Mục đích của đề tài - Nghiên cứu tổng quan lý luận chung về bảo hiểm tiền gửi, các quy định hiện hành của Pháp luật Nhà Nước về bảo hiểm tiền gửi; những thông lệ quốc tế về Bảo hiểm tiền
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ -
NGUYỄN ĐÌNH HẢO
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM TRÊN
ĐỊA BÀN KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ -
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn GVC - Tiến sỹ Nguyễn Đại Thắng Viện Trưởng
Viện kinh tế & quản lý, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em bày tỏ lòng biết ơn đến các Thầy, Cô giáo Viện Kinh tế và Quản Lý, Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành bản luận văn này
Nghệ An, ngày tháng năm 2013
Học viên
Nguyễn Đình Hảo
Học viên khóa 2011B-VH
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi 11
1.1.1 Sự hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế
1.1.4 Mục đích, vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 13 1.1.5 Phân biệt bảo hiểm tiền gửi với các loại hình bảo hiểm
1.1.6 Các mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới 19
1.2 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 20
1.2.1 Sự ra đời của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 20 1.2.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống BHTGVN 23 1.2.3 Các hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 25 1.2.4 Hiệu quả của hoạt động bảo hiểm tiền gửi 27
Trang 51.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Bảo
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về bảo hiểm tiền gửi 33
1.3.4 Bài học kinh nghiệm phát triển hệ thống BHTG hiệu
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI VN CHI NHÁNH KHU VỰC
2.1 Tổng quan về Bảo hiểm tiền gửi VN CNKV Bắc Trung Bộ 43
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 43
2.2 Đặc điểm địa bàn hoạt động của Chi nhánh 48
2.2.1 Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn khu vực Bắc
2.2.2 Tình hình hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG
2.3 Phân tích kết quả hoạt động của Chi nhánh Bắc Trung Bộ 57
2.3.1 Phân tích kết quả hoạt động của Chi nhánh 57 2.3.2 Phân tích các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của Chi
Trang 62.3.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Chi nhánh 70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA BHTGVN TRÊN ĐỊA BÀN KHU VỰC BẮC
3.1 Quan điểm phát triển kinh tế - xã hội khu vực Bắc Trung Bộ 77
3.2 Định hướng phát triển của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 78
3.3 Định hướng phát triển của BHTGVN Chi nhánh khu vực
3.4.4 Tổ chức tốt công tác tư vấn đối với các tổ chức tham gia
BHTG và tuyên truyền của BHTG đối với công chúng 88
3.5 Những kiến nghị với các cơ quan cấp trên liên quan 91
3.5.1 Đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 91 3.5.2 Đối với Chính phủ 94
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nguyên văn
DIV Deposit Insurace Of Viet Nam
BHTG Bảo hiểm tiền gửi
BHTGVN Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
TCTGBHTG Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
NHNN Ngân hàng Nhà nước
TCTD Tổ chức tín dụng
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
QTD Quỹ tín dụng
QTDND Quỹ tín dụng nhân dân
WTO Tổ chức thương mại thế giới
IADI Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế
CDIC Công ty Bảo hiểm tiền gửi Đài Loan
FDIC Công ty Bảo hiểm tiền gửi Hoa Kỳ
DICJ Công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Cơ cấu số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ BHTGVN 22
Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh 2 năm (2011-2012) của các QTDND
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu Tên hình vẽ, đồ thị Trang
Hình 1.1: Sơ đồ vai trò của Bảo hiểm tiền gửi 15
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 23
Hình 1.3: Mạng lưới hoạt động Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 24
Hình 1.4: Các hoạt động chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 25
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy CNKV Bắc Trung Bộ 46
Hình 2.2: Biểu đồ diện tích tự nhiên, dân số và mật độ dân số các tỉnh
Hình 2.3: Biểu đồ hoạt động nguồn vốn của các tổ chức TGBHTG là
QTDND cơ sở (Giai đoạn 2010 đến 2012) 54
Hình 2.4: Biểu đồ chất lượng tín dụng của các tổ chức TGBHTG là
Hình 2.5: Biểu đồ kết quả kinh doanh 2 năm 2011- 2012 của các tổ
Hình 2.6: Quy trình theo dõi thu phí bảo hiểm tiền gửi 59
Hình 2.7: Sơ đồ quy trình giám sát từ xa
61
Trang 10Tuy nhiên, cùng với các kết quả đạt được hoạt động của BHTGVN trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc về hoạt động nghiệp vụ, về năng lực tài chính và cơ sở pháp lý, các quy định của pháp luật về BHTG vẫn còn thiếu hoặc một số chưa phù hợp vv… là những yêu cầu đặt ra cho BHTGVN cần phải hoàn thiện để nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò của một định chế tài chính quan trọng của hệ thống tài chính – ngân hàng quốc gia
Với tình hình và thực trạng đã nêu trên, là cán bộ có nhiều năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực ngành ngân hàng - BHTG, với ý thức trách nhiệm công tác được giao, mặc dù khả năng và trình độ nghiên cứu khoa học còn có hạn
nhưng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ” làm
đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc luận giải, khắc phục phần nào tình hình và thực trạng trên
Trang 112 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu tổng quan lý luận chung về bảo hiểm tiền gửi, các quy định hiện hành của Pháp luật Nhà Nước về bảo hiểm tiền gửi; những thông lệ quốc tế về Bảo hiểm tiền gửi, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
- Qua việc phân tích, đánh giá tổng quan, cơ cấu tổ chức, các hoạt động chính Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và phân tích thực trạng hoạt động tại Chi nhánh khu vực Bắc Trung Bộ, đánh giá những kết quả đạt được, các thành tựu và chỉ ra những tồn tại, hạn chế và vướng mắc cũng như nguyên nhân của chúng;
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG Việt Nam trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là lý luận chung về bảo hiểm tiền gửi, các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi, tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu các hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trên địa bàn khu vực Bắc Trung Bộ
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng những phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và dự báo
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Bảo hiểm tiền gửi
Chương 2: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của BHTGVN Chi nhánh khu vực Bắc Trung Bộ
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTGVN
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1 Tổng quan về bảo hiểm tiền gửi
1.1.1 Sự hình thành và phát triển bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Như chúng ta đã biết, hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với sự nhạy cảm
và tiền ẩn nhiều rủi ro, chính vì vậy vấn đề bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền trong trường hợp các ngân hàng xẩy ra đổ vỡ phải do một tổ chức đứng ra bảo vệ để
ổn định an ninh xã hội Khi các quốc gia trên thế giới chưa có hệ thống bảo hiểm tiền gửi thì Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửi cho người gửi tiền (bảo hiểm ngầm) Tuy nhiên việc “bảo hiểm ngầm” làm phát sinh tăng gánh nặng tài chính của Chính phủ, ảnh hưởng không tốt niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính - ngân hàng, chính vì vậy hệ thống bảo hiểm công khai đã ra đời
Nguồn gốc ra đời của bảo hiểm tiền gửi gắn liền với việc chuyển từ bảo vệ ngầm sang bảo vệ công khai tiền gửi Theo đó, người gửi tiền sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ tiền gửi khi ngân hàng đổ bể theo hợp đồng hoặc cam kết công khai
Như vậy, với cơ chế thị trường lấy số đông bù số ít, hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi ra đời đảm nhận trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nâng cao lòng tin của công chúng vào hệ thống tài chính ngân hàng quốc gia, chấm dứt việc bảo hiểm ngầm và giảm gánh nặng chi phí ngân sách của Chính phủ khi xử
Trang 13bắt đầu hoạt động vào ngày 1/1/1934, đây cũng là nước có hệ thống Bảo hiểm tiền gửi được thành lập và đi vào hoạt động đầu tiên trên thế giới Đến nay Bảo hiểm tiền gửi Hoa Kỳ (FDIC) được đánh giá là hệ thống bảo hiểm tiền gửi phát triển trên thế giới cả về quy mô và hiệu quả hoạt động, mô hình của FDIC được nhiều nước trên thế giới tham khảo để xây dựng hệ thống bảo hiểm tiền gửi của quốc gia mình Đến thời điểm hiện nay, có 106 quốc gia đã thành lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi công khai và 19 quốc gia khác đang nghiên cứu thành lập hệ thống bảo hiểm tiền gửi
1.1.2 Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là một khái niệm đã xuất hiện từ rất lâu, theo đó BHTG được hiểu là cam kết công khai của tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị chấm dứt hoạt động và không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền
Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi: Là đối tác nhận đóng góp tài chính từ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán
Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi: Là các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng có hoạt động huy động tiền gửi Theo thông lệ quốc tế, hiện nay trên thế giới có 2 xu hướng tham gia bảo hiểm tiền gửi, đó là các Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có thể tham gia BHTG một cách bắt buộc hoặc tự nguyện Điều này tùy thuộc vào chính sách tài chính – ngân hàng của mỗi quốc gia Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước, cho thấy xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc Khi tham gia BHTG các tổ chức này có trách nhiệm đóng góp tài chính cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi và được quyền yêu cầu tổ chức Bảo hiểm tiền gửi chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại các tổ chức đó trong trường hợp tổ chức này bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan có thẩm quyền chấm dứt hoạt động
Trang 14Người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm: Là khách hàng có tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức Bảo hiểm tiền gửi, nhưng có quyền yêu cầu tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thanh toán kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
có thể là toàn bộ, hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia
1.1.3 Bản chất bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi cũng mang bản chất của các loại hình bảo hiểm nói chung, tức là hoạt động theo nguyên lý lấy số đông bù số ít nhưng bên cạnh đó nó còn mang tính chất đặc thù, đó là:
- Hoạt động BHTG là hoạt động cung cấp dịch vụ công, có nghĩa là BHTG
là công cụ được sử dụng để thực hiện chính sách công của từng quốc gia
- Hoạt động của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi thông thường không vì mục tiêu lợi nhuận Chính phủ các quốc gia thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi nhằm mục đích để thực hiện chính sách công Bởi trong thực tế, hoạt động tài chính – ngân hàng là hoạt động nhạy cảm, gắn với tính lan truyền rất cao; đồng thời sự đổ vỡ của
hệ thống tài chính – ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế và gây ra những bất ổn về mặt xã hội Do đó Chính phủ các quốc gia đã sử dụng công cụ tài chính là BHTG nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính – ngân hàng và ổn định xã hội
1.1.4 Mục đích, vai trò của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Thứ nhất, về mục đích của BHTG Mặc dù mỗi quốc gia có thể thiết kế mô hình tổ chức Bảo hiểm tiền gửi khác nhau, nhưng hoạt động BHTG thường có những mục đích cơ bản như sau:
- Sử dụng công cụ BHTG là nhằm thực hiện chính sách công Vì vậy, chính sách BHTG của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều được thiết kế để bảo vệ số đông người gửi tiền;
Trang 15- Đảm bảo hệ thống tài chính – ngân hàng hoạt động lành mạnh, ổn định và ngăn chặn đổ vỡ ngân hàng thông qua các hoạt động nghiệp vụ của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi;
- Xây dựng thị trường tài chính lành mạnh, có tính cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tài chính với quy mô và loại hình khác nhau;
- Giảm gánh nặng tài chính cho chính phủ trong trường hợp xử lý đổ vỡ ngân hàng và điều này đồng nghĩa với việc giảm gánh nặng cho người dân đóng thuế để Chính phủ hỗ trợ giải quyết những ngân hàng phá sản Trong trường hợp ngân hàng đơn lẻ bị đổ vỡ, nếu Chính phủ tự bỏ tiền để chi trả cho người gửi tiền, tức là Chính phủ phải lấy tiền từ ngân sách để gánh vác cho sự sụp đổ của tổ chức tín dụng Điều này không phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường, bởi lẽ đã kinh doanh thì gánh chịu rủi ro Chính vì vậy, các quốc gia rất hạn chế sử dụng ngân sách Nhà nước để xử lý đổ vỡ của các tổ chức tín dụng Đồng thời, với sự hình thành của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi, các rủi ro đã được phân tán, chia sẻ cho nhiều bên liên quan và điều đó xét về hệ thống tài chính – ngân hàng nói riêng và trên toàn bộ nền kinh tế nói chung sẽ tạo ra tính ổn định cho xã hội
Thứ hai, về vai trò của BHTG Vì bảo hiểm tiền gửi là sản phẩm của nền kinh tế thị trường và chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường nên vai trò của Bảo hiểm tiền gửi xuất phát từ bản chất của hoạt động tài chính luôn gắn liền yếu tố niềm tin, mang tính nhạy cảm và có tính lan truyền cao Trong hoạt động ngân hàng, nếu niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính – ngân hàng bị khủng hoảng, điều đó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức tín dụng đơn lẻ
mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế Niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống tài chính – ngân hàng là rất quan trọng vì niềm tin đó thường dựa vào các yếu
tố tâm lý và khi họ gửi tiền vào ngân hàng, ngoài việc khách hàng quan tâm đến lãi suất tiền gửi, thì họ thường đặt câu hỏi liệu tiền của mình gửi vào ngân hàng có an toàn không? Và hoạt động của ngân hàng nhận tiền gửi có ổn định không? Hoặc nếu trường hợp xấu nhất xẩy ra thì liệu họ có bị mất số tiền đã gửi hay không?
Trang 16Hình 1.1: Sơ đồ vai trò của Bảo hiểm tiền gửi
Từ sơ đồ nêu trên, cho thấy vai trò của Bảo hiểm tiền gửi được thể hiện rõ nét qua các khía cạnh sau đây:
Một là, Bảo hiểm tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người gửi tiền, nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng Bởi
lẽ, trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ người tiêu dùng nói chung và người gửi tiền nói riêng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi Chính phủ Bảo vệ người tiêu dùng là đảm bảo cân bằng giữa sự phát triển và đảm bảo quyền lợi của người dân trong xã hội dân sự Do đó bảo hiểm tiền gửi là một công cụ tài chính hữu hiệu được hầu hết các Chính phủ sử dụng để bảo vệ người gửi tiền
Hai là, Bảo hiểm tiền gửi giúp xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính – ngân hàng và đó là yêu cầu đặt ra với bất kỳ Chính phủ nào trên thế giới Tổ chức Bảo hiểm tiền gửi có nhiệm vụ thay mặt Chính phủ bảo vệ tiền gửi của người dân và trong trường hợp tổ chức tín dụng bị đổ
VAI TRÒ CỦA BHTG
kỷ cương thị trường
Góp phần xử
lý khủng hoảng tài chính
Trang 17vỡ thì tổ chức Bảo hiểm tiền gửi này phải có trách nhiệm chi trả toàn bộ hoặc một phần tiền gửi cho người gửi tiền
Thực tiễn cho thấy, khi mà người dân không tin tưởng vào hệ thống tài chính – ngân hàng thì trước hết hệ thống ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng và sau đó là toàn bộ nền kinh tế quốc gia cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng theo Một minh chứng cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính tại Hoa Kỳ từ năm 2007 đến nay chính
là cuộc khủng hoảng niềm tin của người dân vào khả năng thanh khoản của các ngân hàng, họ đã rút tiền ồ ạt, không gửi tiền vào các ngân hàng nữa và điều này đã chứng minh rõ nét vai trò của người gửi tiền đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống ngân hàng quốc gia Khi công chúng thiếu tin tưởng vào vào hệ thống tài chính – ngân hàng, họ thường lựa chon mua vàng hay bất động sản để tích lũy để tích lũy tài sản mà không gửi tiền vào ngân hàng nữa Điều này ảnh hưởng không tốt đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt chúng ta không quên sự kiện khủng hoảng tài chính Mỹ 2007-2009 và lan nhanh đã gây ra khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới, do giá nhà ở tăng liên tục đã thúc đẩy người dân đổ xô vào mua bán, đầu cơ bất động sản, tạo cầu ảo đẩy “bong bóng” bất động sản lên cao làm cho cung cầu mất cân đối, cung vượt xa cầu Khi thị trường bất động sản bị vỡ bong bóng đưa hệ thống tài chính - ngân hàng của Mỹ lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng
Hơn nữa, nếu người dân không tin tưởng vào hệ thống ngân hàng nói chung
và tổ chức tín dụng nói riêng, lập tức người dân sẽ có hành động rút tiền ra khỏi hệ thống ngân hàng Trường hợp này vô cùng nguy hiểm nếu hiện tượng này xẩy ra hàng loạt và điều đó có thể dẫn đến đổ vỡ ngân hàng gây nguy hại đến toàn bộ nền kinh tế Lịch sử hoạt động tài chính – ngân hàng đã xẩy ra khá nhiều vụ rút tiền ồ ạt, gây ra sự tê liệt và đổ vỡ của các ngân hàng như ở Mỹ vào những năm 1920, 1930 hay ở châu Á năm 1997 và gần đây nhất là ở Anh, Mỹ (Ngân hàng Northem Rock của Anh và ngân hàng Contrywide của Mỹ)
Bảo hiểm tiền gửi xây dựng và củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng thông qua các hoạt động như:
Trang 18- Thực hiện các nghiệp vụ kiểm tra, giám sát rủi ro đối với các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi;
- Hỗ trợ các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi khi gặp khó khăn về tài chính nhằm phục hồi hoạt động của các tổ chức đó;
- Xử lý tổ chức tín dụng đổ vỡ;
- Bảo hiểm tiền gửi tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức tín dụng;
- Góp phần thúc đẩy đảm bảo an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng
từ khi cấp phép cho đến khi chấm dứt hoạt động
1.1.5 Phân biệt bảo hiểm tiền gửi với các loại hình bảo hiểm thương mại khác
Bảo hiểm tiền gửi và các và các loại hình Bảo hiểm thương mại khác bên cạnh những giống nhau điểm giống nhau thì hoạt động BHTG có những điểm khác biệt, điều đó được thể hiện như sau:
- Về tính chất hoạt động
Cũng giống như các loại hình bảo hiểm thương mại khác, hoạt động bảo hiểm tiền gửi mang tính chất chung của hoạt động bảo hiểm tức là dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít Tuy nhiên, đây là một loại hình mang tính chất đặc thù vì bảo hiểm tiền gửi là công cụ thực hiện chính sách công với vai trò cơ bản là bảo vệ người gửi tiền, góp phần đảm bảo sự phát triển an toàn và lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia Tính đặc thù của BHTG so với các loại hình bảo hiểm thương mại khác được thể hiện ở các khía cạnh như cơ chế bảo hiểm, chủ thể tham gia bảo hiểm, đối tượng nộp phí, đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm
- Về cơ chế bảo hiểm
Ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác khi chủ thể tham gia bảo hiểm sẽ xuất hiện mối quan hệ trực tiếp giữa một bên là đối tượng bảo hiểm và một bên là đối tượng được bảo hiểm Còn ở bảo hiểm tiền gửi thì khác, mặc dù người gửi tiền
là người được hưởng lợi trực tiếp từ chính sách bảo hiểm tiền gửi nhưng không xuất hiện mối quan hệ trực tiếp về bảo hiểm tiền gửi giữa người gửi tiền và tổ chức BHTG trừ trường hợp khi xẩy ra đổ vỡ của tổ chức tín dụng
Trang 19- Chủ thể tham gia Bảo hiểm tiền gửi
Theo quy định, bất cứ một tổ chức tín dụng hoặc không phải là tổ chức tín dụng nhưng có hoạt động huy động tiền gửi của dân cư thì phải tham gia bảo hiểm tiền gửi một cách bắt buộc Trách nhiệm đóng phí thuộc về tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi
- Đối tượng được hưởng các quyền lợi bảo hiểm
Mặc dù người được hưởng các quyền lợi trực tiếp từ chính sách bảo hiểm tiền gửi là người gửi tiền, nhưng người gửi tiền không phải trực tiếp tham gia bảo hiểm tiền gửi Theo đó trong trường hợp tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi bị giải thể hoặc phá sản thì tổ chức BHTG sẽ thay mặt Chính phủ đứng ra chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền theo quy định của Pháp luật mỗi quốc gia Số tiền vượt quá hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm cho mỗi khoản tiền gửi của cá nhân ở người gửi tiền sẽ được nhận trong quá trình thanh lý tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi, với thứ tự ưu tiên về vị trí chủ nợ theo quy định của pháp luật về giải thể hoặc phá sản
Tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi được hưởng lợi gián tiếp từ việc tham gia bảo hiểm tiền gửi: Được giám sát bởi một cơ quan Nhà nước, huy động vốn từ dân cư sẽ dễ dàng hơn do ở người gửi tiền biết họ sẽ được bảo hiểm khi gửi tiền tại
tổ chức đã tham gia Bảo hiểm tiền gửi
- Về đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Là các tổ chức tín dụng hoặc không phải là tổ chức tín nhưng có hoạt động ngân hàng Đối tượng tham gia của các loại hình bảo hiểm thương mại là các tổ chức hoặc cá nhân
- Cơ chế tham gia bảo hiểm
Cơ chế tham gia bảo hiểm tiền gửi là bắt buộc Tất cả các tổ chức tín dụng hoặc không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật mà có nhận tiền gửi của tổ chức hoặc cá nhân (gọi tắt là tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi) phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc,
Trang 20- Hình thức pháp lý tham gia
Ở Bảo hiểm tiền gửi đó là sự bắt buộc của các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi mà không thông qua hợp đồng bảo hiểm Sở dĩ không xuất hiện hợp đồng BHTG giữa tổ chức BHTG và các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi vì hợp đồng phải dựa trên cơ sở thỏa thuận, còn mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia BHTG là theo hình thức bắt buộc Còn ở các loại hình bảo hiểm thương mại khác thì thông thường phải thông qua hợp đồng bảo hiểm
- Nội dung bảo hiểm
Nội dung bảo hiểm tiền gửi theo quy định của phát luật và là sự bắt buộc, còn ở các loại hình bảo hiểm khác thì có thể do sự lựa chọn, thỏa thuận của chủ thể
về nội dung tham gia bảo hiểm
1.1.6 Các mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới
Thế giới đã chứng kiến sự ra đời của một số mô hình BHTG Khái quát lại, hiện có 3 mô hình hoạt động đối với các tổ chức BHTG, đó là:
1.1.6.1 Mô hình chuyên chi trả
Theo mô hình này, tổ chức BHTG được thành lập chỉ nhằm thực hiện một nhiệm vụ là chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị phá sản, nhằm thực hiện một số mục tiêu của chính sách công, trong đó hai mục tiêu quan trọng nhất là: (i) khẳng định cam kết của chính phủ về sự bảo đảm của nhà nước thông qua một tổ chức và một cơ chế BHTG công khai; và (ii) bảo vệ những người gửi tiền (nhỏ) thông qua việc hình thành cơ chế bồi thường
1.1.6.2 Mô hình chi trả với quyền hạn mở rộng
Theo đó, tổ chức BHTG được trao thêm một số quyền hạn, như: hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia BHTG gặp khó khăn trong thanh toán; theo dõi và khuyến nghị sự cẩn trọng và phòng tránh rủi ro đối với các tổ chức tham gia BHTG; tham gia xử lý nợ và thu hồi nợ của tổ chức tham gia BHTG bị phá sản… Qua đó, các mục tiêu cần đạt được của chính sách công như hạn chế rủi ro, tránh đổ vỡ hệ thống hoặc khủng hoảng tài chính, gia tăng niềm tin của công chúng cũng được mở rộng
Trang 211.1.6.3 Mô hình giảm thiểu rủi ro
Ngoài nhiệm vụ bảo vệ tốt nhất quyền lợi của người gửi tiền, tổ chức BHTG theo mô hình này còn tham gia cùng với các cơ quan nhà nước và Ngân hàng Trung ương vào hoạt động giám sát và đánh giá rủi ro của các ngân hàng và các định chế tài chính khác, góp phần bảo đảm sự an toàn và hoạt động bình thường của hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia; tính phí bảo hiểm dựa trên cơ sở định mức rủi ro; tiếp nhận xử lý nợ và thu hồi nợ đối với các tổ chức tham gia BHTG bị phá sản; được trao các nghiệp vụ kinh doanh, đầu tư nhằm bảo toàn phát triển vốn ban đầu cũng như tăng cường sức mạnh tài chính, giảm dần sự phụ thuộc vào ngân sách của Chính phủ đây là mô hình phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam
1.2 Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
1.2.1 Sự ra đời của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước chuyển nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) phát động Song song với công cuộc đổi mới đất nước trên các mặt thì hệ thống ngân hàng Việt Nam đã triển khai kế hoạch đổi mới từ năm 1988, trong giai đoạn này ngành ngân hàng đang phải đối mặt với một thực tế đầy thách thức là tình trạng lạm phát “phi mã”, lòng tin của người dân đối với ngân hàng đang giảm sút nghiêm trọng Một trong những nhiệm
vụ đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới là kiềm chế lạm phát, củng cố lòng tin của dân chúng đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam Rút kinh nghiệm sau hậu quả hàng loạt hợp tác tín dụng nông thôn và quỹ tín dụng đô thị trên toàn quốc bị sụp đổ dây chuyên trong những năm 1988-1990, Đảng
và Nhà nước đã có quy định rõ về trách nhiệm đối với các khoản tiền gửi của người dân, theo đó khi triển khai thí điểm mô hình Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) theo Quyết định 390/QĐ-TTg ngày 27/7/1993 của Thủ tướng Chính phủ, quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của QTDND đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn đã được ban hành kèm theo quyết định số 101/TCQĐ-BH ngày 01/02/1994 của Bộ tài chính
Trang 22Theo quyết định này thì Bảo Việt có trách nhiệm triển khai nghiệp vụ bảo hiểm tiền gửi (BHTG), đây là sự khởi đầu hoạt động BHTG công khai ở Việt Nam
Tuy nhiên, trong giai đoạn này hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện đã bộc lộ nhiều hạn chế về chức năng (chỉ thực hiện chi trả khi tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi bị đổ vỡ), hoạt động thiếu tính chuyên nghiệp, không theo các thông
lệ quốc tế, không đảm bảo các điều kiện hoạt động thành công của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Tính đến năm 1995 chỉ có 162 QTDND tham gia BHTG, tiền gửi thuộc đối tượng bảo hiểm chỉ chiếm 33,22% tổng số dư tiền gửi tại các QTDND và chỉ chiếm 0,2 % tổng số dư tiền gửi trong cả nước vào thời điểm đó
Đến năm 1997 có 370 QTDND tham gia bảo hiểm tiền gửi với số tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm là 322 tỷ VNĐ Đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi thời điểm này chỉ hạn chế ở QTDND, còn các tổ chức có huy động tiền gửi khác không tham gia Hạn chế của hoạt động BHTG do Bảo Việt thực hiện đặt ra vấn đề phải tìm ra mô hình BHTG mới, phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam Điều này chỉ thực sự được nghiên cứu một cách nghiêm túc từ năm 1997 khi Quốc hội thông qua hai đạo luật quan trọng trong lĩnh vực ngân hàng vào tháng 12 năm 1997 là Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, những thuận lợi khó khăn của Việt Nam, tháng 5/1998 Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản giao trách nhiệm cho Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Nghị định của Chính phủ về BHTG và
đề án thành lập tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Sau một thời gian nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của các nước và trước yêu cầu của công cuộc hội nhập nền kinh tế thế giới, tổ chức BHTG Việt Nam đã được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày 09-11-1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam và chính thức khai trương đi vào hoạt động từ ngày 7/7/2000 Đây là tổ chức duy nhất triển khai hoạt động BHTG ở Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay Hoạt động của BHTGVN từ
đó được công nhận là một trong các giải pháp chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi
Trang 23của người gửi tiền, hỗ trợ các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động ngân hàng
1.2.2 Cơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam là một tổ chức tài chính Nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định của tổ chức tín dụng, đảm bảo sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân hàng Để thực hiện được các chức năng và nhiệm
vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, BHTGVN đã xây dựng một cơ cấu tổ chức bộ máy gồm Hội đồng quản trị, Ban điều hành, các Phòng, Ban, Bộ phận ở Hội sở chính và sáu Chi nhánh khu vực
Trang 24Hình 1.2 Sơ đồ tổ chức hệ thống Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Cơ quan Trung ương của BHTGVN là Hội sở chính, có trụ sở tại Hà Nội, bao gồm nơi làm việc của Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm soát và các Phòng, Ban chức năng Hoạt động của hội sở chính là hoạch định các chính sách và các quy định để triển khai hoạt động của BHTGVN và giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chính sách và quy định được ban hành
Các chi nhánh khu vực chịu trách nhiệm triển khai các nghiệp vụ cụ thể tới các tổ chức tham gia BHTG Hiện nay các Chi nhánh đang tiến hành các nghiệp vụ
Trang 25đối với khách hàng tham gia BHTG gồm: thu phí BHTG, kiểm tra, giám sát, chi trả,
hỗ trợ tài chính, thông tin tuyên truyền vv
Khách hàng tham gia BHTG ở địa bàn nào sẽ do chi nhánh BHTG ở địa bàn đó phục vụ Hội sở chính quản lý trực tiếp các khách hàng lớn và 1 số khách hàng ở địa bàn chưa có chi nhánh khu vực Các tổ chức thuộc đối tượng bắt buộc tham gia BHTG làm thủ tục đăng ký tham gia BHTG tại các chi nhánh BHTGVN trên địa bàn, hoặc tại Hội sở chính theo phân vùng đảm nhận Cơ cấu bộ máy và mạng lưới hoạt động của BHTGVN cụ thể theo sơ đồ sau
Hình 1.3: Mạng lưới hoạt động của BHTGVN
Mạng Lưới hoạt động
• Trụ sở chính tại Hà nội
• 06 chi nhánh khu vực
• Chi nhánh Hà Nội
• Chi nhánh khu vực Đông Bắc Bộ
• Chi nhánh khu vực Bắc Trung Bộ
• Chi nhánh khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
• Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh
• Chi nhánh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 261.2.3 Các hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Tổ chức và hoạt động của bảo hiểm tiền gửi Việt Nam thực hiện theo Điều
lệ về tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, ban hành kèm theo Quyết định số 75/2000/QĐ-TTg, ngày 28 tháng 6 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ
Hình 1.4: Các hoạt động chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Các hoạt động
Giám sát từ
xa, kiểm tra tại chỗ
Cấp giấy Chứng nhận BHTG và Thu phí
Chi trả bảo
hiểm, thu hồi nợ
và thanh lý
Hỗ trợ Tài chính
Trang 27Nội dung hoạt động chính bao gồm:
1 Cấp và thu hồi Chứng nhận bảo hiểm tiền gửi
2 Thu phí bảo hiểm tiền gửi các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định
3 Giám sát và kiểm tra việc chấp hành các quy định tại Nghị định của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi và các quy định về an toàn trong hoạt động của các
tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
4 Cho vay hỗ trợ cho các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi có nguy
cơ mất khả năng chi trả, nhưng chưa đến mức phải đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt
5 Tham gia quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
bị phá sản
6 Chi trả các khoản tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền trong phạm
vi mức bảo hiểm tối đa theo quy định
7 Quản lý, sử dụng và đảm bảo an toàn nguồn vốn
8 Tuyền truyền chính sách về bảo hiểm tiền gửi đối với công chúng, tổ chức tập huấn đào tạo và tư vấn về nghề vụ liên quan đến bảo hiểm tiền gửi
9 Xây dựng chiến lược phát triển, kế hoạch hoạt động về bảo hiểm tiền gửi
10 Yêu cầu các tổ chức tham gia Bảo hiểm tiền gửi cung cấp tài liệu, thông tin, báo cáo về tình hình hoạt động, kinh doanh theo định kỳ hay đột xuất; thực hiện các biện pháp chấn chỉnh vi phạm các quy định về an toàn trong hoạt động ngân hàng và nguy cơ mất khả năng chi trả
11 Kiến nghị với ngân hàng nhà nước và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung các chủ trương, chính sách về bảo hiểm tiền gửi
12 Hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm tăng cường năng lực hoạt động của BHTGVN và của các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
Trang 281.2.4 Hiệu quả của hoạt động bảo hiểm tiền gửi
1.2.4.1 Khái niệm, bản chất của hiệu quả
Hiệu quả, là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và nguồn lực mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định
Hiệu quả trong hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp để hoạt động sản xuất kinh doanh đạt kết quả cao nhất Hay đơn giản hơn thì hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả kinh doanh với nguồn lực đầu vào Hiệu quả phải gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp và được thể hiện qua công thức sau:
Kết quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh =
Nguồn lực đầu vào được sử dụng
Hiệu quả kinh doanh mô tả mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí bỏ ra, hoặc các nguồn lực được huy động đề nhận được lợi ích kinh tế đó
Biểu hiện của lợi ích và chi phí kinh tế phụ thuộc vào chủ thể và mục tiêu
mà chủ thể đặt ra Đối với doanh nghiệp, đó có thể là doanh thu bán hàng và những chi phí gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để có được doanh thu bán hàng đó Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện trên cả hai mặt lượng và chất:
Về mặt lượng: Hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đó;
Về mặt chất: Việc đạt được hiệu quả kinh doanh cao phản ánh năng lực và trình độ quản lý, đồng thời đòi hỏi sự gắn bó giữa việc đạt được những mục tiêu kinh tế với việc đạt được những mục tiêu xã hội
1.2.4.2 Các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả hoạt động bảo hiểm tiền gửi
Do đặc thù BHTG hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, không kinh doanh như các loại hình bảo hiểm thương mại khác, mà với bản chất, mục đích bảo
Trang 29hiểm tiền gửi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, duy trì sự
ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế Mặt khác hoạt động của BHTGVN là công cụ thực hiện chính sách công của Chính Phủ, mang tính chất đặc thù của cơ quan hành chính Nhà nước Do vậy các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động theo 2 nhóm như sau:
a Nhóm chỉ tiêu đánh giá năng suất
Tổng số đơn vị tham gia BHTG
- Năng suất lao động =
Tổng số lao động QL khách hàng (số đơn vị/người) Chỉ số này phản ánh năng lực của cán bộ, trong việc thực hiện các nhiệm vụ: Theo dõi thu phí; Giám sát từ xa; Kiểm tra tại chỗ, đối với các đơn vị được phân công theo nhóm địa bàn tỉnh Ngoài ra chỉ tiêu này còn phản ánh sự xắp xếp, phân công cán bộ hợp lý theo năng lực và theo nhóm địa bàn, tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong nhóm, hướng dẫn, giúp đỡ cán bộ trẻ nắm vững nghiệp vụ, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
b Nhóm chỉ tiêu hoạt động
- Cấp và thu hồi chứng nhận BHTG
Đây là chỉ số chỉ tiêu số tuyệt: Chỉ tiêu này phản ánh số lượng đơn vị tham gia BHTG mới thành lập được BHTGVN cấp mới, hoặc số tổ chức TGBHTG bị thu hồi chứng nhận BHTG hàng năm; chỉ tiêu này tăng phản ánh nhiều tổ chức tín dụng
ra đời, tùy thuộc vào chính sách của NHNN, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế đất nước Ngược lại nếu chỉ tiêu này tăng trưởng quá nóng dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh, gây lãng phí xã hội (như tại TP HCM 1 km có 16 CN NHTMCP được cấp phép hoạt động), hoặc khi có phát sinh số liệu các đơn vị bị thu hồi chứng nhận BHTG, phản ánh số TCTD bị ngừng hoạt động huy động vốn do bị giải thể, phá sản;
- Tỷ lệ % đơn vị được giám sát từ xa
Tổng số đơn vị được giám sát
Tỷ lệ % đơn vị được giám sát =
Tổng số các TCTGBHTG
Trang 30Tỷ lệ này đánh giá mức độ hoàn thành theo kế hoạch đề ra; Đánh giá chỉ tiêu này theo định kỳ giám sát: Hàng tháng có các mức đánh giá: không đạt, đạt và đạt vượt mức kế hoạch đề ra; Hàng quý do yêu cầu phải giám sát 100% số TCTGBHTG trên địa bàn khu vực nên đánh giá theo 2 mức: Đạt 100% và không đạt theo kế hoạch
- Bình quân số phí BHTG thu được/ Một đơn vị
Tổng số phí BHTG thu được
Số phí thu được/ =
đơn vị TGBHTG Tổng số đơn vị TGBHTG
Chỉ tiêu này phản ánh số phí bình quân 1 đơn vị thực nộp trong quý, ngoài
ra đây cũng là chỉ tiêu phản ánh bình quân về quy mô, tốc độ tăng trưởng vốn huy động trên địa bàn, đồng thời cũng phản ánh hiệu quả hoạt động chung
- Tần suất đơn vị được kiểm tra:
Tổng số các TCTGBHTG
Tần suất kiểm tra =
Tổng số đơn vị được kiểm tra Chỉ tiêu này phản ánh tần suất kiểm tra của BHTGVN đối với các TCTGBHTG trong năm
- Bình quân số kiến nghị của cuộc kiểm tra
Tổng số các kiến nghị
Số kiến nghị BQ cuộc kiểm tra =
Tổng số đơn vị được kiểm tra Chỉ tiêu này phản ánh số lượng các kiến nghị bình quân cuộc kiểm tra trong năm
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Bảo hiểm tiền gửi
Đối với BHTGVN với mục tiêu, bản chất của bảo hiểm tiền gửi là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận nên có những đặc thù khác biệt hoàn toàn với hoạt động kinh doanh, với các doanh nghiệp và các loại hình bảo hiểm khác Hoạt động của BHTG chịu sự tác động và ảnh hưởng của nhiều nhân tố thuộc cơ chế chính sách công của Nhà nước, lĩnh vực kinh tế và xã hội Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động BHTG có vai trò quan trọng trong việc đề ra giải
Trang 31pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của nó Về cơ bản có các nhân tố chủ yếu sau:
1.2.5.1 Những nhân tố khách quan
a) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội và hệ thống ngân hàng
Các yếu tố tác động đến tình hình kinh tế xã hội đó là chính sách phát triển kinh tế của Chinh phủ, nền kinh tế tăng trưởng phát triển ổn định, bền vững, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế là rất lớn, dẫn đến số lượng các tổ chức tín dụng (TCTD) tăng nhanh, Các số liệu thống kê cũng cho thấy, năm 2012, BHTGVN đã thu phí của 1.229 tổ chức tham gia BHTG với tổng số phí thực nộp hơn 2.057 tỷ đồng, tăng hơn 27% so với năm 2011 Tổng số dư tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm khoảng 1,5 triệu tỷ đồng (năm 2011 khoảng 1,1 triệu tỷ đồng) Qua đó minh chứng rằng nền kinh tế tăng trưởng phát triển ổn định bền vững tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức tham gia BHTG tăng trưởng bền vững cả
về số lương, chất lượng và quy mô hoạt động đây là thành tố quan trọng để BHTGVN tăng trưởng nguồn lực tài chính, góp phần đảm bảo an toàn hệ thống tài chính quốc gia
Ngược lại, nền kinh tế bị khủng hoảng gây ra lạm phát, suy thoái kinh tế, các doanh nghiệp phá sản, hệ thống ngân hàng sẽ gặp khó khăn do quản lý kém, nợ xấu tăng cao, tiềm ẩn nhiều rủi ro là nhân tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của BHTGVN
b) Cơ sở pháp lý của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam
Như chúng ta đã biết môi trường vĩ mô có tác động rất lớn đến tình hình kinh tế nói chung và hoạt động của hệ thống các ngân hàng là các tổ chức tham gia BHTG nói riêng Hệ thống Ngân hàng có mối quan hệ mật thiết nhưng hết sức phức tạp với mọi thành phần kinh tế, do đó mọi hành vi diễn ra trong nền kinh tế đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ở các cấp độ khác nhau tới Ngân hàng
Hoạt động ngân hàng luôn tiền ẩn rủi ro và nhạy cảm có tính lan truyền cao,
sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế - xã hội
Trang 32tiền gửi là công cụ thực hiện chính sách công nhằm góp phần đảm bảo sự phát triển
an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng Do đó để BHTG thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của Chính phủ giao, cần phải có hành lang pháp lý đầy đủ và môi trường pháp lý, cơ chế tham gia BHTG là cơ chế bắt buộc theo thông lệ quốc tế, nó không phụ thuộc vào ý thức muốn hay không muốn tham gia của các TCTGBHTG, với cơ chế này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi, đây là nhân tố quan trọng nhất không thể thiếu để Bảo hiểm tiền gửi phát triển bền vững Theo đó các văn bản dưới Luật bảo hiểm tiền gửi cần có sự kế thừa và cụ thể hóa các quy định về mô hình tổ chức hoạt động Bảo hiểm tiền gửi đầy đủ phù hợp với
cơ sở pháp lý hiện tại, phù hợp với thông lệ Bảo hiểm tiền gửi quốc tế và đồng bộ với các bộ Luật điều chỉnh hoạt động của hệ thống tài chính - ngân hàng tại Việt Nam
1.2.5.2 Các nhân tố thuộc về Bảo Hiểm tiền gửi Việt Nam
a) Năng lực quản trị
Năng lực quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của BHTG, tác động tới cơ cấu tổ chức bộ máy, quản lý nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, công nghệ, Công tác quản trị tốt sẽ giúp BHTGVN tiết giảm được nhiều chi phí và đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả nhất, cụ thể:
Năng lực quản trị trong việc xây dựng chiến lược định hướng phát triển của BHTGVN phù hợp với các quy định hiện hành và hội nhập với thông lệ quốc tế; ban hành hệ thống các văn bản quản trị nội bộ khoa học, hợp lý;
Năng lực quản trị trong việc tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện là việc xắp xếp, bố trí, quyết định bổ nhiệm, điều động cán bộ hợp lý đúng người đúng việc; Như đương thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở các cấp, các ngành: “Phải cân nhắc cán bộ cho đúng và phải dùng cán bộ cho khéo”, “Nếu người
có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũng không được việc”, “nếu cân nhắc không cẩn thận không khỏi đem người chỉ nói mà không làm vào những địa vị lãnh đạo, như thế rất có hại”
Trang 33Năng lực thể hiện thông qua kinh nghiệm công tác: Kinh nghiệm là yếu tố tạo nên sự thành công rất lớn đối với nhà quản trị, kinh nghiệm không phải chỉ một vài ngày là sẽ có được mà nó đòi hỏi cả quá trình thực tiễn cộng với thời gian hoạt động Vì vậy với nhãn quan kinh nghiệm trong hoạt động, khả năng tư duy sáng tạo của Nhà quản trị sẽ ra quyết định sáng suốt, đúng đắn hơn Qua thực tiễn cho thấy với nhiều năm kinh nghiệm quản lý tốt thì năng lực quản trị sẽ nâng cao
b) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật công nghệ của hoạt động BHTG
Hiệu quả các hoạt động của BHTGVN chỉ dựa trên cơ sở hiện đại hóa hoạt động bảo hiểm tiền gửi mà nền tảng là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các hoạt động nghiệp vụ của BHTG, đây là một trong những trụ cột chiến lược phát triển của BHTGVN
Kể từ năm 2010 Ngân hàng Nhà nước tiếp nhận nguồn vốn tín dụng ODA của Hiệp hội Phát triển Quốc tế (IDA) nhằm triển khai dự án Hệ thống Thông tin
Quản lý và Hiện đại hóa Ngân hàng (FSMIMS) để hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (SBV), Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC) và Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam (DIV) nhằm nâng cao chất lượng thực hiện các chức năng chính của mình phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng
Đối với BHTGVN, Dự án FSMIMS sẽ hỗ trợ BHTGVN nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò quan trọng của mình trong việc bảo vệ người gửi tiền Dự án FSMIMS cũng góp phần tăng cường chia sẻ thông tin, nâng cao hiệu quả sử dụng thông tin để đảm bảo vai trò hiệu quả hơn trong việc đảm bảo an toàn và vững mạnh cho hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, Dự án FSMIMS sẽ giúp BHTGVN trở thành một tổ chức bảo hiểm tiền gửi hiện đại và hiệu quả, là thành viên tích cực của mạng
an toàn tài chính quốc gia, góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của BHTGVN
c) Số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên
Như chúng ta đã biết đôi ngũ cán bộ, nhân viên là yếu tố quan trọng mang tính quyết định sự thành bại của đơn vị và tổ chức Để phát triển hệ thống
Trang 34chất đạo đức nghề nghiệp, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức trách nhiệm cao với công việc, tận tụy gắn bó với sự phát triển của BHTGVN; Mặt khác mô hình tổ chức bộ máy cần được xây dựng theo hướng tinh gọn và hiện đại hóa các mặt nghiệp là những yếu tố quyết định nên sự thành công tổ chức BHTGVN
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về bảo hiểm tiền gửi
1.3.1 Bảo hiểm tiền gửi ở Hoa Kỳ
Công ty BHTG liên bang Mỹ (FDIC), ra đời ngày 1/1/1934, nơi triển khai hoạt động BHTG đầu tiên, là tổ chức điển hình trong triển khai đồng bộ ba loại nghiệp vụ và phát huy tối đa hiệu quả của chính sách BHTG trong bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, là mô hình được nhiều nước trên thế giới tham khảo để thành lập và cải tiến hoạt động BHTG Thành công của chính sách BHTG ở Mỹ có thể được tóm tắt ở một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, sự ra đời và triển khai chính sách BHTG ở Mỹ đã khẳng định năng lực kiểm soát rủi ro ngân hàng của chính sách BHTG theo mô hình chức năng đầy đủ là rất lớn: Tính từ tháng 10 năm 1929 đến cuối năm 1933, trước thời điểm ra đời của FDIC, ở Mỹ đã có 4.000 ngân hàng đổ vỡ Một phần nhờ có sự triển khai chính sách BHTG của tổ chức FDIC, trong năm 1934 ở Mỹ chỉ có 9 ngân hàng đổ
vỡ Trong giai đoạn 1934-1941 mặc dầu ở Mỹ đã có 370 ngân hàng đóng cửa, nhưng FDIC đã tạo điều kiện để các ngân hàng này rút khỏi lĩnh vực hoạt động ngân hàng mà không ảnh hưởng đến các ngân hàng khác Trong giai đoạn có khủng hoảng tiết kiệm và cho vay ở Mỹ trong những năm 1980, FDIC đã đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp kịp thời sản phẩm hỗ trợ tài chính để giảm đi phần nào sự đổ vỡ không đáng có của nhiều ngân hàng Trong giai đoạn 1982-1991 ở Mỹ
có hơn 1.400 ngân hàng lâm vào tình trạng nguy kịch, có thể dẫn đến đóng cửa, nhờ
sự hỗ trợ tài chính của FDIC, 131 ngân hàng trong số các ngân hàng đó đã vượt qua được khó khăn và duy trì được hoạt động
Thứ hai, quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ kịp thời, giảm tổn thất cho người gửi tiền, ngân hàng và nền kinh tế: Năm 1934 đến 1997, ở Mỹ có 2.192 ngân
Trang 35hàng đổ vỡ, đã được FDIC giải quyết nhanh gọn, giảm thiểu tối đa ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng Mỹ Người gửi tiền ở các ngân hàng bị phá sản trong thời gian này
đã nhận được tiền chi trả bảo hiểm với tổng số tiền là 106.560 triệu USD
Mới đây, FDIC đã đóng vai trò tích cực trong việc tiếp nhận xử lý ngân hàng gặp vấn đề Từ đầu năm 2008 tới nay, FDIC đã tiếp nhận và xử lý 16 ngân hàng đổ
vỡ Ngoài ra, trong bản kế hoạch giải cứu ngành tài chính trị giá 700 tỉ USD được quốc hội thông qua ngày 1.10.2008, FDIC đã nâng hạn mức bảo hiểm tiền gửi từ 100.000 USD lên 250.000 USD (hạn mức này duy trì đến hết năm 2009) để củng cố niềm tin của người gửi tiền vào hệ thống tài chính
Thứ ba, Mỹ dành nhiều quan tâm tới giám sát hoạt động ngân hàng: Ngay sau khi thành lập, FDIC đã cử 4.000 kiểm tra viên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát các ngân hàng nhằm đánh giá tiêu chí là thành viên của FDIC Nguồn nhân lực thực hiện công tác giám sát hoạt động ngân hàng ở Mỹ được đầu tư đáng kể so với nhiều quốc gia khác, số lượng thanh tra viên của Hệ thống ngân hàng Nhật Bản vào thời điểm năm 1995 là 400 người, trong khi đó số thanh tra viên của Hệ thống ngân hàng Mỹ năm 1995 là 8.000 người
Thứ tư, nguồn lực để triển khai chính sách BHTG ở Mỹ được đầu tư rất lớn:
có cơ sở pháp lý cao (Luật BHTG) ngay từ đầu và được điều chỉnh kịp thời trong quá trình triển khai; có nguồn tài chính lớn và có cơ chế huy động tài chính thích ứng với đặc thù và vai trò quan trọng của chính sách BHTG trong giải quyết rủi ro của lĩnh vực tài chính- ngân hàng; có nguồn nhân lực lớn đáp ứng yêu cầu triển khai của chính sách (nhân lực của FDIC vào thời điểm tháng 3/2005 là 4.993 người)
1.3.2 Bảo hiểm tiền gửi ở Nhật Bản
Công ty Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản (DICJ) được thành lập năm 1971, với
bề dày hoạt động trên 40 năm đã và đang ngày càng khẳng định vị trí và vai trò của mình trong mạng an toàn tài chính Nhật Bản Mục tiêu chính của hệ thống BHTG Nhật Bản là bảo vệ những người gửi tiền và các bên liên quan trong trường hợp tổ
Trang 36của hệ thống tài chính thông qua nhiều công cụ nghiệp vụ trong đó có nghiệp vụ tiếp nhận và xử lý
Thực tế trong quá trình hoạt động, DICJ đã thực hiện tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ đối với việc tiếp nhận và xử lý các tổ chức tài chính bị đổ vỡ Trong cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, cùng với các thành viên khác trong mạng
an toàn tài chính Nhật Bản, DICJ đã thực hiện tốt vai trò xử lý khủng hoảng, giảm thiểu tác động của khủng hoảng tài chính đối với nền kinh tế Để thực hiện được mục tiêu đặt ra là ổn định hệ thống tài chính ngân hàng, cơ chế xử lý tổ chức tài chính bị đổ vỡ tại Nhật Bản quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm và thời điểm can thiệp của các cơ quan có thẩm quyền liên quan trên nguyên tắc xử lý kịp thời, chi phí tổi thiểu
- Cơ chế xử lý tổ chức tài chính bị đổ vỡ tại Nhật Bản
Ban đầu, khi hệ thống bảo hiểm tiền gửi mới được thành lập, chỉ có phương pháp chi trả bảo hiểm tiền gửi được áp dụng như là một cơ chế bảo vệ người gửi tiền khi xử lý tổ chức bị đổ vỡ ở Nhật Bản Tuy nhiên, phương pháp hỗ trợ tài chính
đã được bổ sung và quy định trong Luật Bảo hiểm tiền gửi sửa đổi năm 1986
- Phương pháp chi trả bảo hiểm
Khi một tổ chức tài chính bị đổ vỡ, Công ty BHTG Nhật Bản sẽ tiến hành chi trả bảo hiểm cho người gửi tiền được bảo hiểm tại tổ chức đó dựa trên yêu cầu thanh toán của người gửi tiền Nguồn chi trả sẽ được lấy từ nguồn thu phí bảo hiểm hàng năm từ các tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật Hiện nay mức bảo hiểm tối đa mà Công ty áp dụng là 10 triệu yên tổng số tiền gốc của người gửi tiền
và tiền lãi của nó
- Phương pháp hỗ trợ tài chính
Xử lý đổ vỡ bằng phương pháp hỗ trợ tài chính là việc dùng một tổ chức tài chính vững mạnh (tổ chức tiếp nhận) tiếp quản các chức năng tài chính của tổ chức tài chính bị đổ vỡ Việc tiếp nhận này phải đảm bảo rằng tổ chức tài chính tiếp nhận phải được tiếp nhận các tài sản có tương ứng với trách nhiệm nợ phải tiếp nhận Nhưng trên thực tế thì hầu như trong mọi trường hợp, tài sản có và tài sản nợ của tổ
Trang 37chức tài chính bị đổ là không cân bằng Vì thế, DICJ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức tài chính tiếp nhận có thể tiếp quản tổ chức tài chính bị đổ vỡ với điều kiện tài sản có cân bằng với tài sản nợ bằng cách cấp số tiền tương ứng với khoản tài sản nợ vượt quá tài sản có của tổ chức tài chính bị đổ vỡ cho tổ chức tài chính tiếp nhận Ngoài ra, đối với các khoản nợ xấu của tài sản có của tổ chức tài chính bị đổ vỡ, thủ tục bán các khoản nợ này sẽ được DICJ đảm nhận bằng cách mua lại tài sản như một phần của hoạt động hỗ trợ tài chính
Theo các chuyên gia bảo hiểm tiền gửi của Nhật Bản, thì trong chừng mực
có thể cần ưu tiên phương pháp hỗ trợ tài chính để tránh việc gây ra những tác động xấu nghiêm trọng của đổ vỡ đối với các hoạt động tài chính liên quan Khi áp dụng phương pháp hỗ trợ tài chính, những chủ nợ thông thường bao gồm cả người gửi tiền sẽ hy vọng được thanh toán dựa trên giá trị của tài sản có tính đến các hoạt động tài chính, chứ không phải là giá trị thanh lý Như vậy, sẽ giúp tránh được các tổn thất về kinh tế phát sinh do sự giải thể hoàn toàn của tổ chức tài chính bị đổ vỡ Ngoài ra, người gửi tiền cũng sẽ có lợi vì họ được tiếp tục bảo vệ tại tổ chức tài chính tiếp nhận và tiếp tục được hưởng lãi Hơn nữa, khi áp dụng phương pháp hỗ trợ tài chính, DICJ cũng giảm được chi phí hơn so với trường hợp phải chi trả bảo hiểm
Đối với các hoạt động chuyển giao toàn phần hoặc một phần hoạt động của
tổ chức tài chính bị đổ vỡ sang tổ chức tài chính tiếp nhận, DICJ sẽ cung cấp hỗ trợ tài chính để thực hiện việc chuyển giao đó Trong trường hợp chuyển giao một phần hoạt động, những tài sản có và tài sản nợ không được chuyển giao sẽ vẫn thuộc về
tổ chức tài chính bị đổ vỡ Để đối xử công bằng đối với tất cả các chủ nợ của tổ chức tài chính bị đổ vỡ, DICJ sẽ cung cấp hỗ trợ tài chính (không hoàn lại) cho tổ chức tài chính bị đổ vỡ sau khi đã thực hiện chuyển giao nhằm đảm bảo tiền lãi cổ tức thanh lý của các chủ nợ của tổ chức tài chính bị đổ vỡ
Ngoài ra, sau khi thực hiện hỗ trợ tài chính cho việc chuyển giao, DICJ có thể tiếp tục hỗ trợ tổ chức tài chính tiếp nhận DICJ có thể đăng ký mua cổ phiếu ưu
Trang 38Cơ quan dịch vụ tài chính và Bộ tài chính chấp thuận Mục đích của hoạt động này
là nhằm ngăn chặn việc giảm mức độ an toàn vốn của tổ chức tiếp nhận sau do thực hiện chuyển giao Sau khi chuyển giao, nếu các khoản vay được tiếp nhận từ tổ chức tài chính bị độ vỡ bị suy giảm giá trị vì không thể thu hồi hoàn toàn, thì tổ chức tài chính tiếp nhận sẽ phải chịu tổn thất này DICJ sẽ có thể ký kết một thỏa thuận bồi thường một phần các tổn thất này trong một thời gian nhất định cho tổ chức tài chính tiếp nhận Ngược lại, nếu những khoản vay này làm tăng lợi nhuận sau khi chuyển giao, thì một phần lợi nhuận đó sẽ được trả cho DICJ
- Cơ quan quản lý tài chính
Khi một tổ chức tài chính bị đổ vỡ, nhưng chưa thể thực hiện việc sáp nhập, chuyển giao toàn bộ hoạt động kinh doanh hoặc việc giải thể tổ chức tài chính đó có thể gây nhiều trở ngại đến sự luân chuyển của luồng tiền và sự thuận tiện của người
sử dụng trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động của tổ chức tài chính đó, Hội đồng
Cơ quan dịch vụ tài chính Nhật Bản có thể ban hành lệnh chuyển giao việc quản lý hoạt động và tài sản của tổ chức tài chính đó cho một cơ quan quản lý tài chính
Cơ quan quản lý tài chính sẽ do Hội đồng cơ quan dịch vụ tài chính bổ nhiệm, và thuộc sự giám sát của Hội đồng Cơ quan quản lý tài chính có trách nhiệm thực hiện một cách phù hợp việc quản lý công việc kinh doanh của tổ chức tổ chức tài chính bị đổ vỡ, thực hiện những công việc theo yêu cầu để chuyển giao lại công việc kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ cho tổ chức tiếp nhận Cơ quan quản lý tài chính còn có trách nhiệm thực hiện điều tra cần thiết để làm rõ trách nhiệm gây ra đổ vỡ theo quy định của pháp luật Việc chuyển giao công việc kinh doanh cho tổ chức tiếp nhận trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định quản lý
và có thể được gia hạn thêm một năm khi cần thiết
- Ngân hàng bắc cầu
Theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi, khi xử lý đổ vỡ, DICJ cũng có thể thành lập Ngân hàng bắc cầu với 100% vốn của DICJ Ngân hàng bắc cầu có nhiệm
vụ chính là tiếp tục công việc kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ khi chưa có
tổ chức tài chính tiếp nhận, thực hiện hỗ trợ tài chính để duy trì và tiếp tục các hoạt
Trang 39động kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ Tổ chức tài chính bị đổ vỡ sẽ ký kết thỏa thuận cơ sở về việc tiếp tục kinh doanh và các thoả thuận kèm theo với ngân hàng bắc cầu trước khi gửi đơn yêu cầu bắt đầu thực hiện thủ tục phục hồi dân sự sau khi xảy ra đổ vỡ Sau đó, ngân hàng bắc cầu cung cấp hỗ trợ tài chính dưới hình thức thực hiện các nghĩa vụ, cấp tiền hoặc cho vay để duy trì và tiếp tục các giá trị kinh doanh của tổ chức tài chính bị đổ vỡ
1.3.3 Bảo hiểm tiền gửi ở Đài Loan
Ngày 9/1/1985 Luật BHTG Đài Loan được thông qua và ngày 27/9/1985 Tổng công ty bảo hiểm tiền gửi Trung ương Đài Loan (CDIC) khai trương hoạt động Mặc dầu triển khai chậm hơn nhiều nước trên thế giới, chính sách BHTG ở Đài Loan đã khẳng định được vai trò to lớn trong kiểm soát rủi ro trong hoạt động ngân hàng, đặt biệt có tác dụng kiểm soát hiện tượng hoảng loạn và đột biến rút tiền gửi ồ ạt ở quốc gia này Thành công của chính sách BHTG Đài Loan có thể được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Thứ nhất: Nghiên cứu có hiệu quả kinh nghiệm của các quốc gia đi trước
về lĩnh vực BHTG, nhờ vậy đã đạt được kết quả cao trong xây dựng các nội dung của chính sách BHTG trong thời gian ngắn và phát huy hiệu quả cao, nhờ học tập một cách sáng tạo kinh nghiệm của Mỹ, Canada v.v , sau 5 năm hoạt động, CDIC
là quốc gia đầu tiên ở châu Á áp dụng thành công phí BHTG theo mức độ rủi ro CDIC đã xây dựng hệ thống cảnh báo sớm tình hình tài chính của các tổ chức tham gia BHTG một cách xuất sắc và được Bộ Tài chính Đài Loan ủy quyền phát triển và xây dựng thành công Hệ thống cảnh báo sớm tài chính quốc gia
- Thứ hai: Hoạt động nghiệp vụ BHTG (giám sát, kiểm tra, xử lý ngân hàng
có vấn đề, quan hệ công chúng…) được triển khai bài bản, có hiệu quả cao, có đóng góp to lớn trong đảm bảo an toàn và ổn định hoạt động ngân hàng ở đất nước này Mặc dầu cho tới nay, ở Đài Loan chưa có tổ chức tham gia BHTG nào bị đóng cửa
và phải chi trả từ quỹ BHTG của CDIC, từ tháng 6/1990 đến tháng 4/2004, CDIC
Trang 40loạn và đột biến rút tiền CDIC đã làm nổi bật vai trò quan trọng của chính sách BHTG theo mô hình chức năng đầy đủ đối với hoảng loạn ngân hàng
1.3.4 Bài học kinh nghiệm phát triển hệ thống BHTG hiệu quả
Sau sự kiện, diễn biến trong cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế gần đây cho thấy tầm quan trọng của các cơ chế bảo vệ người gửi tiền hiệu quả, các cơ quan chức năng nhất trí xây dựng nguyên tắc quốc tế phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả Theo đó tháng 7 năm 2008, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) và Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) quyết định hợp tác xây dựng
hệ thống nguyên tắc cơ bản được thống nhất trên thế giới trên cơ sở Các nguyên tắc
cơ bản của IADI về phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả Các nguyên tắc
cơ bản dưới đây về phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả là kết quả nghiên cứu của Nhóm làm việc chung giữa CBRG và IADI, bao gồm 18 nguyên tắc như sau:
Mục tiêu chính sách công: Bước đầu tiên trong việc áp dụng một hệ thống
BHTG hoặc cải cách hệ thống hiện tại là xác định rõ mục tiêu chính sách công phù hợp cần đạt được Những mục tiêu này phải được chính thức cụ thể hóa và được đưa vào thiết kế của hệ thống bảo hiêm tiền gửi Các mục tiêu chính của hệ thống bảo hiểm tiền gửi là góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính và bảo vệ người gửi tiền
Giảm thiểu rủi ro đạo đức: Rủi ro đạo đức sẽ được giảm thiểu bằng cách
đảm bảo rằng hệ thống BHTG có các đặc điểm thiết kế phù hợp và thông qua các yếu tố khác của mạng an toàn tài chính
Nhiệm vụ: Điều quan trọng là nhiệm vụ của một hệ thống BHTG cần phải rõ
ràng và được quy định chi tiết, chính thức; cần phải có sự nhất quán giữa mục tiêu chính sách công với quyền hạn, trách nhiệm được trao cho hệ thống bảo hiểm tiền gửi
Quyền hạn: Một tổ chức bảo hiểm tiền gửi cần phải có tất cả các quyền hạn
cần thiết để hoàn thành chức năng nhiệm vụ của mình Các quyền hạn này cần phải được chính thức quy định cụ thể Tất cả các tổ chức BHTG cần phải có quyền lập