Bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh luôn gắn liền vớinhiều rủi ro tiềm ẩn như rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro mất khảnăng thanh toán Vì vậy việc đỗ vỡ và phá sản của các tổ chức tín dụnghoạt động yếu kém là điều tránh khỏi Đối với nền kinh tế việc xử lý nhữnghậu quả do quá trình kinh doanh không thành công của các tổ chức tín dụngkhông đơn giản chỉ là tuyên bố phá sản tổ chức này hay đơn vị kia mà trướchết nó làm tổn thương đến niềm tin của dân chúng Nếu không có nhữngbiện pháp thích hợp sẽ còn gây ra những bất ổn khôn lường về kinh tế chínhtrị, xã hội , gây hoang mang dao động trong dân chúng và tạo ra tâm lý bấtlợi cho hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng Để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổ định các tổ chức tíndụng nói riêng và bảo đảm cho sự an toàn lành mạnh trong hoạt động củangành ngân hàng nói chung Ngày 01/09/1999 Chính phủ đã ban hành nghịđịnh số 89/1999 NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi và ngày 09/11/1999 thủ tướngChính phủ đã ra quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về thành lập tổ chức bảohiểm tiền gửi Việt Nam Như vậy đây là một hoạt động bảo hiểm mới đượctriển khai ở Việt nam, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và được phốihợp giữa chính phủ và ngân hàng nhà nước Việt nam Chính vì thế em rấtquan tâm và muốn tìm hiểu nghiệp vụ này được triển khai như thế nào ở
Việt nam Do đó em đã chọn đề tài " Bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam" để
làm đề án môn học.Với sự hiểu biết của bản thân và sự hưỡng dẫn nhiệt tìnhcủa Cô giáo Tô Thị Thiên Hương em đã hoàn thành đề tài này
Vì đây là lần đầu tiên đi sâu nghiên cứu một nghiệp vụ bảo hiểm nêncòn nhiều thiếu sót và còn mang nặng lý thuyết nên kính mong Cô xem xét
và góp ý, em xin chân thành cảm ơn
Trang 2
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
I SỰ CẦN THIẾT CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI.
1 Chức năng của tín dụng
Các tổ chức tín dụng được thành lập để hoạt đông kinh doanh tiền tệ ,làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấptín dụng cung ứng các dịch vụ thanh toán Ngân hàng là loại hình tổ chứctín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinhdoanh khác có liên quan Với bản chất như vậy tín dụng có các chức năngchính sau:
- Huy động và phân phối vốn tạm thời nhàn rỗi trên nguyên tắc hoàn trả đây
là chức năng chủ yếu của tín dụng phản ánh bản chất của tín dụng Chứcnăng này của tín dụng được thể hiện thông qua các nghiệp vụ cơ bản sau: + Huy động vốn tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức
xã hội, dân cư thông qua các hình thức góp vốn, huy động tiết kiệm,phát hành trái phiếu
+ Cho vay đối với các doanh nghiệp, cá nhân nhằm phục vụ sản xuất
kinh doanh và tiêu dùng dưới hình thức cho vay bằng tiền hoặcbằng hàng hoá
- Kiểm soát các hoạt động kinh tế: Tín dụng là quan hệ kinh tế được hìnhthành trên cơ sở rất nhiều các quan hệ kinh tế khác bản thân quan hệ tíndụng cũng lại bao gồm nhiều mối quan hệ như: Quan hệ vay, quan hệ về dư
nợ Do đó quan hệ tín dụng bao gồm cả khả năng kiểm soát các laọi hoạtđộng kinh tế của các doanh nghiệp để hình thành được quan hệ tín dụngngười cho vay phải biết và kiểm soát hoạt động của người đi vay như tìnhhình vốn liếng, mặt hàng sản xuấyt kinh doanh, khả năng trả nợ nói riềng vàtình hình tài chính nói chung, quan hệ với các chủ nợ khác các trục trặctrong quan hệ tín dụng như vay không trả nợ được hoặc trả không đúng hạnphản ánh những trục trặc trong qua trình sản xuất kinh doanh như không tiêuthụ hàng hoá, không có lãi, bị phá sản
2 Vai trò của hoạt động của tín dụng
Là một mối quan hệ kinh tế tín dụng có những tác động nhất định đốivới các hoạt động kinh tế Tuy nhiên vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếuvào nhận thức và vận dụng quan hệ tín dụng vào xây dựng và quản lý kinh
Trang 3tế của con người Trước hết tín dụng là công cụ tích tụ va tập trung vốn rấtquan trọng Thông qua tín dụng các doanh nghiệp nhận khối lượng vốn bổsung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất hoặc tăng năng suất lao động, đổimới thiết bị áp dụng tiến bộ kỹ thuật Tín dụng tập trung các khoản tín dụngnhỏ, lẻ tẻ thành các khoản vốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trìnhlớn, hiệu quả cao Tóm lại, thông qua quá trình tích tụ và tập trung vốn tíndụng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Tín dụng giúp các nhà doanhnghiệp đầu tư vào các ngành có tỷ suất lợi nhuận cao kích thích khả năngcạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệpchuyển hưỡng sản xuất kinh doanh Tín dụng trở thành công cụ làm chokinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở nên năng động, mềmdẻo, linh hoạt bên cạnh đó, tín dụng là công cụ tăng vòng quay của vốn vàtiết kiệm tiền mặt trong lưu thông.
3 Sự cần thiết của bảo hiểm tiền gửi
Trong các hoạt động kinh tế , tín dụng là một trong những hoạt độngphát triển mạnh mẽ, hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận rất cao nên có rấtnhiều rủi ro và chúng có thể xảy ra bất cứ lúc nào gây ra những thiệt hạikhông lường trước hoạt đông tín dụng có thể gặp những rủi ro sau:
Rủi ro tín dụng là nguy cơ người cho vay không thực hiện nghĩa vụ tả
Rủi ro hệ thống là nguy cơ một hay một số khách hàng không trả nợhoặc rút tiền gây nguy hiểm cho toàn hệ thống tài chính
Rủi ro đạo đức là một khía cạnh quan trọng liên quan mật thiết đếnđộng cơ hành động
Các rủi ro trên có thể xẩy ra lúc nào gây ra tổn thất cho các tổ chức tíndụng như mất mát về tài sản, thu nhập làm cho tổ chức tín dụng bị thua lộthậm chí bị phá sản Rủi ro tín dụng xẩy ra có thể do nhiều nguyên nhânkhác nhau:
Do môi trường kinh tế chứa ổn định làm cho một số doanh nghiệp khôngđứng vững trên thị trường
Trang 4Do quản lý nhà nước còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân, doanhnghiệp có hànhvi lừa đảo.
Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế
Cùng vơí những nguyên nhân trên khánh hàng cũng góp phần tạo ranhững rủi ro tín dụng, ví dụ như khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích,sản xuất kinh doanh thua lỗ; người vay cố tình không trả nợ hoặc tài sản thếchấp, giấy tờ pháp lý của khách hàng không đảm bảo
Bản thân ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng gây những rủi ro nhưkhông chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm các quá trình xétduyệt cho vay, không kiểm tra được việc sử dụng vốn của người vay, quáchú trọng về lợi nhuận,đặt lợi nhuận lên trên các nguyên tắc ,điều kiện củatín dụng; việc xác định cho vay không chuẩn xác như cho vay sai mục đích,chẳng hạn vay để đánh quả, hoặc để đầu cơ tích trữ cho giá lên, cho vaykhông có biện pháp đảm bảo thích hợp Ngoài ra còn có nguyên nhân kháctác dụng đến sự rủi ro tín dụng như sự thay đổi, điều chỉnh về chính trị quân
sự, chế độ, luật pháp của nhà nước, thay đổi địa giới hành chính của các địaphương
Những rủi ro tín dụng xẩy ra có thể để lại những hậu quả khôn lường,nếu nhẹ thì cũng làm mất ổn định hệ thống ngân hàng, mất niềm tin vàonhân dân Nếu nhẹ thì gây nên cuộc khủng hoảng tài chính thi trường từ đónảy sinh nhiều vấn đề khác Do vậy để đối phó với những rủi ro tổn thấtkhông lường trước do các rủi ro gây ra có nhiều biện pháp khác nhau nhưngbiện pháp tốt nhất là bảo hiểm nghĩa là chuyển những rủi ro mà mình có thểgặp phải cho các tổ chức bảo hiểm Vì thể bảo hiểm tiền gửi ra đời là một tấtyếu khách quan
II BẢN CHẤT CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI.
1 Khái niệm và đặc điểm.
Trang 5 Rủi ro bảo hiểm rất đặc biệt: chịu sự chi phối của tất cả các yếu tốkinh tế - chính trị -văn hoá cho nên rủi ro được bảo hiểm và rủi rokhông được bảo hiểm xẩy ra trong cho nên rủi ro được bảo hiểm vàrủi ro không được bảo hiểm có thể thay đổi theo thời kỳ.
Mặc dù là bảo hiểm trách nhiệm nhưng trách nhiệm ở đây nhà bảohiểm có thể biết trước hoặc lường trước(thông qua số dư tiền gửi)
Các công ty bảo hiểm thông thường trên cơ sở những khoản tiền gửi
có kỳ hạn
Đây là loại hình bảo hiểm trách nhiệm đặc biệt: về đối tượng thamgia, đối tượng bảo hiểm, người thứ 3, thời hạn tính phí chẳng hạn nhưngười tham gia là tổ chức tín dụng, họ nộp phí bảo hiểm cho ngườithứ 3 là người gửi tiền
2 Vai trò
Cũng như hoạt động tín dụng bảo hiểm tiền gửi cũng đóng vai trò rất lớn:
Đối với nền kinh tế: hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng cóliên quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, cácdoanh nghiệp, người gửi tiền nếu có rủi ro xẩy ra gây thiệt hại lớnhoặc phá sản một vài tổ chức tín dụng sẽ tạo ra tâm lý không an toànđối với nhân dân, họ đua nhau rút tiền làm phá sản hàng loạt các ngânhàng và tổ chức tín dụng từ đó làm cho nhiều doanh nghiệp mất vốn,nền kinh tế thiếu vốn trầm trọng lãnh đạo nền sản xuất bị đình trệ và
ảh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế Do đó bảo hiểm tiền gửi ra đời gópphần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng rủi ro tín dụng ảnh hưởngtrực tiếp tới hoạt động kinh doanh của họ do đó khi không may rủi rotín dụng xẩy ra sẽ làm cho doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận thua lỗthậm chi mất cả khả năng thanh toán dẫn đến phá sản Vì vậy bảohiểm tiền gửi giúp bình ổn hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện lợinhuận cho các tổ chức tín dụng hoạt động một cách có hiệu quả Đốivới người gửi tiền: Khi rủi ro tín dụng xẩy ra có thể mất tiền gửi, đa
số người gửi tiền là do tiết kiệm được vì thế khi tổ chức tín dụng nơi
họ gửi tiền mất khả năng thanh toán họ sẽ mất toàn bộ số tiền bấy lâunay tiết kiệm được, vì thế những dự tính cũng tiêu tan Như vậy bảohiểm tiền gửi còn tạo ra tâm lý an toàn, tin cậy cho người gửi tiền từ
Trang 6đó huy động được một lượng vốn lớn trong dân góp phần tăng nguồnvốn cho nền kinh tế.
Như vậy bảo hiểm tiền gửi đã ra đời nhằm đảm bảo an toàn tiền gửicho người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng, góp phần duy trì sự ổn định củacác tổ chức tín dụng, đảm bảo sự an toàn lành mạnh hoạt động của ngânhàng và các tổ chức tín dụng, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cáchvững chắc
III BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRÊN THẾ GIỚI.
1 Các cơ chế bảo hiểm tiền gửi đang được áp dụng trên thế giới.
1.1 Bảo hiểm hoàn toàn
Với cơ chế này mọi người gửi tiền đều được bảo hiểm hoàn toàn trongtrường hơp ngân hàng bị đổ vỡ, hiện có 9 quốc gia đang áp dụng cơ chế nàynhư Nhật Bản, Hàn Quốc, Mêhicô, Thái Lan Mặc dù cơ chế này ngănchặn một cách hữu hiệu hiện tượng rút tiền ồ ạt, bởi lẽ người gửi tiền hoàntoàn tin tưởng vào việc bảo hiểm tiền gửi sẽ thực hiện các nghĩa vụ củamình khi các ngân hàng gặp khó khăn nhưng thông qua đó, nó đã làm mấtnguyên tắc của thị trường khi xét đến hiện tượng gia tăng tâm lý bất cẩn(vấn đề rủi ro đạo đức) từ phía các ngân hàng, khi chấp nhận các rủi ro lớnhơn trong kinh doanh và từ phía người gửi tiền khi không lựa chọn thậntrọng các ngân hàng mà chỉ quan tâm đến mức lãi suất cao nhất trả cho tiềngửi của họ cơ chế này có khả năng sử dụng nhiều phương thức khác nhau
để xử lý các ngân hàng bị đổ vỡ như trợ giúp tài chính cho việc sáp nhập vàphục hồi ,mua tài sản và nhận tài sản nợ bổ sung cho việc thanh toán bảohiểm hoặc thực hiện việc chuyển tiền gửi trong trường hợp ngân hàng bịđóng cửa sang tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khác cơ chế này thường
áp dụng trong trường hợp nền kinh tế có khủng hoảng
1.2 Bảo hiểm theo phạm vi hạn chế
Các khoản tiền gửi đươc bảo hiểm đến một giới hạn tối đa Hiện nay có
67 quốc gia đang áp dung cơ chế này như Hồng Kông, Aó , Đan Mạch ,Brazin và thường tập trung vào những người gửi tiền nhỏ Cơ chế này bảo
vệ hệ thống ngân hàng ngăn chặn việc lây lan hiện tượng rút tiền ồ ạt ra khỏinhưng vẫn duy trì nguyên tắc của thị trường ở mức độ đáng kể ,và nó giúpngân hàng tránh phải chịu rủi ro quá mức Đối với cơ chế bảo hiểm này các
Trang 7quốc gia quy định nhà bảo hiểm tiền gửi không được quyền cung cấp , trợgiúp cho việc sáp nhập hoặc khôi phục lại những nh bị suy yếu , vì điều này
có thể làm tăng việc bảo vệ thực tế cho những người gửi tiền không được bhhoàn toàn Cơ chế này thường được áp dụng trong thời kỳ hệ thống tài chính
ổn định
1.3 Bảo hiểm theo phạm vi tuỳ chọn
Cơ chế này nằm giữa cơ chế bảo hiểm hoàn toàn và cơ chế bảo hiểm cógiới hạn Thông thường trong thời kỳ hệ thống tài chính ổn định thì các quôcgia áp dụng theo phạm vi hạn chế còn khi có khủng hoảng tài chính thìchuyển sang cơ chế bảo hiểm toàn phần Theo đó tất cả những khoản tiềngửi được bh đến một giới hạn tối đa và thường là theo mức tiết kiệm củanhững người gửi tền nhỏ Tuy nhiên, trong những điều kiện đặc biệt ,để bảo
vệ hệ thống ngân hàng nhà bảo hiểm tiền gửi có thể mở rộng phạm cho cảnhững người gửi tiền không được bảo hiểm hoàn toàn , khi các cơ quanchức năng của chính phủ và nhà bảo hiểm xác định rằng thiệt hại của nhữngngười gửi tiền không được bảo hiểm hoàn toàn sẽ tác động đến lòng tin củacông chúng từ đó có thể gây ra hiện tượng rút tiền ồ ạt lan rộng Do đóphạm vi bảo hiểm tuỳ chọn có thể đưa ra sự bảo vệ hoàn toàn cho nhữngngười gửi tiền nhỏ và có thể bảo vệ hệ thống ngân hàng khỏi nguy cơ rúttiền ồ ạt thành hệ thống, nhờ đó bảo vệ tất cả những người gửi tiền Cơ chếbảo hiểm tiền gửi này tương tự cơ chế bảo hiểm công khai có giới hạn khi
hệ thống ngân hàng không bị đe doạ , nhưng nó có thể chuyển thành cơ chếbảo vệ hoàn toàn thực tế nếu chính phủ nhận thấy cần thiết và cho phép.1.4Cơ chế bảo hiểm đồng bảo hiểm
Cơ chế này nhằm giảm thiểu các hành vi bất cẩn của người gửi tiền bằngcách đưa ra hình thức đồng bảo hiểm , người gửi tiền chịu mộtphần cáckhoản lỗ và nhà bảo hiểm tiền gửi bảo vệ phần còn lại Đồng bảo hiểm cóthể thực hiện dưới hình thức cắt giảm một tỷ lệ nhất định trong số tiền gửiđược bảo hiểm Hiện nay có hơn 20 quốc gia đang áp dụng cơchế này nhưAnh, Phần Lan, Bồ Đào Nha, ý
2 Các mô hình bảo hiểm
Trang 8Giống như các loại bảo hiểm khác , hiện nay trên thế giới bảo hiểm tiềngửi cũng tồn tại dưới hai hình thức tự nguyện và bắt buộc Bảo hiểm bắtbuộc đang được áp dụng ở Mỹ , Nhật , Anh , Canada, Hà Lan Trongtrường hợp này , tất cả đều được luật hoá, từ các điều kiện tiến hành bảohiểm , chủ thể , và khách thể cho đến cơ chế xác định mức phí và mức tiềnbồi thường bảo hiểm Bảo hiểm tự nguyện đang được áp dụng ở Pháp,Đức, Ý ở các nước này, ngân hàng được quyền quyết định việc tham giahay không tham gia bảo hiểm tiền gửi Về mặt pháp lý thì như vậy ,nhưng ởđây các ngân hàng đều bị ràng buộc bởi các luật vô hình Đó là muốn đượctham gia thì phải là thành viên của hiệp hội ngân hàng , muốn được cấp giấyphép kinh doanh dịch vụ ngân hàng thì cần có sự đảm bảo tiền gửi chokhách hàng, hơn nữa nếu không tham gia bảo hiểm tiền gửi của khách hàngthì ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn trong việc cạnh tranh, thu hútkhách hàng vì khách hàng sợ vốn gửi vào đây sẽ thiếu an toàn Do vậy cácngân hàng hầu như buộc phải tự nguỵên tham gia bảo hiểm tiền gửi Hiệnnay bên bảo hiểm tiền gửi ngân hàng ở các nước có thể là nhà nước, là hiệphội ngân hàng, hay liên doanh giữa nhà nước với ngân hàng Nhà nướcnhận bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, thông thường trong trường hợp bătbuộc ở đây nhà nước thành lập cơ quan bảo hiểm chuyên trách và hoạtđộng trên cơ sở không vì lợi nhuận Vốn hoạt động của cơ quan này gồmtiền đóng góp của các ngân hàng và kinh phí từ ngân sách nhà nước.Tổchức bảo hiểm tiền gửi do các ngân hàng tập nên thường gọi là quỹ bảotoàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng , do đó nhà nước không can thiệp trựctiếp, chỉ tạo điều kiện pháp lý cho thành lập và hoạt động Quỹ ra đời nhằmmục đích tương hỗ vì lợi ích chung của hội viên, không vì mục đích kinhdoanh chia lời Vốn hoạt động của quỹ không phải từ ngân sách nhà nước
mà từ tiền đóng góp của các ngân hàng thành viên Hình thức thứ ba là liêndoanh giữa nhà nước với ngân hàng, là sự kết hợp giữa chính phủ và ngânhàng nhà nước thành lập nên tổ chức bảo hiểm tiền gửi , trong đó nhà nướccấp vốn ban đầu và thực hiện giám sát, thanh tra qua hệ thống văn bản phápquy, quy chế đã ban hành, còn phía ngân hàng đứng ra tổ chức thực hiện vàquản lý điều hành các hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
Trang 9Mỗi mô hình có những ưu điểm nhược điểm riêng do đó trong quá trìnhnghiên cứu triển khai phải tuỳ điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, từng thời
kỳ giai đoạn mà áp dụng mô hình hợp lý cho nước mình tạo điều kiện ổnđịnh và trợ giúp hoạt động tín dụng góp phần tăng trưởng và phát triển kinhtế
3 Giới thiệu một số mô hình bảo hiểm tiền gửi
3.1 Bảo hiểm tiền gửi ở Mỹ
Đây chính là nơi khai sinh ra hoạt dộng bảo hiểm tiền gửi, vào năm 1929sau vụ đại suy thoái kinh tế nhiều ngân hàng bị phá sản đã gây tổn thất lớncho những người gửi tiền tiết kiệm ở ngân hàng Năm 1934 Mỹ đã chấnchỉnh lại hệ thống bảo hiểm tiền gửi ngân hàng, thành lập công ty bảo hiểmtiền gửi liên bang gọi tắt FDIC là một tổ chức liên bang độc lập FDIC bảohiểm các khoản tiền gửi trong ngân hàng với khoản tiền được bảo hiểm tối
đa là 2.400$ theo quy định đầu tiên Theo thời gian giới hạn bồi thường chomỗi khoản tiền gửi tối đa là100.000$.Tất cả các ngân hàng thương mại vàngân hàng tiết kiệm là thành viên của hệ thống dự trữ liên bang đều phảimua bảo hiểm tại FDIC Đây chính là hình thức tham gia bảo hiểm tiền gửibắt buộc và thực chất là bảo hiểm tiền gửi được tổ chức theo mô hình nhànước FDIC sử dụng hệ thống mức phí phân biệt , mức phí được xác địnhriêng cho từng ngân hàng, tuỳ thuộc vào khả năng thanh toán, khả năng cạnhtranh và mức độ ổn định tài chính của mỗi ngân hàng Phí nộp hàng nămđược tính như sau:
Đối với những ngân hàng tài chính không ổn định về kinh doanh thì tỷ
Tuy nhiên ,tất cả các điều kiện nói trên đều được xem xét lại theo định
kỳ và mức phí phải nộp sẽ còn phụ thuộc vào số phí còn tồn quỹ bảo hiểmcủa mỗi ngân hàng FDIC được quyền kiểm tra các ngân hàng tham gia bảohiểm, xem xét việc thi hành các luật lệ và quy định khác từ đó có quyền phạttiền dân sự được lệnh đình chỉ, cách chức và phạt treo các thành viên nội bộ
Trang 10thuộc tổ chức mình và có quyền chấp nhận các chi nhánh nước ngoài củangân hàng nhà nước không thuộc thành viên Sau khi FDIC thành lập việc
đổ xô đến ngân hàng rút tiền đã giảm hẳn từ đó số lượng ngân hàng bị phásản đã giảm trong suốt thời kỳ thành lập cho đến những năm đầu 1980 Vì
để ngăn ngừa khả năng phải bảo hiểm FDIC đã áp dụng các biện phápphòng ngừa đối với những ngân hàng có nguy cơ vỡ nợ như sau:
- Mua một phần tài sản hay cho ngân hàng này vay tiền để khỏi bị phásản
- Cải tổ ngân hàng bằng cách sát nhập ngân hàng có nguy cơ bị vỡ nợ vàongân hàng khác mạnh hơn
- Khuyến khích các ngân hàng mạnh mua ngân hàng yếu
- Nếu phát hiện thấy những ngân hàng vi phạm những quy định về antoàn vốn hoặc thực hiện các nghĩa vụ bị nhiều rủi ro thì FDIC có thểloại ngân hàng này ra khỏi chế độ bảo hiểm tiền gửi Trong trường hợpnày, những khoản tiền gửi từ lúc bị loại ra như vậy sẽ không đượcchấp nhận bảo hiểm, còn những khoản tiền trước đó thì cũng chỉ đượctiếp tục bảo hiểm thêm hai năm nữa Luật pháp Mỹ còn cho phép nếuFDIC không đủ vốn dự trữ bồi thường các vụ tổn thất lớn thì có thểđược vay vốn ở kho bạc nhà nước vơí mức vay tối đa là 3 tỷ USD
3.2 Bảo hiểm tiền gửi ở Đức.
ở CHLB Đức có 3 hệ thống đảm bảo an toàn tiền gửi được thiết lập 3.2.1 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi thuộc hiệp hội ngân hàng thương mạiĐức
Mục tiêu hoạt động của quỹ , quỹ ra đời nhằmbảo vệ quyền lợi ngườigửi tiền tại các ngân hàng thương mại , giữ cho hoạt động của ngânhàng thương mại luôn ổn định Quỹ còn bảo vệ uy tín của ngân hàngđối với khách hàng, bảo đảm độ tin cậy của ngưòi gửi tiền vào các ngânhàng thương mại
Các thành viên tham gia bao gồm : Các ngân hàng thương mại là hộiviên của hiệp hội ngân hàng thương mại Đức, các ngân hàng khôngphải là hội viên nhưng tự nguyện cũng được tham gia
Phạm vi bảo hiểm gồm các loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn , không kỳhạn của các cá nhân và doanh nghiệp Bên cạnh đó quỹ còn nhận bảo
Trang 11hiểm cho các kỳ phiếu ngân hàng và các chứng chỉ tiền gửi đích danh.Loại trừ các loại kỳ phiếu những chứng phiếu tiền gửi vô danh, tiền gửiliên ngân hàng, và các tổ chức phi chính phủ, đoàn thể, tiền gửi của hộiđồng quản trị và ban giám đốc, các cổ đông ngân hàng có cổ phần trên5%, tiền gửi mang danh bằng kỳ hiện mặt hay bảo lãnh.
Vốn hoạt động của quỹ do các ngân hàng thanh viên đóng góp với mứcphí 0.03%/số dư tiền gửi được bảo hiểm Nếu như năm nào ngân hàngthành viên gặp khó khăn trong kinh doanh thì không phải nộp phínhưng tiền gửi vẫn được bảo hiểm
3.2.2 Hệ thống bảo hiểm tiền gửi thuộc hiệp hội ngân hàng Hợp tác
xã Raiffcisen và quỹ tiết kiệm
Hệ thống này ra đời từ năm 1930, mục tiêu ở đây dược xác định làbảo vệ bản thân các tổ chức tín dụng luôn hoạt động trong trạng thái ổnđịnh Các tổ chức tín dụng trong hệ thống này rất bé nhỏ và yếu vì thế họcần đượ bảo vệ Tất nhiên, bảo vệ được tổ chức tín dụng chính là đảm bảokhả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tín dụng đó.3.2.3 Công ty bảo hiểm tiền gửi của nhà nước
Được thành lập từ năm 1998 hoạt động theo luật công Nhà nước đứng rathành lập nhưng uỷ quyền cho hiệp hội các ngân hàng quản lý Tham giavào công ty này chủ yếu là các quỹ tín dụng Công ty này chỉ đền bù chokhách hàng gửi tiền khi có rủi ro xảy ra nhưng tối đa chỉ 20.000 EURO hay40.000DM Mặc dù công ty bảo hiểm tiền gửi của nhà nước giao cho hiệphội ngân hàng quản lý nhưng nó độc lập với quỹ bảo toàn tiền gửi của hiệphội ngân hàng
3.3 Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật Bản
Được thành lập từ năm 1971 với hình thức liên doanh giữa nhà nước và
tư nhân, đó là 5 liên doanh bảo hiểm được thành lập và bắt tay vào hoạtđộng lấy tên là công ty bảo hiểm tiền gửi Vốn điều lệ của công ty này gồm
ba phần: Của Chính phủ, của ngân hàng Nhật ,và các ngân hàng tư doanh.Quản lý công ty là một uỷ ban gồm đại diện 3 thành phần trên tổ chức nàychỉ bảo hiểm cho các ngân hàng trong nước,không bảo hiểm cho các khoảntiền gửi ở các chi nhánh ngân hàng địa phương nước ngoài và áp dụng hìnhthức bảo hiểm bắt buộc Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật sử dụng hệ thống mức phí
Trang 12thống nhất, được quy định theo một tỷ lệ % thống nhất cho mọi ngânhàng,và tỷ lệ này bằng 0,008% trên tổng số tiền gửi ngân hàng được bảohiểm ở Nhật cũng áp dụng giới hạn bồi thường cho mỗi khoản tiền gửi ,tối
đa cho mỗi khách hàng là 10 triệu yên Nhật
Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á năm 97 đã làm nhiều ngânhàng Nhật bị phá sản ,công ty bảo hiểm đã thực hiện chi trả cho người gửitiền ở các ngân hàng bị phá sản theo đúng quy định đã góp phần ổn định nềntài chính ở nhật bản
CHƯƠNG II BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM.
I SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN.
1 Vì sao bảo hiểm tiền gửi ra đời ở Việt Nam.
Bất cứ nền kinh tế nào muốn hoạt động,tăng trưởng và phát triển thìcũng cần phải có một hệ thống tài chính tín dụngổn định và vững mạnh sựtồn tại và hoạt động của một tổ chức tín dụng có ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp đến một tổ chức khác , do đó nó có thể ảnh hưởng tới toàn bộ hệthống điều này đúng với thực tế Việt Nam chúng ta hiện nay Cũng như cácdoanh nghiệp , tổ chức khác thì bảng cân đối của tổ chức tín dụng cũng cóhai phần là tài sản có và tài sản nợ,trong đó tài sản nợ là tài sản ngân hàng
nợ thị trường và chủ yếu là các khoản tiền gửi Như vậy,tiền gửi là bộ phậnquan trọng của tổ chức tín dụng cũng như cả hệ thống ngân hàng Sự ổnđịnh của tiền gửi dược biểu hiện ở tốc độ tăng tiền gửi, biến động của cơ cấutiền gửi Nhân tố quyết định đến tỷ lệ tiết kiệm là niềm tin của người gửi,tốc
độ tăng tiền gửi cũng bị chi phối bởi khả năng lựa chọn của người gửi tiền
và tập quán tiết kiệm của dân cư.ở các nước đang phát triển do thị trường tàichính kém phát triển các công cụ tài chính còn thô sơ ,độ rủi ro cao,thêmvào đó là tâm lý tiết kiệm chi tiêu trong điều kiện thu nhập thấp đặc biệt làcác nước châu ávà Việt Nam Chính vì vậy tiền gửi ở các tổ chức tín dụngthường ở mức độ cao Do đó nếu người gửi tiền vì một lý do nào đó nghingờ rằng tổ chức tín dụng mà mình gửi tiền đang gặp khó khăn có thể mấtkhả năng thanh toán, họ sẽ lập tức rút tiền khỏi các tổ chức này vì thế các tổ
Trang 13chức tín dụng này sẽ mất đi một khoản dự trữ, nếu nghi ngờ ban đầu củamôt hoặc vài người bị lây lan thì sẽ tạo ra một tâm lý bất an cho nhữngngười gửi tiền khác và có thể họ cũng sẽ rút tiền của mình để chuyển đếnmột địa điểm khác an toàn hơn càng có nhiều người rút tiền dự trữ của các
tổ chức tín dụng ngày càng cạn kiệt và khả năng thanh toán ngày càng giảmxuống Không chỉ dừng lại đó nếu nhà nước không có những biện pháp kịpthời chấn an tinh thần và khôi phục niềm tin của dân chúng thì sẽ gây raphản ứng vỡ nợ dây chuyền Từ đo dẫn tới một cuộc khủng hoảng ngânhàng toàn diện với sự phá sản đồng thời nhiều ngân hàng Thực tế đã chứngminh, ở Việt Nam vào những năm 89-90 và cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ ở các nước châu A vào năm 1997 đã cho thấy hậu quả không chỉ làm chonền kinh tế tụt dốc một cách nghiêm trọng mà còn ảnh hưởng tới hệ thốngchính trị của một số quốc gia để đảm bảo an ninh tài chính quốc gia có thểnhiều yếu tố khác nhưng hệ thống ngân hàng phải được giữ vững ổn địnhkhông xảy ra những biến động lớn Muốn vậy ngoài các chính sách tiền tệ ,phải làm sao giữ vững niềm tin của dân cư vào các tổ chức tín dụng Mặtkhác , hoạt động kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh luôn gắn liền vớingân hàngững rủi ro tiềm ẩn Vì vậy việc đổ vỡ một số tổ chức tín dụng hoạtđộng yếu kém là điều không tránh khỏi Đối với một nền kinh tế nóichung ,việc xử lý hậu quả quá trình kinh doanh không thành công của các tổchức tín dụng không chỉ là việc tuyên bố phá sản hay giải thể của một tổchức này hay đơn vị kia mà trước hết nó ảnh hưởng trức tiếp đến tâm lý vàđời sống của những người gửi tiền Việc để xẩy ra một ngân hàng bị phásản với chuyện người gửi tiền không đòi lại đủ số tiền của mình thậm chícòn bị mất trắng Mà theo như số liệu của ngân hàng nhà nước hơn 80% dân
cư gửi tiền với số lượng rất nhỏ điều này nói lên cơ cấu thực tế của tầnglớp này chủ yếu là nông dân, các cá nhân không có khả năng sử dụng đồngtiết kiệm của mình vào một mục đích kinh doanh nào khác do vậy nhómngười này sẽ có nguy cơ gặp rủi ro cao nhất và gánh chịu những hậu quảnặng tác động đến đời sống, tinh thần của gia đình Bên cạnh đố đối vớinước đang phát triển như nước ta nhu cầu về vốn là rất lớn việc đa dạng hoácác kênh huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn là rất quantrọng Trong một vài năm gần đây tốc độ huy động vốn của hệ thống cácngân hàng tăng rất nhanh và cung cấp một lượng vốn rất lớn, trong đó tiềngửi đóng vai trò chủ yếu Cần phải có các chinh sách biện pháp nhằm thúc
Trang 14đẩy việc huy động vốn của hệ thống ngân hàng nhằm cung cấp đủ vôn chonền kinh tế.
Qua đó cho ta thấy, việc ra đời của bảo hiệm tiền gửi ở Việt Nam là mộtnhu cầu tất yếu nó góp phần giữ vững an ninh tài chính tạo ra tâm lý an toàncho người gửi tiền từ đó giúp việc huy động vốn cho nền kinh tế có hiệu quảnhằm thúc đẩy kinh tế phát triển
2 Các giai đoạn phát triển của bảo hiểm tiền gửi ở Việt nam.
2.1 Trước năm 1999
Do nhận thức được tính chất phức tạp, đặc điểm về hoạt động của quỹtín dụng nhân dân và những bài học kinh nghiệp của sự đổ vỡ hợp tác xã tíndụng trước đây đặc biệt là lấy lại niềm tin cảu quần chúng nhân dân, đề ánthí điểm thành lập quỹ tín dụng nhân dân theo quyết định số 390/TTg ngày27/7/1993 của Thu tướng chính phủ, Bộ tài chính thành viên của ban chỉ đạotrung ương về thí điểm đã ban hành “Quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹtín dụng nhân dân đối với tiền gửi của dân có kỳ hạn” Theo quyết định 101/TC-QĐ-BH ngày 1/2/1994, bằng quyết định này các quỹ tín dụng nhân dântham gia bảo hiểm tiền gửi của Bảo Việt có tác dụng khôi phục lòng tin vàthu hút được tiền gửi trong các tầng lớp dân cư trong khi các tổ chức tíndụng khác chưa thực hiện
Tuy nhiên do quyết định ban hành trong bối cảnh chưa có nhiều kinhnghiệp nên còn nhiều hạn chế nhất định :
Thứ nhất, phí đóng góp bảo hiểm tiền gửi cho bảo việt chỉ có tác dụngtrả tiền gửi cho người gửi khi bị giải thể hoặc phá sản, nhưng khi quỹ tíndụng gặp nguy cơ mất mát khả năng chi trả, khả năng thanh toán khó đượctrợ giúp do không có tổ chức để quản lý, giám sát rủi ro
Thứ hai, phí đóng góp trở thành nguồn tài chính cho Bảo Việt nó khôngcòn là tài sản chung của quỹ tín dụng nhân dân, theo cơ chế này nguồn phíđóng góp hàng tỷ đồng để mua bảo hiểm hàng năm “ra đi và mất hút” khinào quỹ tín dụng nhân dân bị “xóa sổ” người gửi tiền mới được đền bù Cũng về vấn đề phí đó là tỷ lệ phí 0,165%, số dư tiền gửi có kỳ hạn mỗiquý là quá cao, trong khi đó chỉ bảo hiểm cho loại tiền gửi có kỳ hạn tínhbằng VNĐ Vì thế các quỹ tín dụng nhân dân nhận thấy mô hình bảo hiểmnày tỏ ra không thích hợp nên đã không hào hứng tham gia
2.2 Sau 1999 đến nay
Trang 15Sau một thời gian hoạt động thí điểm do một số nguyên nhân kháchquan và chủ quan, mô hình bảo hiểm tiền gửi của Tổng công ty Bảo Việt đãbộc lộ sự yếu kém bên cạnh đó luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hànhthì Chinh phủ đã ban hành nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 vềbảo hiểm tiền gửi Theo đó các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là tổchức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quyđịnh của luật các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi cá nhân phải tham giabảo hiểm tiền gửi bắt buộc Đây là một chủ trương chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước ta trong việc điều hành chính sách tiền tệ Vì vậy bảo hiểm tiềngửi ra đời là đòi hỏi đáp ứng cần thiết về việc đảm bảo hoạt động an toàncho nghành ngân hàng Do đó ngày 9/11/1999 TT - CP ra quyết định số 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập đồng thời quy định rõ mục tiêu của bảohiểm tiền gửi Việt Nam chính thức khai trương hoạt động và có trụ sở tại Hànội
II MÔ HÌNH BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là tổ chức nhà nước có tư cách pháp nhânhạch toán độc lập bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí hoạt động trên
cả nước, có vốn điều lệ, có tài sản có con dấu riêng,… Bảo hiểm tiền gửiViệt Nam hoạt động theo điều lệ do Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt, hoạtđộng không vì mục tiêu lợi nhuận, chế độ tiền gửi do Thủ Tướng Chính Phủquyết định trên cơ sở đề nghị của ban tổ chức và ý kiến của ngân hàng nhànước Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đã được miễn giảm các loại thuế theoquy định của pháp luật nhà nước Vốn điều lệ là 1000 tỷ đông do ngân sáchnhà nước cấp, nguồn vốn bổ sung từ thu phí bảo hiểm tiền gửi hàng năm vàcác nguồn vốn khác Bộ máy bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được tổ chức theo
mô hình của hội đồng quản trị
1 Đối tượng bảo hiểm
1.1 Đối tượng của bảo hiểm
Các loại tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của các
cá nhân bao gồm người cư trú và không cư trú tại tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi gồm:
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn bao gồm cả tiền gửi trên tàikhoản cá nhân
Trang 16- Tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh do cơ quannhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửiphát hành.
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam không bảo hiểm đối với các loại chứng chỉtiền gửi và trái phiếu vô danh do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi pháthành
1.2 Đối tượng tham gia bảo hiểm
Căn cứ vào nghị định 89/NĐ-CP ngày 01/9/1999 thì đối tượng tham giabảo hiểm tiền gửi Việt Nam với hình thức bắt buộc là tất cả các tổ chức tíndụng Tổ chức tín dụng là các doanh nghiệp được thành lập theo quy địnhcủa pháp luật Các tổ chức tín dụng và các luật khác có liên quan với nộidung là thương xuyên nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụngcung ứng các dịch vụ thanh toán
Hiện nay ở Việt Nam, các tổ chức tín dụng được phân thành 2 loại là tổchức tín dụng ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng
Các tổ chức tín dụng ngân hàng được phân loại theo các hình thức sau:
* Theo hình thức sở hữu gồm có:
- Ngân hàng thương mại quốc doanh
- Ngân hàng thương mại cổ phần :
+ Ngân hàng thương mại chính phủ đô thị
+ Ngân hàng thương mại chính phủ nông thôn
- Ngân hàng liên doanh
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài
* Theo hình thức hoạt động gồm có:
- Ngân hàng công thương
- Ngân hàng ngoại thương
- Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Ngân hàng đầu tư và phát triển
- Ngân hàng chính sách
Các quỹ tín dụng nhân dân:
- Quỹ tín dụng nhân dân trung ương
- Quỹ tín dụng nhân dân khu vực
- Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng
- Công ty tài chính
- Công ty cho thuê tài chính
Trang 17- Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.
Hay nói cách khác đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi là các tổ chứctín dụng, tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một sốhoạt động ngân hàng theo quy định của luật các tổ chức tín dụng, hoạt độngtrên lãnh thổ nước Việt Nam có nhận tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cánhân đều phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc
2 Phạm vi bảo hiểm.
Với những nguy cơ rủi ro ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng ngân hànglàm cho một tổ chức tín dụng có thể lâm vào tình trạng có khả năng phá sảnhoặc phải tự nguyện giải thể thậm chí bắt buộc phải giải thể Do đó,để đảmbảo tính công bằng cho các tổ chức tín dụng, cũng như ổn định lòng tintrong dân và đảm bảo sự tồn tại của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, nhà nước taquy định như sau:
2.1 Các rủi ro được bảo hiểm
2.1.1 Sự phá sản của các tổ chức tín dụng
Phá sản là trường hợp tổ chức tín dụng không thể trả nợ một cách đầy đủhoặc tổ chức tín dụng không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn Trongtrường hợp này các công việc kinh doanh của tổ chức tín dụng phải đượcgiao cho ban thanh lý tài sản xử lý các tài sản còn lại theo đúng quy địnhpháp lý về phá sản của nhà nước
2.1.2 Sự giải thể bắt buộc của tổ chức tín dụng
Giải thể bắt buộc là do không tuân thủ các quy tắc , luật lệ của nhà nướchoặc có thể do chủ nợ đề nghị toà án ra lệnh tuyên bố giải thể vì tổ chức tíndụng từ chối thanh toán và chỉ có cách này thì mới có thể thu hồi được tiền.2.1.3 Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay
mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng
Trường hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy tổ chức tíndụng mặc dù vẫn có khả năng thanh toán nhưng không đúng mục đích đã đề
ra , và không muốn toà án can thiệp mà quyết định thanh lý quỹ không chohoạt động tiếp Trong trường hợp này bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thường chonhững người gửi tiền nhưng sẽ được thế quyền để được hưởng số tiênf thanh
lý tài sản hay đòi nợ
2.1.4 Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá
sản của tổ chức tín dụng
Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của tổ chức tín dụng là tình trạng
tổ chức tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn