TK VI – V TCN Tri thức triết học kinh viện - tôn giáo : giải thích thế giới và con người do đấng Thượng đế tạo ra, “triết học là nô lệ thần học” thời kỳ Trung cổ với sự phát triển của
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 PGS Nguyễn Đăng Dũng, Lịch sử Triết
Trang 21 Những mầm mống của tư duy triết học
xuất hiện trong xã hội loài người
2 Ngữ nguyên của thuật ngữ “triết học”
3 Các yếu tố cấu thành triết học.
4 Tính thời đại của tri thức triết học qua
Trang 3Tư duy triết học xuất hiện vào khoảng TK thứ
VI - BC ở cả phương Đông lẫn phương Tây.
Giải thích thế giới qua các câu chuyện hay
những trường ca thần thoại chứa đựng tư duy triết học mang tính trừu tượng, những thắc
tưởng tượng của con người
Trang 4Phương Đông : minh triết tri hành
hợp nhất Đó là quá trình tu chứng trải nghiệm tự thân và đạt đến sự thông
thái về tri thức cũng như hành động.
Phương Tây:Triết học tiếng Hy Lạp
“philosophia” (φιλοσοφία), sự hợp nhất của “yêu mến”, “yêu thích”, “khát
vọng” (φιλεω, hoặc φιλία) và “sự thông thái” Tiếng Anh: philosophy, tiếng
Pháp: philosophie.
Trang 5Nghĩa hẹp : yêu mến sự thông thái, khát khao vươn đến tri thức.
Nghĩa rộng : tri thức phổ quát, tri thức chung nhất về vấn đề tồn tại và tư duy, thời cổ đại, tri thức triết học là tri thức bao trùm, cho nên
nó được xem là “khoa học của các khoa học”.
Nghĩa chung nhất : triết học là khoa học
nghiên cứu về thế giới và con người trên cơ sở thực tại để hướng đến chân lý giải thích khởi nguyên cũng như các mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng và con người trong vũ trụ.
Trang 6Gồm có 5 yếu tố cơ bản như sau:
Trang 7Tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà tri thức triết học thể hiện tính thời đại riêng biệt.
Tri thức triết học thần thoại : thể hiện tính thời đại nguyên thủy cổ xưa còn thô sơ, ngây thơ, chất phác (TK VI – V TCN)
Tri thức triết học kinh viện - tôn giáo : giải
thích thế giới và con người do đấng Thượng đế tạo ra, “triết học là nô lệ thần học” thời kỳ Trung cổ với sự phát triển của Cơ Đốc giáo
(sau này Kitô Giáo là một nhánh của nó)(TK VIII – XIV SCN).
Trang 8Tri thức triết học với thông điệp “lấy con
người làm trung tâm của vũ trụ” khôi phục
các giá trị nhân bản nhân văn thời đại phục hưng (thế kỷ XV – XVI)
Những tri thức triết học chuyên biệt phản ánh
rõ ràng sâu sắc quan điểm của từng lĩnh vực
khoa học chuyên môn như chính trị, y học, mỹ học, nghệ thuật…đề cao những giá trị khai
mở, sáng tạo , thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tri thức chuyên
ngành thời đại khai sáng thế kỷ XVII –
XVIII
Trang 9Triết học với những tri thức nghiên cứu
thế giới và con người trên quan điểm muốn phục hưng lại giá trị chuẩn mực làm mô
thức cho sự đánh giá sáng tạo Các nhà
nhân văn phục hưng khi hướng về thế giới
Hy Lạp cổ xưa với những giá trị chuẩn
mực, họ lấy Hy Lạp – La Mã làm hệ quy
chiếu của mình và đã đẩy triết học phương Tây lên đến đỉnh cao, khép lại một chặng đường dài suốt mấy ngàn năm thời đại
“triết học cổ điển ” (TK XIX).
Trang 10Triết học với sự phát triển của các trào
lưu tư tưởng hiện đại, giải thích một cách khách quan, khoa học nội dung và thực chất của chúng góp phần làm sáng tỏ
những đặc điểm của thời đại, dự báo xu hướng vận động của lịch sử sự chuyển mình của triết học đảm bảo phù hợp với một thời kỳ phát triển mới của lịch sử
(triết học phi cổ điển và triết học hiện đại
TK XX).
Trang 11* Tóm lại, từ nét đặc thù của tri thức
triết học thể hiện qua các giai đoạn lịch
sử khác nhau như vậy, chúng ta có thể
khẳng định rằng: “ triết học chính là tinh hoa của cuộc sống ”, như C.Mác đã phát biểu: “… mọi triết học chân chính đều là tinh hoa về mặt tinh thần của thời đại
mình”
Trang 12Và, triết học chân chính là thứ triết học
được sinh ra bởi thời đại , được tạo
nguồn năng lượng sống bằng chính thực tiễn phong phú của thời đại, và về phần mình, góp phần vào sự phát triển của
thời đại thông qua thiên chức cao cả của mình.
Trang 13Quy luật hình thành – tồn tại và phát triển của triết học : triết học là “con đẻ”
hay là sản phẩm của chính xã hội loài người ,
nó được sinh ra, nuôi dưỡng, thẩm định bởi thời đại; không có thứ triết học bất biến,
tuyệt đích cho mọi thời đại mà bản thân
triết học luôn thay đổi để thích ứng với từng giai đoạn lịch sử cụ thể tùy theo tư duy
chung của chính xã hội đó tạo nên.
Trang 14Quy luật vận động và hỗ tương : Triết
học luôn biến đổi theo từng sát na và tồn tại trong mối quan hệ tương giao lẫn nhau giữa các yếu tố cấu thành triết học, hoặc
giữa triết học và các khoa học chuyên biệt, tùy theo từng quan điểm của mỗi triết gia trong mỗi hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của
tiến trình lịch sử xã hội loài người.
Trang 15Quy luật tất yếu của sự sàng lọc – kế thừa
và phát huy các giá trị tư tưởng triết học :
những tư tưởng triết học được viết lên từ hiện
thực cuộc sống , nó nối liền từ quá khứ đến hiện tại và kéo dài đến tương lai Chính vì thế chắc
chắn sẽ có sự sàng lọc – kế thừa và phát huy
những tinh túy ( di sản ) của chính bản thân mình
để triết học tồn tại sống động mãi với thời gian
và con người.
Các chủ đề tư tưởng triết học tất yếu sẽ phải
có sự thay đổi.
Trang 16Đây là một đặc tính quan trọng trong triết học phương Tây Triết học là “linh hồn sống” của
xã hội , phản ánh hiện thực sinh động của xã
hội tùy theo sự vận động của bối cảnh lịch sử -
xã hội
tất yếu các chủ đề tư tưởng triết học phải
thay đổi để nó kịp thời thích ứng với chính sự thay đổi đó, đồng thời, nó góp phần làm sáng
tỏ những đặc điểm của thời đại, dự báo xu
hướng vận động của tiến trình lịch sử trong
mối liên hệ quá khứ - hiện tại và tương lai
Trang 17•Ba nguyên tắc khi nghiên cứu triết học :
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể :
“ bản chất – linh hồn sống của triết học muốn tồn tại và phát triển phải dựa trên không gian xác định – thời gian cụ thể - sự kiện sống
động”
Nguyên tắc xác định đối tượng nghiên cứu : mỗi bức tranh xã hội có nhiều dòng tư tưởng triết học đan xen, trong đó sẽ có dòng tư tưởng chủ đạo, cốt lõi , mang tính định hướng chung
cho sự phát triển của toàn xã hội.
Trang 18•Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, tính toàn diện của triết học :
Với tư cách là khoa học lý thuyết thể hiện sự thông thái về tri thức đồng thời là khoa học ứng dụng được rút ra từ những giá trị , kinh nghiệm thực hành của con người trong cuộc sống lao động, trong mỗi lĩnh vực cũng như tổng hợp toàn bộ các lĩnh vực…đòi hỏi tri thức triết học đảm bảo tính khách quan, tính đảng, tính toàn diện về mặt thế giới quan và
phương pháp luận của triết học.
Trang 201 Khái quát bối cảnh văn hóa chính
trị xã hội Hy Lạp – La Mã cổ đại
2 Sự phân kỳ triết học Hy Lạp
Trang 21Hy Lạp cổ đại – là quốc gia chiếm hữu nô lệ
rộng lớn ( miền Nam bán đảo Balcan, ven
biển Tiểu Á và các đảo ở biển Egieé) có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên sớm xây dựng một nền kinh tế công & thương nghiệp phát triển, một nền văn hóa tinh thần phong phú – cơ sở nền văn minh phương Tây hiện đại.
Sự đề cao lao động trí óc đã thúc đẩy sự hình thành tầng lớp tri thức, họ đã sử dụng tư duy
lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng
nên một triết học và khoa học đồ sộ, sâu sắc.
Trang 22Sự sự tích lũy tư hữu, phát triển quan hệ hàng hóa, sự phân hóa giàu nghèo, sự đối kháng giữa các lực lượng xã hội thiết chế
xã hội mới ra đời.
Sự chuyển tiếp từ xã hội công xã nguyên thủy sang chế độ chiếm hữu nô lệ diễn ra cùng với những biến đổi căn bản trong ý
thức, trước hết là nhu cầu lý giải nghiêm
túc những vấn đề tự nhiên, xã hội và con
người.
Trang 23Sự tiến bộ từ tư duy thần thoại đến triết
học, là con đường từ hình thức diễn đạt
thông qua biểu tượng đến hình thức diễn
đạt bằng khái niệm Triết học ra đời không
có nghĩa thần thoại mất đi, mà tiếp tục tồn tại trong tôn giáo, nghệ thuật, văn chương, nhưng được xem xét ở bình diện khác -
bình diện giá trị Đằng sau những câu
chuyện thần thoại là cả một triết lý sống,
thể hiện những chuẩn mực, những giá trị, những bài học đạo đức, nhân văn
Trang 24Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến
sự hình thành tư duy triết học và khoa học
Hy Lạp : tiếp thu chữ viết tượng hình của
văn minh Lưỡng Hà, các thành quả khoa
học và phép tính lịch của người Babilon, yếu
tố huyền học (occultism) ở các nền văn minh phương Đông, nhất là vùng Trung Cận Đông
và Bắc Phi Tri thức ở phương Đông như
toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống đo
lường, các mầm mống của y học, các khoa
học về sự sống đáp ứng phần nào khát vọng khám phá của người Hy Lạp.
Trang 25Triết học thời sơ khai, còn gọi là thời kỳ Tiền Socrates, gắn với sự hình thành các trường phái triết học đầu tiên tại Hy Lạp (thế kỷ VI - V TCN).
Triết học thời cực thịnh (thế kỷ V - thế
kỷ IV TCN).
Triết học thời kỳ Hy Lạp hóa, khủng
hoảng và suy tàn, hay thời Hy Lạp – La
Mã bắt đầu từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ
V SCN.
Trang 26a Triết học tự nhiên của trường
phái Milet
b Trường phái Pythagore
c Cuộc tranh luận giữa triết học
Heraclite và trường phái Eleé.
Trang 27• Thales ( 624 – 547 TCN)
Trang 28Ông được mệnh danh ‘ cha đẻ của triết học ’, đồng thời là nhà toán học và vật lý học.
Ông cho rằng bản nguyên thế giới là Nước Nước tồn tại dưới nhiều trạng thái khác nhau
và nó cần thiết để duy trì sự tồn tại và phát
triển của các vật thể Mọi vật đều do nước sinh
ra và trở lại thành nước.
Với quan điểm này, Thales đã tạo một bước ngoặt tiến bộ khi giải thích bản nguyên thế giới thoát ra khỏi những tư tưởng thần thoại huyền bí.
Trang 29• Anaximandre ( 610 – 547 TCN)
Ông là triết gia - học trò của Thales
Trang 30• Quan điểm triết học của Anaximène
Trang 31Ông giải thích mọi vật trong vũ trụ bắt nguồn từ
không khí
Ông đẩy tư duy nhân loại lên một trình độ trừu tượng hóa cao hơn, ông cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là ‘apeiron’(a –pây – rôn)
Từ apeiron nảy sinh ra những mặt đối lập ở ngay trong lòng nó là nóng và lạnh, khô và ướt, cứng và mềm…rồi hình thành mọi vật
Quan điểm này của ông đã tạo nên nét đặc biệt trong triết học của mình là đưa ra tư tưởng biện
chứng, nhìn thấy ở mọi vật có chứa đựng trong
lòng nó các mặt đối lập nhau.
Trang 32 Điểm chung của ba nhà triết học này là
trường phái triết học đầu tiên của phương
Tây vượt qua những tư tưởng thần thoại để
có cách giải thích mới về vũ trụ bắt nguồn từ giới tự nhiên , là những chất sơ bản mà con
người có thể sờ nắm được, nhìn thấy được…) Đây cũng là bước ngoặt lớn tạo nên điểm đặc biệt trong ý thức của các nhà triết học thời
bấy giờ trên cơ sở tác động của điều kiện xã hội ở một nấc thang phát triển nhất định.
Trang 33• Pythagore ( 580 – 500 TCN)
Trang 34Ông sống ở đảo Samos, lúc đứng tuổi vì
chống đối nhà cầm quyền nên ông chuyển đến Crotone trên bán đảo Ý.
Ông xuất thân là nhà toán học nên cho rằng
cơ sở của các hiện tượng tự nhiên là những con số.
Những con số này thiết lập nên trật tự xã hội con người→ con người muốn nhận thức về vũ trụ thì phải nhận thức những con số đã và
đang điều khiển vũ trụ
Trang 35Về mặt triết học thì chưa phải là tư tưởng
nổi bật vì ông đại biểu cho lợi ích quan điểm
của bọn chủ nô phản động chống lại những tư tưởng tiến bộ, dân chủ Tuy nhiên, về toán học thì ông có nhiều cống hiến vĩ đại.
Trang 36• Heraclite ( 544 – 483 TCN)
Trang 37Ông sinh tại Éphèse.
Tác phẩm của ông: “Bàn về tự nhiên”
nhưng nhiều phần bị thất lạc, hiện nay chỉ còn lại một số.
Ông cho rằng bản nguyên tạo ra vạn vật
chính là Lửa “Thế giới, một chỉnh thể gồm
mọi vật, không phải là do bất cứ một thần
thánh hoặc là một người nào tạo ra, mà đã,
đang và sẽ là một ngọn lửa vĩnh viễn sống,
bùng cháy và tắt đi theo quy luật”.
Trang 38• Heraclite ( 544 – 483 TCN)
Ông đồng thời là một nhà biện chứng – nhìn
thấy sự biến đổi không ngừng của vạn vật trong
vũ trụ “Người ta không bao giờ tắm hai lần trong một dòng sông” là câu nói bất hủ minh chứng
luận điểm này.
Ông còn đưa ra khái niệm Logos Logos: cái lý phổ biến →mọi sự vật tồn tại trong sự vận động không ngừng và theo quy luật chia rẽ, đấu tranh
và thống nhất giữa các mặt đối lập trong cùng
một thể thống nhất với nhau Ví dụ: sự sống và
cái chết, lên và xuống…tất cả đều là một.
Trang 39• Trường phái Élee :gồm có Xenophane
và Parmedine.
Xenophane (570-478 TCN):
Trang 40
• Quan điểm Triết học Xenophane (570-478
TCN):
•Là người phác thảo những đường nét ban sơ
của nguyên lý vạn vật đồng nhất thể
Xênôphan còn là người đầu tiên nêu ra vấn
đề khả năng và giới hạn của nhận thức
Ông vạch ra cơ sở tâm lý của tôn giáo, nhấn mạnh rằng con người khả tử tưởng tượng ra các vị thần giống như họ , có giọng nói, hình
thức như và xem các vị thần như biểu hiện của cái Tuyệt đối, mục đích cao cả của cuộc sống.
Trang 41• Trường phái Élee :gồm có Xenophane và Parmedine.
Parmenides (540 - 470 TCN)
Trang 42Quan điểm triết học Parmenides:
Thế giới như một quả cầu vật chất đóng chặt, nén đầy, không còn chỗ trống; không thể có vận động (chuyển dịch), bởi lẽ tất cả đã được lấp
đầy, không có cái gọi là không gian rỗng, phi vật thể
Tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như kết quả
Ông bác bỏ sự chuyển hóa, sinh thành, diệt
vong, bởi lẽ chúng giả định khả năng của cái
không-tồn-tại.
Trang 43Quan điểm triết học Parmedine(540-470
TCN)
Tóm lại, ba đặc tính của tồn tại là toàn vẹn thống nhất, không sinh không diệt, bất biến
bất phân Nhận thức được ba luận điểm ấy,
chúng ta bước đi trên con đường chân lý (nếu dựa vào lý trí) , con đường thường kiến (xuất phát từ cảm giác) để nắm bắt thế giới luôn biến đổi, nhất thời, hư ảo Và như thế, theo
Pácmênhít, có hai thứ triết học - một thứ
hướng đến chân lý, một thứ hướng đến thường kiến
Trang 44• Zenon (496 – 429 TCN)
Trang 45• Zenon (496 – 429 TCN)
Ông nổi tiếng với các nghịch lý
(Paradoxes) mà người đời thường cho là ngụy biện vì nó trái với nhận thức thường nghiệm của con người.
Ông cho rằng: Nhận thức là một quá trình phức tạp, quanh co, nan giải, đầy chông gai,
“nghịch lý”, đầy mâu thuẫn, vì thế không thể chấp nhận lối giải thích đơn giản, một chiều
về các sự vật, hiện tượng mà con người nắm bắt chỉ nhờ vào các cảm giác rời rạc.
Trang 46• Zenon (496 – 429 TCN)
Lý luận của ông nổi tiếng với các câu
chuyện là mũi tên bắn ra không chuyển động, nên nó sẽ không bao giờ đến đích, Achille và con rùa…
Tư tưởng của ông đã góp phần kích thích
tư duy, khuyến khích tinh thần hoài nghi,
tranh luận, đi tới chân lý, “đem đến một lực đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển toán học,
lôgíc học cổ đại ”(Tóm lược lịch sử triết học
Moskva, 1981, tr 61 (tiếng Nga).
Trang 47a Nền dân chủ chủ nô và sự tác
động của nó đến sinh hoạt tinh
thần của xã hội.
b Các triết gia đặt nền tảng giải
thích mới về bản nguyên thế giới: Anaxagoras, Empedocles.
c Phái nguyên tử luận: Democritos,
Epicuros, Leucippos.
Trang 48• Nhận định về tư tưởng triết học Hy Lạp
cổ đại.
d Phái biện thuyết: Protagoras, Gorgias
e Trường phái Socrates: từ triết học tự
nhiên sang triết học đạo đức.
f Triết học Platon
g Aristotes: Bộ bách khoa toàn thư Hy
Lạp cổ đại.
Trang 49•Nền dân chủ chủ nô
của Hy Lạp chính thức được khẳng định và
phát triển rực rỡ vào nửa sau thế kỷ V TCN, nhưng những cải cách dân chủ đã được bắt
đầu ngay từ đầu thế kỷ
VI TCN, gắn liền với tên tuổi của Solon.
Trang 50• Solon (638 – 588TCN)
Solon là một nhà thơ được quần chúng tín
nhiệm đứng ra làm một cuộc cải cách có quy
mô rộng lớn trên nhiều phương diện.
Ông tiến hành cải cách vào năm 594 TCN
bao gồm các lĩnh vực: xóa hết khoảng nợ đã
vay cho người nghèo; giải phóng nô lệ, cải cách tiền tệ, phát hành tiền mới thay thế cho loại
tiền cũ lưu hành trước đây, nhà nước thừa
nhận quyền của người dân được làm di chúc
về tài sản và quyền thừa kế theo di chúc…