận tri thức VB trực tiếp lên SGK qua thao tác dùng
Trang 40bài cho HS ( đối với những thông tin dài, nặng, hoặc không nhất thiết phải ghi chép dài ) , kĩ xảo ghi , trích dẫn của HS sẽ trở nên thuần thục hơn, Các em biết lựa chọn chi tiết, câu, hay đoạn văn phù hợp với yêu cầu về nội dung và hình thức diễn đạt của VB – đây cũng chính
là “nguồn” dẫn chứng cụ thể, phong phú, giúp các em trích dẫn khi “phản hồi” thông tin về những hiểu biết từ nội dụng nhật dụng VB
thuyết phục hơn
+ Đối với kênh hình: Trong các phương tiện dạy học nhằm hỗ trợ hiệu quả cho việc đọc – hiểu VB, kênh hình được các tác giả SGK hết sức quan tâm Đây không chỉ đơn thuần là sự cải biến về hình thức, mà còn minh họa, chứa đựng những thông tin có giá trị, liên quan đến văn bản
VBND có đề tài, nội dung gần gũi với đời sống hiện đại, và cơ bản tồn tại không ở dạng hư cấu, nên c hình ảnh minh
Chẳng hạn, GV biết khéo léo khai thác tranh minh họa cảnh Thủy và Thành chia tay nhau trong sự chờ đợi của người mẹ ( VB
Cuộc chia tay của những con búp bê – Ngữ văn 7, tập I ) tạo nên mối thương cảm, đồng cảm sâu sắc trong HS Hình ảnh sự chia tay bịn rịn không chỉ cho HS nhận thức về một nỗi đau, một hiện tượng có thật đang diễn ra trong đời sống XH ( hệ quả tất yếu sau những vụ việc li hôn ) mà còn góp tiếng nói - quyền được chăm sóc, yêu thương và sống hạnh