Vai trò của bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểm tiền gửi BHTG là sự đảm bảo bằng vật chất đối với các khoảntiền gửi của ngời gửi tiền tại các tổ chức tín dụng TCTD trong trờng hợp tổchức tín dụn
Trang 1Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, các tổ chức tín dụng hoạt động đa năng, đầy sôi động Sự thay đổi cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn diễn
ra hàng ngày cộng thêm sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá, lạm phát khiến cho hoạt động ngân hàng trở nên vô cùng mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi
điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, giữ cho hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh, an toàn và có hiệu quả Từ thực tế trên cho thấy, sự ra đời của tổ chức tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, nó bảo vệ ngời gửi tiền và đảm bảo cho các tổ chức tín dụng hoạt động một cách lành mạnh và hiệu quả
Tuy nhiên, thị trờng bảo hiểm tiền gửi Việt Nam vừa mới thành lập (ttháng 7/2000) còn rất non trẻ, nhng đã từng bớc khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế quốc dân và trong tơng lai thị trờng bảo hiểm tiền gửi sẽ là một thị trờng đầy triển vọng với những tiềm năng đ-
ợc khai thác triệt để Mặt khác, thị trờng bảo hiểm tiền gửi thế giới cũng khá phát triển trong vài thập kỷ qua với nhiều hình thức khác nhau Vấn đề đặt ra là chúng ta phải nghiên cứu thật kỹ lỡng và đa
ra phơng hớng phát triển thị trờng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam sao cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nớc và hoà nhập với thị trờng bảo hiểm tiền gửi thế giới
Trên cơ sơ đó, em chọn đề tài:
"Bảo hiểm tiền gửi và thị trờng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
"
Trang 2Ngoài phần mở đầu và kết luận ra bài viết gồm ba phần:
CHƯƠNG I: Những vấn đề cơ bản của bảo hiểm tiền gửi CHƯƠNG II: Thị trờng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
CHƯƠNG III: Một số kiến nghị nhằm phát triển thị trờng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
Trang 3chơng I: những vấn đề cơ bản về bảo hiểm tiền gửi
I giới thiệu chung về bảo hiểm tiền gửi
1 Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm tiền gửi
Trong hoạt động kinh tế, tín dụng là một trong những hoạt động phát
triển khá mạnh mẽ Mặc dù hoạt động tín dụng đem lại lợi nhuận, cao nhngnhững "rủi ro tín dụng " nh rủi ro mấtt khả năng thanh toán, rủi ro lãi suấtt,rủi ro do tỷ giá hối đoái có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào gây tổn thất chocác quỹ tín dụng nh mất mát, thiệt hại về tài sản, thu nhập làm cho quỹ tíndụng bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản
Rủi ro tín dụng có thể do nhiều nguyên nhân:
-Do môi trờng kinh tế cha ổn định làm cho một số doanh nghiệp không
đứng vững trên thị trờng;
-Do quản lý nhà nớc còn sơ hở, tạo điều kiện cho một số cá nhân, doanhnghiệp có hành vi lừa đảo;
-Do trình độ quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp còn hạn chế v v
Cùng với những nguyên nhân trên, khách hàng cũng góp phần tạo ra rủi rotín dụng Chẳng hạn: khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, sản xuất kinhdoanh thua lỗ; hoặc ngời vay cố tình không trả nợ; hoặc tài sản thế chấp, giấy
tờ pháp lý của khách hàng không đảm bảo
Trang 4Bản thân ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng gây ra những rủi ro nh:không chấp hành nghiêm túc các thể lệ tín dụng và vi phạm quá trình xétduyệt cho vay; không kiểm tra đợc việc sử dụng vốn của ngời vay; quá chútrọng về lợi nhuận, đặt tiêu chuẩn về lợi nhuận lên trên các nguyên tắc, điềukiện của tín dụng; việc xem xét cho vay không chuẩn xác nh cho vay sai mục
đích, chẳng hạn vay để đánh quả hoặc để đầu cơ tích luỹ hàng hoá chờ giátăng, cho vay không có biện pháp đảm bảo thích hợp
Ngoài ra còn có nhuyên nhân khác tác động đến rủi ro tín dụng nh có sựthay đổi, điều chỉnh về chính trị, chính sách, chế độ luật pháp của Nhà nớc,thay đổi địa giới hành chính của các địa phơng
Những rủi ro tín dụng xảy ra có thể để lại hậu quả khôn lờng
-Đối với kinh tế:hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên
quan trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các tổ chức, các doanhnghiệp, ngời gửi tiền Nếu có rủi ro gây thiệt hại lớn hoặc làm phá sản mộtvài tổ chức tín dụng sẽ tạo tâm lý không an tâm đối với nhân dân, họ đuanhau rút tiền làm phá sản hàng loạt ngân hàng và tổ chức tín dụng, làm chonhiều doanh nghiệp mất vốn làm ảnh hởng đến nền kinh tế nói chung
-Đối với ngân hàng và các tổ chức tín dụng: Rủi ro tín dụng ảnh hởng trực
tiếp đến hoạt động kinh doanh của họ nh: giảm lợi nhuận, thua lỗ hoặc mấtkhả năng chi trả
-Đối với khách hàng: có thể mất vốn dẫn đến khó khăn trong sản xuất
kinh doanh
Để đối phó với những rủi ro tổn thất khong lờng trớc đợc do các rủi ro gây
ra, có rất nhiều biện pháp khác nhau nhng biện pháp tốt nhất là bảo hiểm,nghĩa là chuyển những rủi ro mà mình có thể gặp phải cho các tổ chức bảohiểm Chính vì vậy, sự ra đời của bảo hiểm tiền gửi là một tất yếu kháchquan
Trang 52 Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là sự đảm bảo bằng vật chất đối với các khoảntiền gửi của ngời gửi tiền tại các tổ chức tín dụng (TCTD) trong trờng hợp tổchức tín dụng gặp rủi ro không thanh toán đợc tiền cho ngời gửi Hoạt độngBHTG dựa trên cơ sở xác lập và sử dụng quỹ bảo hiểm của các tổ chứcBHTG mà các TCTD tham gia Vai trò của bảo hiểm tiền gửi bao gồm:
Thứ nhất: BHTG bảo vệ quyền lợi ngời gửi tiền Điều đó đợc thực hiện
trực tiếp thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm để bồi thờng cho ngời gửi tiềnkhi TCTD tham gia bảo hiểm bị vỡ nợ Thông thờng, các tổ chức BHTG chỉbồi thờng số tiền trong một giới hạn nhất định Đối với ngời gửi tiền vợt quámức giới hạn nào đó (nh ở Mỹ là 100 000 USD) cũng đợc bồi thờng mộtphần Hoạt động của BHTG cũng mang tính trợ giúp hạn chế, ngăn ngừa rủi
ro xảy ra đối với các TCTD chính là bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền
Thứ hai: BHTG bảo vệ các TCTD tham gia bảo hiểm Thể hiện trực tiếp
thông qua hoạt động ngăn ngừa, trợ giúp các TCTD tham gia bảo hiểm khigặp khó khăn Sự trợ giúp có thể dới hình thức cho vay, khuyến khích cácTCTD khác cho vay, yêu cầu thay đổi về quản lý, mua nợ các TCTD khókhăn
Mặt khác, sự bảo vệ đó còn thể hiện gián tiếp thông qua việc tổ chứcBHTG bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền Khi ngời gửi tiền không đợc bảohiểm, nếu một TCTD bị phá sản thì gửi tiền sẽ không đòi lại đợc đầy đủ giátrị tiền gửi, thậm trí có khả năng bị mất trắng Nếu vì một lý do nào đó,những ngời gửi tiền nghi ngờ về sự vỡ nợ của TCTD họ sẽ rút tiền ngay lậptức Điều này dễ dẫn đến một phản ứng dây chuyền mọi ngời đổ xô đến rúttiền làm cho TCTD đó bị phá sản Chính sự cam kết bồi thờng của các tổchức BHTG khi TCTD tham gia làm yên lòng ngời gửi tiền, hạn chế và chấmdứt cảnh lan truyền dòng ngời đi rút tiền, từ đó hạn chế sự vỡ nợ của cácTCTD
Trang 6Thứ ba:BHTG bảo vệ hệ thông các TCTD Sự đổ vỡ của một tổ chức tín
dụng có thể lan truyền sang các TCTD khác do ngời gửi tiền ở các TCTDkhác nghi ngờ rằng TCTD của họ không có khả năng trả lại tiền họ đã gửi đ-
ợc Việc một tổ chức tín dụng bị phá sản có thể châm ngòi cho các TCTDkhác bị phá sản theo Điều này có thể nhân rộng tới khi có một vụ hoảng loạnngân hàng dẫn tới cả hệ thông bị phá sản Khi có một TCTD tham gia BHTG,không những sẽ có tác dụng ngăn chặn sự vỡ nợ của một TCTD mà còn cótác dụng ngăn chặn cả những vụ hoảng loạn ngân hàng, góp phần bảo vệ chocả hệ thống TCTD
Thứ t: BHTG góp phần ổn định kinh tế - xã hội Với vai trò chuyển vốn từ
ngời có vốn đến ngời cần vốn, các TCTD đảm bảo cho nền kinh tế phát triểnnhịp nhàng, hiệu quả Khi hệ thống các tổ chức tín dụng mất ổn định, hoảngloạn thì tác hại của nó với nền kinh tế cũng rất nghiêm trọng, có thể làm ng-
ng trệ, gián đoạn sản xuất gây mất trật tự an toàn xã hội Thông qua vai tròbảo vệ an toàn các TCTD cũng nh cả hệ thống TCTD, BHTG đã góp phầnquan trọng vào ổn định của nền kinh tế - xã hội
Tóm lại, vai trò của BHTG rất quan trọng, nó không chỉ duy trì sự an toàncho các TCTD, bảo vệ ngời gửi tiền mà còn là động lực tạo đà cho nền kinh
tế phát triển nhịp nhàng, ổn định
3 Sơ lợc về lịch sử ra đời và phát triển của BHTG
Lịch sử hoạt động ngân hàng trên thế giới cho thấy, BHTG trở thành vấn
đề tất yếu và dợc các nớc thực hiện từ rất lâu Hệ thống quỹ tín dụngDesjardins của Canada đợc thành lập từ năm 1900 tại Quebéc (Canada) Bênngoài hệ thông Desjardins, nhà nớc lập ra ba tổ chức: cơ quan bảo hiểm nôngnghiệp của Quebéc, cơ quan tín dụng và cơ quan BHTG của Quebéc Nếutính từ năm 1933 (ở Mỹ), năm 1937 (ở Đức) và năm 1938 (ở Nauy) là nhữngnớc đã thành lập, tổ chức BHTG đã có gần 70 năm nhng thời gian mà BHTGphát triển mạnh nhất là thập kỷ 80, có trên 10 nớc đã lần lợt cho ra đời tổchức BHTG
Trang 7BHTG phát triển hết sức phong phú và đa dạng, ban đầu các nớc chỉ có tổchức bảo toàn tiền gửi nằm trong hệ thông ngân hàng, sau đó mới phát triểnthành tổ chức BHTG hoạt động tách biệt Ngày nay, BHTG phát triển hết sứcmạnh mẽ với nhiều hình thức khác nhau
Theo một tài liệu nghiên cứu của Đài Loan ở 25 hệ thống BHTG của 22
n-ớc, cho thấy tính đa dạng của mô hình và những phơng thức BHTG, mặc dùmục tiêu của những mô hình đó gần nh đều thống nhấtvới nhau: bảo vệ ngờigửi tiền, duy trì sự an toàn của hệ thống ngân hàng
Tính đa dạng thể hiện ở: trên thế giới có nhiều dạng mô hình và trong mộtnớc cũng có nhiều tổ chức độc lập, cùng hoạt động theo pháp luật, mỗi tổchức đó thực hiện BHTG cho hệ thống theo những phạm vi nhất định
Nhìn tổng quát trong số 22 nớc đã nghiên cứu: có 11 tổ chức công, lànhững tổ chức thuộc nhà nớc (Canada, Aixơlen, ấn Độ, Hà Lan, Nigenia,Philippin, Đài Loan, Mỹ, Trinidad & Tobaco); 8 tổ chức t của các ngân hànglập nên (Đan Mạch, Pháp, Đức, Aixơlen, ý, Lucxambua, Nauy, Thuỵ Sỹ); 4
tổ chức là hỗn hợp công t (Bỉ, Hung gari, Nhật, Anh)
Cũng có quốc gia hiện nay có nhiều tổ chức BHTG (Aixơlen, Nauy,Pháp, Mỹ, Đức) Aixơlen: Có quỹ BHTG cho các ngân hàng thơng mại, làmột tổ chức bán công, thành lập từ năm 1986, lại có quỹ BHTG cho các ngânhàng tiết kiệm, là một tổ chức t cùng thành lập năm 1986 Nauy, có 3 quỹBHTG riêng biệt, đều là những tổ chức t (1921, thành lập quỹ BHTG ngânhàng thơng mại; 1938, thành lập quỹ BHTG ngân hàng tiết kiệm; 1991, thànhlập quỹ BHTG ngân hàng chính phủ) Pháp cũng có nhiều tổ chức BHTGtheo từng loại hình TCTD (mỗi hệ thống TCTD có tổ chức BHTG của hiệphội của tổ chức đó Riêng các ngân hàng tơng tế, ngân hàng HTX không phải
ra nhập BHTG, vì họ đã đợc bảo đảm khả năng thanh toán ngay trong hệ
thống) Nhìn vào lịch sử phát triển BHTG ở Đức, thấy có ba loại hình: Thứ
nhất là của nhà nớc, tức là nhà nớc đứng ra bảo hiểm cho những ngời gửi
tiền (đến nay, nhà nớc chỉ thực hiện đối với ngời gửi tiền ở các quỹ tiết
kiệm); Thứ hai, thông qua hệ thống bảo hiểm chung (SBIC) thuộc công ty
Trang 8bảo toàn liên bang; Thứ ba, hình thức bảo hiểm do TCTD kết hợp với nhau,
đó là mô hình bảo toàn tiền gửi, do các hiệp hội lập ra Chỉ riêng loại này ở
Đức có 3 mô hình bảo toàn tiền gửi của ba nhốm tổ chức tín dụng khác nhau:Nhóm tổ chức tiết kiệm, các hợp tác xã tín dụng và các ngân hàng t nhân
Có thể thấy rằng, BHTG phát triển tơng đối mạnh mẽ ở các nớc trênthế giới qua các thời kỳ với nhiều hình thức và mô hình khác nhau cùng hoạt
động bổ sung, tơng hỗ cho nhau
II nội dung của bhtg
1 Đối tợng tham gia BHTG
Đối tợng tham gia bảo hiểm là các quỹ tín dụng nhân dân Bảo hiểm chỉ
bảo hiểm trách nhiệm của quỹ đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn
2 Phạm vi của BHTG
Trong quá trình sản xuất kinh doanh cũng nh trong đời sống, con ngời
có thể gặp rủi ro nh: thiên tai, hoả hoạn, ốm đau, tai nạn Đặ biệt trong nềnkinh tế thị trờng các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế ngoài các rủi ro trêncòn có thể gặp các rủi ro do quy luật cạnh tranh mang lại Các rủi ro này cóthể làm doanh nghiệp bị phá sản
Các ngân hàng thơng mại cũng nh các doanh nghiệp khác cũng có thểgặp các rủi ro và hơn thế nã với hoạt động đặc biệt là kinh doanh trên lĩnhvực tiền tệ, hệ số rủi ro của các ngân hàng thơng mại cao hơn rất nhiều so vớicác doanh nghiệp khác Các chuyên gia ngân hàng đã đề cập rất nhiều đếnvấn đề rủi ro trong kinh doanh ngân hàng dới nhiều khía cạnh khác nhau Có
Trang 9những rủi ro khách quan do các hiện tợng thiên nhiên và xã hội diễn biếnphát triển phức tạp ngoài tầm kiểm soát của con ngời, khả năng dự tính, dựbáo của con ngời còn bị hạn chế, có những rủi ro chủ quan do sự bất cập củacon ngời, có những rủi ro do cơ chế, do đạo đức của cán bộ ngân hàng Tuynhiên, không phải tất cả các loại rủi ro này đều đợc bảo hiểm Chính vì vậy,
tổ chức BHTG đã quy định những rủi ro nào đợc bảo hiểm, những rủi ro nàokhông đợc bảo hiểm
a Các rủi ro đợc bảo hiểm
Trong bảo hiểm tiền gửi các rủi ro sau đợc bảo hiểm:
Sự phá sản của quỹ tín dụng
Phá sản là trờng hợp quỹ tín dụng không thể trả nợ một cách đầy đủ
hoặc quỹ tín dụng không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn Trong ờng hợp này, các công việc của quỹ phải giao cho ban thanh lýtài sản xử lýcác tài sản còn lại theo đúng quy định pháp lý về phá sản của Nhà nớc
tr- Sự giải thể bắt buộc của quỹ tín dụng
Giải thể bắt buộc là do không tuân thủ các quy tắc, luật lệ của Nhà nớchoặc có thể do chủ nợ đề nghị toà án ra lệnh tuyên bố giải thể vì quỹ tín dụng
từ chối thanh toán và chỉ có cách này mới hi vọng thu hồi đợc tiền
Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay
mất khả năng thanh toán của quỹ tín dụng
Trờng hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy quỹ mặc dùvẫn có khả năng thanh toán nhng không đúng mục đích đã đề ra, khôngmuốn toà án can thiệp mà quyết định thanh lý quỹ không cho hoạt động tiếp
Trang 10Trong trờng hợp này, bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thờng cho những ngời gửitiền nhng sẽ đợc thế quyền để hởng số tiền thanh lý tài sản hay đòi nợ
Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá
sản của quỹ tín dụng
Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của quỹ tín dụng là tình
trạng quỹ tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khănkhi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanhtoán nợ đến hạn Tuy nhiên không muốn toà án can thiệp, các cổ đông củaquỹ chấp nhận tuyên bố giải thể Trong trờng hợp này, bảo hiểm cũng cótrách nhiệm bồi thờng đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn mà quỹ khôngthanh toán hết sau khi có quyết định giải thể
Không thể thựcc hiện việc thanh toán cho những ngời gửi tiền vì một
mệnh lệnh của toà án đối với quỹ tín dụng
Xảy ra trong trờng hợp quỹ tín dụng cố ý không thanh toán nợ vàchủ nợ đệ đơn lên toà án để có lệnh bắt buộc quỹ phải tuyên bố phá sản haythanh lý để trả nợ các chủ nợ cho rằng chỉ có cách này họ mới thu đợc nợ.Lệnh của toà án cũng đợc áp dụng khi:
-Quỹ tín dụng không có phơng án hoà giải và có giải pháp tổ chức lạihoạt động kinh doanh của quỹ theo yêu cầu của toà án
-Quỹ tín dụng không tham gia hội nghị chủ nợ để trình bày các phơng
án hoà giải và các giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của quỹ tíndụng
Trang 11-Trong thời hạn tổ chức lại kinh doanh, quỹ tín dụng vi phạm nghiêmtrọng những thoả thuận tại hội nghị của chủ nợ và các chủ nợ yêu cầu tuyên
bố phá sản
-Hết thời hạn tổ chức lại kinh doanh mà quỹ tín dụng vẫn kinh doanhkhônh có hiệu quả và các chủ nợ yêu cầu toà án phải có tuyên bố phá sảnquỹ tín dụng
b Các rủi ro loại trừ
Những rủi ro loại trừ (không thuộc phạm vi bảo hiểm) là những rủi rogây ra sự phá sản, thanh lý hay giải thể một quỹ tín dụng trong các trờnghợp:
Vi phạm nghiêm trọng các quy định về tiền tệ tín dụng, thanh toán
đã nêu trong pháp lệnh ngân hàng của quỹ tín dụng
Quỹ tín dụng có điều lệ và quy chế hoạt động riêng nhng cũng phải
tuân thủ các quy định hiện hành của Nhà nớc Nếu quỹ tín dụng vi phạmnghiêm trọng các quy định về tiền tệ, tín dụng thanh toán của ngân hàngdẫn đến phá sản thì bảo hiểm không bồi thờng
Giải thể tự nguyện vì nguyên nhân
-Do cổ đông nhận thức thấy mục tiêu khi thành lập quỹ không đạt đợc
-Do cổ đông muốn thu hồi lại vốn hoặc có nhu cầu cải tổ lại cơ cấu củaquỹ tín dụng
Trang 12 Ngừng hoạt động do những nguyên nhân
Quỹ tín dụng ngừng hoạt động vì chiến tranh, đình công, bạo loạn dân
sự, nội chiến Đây là những rủi ro loại trừ thông thờng, không liên quan
đến hoạt động kinh doanh tiền tệ Khi quỹ tín dụng bị phá sản, thanh lý,giải thể do các rủi ro này bảo hiểm cũng không chịu trách nhiệm chonhững ngời gửi tiền có kỳ hạn
3 Số tiền bảo hiểm và phí bảo hiểm
a Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số d tiền gửi có kỳ hạn trong báo cáo số d tiền gửimỗi quý của quỹ tín dụng
b Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là số tiền quỹ tín dụng phải trả cho ngời bảo hiểm để bảohiểm số d tiền gửi có kỳ hạn của quỹ tại thời điểm cuối mỗi quý Phí bảohiểm mà quỹ tín dụng trả cho ngời bảo hiểm theo từng quý đợc tính theocông thức:
90 x 365
R mx
P
Trong đó: P: Phí bảo hiểm theo quý;
m: Số d tiền gửi có kỳ hạn;
R: Tỷ lệ phí bảo hiểm;
Trang 1390: Số ngày của một quý;
365: Số ngày trong năm;
Vì bảo hiểm chỉ bảo hiểm các khoản tiền gửi có kỳ hạn Do đó khi báocáo số d tiền gửi, các quỹ tín dụng phải phân loại:
-Những khoản tiền gửi không kỳ hạn
-Những khoản tiền gửi có kỳ hạn
Trên cơ sở phân loại quỹ, cuối mỗi quý, quỹ tín dụng có thể tính phí bảohiểm và trả cho ngời bảo hiểm
4 Các hình thức của BHTG
a BHTG bắt buộc
Chính vì BHTG có vai trò quan trọng đặc biệt nên nó luôn là một bộphận trong chính sách quản lý vĩ mô của nhà nớc về tài chính tiền tệ củamỗi quốc gia ở hầu hết các nớc, việc tham gia BHTG của các TCTD làbắt buộc theo pháp luật nh "luật BHTG ngân hàng của Canada", "Luật vềngành tín dụng" của Đức, "Luật BHTG " của Nhật, "Luật DDO EF No 94-6" của Pháp Trong đó, luật quy định rất cụ thể buộc các ngân hàng vàcác TCTD phải tham gia BHTG Chẳng hạn, "Luật DDO EF No 94-6" củaPháp thông qua ngày 08/08/1994 bắt buộc tất cả các TCTD đợc cấp giấyphép hoạt động trên lãnh thổ của Pháp phải có nghĩa vụ tham gia vào hệthống BHTG ở Việt Nam, tổ chức BHTG tuy mới đợc thành lập năm 2000nhng nó cũng bắt buộc các ngân hàng và các TCTD phải tham gia
Trang 14b BHTG tự nguyện
Ngoài hình thức BHTG ra, các TCTD và các ngân hàng còn tự lập chomình hệ thống bảo toàn tiền gửi nhằm tơng hỗ nghề nghiệp giữa các hội viênngân hàng Đây cũng là một tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của ngời
gửi tiền tại các ngân hàng thơng mại, giữ cho hoạt động của hệ thống ngân
hàng luôn ổn định, và bảo vệ uy tín của ngân hàng đối với khách hàng, đảmbảo độ tin cậy của ngời gửi tiền vào các ngân hàng thơng mại Quỹ của tổchức bảo toàn tiền gửi do các hội viên của hiệp hội ngân hàng tự nguyện
đóng góp Chính vì vậy, việc tham gia tổ chức bảo toàn tiền gửi là không bắtbuộc mà mang tính tự nguyện
Tóm lại, BHTG dù có tồn tại dới hình thức bắt buộc hay tự nguyện nó
đều có một mục tiêu là bảo đảm an toànvừa cho hoạt động kinh doanh củangân hàng, vừa cho ngời gửi tiền Nó chỉ khác ở chỗ, ở hình thức BHTG thìtiền gửi đợc bảo đảm trực tiếp, còn ở hình thức bảo toàn tiền gửi thì tiền gửilại đợc bảo đảm một cách gián tiếp
chơng II: thị trờng bhtg ở việt nam
I tính tất yếu khách quan hình thành thị trờng Bhtg
việt nam
Nh chúng ta đã biết, mọi khoản tiền gửi ở hệ thống ngân hàng thơngmại và các TCTD là tài sản của ngời gửi tiền Họ gửi vào ngân hàng với
Trang 15nhiều động cơ và mục đích khác nhau: tiết kiệm, để dành hay tích luỹ; lấylãi để thanh toán hoặc đảm bảo an toàn tài sản của mình
Nguồn vốn huy động đợc từ tầng lớp dân c và thành phần kinh tế, xãhội là nguồn vốn kinh doanh chủ yếu trong hoạt động của ngân hàng thơngmại và các TCTD theo phơng thức "đi vay để cho vay" Thông qua đó, tathấy rõ mối quan hệ trách nhiệm giữa ngời đi huy động vốn và ngời đi gửitiền có sự bảo đảm pháp lý cao nhất của nhà nớc theo nguyên tắc, ngời gửitiền vào ngân hàng phải đợc ngân hàng có trách nhiệm bảo đảm an toànvốn một cách tuyệt đối
Thêm vào đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ rất phức tạp và có nhiều rủi
ro ; tập trung chủ yếu, thờng xuyên xảy ra và lớn nhất là rủi ro trong đầu tvốn tín dụng Trong đó, có những rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng.Năm 1990, ở nớc ta có 7 660 HTX tín dụng nông thôn và quỹ tín dụng đôthị Song "cơn lốc" đổ vỡ tín dụng trong khoảng thời gian này đã làm tan rãhầu hết số HTX tín dụng và quỹ tín dụng nói trên Hàng nghìn tỷ đồngkhông có khả năng thanh toán, hậu quả của nó rất nghiêm trọmg đối vớikinh tế xã hội và đến nay vẫn cha giải quyết dứt điểm đợc Chính phủ vàngân hàng nhà nớc đã phải trực tiếp can thiệp để làm dịu tình hình, giữvững ổn định kinh tế xã hội Trong năm 1996, sau hơn 20 năm chúng tamới gặp lại trận lũ lịch sử trên khắp cả nớc Thiên tai xảy ra ở 43 tỉnh,thành phố, chỉ tính riêng thiệt hại về vật chất ớc tính trên 7 283 tỷ đồng.Thêm vào đó, từ năm 1997 đến nay, cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh h-ởng sâu sắc đến đời sống kinh tế, chính trị và xã hội của một số nớc trongkhu vực Việt Nam là một trong số các nớc chịu ảnh hởng nhẹ của cuộckhủng hoảng tiền tệ châu á Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi ở các ngân hàngthơng mại còn cao Nguyên nhân do hệ thống tài chính- ngân hàng pháttriển không đồng bộ, còn lỏng lẻo trong quản lý ngân hàng cũng nh quản
lý vốn, cơ cấu đầu t cha hợp lý Ngân hàng chi vay thế chấp bằng bất độngsản, khi thị trờng bất động sản Việt Nam suy giảm, nhiều doanh nghiệplàm ăn thua lỗ, sản xuất kinh doanh không lờng hết đợc nhu cầu thị trờngnên không tiêu thụ đợc hàng hoá Doanh nghiệp trong nớc hiệu quả kinhdoanh thấp, khả năng tài chính và sự cạnh tranh yếu, việc mở rộng bảolãnh nhập hàng trả chậm, cho vay thanh toán đối ngoại tràn lan, khi doanhnghiệp thua lỗ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thanh toán với nớc
Trang 16ngoài Rủi ro của khách hàng sẽ kéo theo sau là rủi ro của chính ngânhàng Vì vậy, rủi ro trong hoạt động tín dụng là điều dễ xảy ra hơn bất kỳlĩnh vực hoạt động kinh tế nào khác Sự đổ vỡ trong hoạt động tín dụng sẽ
để lại những hậu quả mang tính dây chuyền và công phạt khôn lờng vềkinh tế, chính trị và xã hội Nó liên quan đến lợi ích của nhà nớc và nhiềutầng lớp dân c
Mặt khác, trong giai đoạn hiện nay, khi những tổ chức kinh doanh tiền
tệ, tín dụng ngoài quốc doanh nh các ngân hàng thơng mại cổ phần, cácHTX tín dụng, các quỹ tín dụng nhân dân mới bớc vào nghề thì mọi việccòn quá sớm, niềm tin của khách hàng cha có là bao, trong khi đó d âm về
sự đổ vỡ hàng loạt HTX tín dụng trớc đây vẫn còn "ám ảnh" trong dân
Tr-ớc tình hình đó, một vấn đề nghiêm túc đặt ra với nhà nTr-ớc và xã hội là tìmnhững giải pháp hữu hiệu để đề phòng và ngăn chặn sự đổ bể, sự mất antoàn của hệ thống ngân hàng, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng cho ngờigửi tiền Do đó, cách bảo toàn chọn vẹn, có hiệu quả nhất để đảm bảo chongời gửi tiền là áp dụng biện pháp BHTG cho ngời gửi tiền đối với hệthống ngân hàng thơng mại và các TCTD
Thực tế trên đây cho thấy việc ra đời một công ty BHTG ở Việt nam
đã trở thành nhu cầu bức xúc Nó sẽ là chỗ dựa vững chắc để khắc phục rủi
ro tín dụng và làm lành mạnh hoạt động tín dụng của ngân hàng, giúp chothị trờng tài chính của ta phát triển ổn định hơn, từ đó tạo đà cho nền kinh
tế phát triển mạnh mẽ và thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nớc nhanh hơn, đa nớc ta rút ngắn khoảng cách so với các nớc trongkhu vực cũng nh các nớc phát triển trên thế giới
II Thực trạng BHTG ở việt nam
1 Thực trạng về hoạt động BHTG ở Việt Nam hiện nay
Hệ thống ngân hàng ở Việt nam hiện nay là hệ thống ngân hàng haicấp, bao gồm ngân hàng nhà nớc và các ngân hàng thơng mại hoạt động
Trang 17theo cơ chế thị trờng, tuan theo "pháp lệnh ngân hàng nhà nớc Việt Nam"
và " pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính" Hệthống các tổ chức tín dụng đã có một mạng lới rộng lớn, bao gồm ngânhàng nhà nớc, 4 ngân hàng thơng mại quốc doanh, 51 ngân hàng cổ phần,
4 ngân hàng liên doanh với nớc ngoài, 2 công ty tài chính cổ phần, 1 quỹtín dụng nhân dân trung ơng, 5 quỹ tín dụng nhân dân khu vực, 900 quỹ tíndụng nhân dân cơ sở Năm 1996 so với năm 1995, vốn huy động tiền gửicủa các ngân hàng tăng 659%, d nợ cho vay tăng 883%
Để củng cố niềm tin của ngời gửi tiền đối với các quỹ tín dụng nhândân, tạo cơ sở cho các quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định và pháttriển, ngày 1/ 3/ 1994 Bộ tài chính đã ban hành quyết định 101/ TCQĐ-BH
về quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với cáckhoản tiền gửi Với quyết định này, lần đầu tiên nớc ta có một tổ chứclàBảo Việt thực hiện nghiệp vụ BHTG Song ngời gửi tiền đợc bảo hiểm chỉgiới hạn gửi tại các quỹ tín dụng nhân dân, loại tiền gửi đợc bảo hiểm làtiền gửi có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên, mức tối đa là 100 triệu đồng đối vớimột thể nhân, 500 triệu đồng đối với một pháp nhân, và chỉ bồi thờng tiềngốc không bồi thờng tiền lãi Thực tế triển khai BHTG của Bảo Việt cònnhiều hạn chế, đến cuối năm 1995 mới chỉ có 162 quỹ tín dụng tham giavới sổ tiền bảo hiểm là 100 tỷ đồng, chiếm 33, 22% tiền gửi tại các quỹ tíndụng nhân dân, và chỉ chiếm 0, 2% tổng số d tiền gửi tại các TCTD trongcả nớc, cuối năm 1996 có 300 quỹ tham gia bảo hiểmvới số tiền bảo hiểmhơn 854 tỷ đồng và cuối quý 1 năm 1997 có 370 quỹ tham gia với số tiềnbảo hiểm hơn 322 tỷ đồng Hiện nay hiệp hội ngân hàng Việt Nam đangchuẩn bị thành lập quỹ BHTG của hiệp hội Nghiên cứu dự thảo Điều lệhoạt động quỹ BHTG của các TCTD Việt nam và quy chế hoạt động quỹbảo toàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, chúng ta thấy rằng:
-Quỹ BHTG là quỹ của các thành viên hiệp hội, có mục đích bảo vệ
an toàn cho các thành viên Song quỹ là một tổ chức tơng hỗ, không có vốnban đầu, chỉ khi nào đi vào hoạt động các ngân hàng tham gia mới đóng lệphí nên nguồn vốn của qũy rất nhỏ bé, do đó nếu rủi ro lớn quỹ sẽ không
đủ vốn để thực hiện trách nhiệm đền bù của mình
Trang 18-Quỹ bảo toàn tiền gửi là một quỹ tơng hỗ nên việc đóng góp vốn lậpquỹ, đặc biệt là các khoản đong góp bất thờng sẽ bị ràng buộc bởi chế độ
tà chính của nhà nớc quy định
-Quỹ bảo toàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng Việt Nam chỉ là quỹcủa các hội viên hiệp hội, do đó các chi nhánh nớc ngoài, các ngân hàngliên doanh và các ngân hàng khác sẽ không đợc tham gia BHTG
-Do đặc điểm phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam, hiện nay vốntiền gửi do 4 ngân hàng quốc doanh huy động đã chiếm khoảng 90% tổngdoanh số huy động trong toàn hiệp hội Điều đó có nghĩa là quỹ bảo toàntiền gửi nếu đợc hình thành thì chủ yếu do 4 ngân hàng thơng mại quốcdoanh đóng góp, song nếu các ngân hàng quốc doanh có rủi ro thì quỹ sẽgặp khó khăn về vốn để đền bù, thập chí không thực hiện đợc vì doanh sốhoạt động của các ngân hàng quốc doanh rất lớn Song, nếu các ngân hàngkhác gặp rủi ro thì quỹ sẽ thực hiện đền bù dễ dàng hơn Đây chính là
điểm bất bình đẳng về lợi ích giữa các thành viên trong hiệp hội
Cho đến nay, mặc dù tổ chức BHTG mới đợc thành lập vào tháng7/2000 nhng trình độ chuyên môn cha cao, quy mô hoạt động vẫn còn nhỏhẹp, vốn tự có cha đủ sức đáp ứng nhu cầu BHTG đối với các ngân hànglớn mạnh
Mặt khác đại bộ phận tiền gửi tại các ngân hàng thơng mại và cácTCTD cha đợc bảo hiểm Số tiền đợc bảo hiểm mới chỉ là một bộ phận tiềngửi tại các quỹ tín dụng nhân dân, tập trung chủ yếu tại các vùng nôngthôn và chiếm tỷ trọng không đáng kể trong tổng số d tiền gỉ mà hệ thốngngân hàng huy động trong toàn quốc
Thêm vào đó, việc Bảo Việt BHTG cho các quỹ tín dụng nhândântheo quyết định 101/TCQ-BH với giới hạn chỉ bảo hiểm đối với tiền gửi
có kỳ hạn từ 3 tháng trở lên Trên thực tế số tiền gửi không kỳ hạn của cánhân và các tổ chức kinh tế xã hội là rất lớn nhng không đợc bảo hiểm,
điều đó sẽ hạn chế khả năng huy động vốn của các TCTD Theo quy địnhhiện hành Bảo Việt chỉ trả bồi thờng sau khi quỹ tín dụng tham gia bảo
Trang 19hiểm ngừng hoạt động 1 tháng, và chỉ trả tiền gốc Nh vậy, nếu là ngời gửitiền chỉ cần nghe tin quỹ tín dụng khó khăn về tài chính thì họ sẽ đổ xô
đến để rút tiền nhằm lấy lại cả gốc lẫn lãi, đồng thời tránh đợc phải chờ đợilâu trong trờng hợp phải nhận tiền bồi thờng từ bảo hiểm Rõ ràng trongtình huống này hoạt động bảo hiểm cũng không có mấy tác dụng ngănngừa sự hoảng loạn ngân hàng khi gặp rủi ro
Ngoài ra quyết định trờng hợp quỹ tín dụng tham gia bảo hiểm nếu viphạm nghiêm trọng pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công tytài chính thì rủi ro sẽ không đợc bồi thờng Điều này là cha thoả đáng, bởivì bồi thờng rủi ro là bảo vệ lợi ích cho ngời gửi tiền Khi hợp đồng bảohiểm cha bị huỷ bỏ, khi vi phạm pháp luật là do lỗi của TCTD và lỗi củacơ quan bảo hiểm thiếu kiểm tra giám sát để phát hiện, chấn chỉnh kịp thờithì hậu quả không nên để cho ngời gửi tiền gánh chịu
Nhìn chung, hiện nay ở Việt Nam nghiệp vụ BHTG rất còn mới mẻ vàcha phát triển nh các nghiệp vụ bảo hiểm khác Nó vẫn trong thời gian thửnghiệm và hoàn thiện dần cho phù hợp với điều kiện cũng nh hoàn cảnhcủa đất nớc Chính vì vậy, Chính phủ và ngân hàng nhà nớc cần coi hoạt
động BHTG là một mắt xích quan trọng trong chính sách tiền tệ quốc gia,
nó có vai trò đòn bẩy thu hút tiền gửi và đảm bảo tạo ra sân chơi bình đẳngcho các ngân hàng thơng mại Đồng thời phải có những quy định cụ thể vềcác nội dung của BHTG
2 Nội dung hoạt động nghiệp vụ BHTG áp dụng ở Việt Nam
a Tổ chức kinh doanh BHTG
Trang 20Tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nớc, hoạt động dới sự
điều tiết của Thủ tớng Chính phủ, đợc nhà nớc cấp vốn điều lệ, hoạt độngkhông vì mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, có
t cách pháp nhân và đợc miễn nộp các loại thuế Trong trờng hợp thiếu vốntạm thời, tổ chức BHTG phải báo cáo ngân hàng nhà nớc để ngân hàng nhànớc trình Thủ tớng Chính phủ xem xét cho phép tổ chức BHTG đợc vay từcác TCTD, tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ Tuy nhiên, trong thờigian đầu của bớc sơ khai thì ngân hàng nhà nớc có thể giúp đỡ BHTG nhng
về lâu dài ngân hàng nhà nớc không thể làm thay (vì đó là tác nghiệp cụthể của BHTG Việt Nam) không thuộc chức năng của ngân hàng nhà nớc
b Phí bảo hiểm tiền gửi
Phí BHTG đợc điều chỉnh theo quyết định của Thủ tớng Chính phủ,mức hiện hành là 0, 15%/ năm trên số d tiền gửi bình quân tại các tổ chứctham gia BHTG, đợc nộp làm 4 lần trong năm tài chính Có thể thấy rằng,mức phí này áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng là cha hợp lý Vì mức
độ rủi ro của mỗi loại hình tổ chức tín dụng có khác nhau, do mục đích vàtính chất hoạt động khác nhau, do trình độ quản trị, điều hành, kinhnghiệm khác nhau Ngân hàng thơng mại quốc doanh trung ơng với quymô huy động vốn của cá nhân có thể lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng, vớimức phí này thì phí bảo hiểm có thể lên đến con số rất lớn trong lúc mức
độ rủi ro của các cá nhân tại các ngân hàng này không đáng kể, ngợc lại ởngân hàng cổ phần thì cao hơn mhiều, quỹ tín dụng nhân dân do tính chấtgiúp đỡ thành viên trong cộng đồng, hơn nữa mới ra đời nên rủi ro khôngphải là ít, ngân hàng chính sách thì rủi ro có thể lớn hơn v v Thêm vào
đó, phí phạt đối với các trờng hợp nộp chậm là 0, 1% số tiền nộp chậm mộtngày; nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài tới 30 ngày, tổ chức BHTG cóquyền yêu cầu ngân hàng nhà nớc (hoặc các TCTD, kho bạc nhà nớc) tríchtài khoản tiền gửi của các TCTD (hoặc các tổ chức khác có tham gia hoạt
động ngân hàng) để chuyển nộp phí bảo hiểm và các khoản tiền phạt Tổchức BHTG sẽ quyết định chấm dứt việc bảo hiểm và thông báo ra côngchúng nếu tổ chức tham gia bảo hiểm không nộp phí bảo hiểm quá thờihạn 3 tháng, trách nhiệm bảo hiểm đối với tiền gửi trong trờng hợp nàytiếp tục đợc bảo tồn với thời hạn là 6 tháng
Trang 21c Mức tiền đợc bảo hiểm tiền gửi
Mức tiền tối đa mà một ngời gửi tại một tổ chức tham gia bảo hiểmtiền gửi đợc BHTG Việt Nam trả là 30 triệu (cả gốc và lãi) lớn hơn 30 triệu
đồng tại một tổ chức tham gia BHTG thì phần vợt so với quy định trên đây
sẽ đợc hoàn trả trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTGphù hợp với quy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp
Nh vậy mức tiền mà BHTG Việt Nam trả ngay cho một ngời gửi tiềncủa tất cả các khoản tiền gửi tối đa chỉ 30 triệu đồng, bất chấp ngời đó gửinhiều hay ít Sự cào bằng đó sẽ dẫn đến hạn chế múc tiền của mỗi ngời gửivào các TCTD Nếu gửi trên mức 30 triệu thì khi TCTD rơi vào tình trạng
bị phá sản thì chỉ là sự thiệt thòi đáng kể Sự chênh lệch trên mức 30 triệu
có thể rất lớn, nếu đợi chờ hoàn trả trong quá trình thanh lý tài sản thì quả
là "ế ẩm" Không chỉ vì thời gian kéo dài mà có thể rơi vào nhiều tìnhhuống: Nếu giá trị tài sản còn lại của TCTD đủ thanh toán các khoản nợcủa các chủ nợ thì mỗi chủ nợ (cá nhân) đợc thanh toán đủ số nợ của mình.Nhng ngợc lại không đủ thì mỗi chủ nợ chỉ đợc thanh toán một phần khoản
nợ của mình theo tỷ lệ tơng ứng Thế thì dại gì họ gửi trên mức 30 triệu đểphải thấp thỏm lo âu!
d Đối tợng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính nhà nớc đợc thành lậpnhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngời gửi tiền và góp phầnduy trì sự ổn định của các TCTD, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh tronghoạt động ngân hàng Chính vì vậy, đối tợng tham gia BHTG là tất cả cácTCTD và các tổ chức không phải là TCTD nhng đợc phép thực hiện một sốhoạt động ngân hàng theo quy định của luật các TCTD bắt buộc phải thamgia BHTG
e Đối tợng đợc bảo hiểm
Trang 22Theo điều 3 của NĐ 89/1999/NĐ-CP quy định " tiền gửi đợc bảohiểm là đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG"
nh vậy là:
-Đối tợng chính đợc điều chỉnh của NĐ này là cá nhân Vậy thì tiềngửi là đồng Việt Nam của các pháp nhân thì giải quyết nh thế nào? Cácngân hàng thơng mại thì có quan hệ với các pháp nhân rất nhiều và họ cómột khối lợng tiền gửi khổng lồ Nhng nếu theo quy định trên thì không đ-
ợc BHTG Đây còn là vấn đề bất hợp lý và không công bằng trớc pháp luật
Điều đó tất yếu sẽ hạn chế pháp nhân gửi vốn vào TCTD
-Chỉ BHTG là đồng Việt Nam Nh vậy tiền gửi ngoại tệ không đợcbảo hiểm Trong lúc đó NĐ63/1988 NĐ-CP của Chính Phủ về quản lýngoại hối hiện hành thì cho phép: tổ chức cá nhân có ngoại tệ tiền mặt hợppháp đợc bảo đảm quyền sử dụng ngoại tệ của mình
Rõ ràng giữa NĐ 89/1999 NĐ-CP và NĐ 63/1988 có một nghịch lý!Ngoại tệ không đợc bảo hiểm sẽ có tác động ngợc lại, không nhng khôngkhuyến khích tổ chức, cá nhân có ngoại tệ hợp pháp gửi, bán cho cácTCTD đợc phép kinh doanh ngoại hối hay cá nhân có ngoại tệ (không kểnguồn gốc) gỉ tiền tiết kiệm vào ngân hàng, mà thậm chí còn tạo "sơ hở",
"điều kiện" để họ mua bán ngoại tệ ở thị trờng tự do trái với yêu cầu mục
đích của chủ trơng quản lý ngoại hối của ta hiện nay
f Loại tiền gửi cần đợc bảo hiểm
Nh chúng ta đều biết, tiền gửi thông thờng đợc chia làm hai loại: tiềngửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn BHTG lại là một nghiệp vụ hoàntoàn mới mẻ ở nớc, chúng ta còn thiếu nhiều kinh nghiệm trong tổ chứckinh doanh BHTG, Mặt khác do tính luân chuyển vốn, tiền gửi không kỳhạn mang tính chất thất thờng nên việc tính toán phí rất phức tạp Do đó, ởthời kỳ đầu của việc thử nghiệm bảo hiểm tiền gửi, chúng ta chỉ nên bảohiểm tiền gửi loại có kỳ hạn và là bản tệ thì phù hợp hơn Thực tế trên thếgiới, việc bảo hiểm các loại tiền gửi cũng không giống nhau, chẳng hạncác nớc Mỹ, Italy, Hà Lan, Đức, Tây Ban Nha thì bảo hiểm tất cả các loại
Trang 23tiền gửi Nhng ở các nớc Nhật, Pháp, Anh thì bảo hiểm tiền gửi bằng bản
tệ
g Hình thức áp dụng bảo hiển tiền gửi
Để thực sự đảm bảo niềm tin cho khách hàng khi gửi tiền, khai tháctối đa nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân c phù hợp với thực tế nớc tahiện nay là quỹ tín dụng nhân dân mới ra đời, (hợp tác xã tín dụng cũ đổ
vỡ còn để lại d âm, trình độ quản lý, trình độ dân trí nhiều mặt còn hạnchế), cần áp dụng hình thức bảo hiểm tiền gửi bắt buộc mà không nêndùng cơ chế tự nguyện mua bảo hiểm tiền gửi
Tuy nhiên, theo quyết định 101/TCQD- BH ngày 1 tháng 2 năm 1994của Bộ tài chính, thì việc mua bảo hiểm tiền gửi dựa trên cơ sở ký kết hợp
đồng giữa đôi bên Điều này cũng không hoàn toàn mâu thuẫn với ý kiếncho rằng mua BHTG là bắt buộc đối với quỹ tín dụng nhân dân; khôngmâu thuẫn với mục tiêu của các nhà kinh doanh bảo hiểm tiền gửi Vìrằng hệ thống quỹ tín dụng nhân dân theo mô hình mới đang ở giai đoạnlàm thử thì việc hớng dẫn, chỉ ra cho các quỹ tín dụng nhân dân thấy rõtrách nhiệm của mình, thấy rõ mua BHTG là cần thiết và hoàn toàn phùhợp với thực tế Hơn nữa tính bắt buộc ở đây là đối với quỹ tín dụng nhândân nơi nhận tiền gửi Họ phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn tiền gửicho khách hàng, chứ không phải bắt buộc ngời gửi tiền mua bảo hiểm; cóthể coi nh một "nguyên tắc" trong những "điều kiện cần và đủ" để quỹ tíndụng nhân dân ra đời và hoạt động an toàn
Trên thế giới ngay cả nớc tiên tiến, đã có nhiều kinh nghiệm trongkinh doanh bảo hiểm nh Nhật, Pháp, Anh, Hà Lan cũng vẫn dùng hìnhthức bảo hiểm bắt buộc với tiền gửi
Nh vậy, việc dùng hình thức bảo hiểm bắt buộc hay tự nguyện trongkinh doanh bảo hiểm tiền gửi là tuỳ thuộc điều kiện tình hình, đặc điểm,trình độ tổ chức quản lý v v của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh doanhtiền tệ tín dụng, không có một khuôn mẫu thống nhất cho mọi nớc
Trang 243 Những điểm còn tồn tại thị trong thị trờng BHTG ở Việt Nam
Mặc dù BHTG có vai trò to lớn trong việc bảo vệ ngời gửi tiền và gópphần làm sôi động thêm các hoạt động ngân hàng ở nớc ta Tuy nhiên,còn thấy một số điểm còn tồn tại sau:
Thứ nhất: đây là loại hình bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc và là tổ
chức bảo hiểm duy nhất, điều này sẽ nảy sinh sự bắt bình đẳng trong cơchế thị trờng và sự độc quyền
Thứ hai: tỷ lệ phí bảo hiểm 0, 15% tính trên số tiền gửi bình quân
của các loại tiền gửi bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG Theo nhiều ýkiến (cả những ngời quan tâm và các TCTD) là cao và cha phù hợp vớitình hình thực tế, ảnh hởng đến hoạt động, đặc biệt trong trờng hợp cácTCTD vừa phải xử lý tồn tại cũ, vừa phải trích dự phòng rủi ro và nh vậy
sẽ ảnh hởng tới hoạt động thu chi tài chính và đời sống cán bộ, nhân viêncủa TCTD Đối với các tổ chức tín dụng nhà nớc hiện nay thì phí đóngBHTG là lớn nhất, nhng việc bảo hiểm tiền gửi phải can thiệp thì hầu nh
ít xẩy ra do có những đặc thù riêng (năng lực huy động vốn thờng xuyêndồi dào, do là ngân hàng của nhà nớc )
Thứ ba: những quy định về trích và nộp phí bảo hiểm còn cứng (do
là bảo hiểm bắt buộc) Mặt khác, một tổ chức tài chính của nhà nớc( thực chất nh là một công ty) không có chức năng quản lý nhà nớc (vừathực hiện hoạt động bảo hiểm, vừa có tính kinh doanh) nhng lại đợc phép
xử lý vi phạm hành chính đối với các đơn vị tham gia BHTG (cảnh cáo,phạt tiền )
Thứ t: việc tổ chức giám sát rủi ro của BHTG đối với các đối tợng
tham gia bảo hiểm tiền gửi là vấn đề cần phải xem xét