Tác giả với sự hỗ trợ của nhóm Chuyên gia của Vụ Môi trường và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức thực hiện nghiên cứu “Điều tra
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC GIẢM NHIỂU,TÁI SỬ DỤNG,TÁI CHẾ CHẤT THẢI
4 1.1.Cơ sở lý luận về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải……… 4
1.1.1 Khái niệm……… 4
1.1.2.Giới thiệu về Sáng kiến 3R 12
1.1.3 Các nội dung chính của 3R 15
1.1.4.Các giải pháp chiến lược để thực hiện 3R 20
1.2 Các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải……… 23
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải và bài học rút ra cho Việt Nam……… 30
1.3.1.Một số nước phát triển 30
1.3.2 Một số nước đang phát triển 41
1.3.3.Một số nước trong khu vực 47
1.3.4 Bài học rút ra cho Việt Nam……… 53
1.4.Kết luận Chương 1 58
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Ở VIỆTNAM 59
2.1 Tình hình phát sinh và quản lý chất thải rắn 59
2.2 Thực trạng, rào cản, cơ hội về giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải 64
2.2.1 Thực trạng……… 64
2.2.2 Rào cản……… 73
2.2.3 Cơ hội……… 76
2.3 Dự báo tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt giai đoạn đến 2010……… 80
2.4 Cơ sở pháp lý cho việc xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn……….…… 81
Trang 22.4.1 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Nghị định
80/2006/NĐ-CP
81 2.4.2 Chiến lược Bảo vệ môi trường đến 2010 và định hướng đến 2020… 83 2.4.3 Nghị quyết 41/NQ-TW 84
2.4.4 Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn 84
2.5 KÕt luËn Ch-¬ng 2 87
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC VỀ GIẢM THIỂU, TÁI SỬDỤNG,TÁICHẾCHẤTTHẢIRẮNỞVIỆTNAM 88
3.1.Đề xuất các lĩnh vực trọng tâm, định hướng ưu tiên 88
3.1.1 Chất thải rắn, lĩnh vực trọng tâm của 3R 88
3.1.2 Định hướng ưu tiên 89
3.2 Đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ 3R 90
3.2.1 áp dụng cơ chế thu phí chất thải hiệu quả để tạo áp lực thực hiện 3R 90 3.2.2.Các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đối với 3R 91
3.3 Đề xuất mối liên hệ, liên kết trong các biện pháp 3R 96
3.4 Đề xuất xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn (Dự thảo khung Chiến lược) 100
3.4.1 Phạm vi và thời gian 100
3.4.2 Mục tiêu……… 100
3.4.3 Quan điểm chỉ đạo……… 102
3.4.4 Các nội dung cơ bản 103
3.4.5.Các giải pháp thực hiện chiến lược 107
3.4.6 Tổ chức thực hiện……… 108
3.4.7.Các chương trình thực hiện Chiến lược……… 109
3.5.Kết luận Chương 3 109
KẾT LUẬN……… 110
TÀILIỆUTHAM KHẢO 112
Trang 3MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế và xã hội, quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh đang làm thay đổi diện mạo của đất nước Đô thị hoá và công nghiệp hoá là động lực thúc đẩy phát triển song cũng đã và đang gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Một trong các vấn đề ô nhiễm chính là chất thải Chất thải đang tăng lên từng ngày bởi sự phát triển của các hoạt động sản xuất, dịch vụ cũng như đời sống của nhân dân đang không ngừng được cải thiện
Để kiểm soát chất thải, nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng các giải pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải, hay còn gọi là 3R (reduce, reuse, recycle) cho riêng mình Chính sách này cũng đang được cộng đồng quốc tế quan tâm, thể hiện bởi sự tham gia và cam kết của chính phủ các nước trên các diễn đàn song phương và đa phương Tại Hội nghị thượng đỉnh vào tháng 6/2004, lãnh đạo các nước G8 đã đề ra sáng kiến 3R, sau đó Hội nghị Bộ trưởng Môi trường về thúc đẩy 3R cũng đã được tổ chức vào tháng 3/2005 Tiếp theo, Hội nghị các quan chức cao cấp đã được nhóm họp tại Nhật Bản tháng 3/2006 đã thảo luận và xây dựng kế hoạch thực hiện sáng kiến 3R Nước ta cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn khu vực và thế giới về 3R với sự tham dự của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng như chuyên viên tại các hội nghị quốc tế
Trên thực tế, hoạt động tái chế chất thải đã có từ lâu ở nước ta, các loại chất thải có thể tái chế được như kim loại và giấy được các hộ gia đình bán cho những người thu mua đồng nát, sau đó thu gom qua hệ thống thu mua phế liệu và chuyển
về các cơ sở tái chế ở các làng nghề Ở một số làng nghề ở đồng bằng sông Hồng, hoạt động này mang lại nguồn thu nhập chính và tạo công ăn việc làm, xoá đói, giảm nghèo cho người dân Đối với chất thải rắn đô thị, một số công nghệ chế biến phân hữu cơ đã được áp dụng Đây là hình thức tái chế rất hữu hiệu các chất thải hữu cơ để sản xuất các loại sản phẩm phân vi sinh làm màu mỡ đất, không gây ô nhiễm môi trường Đối với chất thải rắn công nghiệp một số hoạt động trao đổi chất
Trang 4thải giữa các doanh nghiệp hoặc bán chất thải cho các cơ sở tái chế cũng đã bước đầu được triển khai
Nhìn chung, hoạt động tái sử dụng và tái chế chất thải ở nước ta được thực hiện một cách tự phát, thiếu tổ chức một cách hệ thống, đồng bộ và hoàn chỉnh Đó
là do trong thời gian qua, mặc dù các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế đã được nhắc đến trong các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, song chưa có những văn bản chính sách, pháp luật cụ thể cho lĩnh vực này
Trước bối cảnh môi trường nước ta đang đứng trước những thách thức về ô nhiễm do chất thải gây ra, việc xây dựng và ban hành những chính sách thiết thực để thúc đẩy giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải là rất cần thiết và có ý nghĩa quan trọng
Tác giả với sự hỗ trợ của nhóm Chuyên gia của Vụ Môi trường và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã
tổ chức thực hiện nghiên cứu “Điều tra, khảo sát, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng Chiến lược giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam” Trên thực tế vấn đề nghiên cứu chính và ưu tiên của tác giả là tập trung vào giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn
Mục tiêu tổng quát là giảm thiểu lượng và tác động của chất thải rắn lên môi trường và mục tiêu cụ thể là nghiên cứu luận cứ cho việc xây dựng dự thảo khung Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam
Để triển khai thực hiện, tác giả sử dụng các phương pháp điều tra, khảo sát thực tế, thu thập số liệu thông tin, kế thừa kết quả của những dự án liên quan, sử dụng các chuyên gia phân tích, tổng hợp, dự báo và tổ chức hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia, tham vấn cộng đồng
Luận văn bao gồm những nội dung chính như sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế trong việc giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận về giảm thiểu, tái sử dụng,
tái chế chất thải, tìm hiểu các kinh nghiệm quốc tế và các bài học rút ra cho Việt Nam
Trang 5Chương 2 Thực trạng và vấn đề quản lý chất thải rắn ở Việt Nam, đề cập tới
những vấn đề tổng quan về phát sinh và quản lý chất thải rắn, xác định thực trạng, rào cản và cơ hội về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn, dự báo về tình hình phát sinh chất thải rắn cũng như phân tích các cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chính sách về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam
Chương 3 Đề xuất xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn ở Việt Nam, bao gồm đề xuất những lĩnh vực trọng tâm, định hướng
xây dựng các cơ chế, chính sách ưu tiên về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn, đưa ra những phân tích về việc xây dựng Chiến lược về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn
Trong thời gian thực hiện luận văn này, tác giả đã luôn được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của PGS.TS Trương Mạnh Tiến trong việc xây dựng và hoàn thiện nội dung của luận văn Tác giả cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiều về mọi mặt như các thông tin, số liệu, các phân tích, đánh giá và hỗ trợ kinh phí từ Vụ Môi trường (trước đây) và Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường Tác giả xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trương Mạnh Tiến và tập thể cán bộ Vụ Môi trường, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường
Trang 6Giảm thiểu (Reduce), tái sử dụng (Reuse) và tái chế (Recycle) là ba nội dung hợp thành chiến lược mang tên 3R Chiến lược này còn có tên gọi là “Xã hội tuần hoàn vật chất hợp lý”, được Nhật Bản sử dụng lần đầu tiên năm 2000 Nằm trong hệ thống thứ bậc phân cấp về chất thải (hình 1.1), là hệ thống phân biệt các giải pháp quản lý chất thải theo mức độ đáp ứng yêu cầu môi trường của chúng Đứng vị trí thấp nhất trong hệ thống này là xử lý chất thải khi đã phát sinh bằng các giải pháp kỹ thuật Cao hơn một chút là việc thu hồi, tận dụng năng lượng trong xử lý chất thải 3 giải pháp chính của chiến lược 3R được lần lượt xếp từ thấp đến cao là tái chế chất thải (recycle), tái sử dụng chất thải (reuse) và giảm thiểu chất thải (reduce hay minimisation) Trên cùng của hệ thống này là giải pháp ngăn ngừa phát sinh chất thải
Trang 7Hình 1.1 Hệ thống thứ bậc phân cấp về chất thải
a) Giảm thiểu
Giảm thiểu là nội dung hiệu quả nhất trong 3 giải pháp R cho sử dụng tài
nguyên và giảm thiểu chất thải Về mặt nội dung, giảm thiểu có thể được coi là sự tối ưu hóa quá trình với việc sản xuất ra lượng sản phẩm cao nhất mà thải ra lượng thải thấp nhất Quá trình này đòi hỏi phải vận dụng kỹ năng hiểu biết không chỉ về sản phẩm, dòng thải như tái chế hay tái sử dụng, mà con phải nắm rõ về quá trình
sản xuất, loại nguyên nhiên liệu sử dụng, v.v
b) Tái sử dụng
Tái sử dụng có thể được coi là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sản phẩm Nếu như tái sử dụng theo nghĩa truyền thống để chỉ việc sản phẩm được sử dụng nhiều lần theo cùng chức năng gốc thì ngày nay, có thể hiểu thêm việc tái sử dụng còn là sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích
mới Tái sử dụng có lợi cả về mặt kinh tế lẫn môi trường theo những ưu điểm sau:
- Tiết kiệm năng lượng và nguyên liệu thô, đồng thời giảm lượng sản xuất dẫn đến giảm tải lượng thải
- Giảm lượng vật chất thải và qua đó, giảm được các chi phí thu gom, vận chuyển và xử lý vật chất thải
Trang 8- Tạo cơ hội cho những nền kinh tế chậm phát triển thông qua việc tiếp cận sản phẩm tái sử dụng với giá thành rẻ, tạo thêm việc làm cho những công việc phục hồi, làm mới sản phẩm, v.v
Tuy nhiên, tái sử dụng cũng có một số nhược điểm như sau:
- Nhiều loại sản phẩm, khi tái sử dụng thường có hiệu suất kém, tiêu hao năng lượng lớn, gây tác động đến môi trường đồng thời phải tốn chi phí làm mới và vận chuyển
- Sản phẩm tái sử dụng thường đòi hỏi bền hơn và thời hạn sử dụng lâu hơn,
do đó sẽ tốn chi phí sản xuất ban đầu hơn
- Sắp xếp phục hồi, làm mới sản phẩm thường tốn thời gian, và gây tác động nhất định đến môi trường
c) Tái chế
Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới Quá trình tái chế ban đầu có mục tiêu ngăn chặn lãng phí nguồn tài nguyên, giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nhiên liệu sử dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô Tái chế có thể chia thành 2 dạng, tái chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất và tái chế nguyên liệu từ sản phẩm thải
Các ưu điểm của quá trình tái chế có thể được liệt kê ra như sau:
- Tận dụng được nguồn nguyên liệu có thể sử dụng thay vì sản xuất từ nguyên liệu thô, qua đó tiết kiệm chi phí khai thác, xử lý nguồn nguyên liệu, tiết kiệm năng lượng
- Giảm thiểu được lượng chất thải cần xử lý, qua đó, giảm thiểu được chi phí, năng lượng cần thiết để xử lý nguồn thải này theo các giải pháp truyền thống
- Tăng thêm việc làm trong lĩnh vực tái chế, thông qua quá trình thu gom, vận chuyển, làm sạch, tái chế
Trang 9Hình 1.2 Vị trí của 3R trong vòng đời sản phẩm
Bên cạnh đó, những nhược điểm của tái chế bao gồm:
- Tái chế có thể làm giảm được lượng thải ban đầu, tuy nhiên lại phát sinh ra một lượng thải khác từ các quá trình phục vụ tái chế, như thu gom, vận chuyển, v.v
Trang 10- Tái chế nguyên liệu thường đòi hỏi quá trình loại bỏ tạp chất phức tạp, dẫn đến tăng chi phí hoạt động, mặt khác, nếu quá trình loại bỏ tạp chất không được tiến hành hợp lý thì sản phẩm tái chế sẽ có chất lượng thấp
d) Quản lý tổng hợp chất thải
Trong các lý thuyết về quản lý môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng, đã xuất hiện lý thuyết mới về quản lý tổng hợp môi trường (Integrated Environmental Management) và quản lý tổng hợp chất thải (Integrated Waste Management) Theo tài liệu hướng dẫn về quản lý tổng hợp chất thải thì thuật ngữ
“tổng hợp” có nghĩa là nối kết hay phối hợp với nhau Quản lý tổng hợp chất thải bao gồm ít nhất ba loại phối kết hợp sau:
- Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải
- Phối kết hợp các khía cạnh xã hội, kinh tế, luật pháp, thể chế, môi trường và công nghệ trong quản lý chất thải
- Phối kết hợp ý kiến ưu tiên và năng lực cung cấp dịch vụ của các bên liên quan
Phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng và chôn lấp Cách quản lý chất thải này khác biệt với cách truyền thống là chỉ thu gom chất thải rồi đem chôn lấp, còn nó bổ sung vào giữa đó một loạt các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng chất thải đem chôn lấp, là giảm nguồn thải, tái
sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng
Phòng ngừa là một nguyên tắc hàng đầu trong quản lý, bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải nói riêng Phòng ngừa là ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra chất thải
Giảm thiểu là việc làm để sao cho sự phát thải là ít nhất Khi sự phát thải bằng 0 thì đó là sự phòng ngừa tuyệt đối Phòng ngừa được coi là phương thức tốt nhất để giảm thiểu chất thải ngay từ nguồn phát sinh
Trang 11Phũng ngừa và giảm thiểu là hai nấc thang đầu tiờn trong thang bậc quản lý chất thải: Phũng ngừa (a)- Giảm thiểu (b) - Tỏi sử dụng (c) - Tỏi chế (d) - Thu hồi (e)
- Thải bỏ (f) (hỡnh 1.4) Trong kinh tế chất thải bản chất của phũng ngừa là ngăn chặn tối đa sự phỏt sinh chất thải trong mọi hành động kinh tế (sản xuất, lưu thụng, phõn phối, tiờu dựng) Minh hoạ cho thứ bậc quản lý này được trỡnh bày qua biểu đồ
ở hỡnh 1.4
Giải pháp chiến l-ợc Giảm nguồn thải Tái sử dụng Tái chế Làm phân hữu cơ
Thu gom Thu hồi năng l-ợng Chôn lấp
Các bên liên quan Chính phủ Công nghiệp Cộng đồng địa ph-ơng Các tổ chức quần chúng Khu vực phi chính quy Các tổ chức cộng đồng Các tổ chức phi chính phủ
Các khía cạnh Xã hội Kinh tế Pháp luật Chính trị Thể chế Môi tr-ờng Công nghệ
Quản lý tổng hợp chất thải
Bền vững về kin h tế
Bền vững về môi tr-ờng
Bền vững
vềxã
hội
Trang 12Như đã nói ở trên, quản lý tổng hợp chất thải xét theo cách tiếp cận phối kết hợp các chiến lược quản lý chất thải bao gồm các giải pháp mang tính chiến lược giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lượng
và chôn lấp Mối quan hệ, liên kết giữa các giải pháp này đặt trong tổng thể quản lý quá trình sản xuất và tiêu dùng có thể khái quát hoá dưới dạng sơ đồ ở hình 1.5
Trang 13Hình 1.5 Mối quan hệ, liên kết trong các biện pháp giảm thiểu, tái sử dụng
và tái chế chất thải
Theo sơ đồ này, một chiến lược quản lý tổng hợp chất thải cần được chú ý trước tiên vào các biện pháp giảm thiểu, nghĩa là theo nguyên tắc phòng ngừa Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng càng giảm thiểu được phát thải thì càng giảm được các chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải (tái sử dụng, tái chế, thu hồi, chôn lấp, ) Còn một khi phát sinh chất thải trong sản xuất và tiêu dùng thì cần cố gắng tái sử dụng và tái chế tối đa trước khi đem chôn lấp, trả chúng về môi trường
Trên thế giới, các nhà khoa học đã đề xuất lý thuyết về nền kinh tế xoay vòng (Circular Economy) và các giải pháp kinh tế và kỹ thuật (công nghệ) để chuyển từ cách quản lý nền kinh tế truyền thống theo kiểu tuyến tính (Linear Economy), hay nói cách khác là theo kiểu từ “chiếc nôi” (khai thác, sản xuất, tiêu dùng) thẳng tới
“nấm mồ” (chôn lấp) sang cách quản lý nền kinh tế theo kiểu “xoay vòng” tối đa (tái
sử dụng, tái chế, ) mọi chất thải phát sinh trước khi trả lại về môi trường (chôn lấp)
Nếu chỉ xét trên phương diện quá trình chu chuyển của dòng vật chất trong nền kinh tế thì đối với cách tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải, sản xuất sạch hơn (sau đây viết tắt là SXSH) là giải pháp kinh tế – kỹ thuật tổng hợp tối ưu nhằm kết hợp, liên kết các giải pháp về phòng ngừa, bao gồm cả giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải, đem lại lợi ích to lớn cả về kinh tế, xã hội cũng như về môi trường
Hình 1.6 cho thấy sự liên kết của các giải pháp, trong đó có các giải pháp về tái sử dụng, tái chế (tuần hoàn) chất thải
Trang 14Hình 1.6 Các thành phần của sản xuất sạch hơn
Trong thực tế quản lý môi trường ở nhiều nước, SXSH được coi là một trong những phương thức tốt nhất để thực hiện phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất và tiêu dùng hướng tới phát triển bền vững Các quốc gia trên thế giới đều cố gắng khuyến khích các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện các nguyên lý/nội dung cơ bản của SXSH, coi đó là một giải pháp
ưu tiên trong các hành động hướng tới phát triển bền vững như Tuyên ngôn quốc tế
về SXSH đã kêu gọi
1.1.2 Giới thiệu về Sáng kiến 3R
Tại Hội nghị G8 diễn ra ở Sea Island, Geogria, Hoa Kỳ tháng 6/2004, Nhật Bản đã đề xuất sáng kiến 3R Hội nghị đã thông qua “Khoa học và Công nghệ đối với phát triển bền vững: Kế hoạch hành động „3R‟ và xúc tiến thực thi đầy đủ” như
là một phần của Kế hoạch hành động G8
Quản lý tốt
nội vi
Thay đổi đầu vào
Kiểm soát tốt quá trình
Cải tiến, thay đổi công nghệ
Sản xuất sạch hơn
Tái sử dụng,
tuần hoàn chất thải
Sản xuất các sản phẩm phụ
từ chất thải
Cải tiến, sản phẩm
Trang 152004 Tháng 6: Hội nghị Thượng đỉnh Sea Island (Mĩ)
Thủ tướng Koizumi đề xuất Sáng kiến 3R Các thành
viên G8 đồng ý với Kế hoạch hành động 3R
2005 Tháng 4: Hội nghị cấp Bộ trưởng về Sáng kiến 3R
(Tokyo, Nhật Bản)
Các Bộ trưởng từ 20 nước và đại diện của các tổ chức
quốc tế thông qua chương trình thúc đẩy 3R trên thế
giới
Tháng 7: Hôi nghị Thượng đỉnh G8 Gleneagles (Vương
quốc Anh)
Tháng 11: Hội thảo về chất thải điện tử (Tokyo)
Hội nghị toàn Châu á về vấn đề chống lại sự vận
chuyển bất hợp pháp qua biên giới (Tokyo)
2006 Tháng 3: Cuộc gặp gỡ chính thức cấp cao về Sáng kiến
3R (Tokyo, Nhật Bản)
Các đại diện cấp cao từ 20 nước và các tổ chức quốc tế
tham gia thảo luận về thúc đẩy 3R tại từng nước (i), và
(ii) trên quy mô toàn cầu (dòng hàng hoá và nguyên
liệu quốc tế)
Tháng 7: Hội nghị Thượng đỉnh G8 St Petersburg
(Nga)
Các thành viên thông qua “mục tiêu là đưa ra sự tính
toán thích hợp về sức sản xuất của nguồn tài nguyên”
để có sự cố gắng cao hơn liên quan đến Sáng kiến 3R
Tháng 10: Hội nghị 3R Châu á (Tokyo, Nhật Bản)
2007 Hội nghị thượng đỉnh G8 (Đức)
2008 Hội nghị thượng đỉnh G8 (Nhật Bản)
Hình 1.7 Quá trình hình thành và phát triển của sáng kiến 3R
Sáng kiến 3R có mục tiêu là đẩy mạnh các hoạt động 3R trên quy mô toàn cầu Theo bản thoả thuận tại Hội nghị thượng đỉnh G8 Sea Island, Hội nghị cấp bộ trưởng về Sáng kiến 3R được tổ chức ở Tokyo trong tháng 3/2005 chính thức đưa ra Sáng kiến 3R với các mục tiêu:
Giới thiệu Sáng kiến 3R
Thúc đẩy các hoạt động cho Sáng kiến 3R
Xem xét lại sự phát triển của Sáng kiến 3R
Trang 161) Thúc đẩy 3R thông qua tầm nhìn rộng và chiến lược;
2) Giảm thiểu các rào cản đối với dòng hàng hoá và vật chất trên thế giới trong mối quan hệ giữa tái chế và tái sản xuất;
3) Thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ phát triển đối với 3R;
4) Thúc đẩy liên kết giữa các nước phát triển và đang phát triển trong lĩnh vực này
Bản tuyên bố của Hội nghị cấp Bộ trưởng được đưa ra ở Hội nghị thượng đỉnh G8 được tổ chức tại Gleneagles, Vương quốc Anh tháng 7 năm 2005 “Kế hoạch hành động Gleneagles về Biến đổi khí hậu, Năng lượng sạch và Phát triển Bền vững” tuyên bố rằng Sáng kiến 3R là “một bước tiến tới quan trọng khuyến khích việc sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên và nguyên liệu, điều này làm tăng tính cạnh tranh về mặt kinh tế trong khi làm giảm các ảnh hưởng đối với môi trường”
Tiếp theo Hội nghị cấp Bộ trưởng về Sáng kiến 3R, cuộc gặp chính thức cấp cao được tổ chức tại Tokyo vào tháng 3/2006 Trong hoạt động thúc đẩy quốc tế về 3R, các đại biểu từ các nước và các tổ chức quốc tế đã trao đổi kinh nghiệm và các ý kiến để phát triển hoạt động, phương hướng xác định các chương trình và kế hoạch, thảo luận về các vấn đề liên quan đến sự vận chuyển qua biên giới của 3R liên quan đến hàng hoá, nguyên liệu và sản phẩm
Vào tháng 7 năm 2006 tại Hội nghị thượng đỉnh G8 St Petersburg, các thành viên của G8 thông qua Kế hoạch hành động St Petersburg trong đó có đoạn “Chúng
ta sẽ nhắm tới mục tiêu là đưa ra sự tính toán thích hợp về sức sản xuất của nguồn tài nguyên” để có sự cố gắng cao hơn liên quan đến Sáng kiến 3R
Sáng kiến 3R sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn trong Hội nghị thượng đỉnh G8
tổ chức tại Đức vào năm 2007 và Nhật Bản vào năm 2008
Thời gian qua, các hoạt động 3R cũng đã và đang được tích cực triển khai thực hiện ở nhiều nước châu Á, trong đó điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc Châu Á
có một vài trung tâm tập trung các ngành sản xuất cơ bản với mật độ cao nhất trên
Trang 17thế giới và có tốc độ phát triển kinh tế cao Khu vực châu Á có dân số chiếm một nửa dân số thế giới và chiếm 26% GDP thế giới (theo Báo cáo Phát triển con người
2005 của UNDP) Tại châu Á, quá trình hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, dân số tại khu vực đô thị tăng nhanh, quá trình sản xuất và thương mại quốc tế tăng làm gia tăng nhu cầu về nguồn tài nguyên thiên nhiên Những sự thay đổi này sẽ dẫn tới các vấn đề cấp bách như gia tăng lượng và loại đối với chất thải rắn; vấn đề vận chuyển qua biên giới đối với hàng hóa, nguyên liệu và các sản phẩm có liên quan đến 3R và;
sự tăng giá của các nguồn tài nguyên
Việc cần thiết nhất để phát triển bền vững tại châu Á là nhận thức về việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và giảm thiểu các tác động môi trường do tiêu dùng
và các hoạt động sản xuất Thúc đẩy 3R thông qua việc tích hợp các chính sách trong quản lý chất thải và tài nguyên là chìa khóa để nhận thức rõ về sản xuất và tiêu dùng bền vững ở châu Á Hàng loạt các cuộc họp chuyên gia và các cuộc đối thoại chính sách về 3R đã xác định: "Quản lý chất thải đô thị hữu cơ", "Quản lý chất thải y tế",
"Quản lý chất thải điện tử" là những vấn đề ưu tiên ở châu Á
1.1.3 Các nội dung chính của 3R
a) Phân loại tại nguồn
Phân loại chất thải rắn tại nguồn (Solid Waste Seperation at Source) là một
trong những nhiệm vụ rất quan trọng đối với các hệ thống quản lý chất thải rắn hiện nay Công việc này liên quan trực tiếp đến việc tách riêng (phân loại) một số thành phần chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh trước khi nó được chuyên chở đi Ví dụ, đối với chất thải rắn sinh hoạt, có thể phân thành 3 loại: (1) các phế thải có khả năng tái sử dụng hoặc tái sinh như: giấy, nilon, nhựa, kim loại, thủy tinh, vỏ đồ hộp; (2) các thành phần hữu cơ có thể sử dụng để làm phân compost; và (3) các thành phần còn lại
Việc phân loại chất thải rắn tại nguồn có tính quan trọng về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Trước hết, nó góp phần làm tăng tỷ lệ chất thải cho mục đích tái sinh/tái chế Điều này kéo theo nhiều tác động tích cực như: hạn chế việc khai thác
Trang 18các tài nguyên sơ khai, giảm bớt khối lượng chất thải phải vận chuyển, xử lý và do
đó tiết kiệm được chi phí vận chuyển và xử lý chất thải, kể cả tiết kiệm mặt bằng cho việc chôn lấp chất thải rắn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý cuối cùng các thành phần không có khả năng tái chế
Một ý nghĩa quan trọng khác của việc phân loại chất thải rắn tại nguồn là kích thích sự phát triển của ngành nghề tái chế vật liệu, qua đó góp phần giải quyết công
ăn việc làm, tạo thu nhập cho nhiều lao động Trong lĩnh vực tái sử dụng các thành phần hữu cơ trong rác sinh hoạt để sản xuất phân compost, nếu việc phân loại rác tại nguồn được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng cũng như tính ổn định của sản phẩm phân compost, qua đó sẽ góp phần mở rộng thị trường phân compost vốn chưa được ưu chuộng hiện nay
Việc phân loại chất thải rắn, trên thực tế, thường được thực hiện tại 3 công đoạn: tại hộ gia đình và cộng đồng (tại nguồn); trong quá trình thu gom và vận chuyển bởi chính quyền địa phương và; tại bãi chôn lấp từ những người nhặt rác Tuy nhiên, phân loại tại nguồn vẫn có ý nghĩa quan trọng nhất bởi vì chất thải chỉ có thể được phân loại tốt nhất tại thời điểm phát sinh Mọi thời điểm sau đó, khi đã bị trộn lẫn, hoặc bị phân huỷ theo thời gian, việc phân loại chất thải càng trở nên khó khăn hơn, thậm chí có khi không thể thực hiện được
b) Giảm thiểu
Giảm thiểu phát sinh chất thải sinh hoạt là một trong những vấn đề cần thiết
và phải được ưu tiên trong các hoạt động 3R Với mức sống ngày càng được nâng cao, xu hướng xã hội tiêu thụ ngày càng phát triển, cần thiết phải thúc đẩy giảm lượng chất thải sinh hoạt và tiêu dùng, ví dụ như chất thải thực phẩm phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng và người bán lẻ, bao bì đóng gói, v.v Giảm thiểu chất chải sinh hoạt thường được thực hiện thông qua các biện pháp khuyến khích thay đổi hành vi, xây dựng lối sống thân thiện với môi trường, tiết kiệm nước và năng lượng, hướng tới tiêu dùng bền vững
Trang 19Giảm thiểu phát sinh chất thải công nghiệp tập trung chủ yếu vào áp dụng
công nghệ sản xuất sạch hơn Trong thực tế, các thay đổi không chỉ đơn thuần là thiết bị mà còn là các thay đổi trong vận hành và quản lý của một doanh nghiệp Giảm chất thải tại nguồn thông qua quản lý nội vi là một loại giải pháp đơn giản nhất
của sản xuất sạch hơn
Giảm thiểu chất thải rắn ngay tại nguồn được thực hiện bằng việc áp dụng các giải pháp sử dụng tối ưu nguyên liệu, thay đổi công thức sản phẩm, giảm các vật liệu bao bì và đóng gói sản phẩm, thay đổi thói quen trong tiêu dùng
Một cách tổng quát, các biện pháp giảm thiểu chất thải có thể tổng hợp như sau:
- Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Thiết kế sản phẩm có tuổi thọ sử dụng cao, dễ tái sử dụng và thành phần nguyên liệu có thể tái chế được
- Sử dụng các bộ phận, thành phần và nguyên liệu được tái chế, tái sử dụng
- Giảm thiểu việc sử dụng các thành phần độc hại hoặc thay thế các thành phần độc hại trong sản phẩm
Trong tái sử dụng, sản phẩm được giữ nguyên về chất liệu kết cấu và hình dáng cũng như chức năng ban đầu và được đưa vào quá trình chuyển hóa (ví dụ như: bao bì đóng gói nhiều lần) Thông lệ thì những sản phẩm như vậy không phải là chất
Trang 20thải, do đó trong nghĩa rộng có thể được hiểu là tái sinh, nhưng số lượt của chu trình tái sử dụng bị hạn chế Ví dụ, chai được sử dụng nhiều lần bị vỡ hay bị mất đi tính năng sử dụng đặc trưng Người ta tính trung bình một chai có thể được tái sử dụng khoảng 20 lượt
Đôi khi cũng có thể tiếp tục sử dụng sản phẩm được nếu như sản phẩm với kết cấu chất liệu, hình dáng ban đầu được sử dụng theo một chức năng khác Ví dụ, cốc đựng tương hạt cải làm cốc uống nước, bình nhựa làm thùng chứa nước mưa, lốp xe ôtô làm ghế đu hay đài hoa
Tái sử dụng lại là một dạng của việc làm giảm chất thải - mở rộng các nguồn cung cấp nguyên liệu và giảm năng lượng sử dụng và giảm ô nhiễm thậm chí hơn cả tái chế Hoạt động tái sử dụng chất thải rắn có thể được thực hiện tốt ở các khu công nghiệp tập trung trên cơ sở hình thành một hệ thống thông tin để trao đổi chất thải vì trong một số trường hợp chất thải cần phải loại bỏ ở nơi này trở thành nguyên liệu đầu vào ở nơi khác
d) Tái chế
Các yếu tố sản xuất đã tác động đến quá trình chuyển hóa vật liệu và năng lượng, do vậy có sự đòi hỏi đến môi trường – nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên Điều đáng quan tâm là đặc tính tái tạo của vật liệu và nhiên liệu, do vậy cần phân biệt giữa vật liệu, nhiên liệu tái tạo lại được và vật liệu, nhiên liệu không tái tạo lại được
Trên phương diện kinh tế, ngành kinh doanh có thể gặp một loạt các rắc rối khi quay vòng và tái sản xuất các sản phẩm, có khi tiết kiệm được chi phí, có khi chi phí lại tăng lên do vậy cần thiết phải tính toán nhu cầu sản xuất và khả năng tiêu thụ các sản phẩm do có tái chế Tái chế có thể ở dạng tái sinh hoặc tái tạo lại giá trị hoặc tiếp tục tận dụng giá trị
Tái sinh là một khái niệm thời sự thông qua hình thức sử dụng lại hay tận
dụng lại giá trị của những sản phẩm đã qua sử dụng, khái niệm này liên quan đến
Trang 21chất thải của sản xuất và tiêu dùng, những vật mà trước khi được đưa vào quá trình tái sinh đã được chủ của nó coi là những thứ muốn vứt bỏ đi
Tái sinh là sự kéo dài thêm một khoảng ngắn thời gian lưu của nguyên liệu và năng lượng trong quá trình chuyển hóa Vì thế, công nghệ có tính đến giảm thiểu và công nghệ có tính đến phòng ngừa ô nhiễm môi trường
Việc tiếp tục sử dụng có thể thực hiện dưới nhiều hình thức, song tất cả các quá trình cũng chỉ là những việc sử dụng lại nhiều lần, do đó vật chất và năng lượng
có thể giữ được trong một thời gian có hạn và riêng biệt trong phạm vi của quá trình chuyển hóa kế tiếp nhau và sau đó được đưa vào chu trình
Hình 1.8 Minh hoạ về tái tạo lại giá trị
Tái tạo giá trị: Tái tạo giá trị là quá trình trong đó chất liệu kết cấu ban đầu
được tái tạo lại thông qua một quá trình xử lý Hình thái ban đầu và chủ đích sử dụng ban đầu có thể được tái tạo Ví dụ, sử dụng sắt vụn trong công nghiệp luyện thép, nấu chảy mảnh kính trong công nghiệp thủy tinh, giấy vụn trong công nghiệp giấy v.v… (hình 1.8)
Tiếp tục tận dụng giá trị: Có thể áp dụng với cả hình thức vật chất và năng
lượng Đặc tính của việc tiếp tục tận dụng giá trị vật chất là sự chuyển hóa vật chất
Đã sử dụng
Phế liệu
Sản phẩm mới
Nấu chảy
Trang 22thông qua một quá trình xử lý và làm thay đổi chức năng của sản phẩm mới hình thành Ví dụ, ủ các chất hữu cơ, sản xuất ván ép từ mùn cưa, sản xuất vật liệu cách
âm từ giấy phế thải, vật liệu xây dựng từ chất dẻo cũ
Một hình thức nữa của việc tận dụng giá trị là tận dụng năng lượng Sự chuyển hóa vật chất sang năng lượng là một quá trình không đảo ngược được Do bản thân năng lượng sau khi được sử dụng vào quá trình chuyển hóa thì chỉ có thể thu hồi lại được rất ít, nên quá trình này là mắt xích cuối cùng trong chuỗi chu trình
Tái tạo năng lượng ngoài việc thể hiện tái sử dụng vào chức năng ban đầu của
nó còn thể hiện việc tiếp tục sử dụng vào chức năng khác Ví dụ, qua việc sử dụng điện năng để sản xuất, nhiệt năng sinh ra trong quá trình sản xuất này được tận dụng
để sưởi ấm
Các hoạt động tái chế có thể bao gồm:
- Tái sử dụng và tái chế các sản phẩm đã qua sử dụng
- Khuyến khích việc mua bán, sản xuất và sử dụng các sản phẩm và nguyên liệu có thể tái chế được (thị trường tái chế)
- Phát triển các công nghệ tái chế, ngành công nghiệp tái chế
1.1.4 Các giải pháp chiến lƣợc để thực hiện 3R
Có nhiều giải pháp chiến lược để thúc đẩy thực hiện 3R, trong đó một số giải pháp chính như sau:
a) Tăng cường hệ thống chính sách, pháp luật:
- Thiết lập một hệ thống chính sách quốc gia lâu dài và hiệu quả về bảo vệ môi trường nói chung, về quản lý chất thải nói riêng, có sự hỗ trợ tài chính hợp lý
- Xây dựng Chiến lược quốc gia về 3R với cách tiếp cận tổng thể bao gồm cả các vấn đề xuyên quốc gia Xây dựng mới hoặc cải thiện khung luật 3R bổ sung cho những chính sách quản lý ô nhiễm
Trang 23- Đặt mục tiêu giảm thiểu chất thải thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu, trên cả tái sử dụng và tái chế chất thải và phối hợp các nội dung của sản xuất bền vững, sản xuất sạch hơn, ngăn ngừa ô nhiễm vào các chiến lược và chương trình 3R
- Thiết lập chính sách thương mại xanh và điều chỉnh lại hệ thống thuế và trợ cấp quốc gia cho các sản phẩm 3R thông qua các chính sách hỗ trợ bao gồm các chính sách về ưu đãi thuế, đất đai, vốn, công nghệ, v.v
- Cụ thể hóa và triển khai các chính sách bảo vệ môi trường nói chung và chính sách quản lý chất thải nói riêng: chính sách mua bán quota về chất thải, chính sách tiết kiệm tài nguyên nước, các chính sách về khoa học-công nghệ như áp dụng công nghệ mới tiêu thụ ít nguyên liệu, tăng cường tuần hoàn và tái chế, chính sách
ưu đãi đầu tư cho công nghệ 3R, chính sách tuyên truyền giáo dục tiết kiệm tài nguyên
b) Giảm rào cản thương mại giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, cũng như tạo điều kiện cho dòng sản phẩm và nguyên liệu có liên quan đến tái chế và tái sản xuất:
- Đối với công ước Basel, thì các loại hàng hóa được coi là chất thải nguy hại đều có các giới hạn về vận chuyển và chuyên chở xuyên quốc gia Tuy nhiên, trong trường hợp của chiến lược 3R thì có một phần không nhỏ chất thải độc hại lại được coi là nguyên liệu hoặc sản phẩm của quá trình tái chế hoặc tái sử dụng Vì vậy, trong trường hợp này, các rào cản thương mại cần có tính co giãn hợp lý để tạo điều kiện cho việc khuyến khích triển khai các giải pháp 3R
- Rào cản thương mại còn cần phải được dỡ bỏ hoặc giảm nhẹ đối với trường hợp ứng dụng và chuyển giao các công nghệ, kỹ thuật và kinh nghiệm 3R
c) Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan:
- Phát triển các kế hoạch hành động quốc gia có sự tham gia chặt chẽ của các
cơ quan, tổ chức liên quan, bao gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp, cơ quan quản
Trang 24lý trung ương, cơ quan quản lý địa phương, nhà sản xuất, các đơn vị nghiên cứu, các
tổ chức phi chính phủ và sự tham gia của cộng đồng
- Đề ra các mục tiêu rõ ràng đối với việc giảm thiểu chất thải cho các ngành, lĩnh vực quan trọng Tăng cường năng lực của chính quyền trung ương và địa phương trong việc triển khai 3R Tăng cường mạng lưới chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và công nghệ giữa các bên liên quan
- Khuyến khích và bảo vệ sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân trong tái sử dụng và tái chế chất thải trong khuôn khổ quy định của hệ thống luật
- Tăng cường sự phối hợp giữa các quốc gia đang phát triển và các quốc gia phát triển trong các lĩnh vực xây dựng năng lực, nâng cao nhận thức cộng đồng, phát triển nguồn nhân lực, tài trợ các dự án 3R, chuyển giao công nghệ, v.v
d) Khuyến khích phát triển công nghệ xanh và chuyển giao công nghệ, tập trung vào 3 giải pháp chính:
- Áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn nhằm giảm thiểu tiêu thụ nguyên vật liệu, từ đó giảm thiểu lượng chất thải ra môi trường
- Các giải pháp xử lý cuối đường ống cần được áp dụng theo hướng tận thu lại được chất thải cho các công đoạn sản xuất Sau khi đã áp dụng các biện pháp SXSH, các dòng thải vẫn còn các thông số chất thải đặc trưng cao hơn tiêu chuẩn cho phép để tái sử dụng, hoặc tuần hoàn thì phải áp dụng các biện pháp xử lý chất thải hay còn gọi là “xử lý cuối đường ống”
- Tăng cường cải tiến, bảo dưỡng, thay thế thiết bị nhằm giảm tiêu hao nguyên vật liệu đầu vào trong quá trình sử dụng
e) Nâng cao nhận thức cộng đồng
Nhận thức cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các biện pháp 3R Nhận thức cộng đồng được nâng cao sẽ giúp việc thực hiện phân loại rác thải tại nguồn được tốt Ở nước ta, 80% chất thải rắn chủ yếu phát sinh từ các hộ gia
Trang 25đình, vì vậy nhận thức của mỗi người dân đóng vai trò quan trọng đối với giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế loại chất thải này
Nhận thức cộng đồng về 3R có thể được nâng cao thông qua các hoạt động:
- Tuyên truyền, vận động 3R trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Giáo dục nội dung 3R trong các nội dung giáo dục về môi trường
- Tổ chức xây dựng, trao các giải thưởng về 3R
1.2 Các biện pháp giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải
Để giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế chất thải, có nhiều giải pháp quản lý chung hướng tới việc giảm thiểu các loại chất thải ở đầu đường ống cũng như nhiều biện pháp kỹ thuật riêng khi xử lý từng loại chất thải ở cuối đường ống Các biện pháp chung bao gồm: áp dụng sản xuất sạch hơn, hệ thống quản lý môi trường ISO
14000 và kiểm toán môi trường Một số biện pháp kỹ thuật xử lý cuối đường ống đối với từng loại chất thải cũng sẽ được mô tả sơ lược dưới đây
a) Các biện pháp quản lý
Sản xuất sạch hơn (SXSH)
Theo định nghĩa của UNEP: “Sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường”
Lợi ích của các giải pháp sản xuất sạch hơn bao gồm:
- Giảm tác động đến môi trường thông qua các thiết kế sản phẩm xanh với giá thành hạ, giảm ô nhiễm;
- Cải thiện hiệu suất sản xuất;
- Sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng có hiệu quả hơn;
Trang 26- Tái sử dụng phần bán thành phẩm có giá trị, giảm chi phí xử lý và thải bỏ các chất thải rắn, nước thải, khí thải;
- Tạo nên hình ảnh về doanh nghiệp tốt hơn; và
- Cải thiện sức khoẻ nghề nghiệp và an toàn
Các giải pháp sản xuất sạch hơn bao gồm:
- Quản lý nội vi: Quản lý nội vi không đòi hỏi chi phí đầu tư và có thể được thực hiện ngay sau khi xác định được các giải pháp Ví dụ, khắc phục các điểm rò rỉ, đóng van nước hay tắt thiết bị khi không sử dụng để tránh tổn thất Mặc dù quản lý nội vi là đơn giản nhưng vẫn cần có sự quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc đào tạo nhân viên
- Kiểm soát quá trình tốt hơn để đảm bảo các điều kiện sản xuất được tối ưu hoá về mặt tiêu thụ nguyên liệu, sản xuất và phát sinh chất thải Các thông số của quá trình sản xuất như nhiệt độ, thời gian, áp suất, pH, tốc độ, v.v cần được giám sát và duy trì càng gần với điều kiện tối ưu càng tốt Cũng như với quản lý nội vi, việc kiểm soát quá trình tốt hơn đòi hỏi các quan tâm của ban lãnh đạo cũng như việc giám sát ngày một hoàn chỉnh hơn
- Cải tiến thiết bị là việc thay đổi thiết bị đã có để nguyên liệu tổn thất ít hơn Việc cải tiến thiết bị có thể là điều chỉnh tốc độ máy, là tối ưu hoá kích thước kho chứa, là việc bảo ôn bề mặt nóng/lạnh, hoặc thiết kế cải thiện các bộ phận cần thiết trong thiết bị Một ví dụ của mạ điện là lắp đặt cẩu vớt để thu hồi phần rơi vãi từ các chi tiết được mạ
- Công nghệ sản xuất mới là việc lắp đặt các thiết bị hiện đại và có hiệu quả hơn, ví dụ như lắp đặt nồi hơi hiệu suất cao hơn hay lắp dặt máy nhuộm Jet sử dụng dung tỷ thấp hơn Giải pháp này yêu cầu chi phí đầu tư cao hơn các giải pháp sản xuất sạch khác, do đó cần phải được nghiên cứu cẩn thận Mặc dù vậy, tiềm năng tiết kiệm và cải thiện chất lượng có thể cao hơn so với các giải pháp khác
Hệ thống Quản lý môi trường
Trang 27Hệ thống Quản lý môi trường là công cụ để quản lý các tác động do các hoạt động của một tổ chức gây nên với môi trường Hệ thống này cung cấp một cách tiếp cận có tổ chức trong việc lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Hệ thống này có thể là bước đầu tiên cho một tổ chức thực hiện để tiến tới cải thiện về môi trường Hệ thống quản lý môi trường cho phép tổ chức xác định được hiện trạng môi trường của mình và đánh giá thường xuyên và cải thiện Để phát triển một hệ thống quản lý môi trường, tổ chức cần phải đánh giá được các tác động môi trường, xác định được các mục tiêu giảm những tác động đó và lập kế hoạch làm thế nào để đạt được những mục tiêu này
Hệ thống quản lý môi trường yêu cầu một tổ chức phải chủ động trong việc xem xét thực tế thực hành của mình, và qua đó xác định việc quản lý các tác động của họ như thế nào là tốt nhất Cách tiếp cận này hỗ trợ cho các giải pháp sáng tạo
và có nghĩa cho bản thân tổ chức đó
Các lợi ích của hệ thống quản lý môi trường:
- Giảm thiểu các rủi ro về môi trường;
- Sử dụng có hiệu quả tối đa các tài nguyên;
- Giảm các chất thải;
- Tạo ra hình ảnh hợp tác tốt;
- Xây dựng các mối quan tâm về môi trường cho nhân viên;
- Hiểu rõ các tác động môi trường của hoạt động kinh doanh; và
- Tăng lợi nhuận và cải thiện hiện trạng môi trường thông qua hoạt động có hiệu quả hơn
Cũng như sản xuất sạch hơn và hiệu suất sinh thái, một hệ thống quản lý môi trường có thể là một công cụ đắc lực cho một tổ chức để cải thiện hiện trạng môi trường, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh doanh Việc thực hiện một hệ thống quản
lý môi trường tạo ra những cơ hội lý tưởng để thực hiện sản xuất sạch hơn, tương tự
Trang 28sản xuất sạch hơn sẽ là công cụ để tổ chức đó có thể cải thiện hiện trạng kinh tế và môi trường của mình Như vậy sản xuất sạch hơn là một trong những nội dung được quan tâm nhất trong phần mục đích cần đạt được của hệ thống quản lý môi trường
Mặc dù việc thực hiện hệ thống quản lý môi trường mang tính tự nguyện, đây cũng là một công cụ nhà nước có hiệu quả để bảo vệ môi trường vì công cụ này hỗ trợ cho các qui định Ví dụ để cho các tổ chức có thể đạt được các tiêu chuẩn đề ra, các qui chế có thể khuyến khích việc thực hiện hệ thống quản lý môi trường bằng cách đưa ra những chính sách khuyến khích áp dụng
Hệ thống Quản lý Môi trường ISO 14000: Bộ tiêu chuẩn ISO 14000 bao gồm
các tiêu chuẩn liên quan tới môi trường như tiêu chuẩn quản lý môi trường, đánh giá môi trường, v.v và các hướng dẫn được xây dựng bởi tiểu ban kỹ thuật TC 207 của
ISO ban hành lần đầu tiên năm 1996, bao gồm:
- ISO14001: Quản lý môi trường, quy định và hướng dẫn sử dụng
- ISO 14004: Hệ thống quản lý môi trường – Hướng dẫn chung về nguyên tắc, hệ thống và kỹ thuật hỗ trợ
- ISO 14010: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Nguyên tắc chung
- ISO 14011: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Quy trình đánh giá - Đánh giá hệ thống quản lý môi trường
- ISO 14012: Hướng dẫn đánh giá môi trường – Chuẩn cứ trình độ của chuyên gia đánh giá
Việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 làm giảm lượng chất thải thông qua:
- Cải thiện bắt buộc năng suất, công suất, kỹ thuật
- Thiết lập, cải thiện quan hệ giữa nhà sản xuất với nhà quản lý, cộng đồng dân cư, các tổ chức nghiên cứu khoa học và các mối quan hệ với nước ngoài
- Giảm rào cản thương mại, mở rộng thị trường cho các sản phẩm tái chế
- Xác lập nhãn mác sinh thái, tạo cạnh tranh lành mạnh trong sản xuất
Trang 29Chứng chỉ ISO 14001 có các lợi ích sau:
- Là một bằng chứng rõ ràng với các khách hàng và các cơ quan tài chính về quản lý môi trường có trách nhiệm;
- Cải thiện hình ảnh của tổ chức; và
- Cho phép tổ chức đánh giá và quản lý các tác động môi trường của mình một cách có hiệu quả
Kiểm toán môi trường/Kiểm toán chất thải
Kiểm toán chất thải là một trong các nội dung chính của kiểm toán môi trường, trong đó các bước kiểm toán được tiến hành theo trình tự sau:
- Xác định các dòng thải, nguồn thải
- Phân tích các nguyên nhân gây ra các dòng thải
- Thiết lập và đề xuất các giải pháp ưu tiên cho các hoạt động giảm thiểu chất thải
- Sàng lọc các giải pháp
- Thực hiện
- Duy trì các hoạt động giảm thiểu
- Đánh giá sự tiến bộ của các giải pháp giảm thiểu
Kiểm toán chất thải về thực chất là một trong những nội dung quan trọng của
hệ thống quản lý môi trường Thực hiện kiểm toán chất thải sẽ giúp thống kê được khối lượng chất thải, nguồn thải từ đó đưa ra các giải pháp xử lý, thúc đẩy phát triển 3R
b) Các biện pháp kỹ thuật đối với từng loại chất thải
Đối với chất thải rắn
Trang 30Các kỹ thuật và công nghệ tái chế chất thải rắn thường đơn giản hơn so với nước thải và khí thải Sau đây là một số qui trình công nghệ về tái chế nhựa, giấy và kim loại
Tái chế nhựa: Tái chế chất dẻo là quá trình phục hồi các mảnh nhỏ hoặc phế
liệu nhựa và tái chế nguyên liệu đó thành những sản phẩm có ích Có rất nhiều loại chất dẻo trên thị trường chủ yếu là: PET hay PETE (polyethylene terephthalate); HDPE (high-density polyethylene); PVC (polyvinyl chloride); LDPE (low-density polyethylene); PP (polypropylene); PS (polystyrene or polystyrene foam) Ngoài ra
còn một số loại chất dẻo khác nhưng quá trình tái chế chất dẻo này khá phức tạp
Quá trình tái chế bất kỳ loại chất dẻo nào đều diễn ra như sau:
- Phân loại các thành phần khác nhau của các loại polymer để quy trình tái
chế chúng được diễn ra tách biệt nhằm đảm bảo chất lượng cao nhất cho nguyên liệu Các phần kim loại, nhãn hiệu, bụi bẩn được bỏ đi và làm sạch
- Nghiền/cắt miếng để giảm kích cỡ các miếng dẻo lớn
- Nung: Nguyên liệu thô của chất dẻo và các chất phụ gia được nung chảy và
được chế biến thành từng viên và được làm nguội trong nước Sau đó được làm khô
và đóng thành từng khối khác nhau
Tái chế giấy: Tái chế giấy là một quá trình biến các thớ gỗ (fiber) phế thải trở
thành một sản phẩm giấy có thể sử dụng được Mỗi một loại giấy khác nhau (giấy báo, giấy hỗn hợp dùng trong văn phòng) có một quy trình tái chế khác nhau Tuy nhiên, một quy trình tái chế giấy thường bao gồm những bước sau:
i) Nghiền: đổ nước và dùng tác động hóa học để phân tách các thớ gỗ với nhau
ii) Sàng lọc: sử dụng các miếng lưới, có lỗ hay có khe rãnh, nhằm loại bỏ những chất gây ô nhiễm có kích thước lớn hơn các thớ gỗ đã bị nghiền
iii) Tẩy mực: đưa các bọt không khí qua các hỗn hợp sền sệt với sự có mặt của một chất hoạt tính bề mặt, khiến cho các phân tử mực được thu gom bởi các bọt
Trang 31trên bề mặt Bằng cách loại bỏ các bọt bị nhiễm bẩn, các bột giấy được làm sạch và sáng hơn
iv) Làm sạch: Đổ nước vào các hỗn hợp bột giấy để phân tách các phân tử nhỏ
v) Tẩy trắng: nếu cần tái chế thành giấy trắng, quá trình tẩy trắng sẽ được áp dụng bằng cách sử dụng peroxides và hydrosulfites để loại bỏ màu từ hỗn hợp bột giấy
vi) Sản xuất giấy: quá trình tái chế thớ gỗ đã được làm sạch (hoặc/và được tẩy) thành giấy mới cũng giống như quá trình sản xuất giấy nguyên sơ
Mỗi một lần tái chế, các thớ gỗ sẽ ngắn và yếu đi vì vậy cần phải pha trộn giữa các bột giấy nguyên sơ với giấy tái chế để tăng độ khỏe của giấy Giấy chỉ có thể tái chế 4 – 6 lần
Tái chế kim loại: Tất cả các kim loại đều được sản xuất từ các khoáng sản và
quặng (chẳng hạn như quặng sắt) tìm thấy trong đất, các loại đá và bề mặt trái đất
Để chuyển các quặng thô sang các kim loại hữu dụng, các nghành công nghiệp sử dụng một khối lượng lớn năng lượng để nấu chảy và chiết xuất ra những kim loại nguyên chất Tuy nhiên, quá trình sản xuất thường chỉ là thay đổi hình dạng của kim loại chứ không phải đặc tính của chúng (trừ các hợp kim và các hỗn hợp khác) Vì vậy, tái chế kim loại thực chất chỉ là một quá trình nung chảy và thay đổi hình dạng
của chúng
Khi nói tới tái chế kim loại người ta thường nhắc tới thép và nhôm Các loại kim loại khác như đồng, vàng, bạc, kẽm, chì và đồng thau đều có thể tái chế nhưng
do chúng có giá trị cao nên ít khi bị vứt bỏ đi
- Tái chế thép: Công đoạn đầu tiên trong quá trình tái chế đó là phân loại
Một nam châm lớn sẽ được sử dụng để phân loại các phế thải làm bằng thép Sau khi
đã được phân loại, chúng sẽ bị ép thành từng khối lớn và đem đi tái chế Các phế phẩm có thể được cho thẳng vào lò luyện kim hay được tách thiếc trước khi cho vào
Trang 32nung chảy Sau khi đã được nung chảy chúng có thể được tái chế thành những sản phẩm thép mới Các phế phẩm thép cũ sau khi tái chế có thể trở thành một sản phẩm
gần như mới
- Tái chế nhôm: Nhôm được làm từ khoáng sản bauxite Công đoạn chuyển bauxite thành nhôm không đơn giản chỉ là nung chảy quặng và phục hồi thành kim loại Một dòng điện lớn sẽ được sử dụng để phân tách các phân tử nhôm khỏi quặng hóa lỏng Điều này đòi hỏi phải sử dụng một nguồn điện lớn Qua quá trình chiết xuất này, năm tấn bauxite chỉ có thể chuyển đổi thành một tấn nhôm Tại cơ sở tái chế, các khối nhôm được nung chảy và đóng thành những thỏi Những thỏi này sẽ được sử dụng trực tiếp để sản xuất các sản phẩm công nghiệp hoặc được chuyển thành các tấm nhôm để sử dụng vào các mục đích khác
Ủ phân hữu cơ (chế biến phân compost): Ủ phân đơn giản chỉ là một phương
pháp phá vỡ các chất hữu cơ trong một thùng container lớn Quá trình phân huỷ xảy
ra bởi các hoạt động diễn ra tự nhiên của vi sinh như vi khuẩn hay nấm Các động vật không xương sống nhỏ khác như giun đất và các động vật nhiều chân khác, cũng đóng góp vào quá trình ủ phân Ủ phân có thể chuyển các chất thải hữu cơ thành phân hữu cơ tối màu và giàu chất dinh dưỡng hoặc chất bùn chỉ trong vòng một vài tuần hay tháng Ủ phân tự nhiên hay sự phân hủy xảy ra mọi nơi mọi lúc trong thế giới tự nhiên Các thành phần hữu cơ, các phần còn lại của động thực vật chết được phá vỡ và phá hủy bởi các vi sinh và bị các động vật không xương sống ăn Tuy nhiên, trong điều kiện được kiểm soát, quá trình này có thể xảy ra nhanh hơn
Ở nước ta trong những thập niên 60-70 của thế kỷ 20, phong trào phân bắc, phân xanh đã được phổ biến rộng rãi đến mọi vùng nông thôn miền Bắc, đã sử dụng những biện pháp ủ phân từ các nguyên liệu như lá cây, bèo hoa dâu, v v để chế tạo
phân bón cho nông nghiệp
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải và bài học rút ra cho Việt Nam
Trang 331.3.1 Một số nước phát triển
a) Cộng hòa Liên bang Đức
Cộng hòa Liên bang Đức đã thực hiện một số biện pháp liên quan đến 3R như sau:
- Cấm chôn lấp chất thải chưa được xử lý từ 01/06/2005 Chất thải phải được
xử lý bằng các quá trình nhiệt (đốt) hoặc cơ/sinh học để đảm bảo yêu cầu không chôn lấp chất thải hữu cơ Như vậy tránh được việc phát sinh khí và nước rỉ rác, đồng thời khuyến khích giảm thiểu, phân loại tại nguồn, tái chế, do giá thành xử lý chất thải hỗn hợp rất cao (200EUR/tấn)
- Hỗ trợ và tham gia Nhóm công tác phòng ngừa và tái chế chất thải (WGWPR) của OECD với mục đích hướng tới nền kinh tế quay vòng (circular economy) Thực hiện một số nghiên cứu về vấn đề này và chia sẻ kinh nghiệm với các nước khác
- Phân loại tại nguồn: thực hiện chương trình phân loại rác thải sinh hoạt tại
hộ gia đình, theo đó các loại chất thải bao bì, giấy, chất thải hữu cơ, kính, chất thải cồng kềnh và chất thải độc hại được tách ra khỏi chất thải sinh hoạt Tỷ lệ tái chế: chất thải sinh hoạt: 60%; chất thải xây dựng: 86%; thuỷ tinh: 88%; giấy: 88%; tổng cộng chung: 66%
- Chính sách, pháp luật của Đức nằm trong hệ thống chính sách của EU tuy nhiên ở Đức có những qui định khắt khe hơn của EU về quản lý chất thải Khối tư nhân, chính quyền các thành phố và các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong 3R
- Nỗ lực phòng ngừa phát sinh chất thải được thực hiện ở cấp địa phương, khu vực và cơ sở công nghiệp Pháp luật quốc gia chỉ qui định khung về các hoạt động tái chế, tái sử dụng hoặc tiêu huỷ chất thải Thiết lập các yêu cầu và tiêu chuẩn cao đối với những hoạt động phát sinh chất thải làm tăng giá thành của việc phát
Trang 34sinh chất thải Điều này thúc đẩy phòng ngừa, phân loại tại nguồn và tái chế chất thải
- Các bãi chôn lấp rác được quy hoạch, xây dựng và vận hành chủ yếu bởi chính quyền thành phố hoặc công ty nhà nước Người phát sinh chất thải phải trả phí tương đương chi phí xử lý (pay-as-you-throw) Chỉ có một số ít cơ sở tư nhân quản
lý bãi chôn lấp các loại rác đặc biệt dưới sự kiểm soát của chính quyền
- Về vận chuyển xuyên biên giới, Đức là nước xuất khẩu các loại chất thải kim loại, nhựa (PET), giấy, điện điện tử, xe hơi cũ, v.v… Vấn đề có thể phát sinh ở chỗ, việc phân biệt chất thải nguy hại và không nguy hại đôi khi không rõ ràng trong khi nước nhập khẩu thường có các tiêu chuẩn thấp hơn về quản lý chất thải Ngoài
ra, giá thành xử lý chất thải thấp ở các nước nhập khẩu cũng làm thúc đẩy nhập khẩu chất thải và không khuyến khích giảm thải
Việc chuyển giao công nghệ quản lý chất thải thân thiện môi trường sang các nước có tiêu chuẩn thấp hơn là rất quan trọng Nước Đức đã thực hiện điều này thông qua các dự án pilot, hỗ trợ kỹ thuật Mục đích là nâng cao yêu cầu và tiêu chuẩn về chất thải Trong các trường hợp này Công ước Basel được sử dụng như một công cụ đắc lực để bảo vệ các nước nhập khẩu chất thải
b) Cộng hoà Pháp:
Cộng hoà Pháp đã ban hành Kế hoạch quốc gia về phòng ngừa chất thải (National Plan for Waste Prevention) vào tháng 4/2004, trong đó một số hoạt động liên quan đến 3R đã được thực hiện như sau:
- Thực hiện chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng về giảm thiểu chất thải trong 3 năm, bắt đầu từ 10/2005 Nội dung của chương trình là giải thích cho công chúng hiểu rõ việc giảm thiểu chất thải trong 10 hoạt động hàng ngày của con người, ví dụ như uống nước từ vòi (giảm thiểu lượng vỏ chai), mua các sản phẩm ít bao gói, làm phân compost tại nhà, v.v… Kết quả sơ bộ ban đầu cho thấy công chúng rất hào hứng tiếp nhận thực hiện và sẽ là hứa hẹn cho những năm tiếp theo
Trang 35- Xây dựng tiêu chuẩn thử nghiệm về thời gian lưu hành hiệu quả của sản phẩm (product expected effective lifetime – PEEL): Một số nhà sản xuất đã công bố cho người tiêu dùng biết về PEEL của sản phẩm như bóng đèn, pin, vật liệu xây dựng, v.v Điều này giúp cho người tiêu dùng có thêm thông tin, giảm mua sắm không cần thiết, đồng thời tăng khả năng tái chế của sản phẩm Hội đồng quốc gia về quản lý chất thải đã yêu cầu Hội tiêu chuẩn Pháp xây dựng các tiêu chuẩn về PEEL cho các sản phẩm này
- Cam kết tự nguyện giảm số lượng túi đựng hàng từ các công ty bán lẻ lớn trong 3 năm 2003-2006: Một hội thảo đã được tổ chức với sự tham gia của chính quyền quốc gia, các công ty bán lẻ lớn, các nhà sản xuất túi đựng hàng và các tổ chức phi chính phủ vào năm 2003 Các bên tham gia đã nhất trí đặt ra mục tiêu đến
2006 giảm 50% lượng túi đựng hàng được phân phối so với năm 2003 Theo thông báo của các công ty bán lẻ lớn thì trong năm 2004 đã giảm được 15%, năm 2005 là 35% và như vậy đã đạt mục tiêu đề ra trước thời hạn Giải pháp chính ở đây là khuyến khích người dân sử dụng túi mua hàng nhiều lần
- Ban hành Nghị định về tiêu huỷ các loại tờ rơi quảng cáo, theo đó thành lập quỹ thu gom và xử lý các loại tờ rơi quảng cáo bằng sự đóng góp của chính các nhà sản xuất tờ quảng cáo này Kinh phí đóng góp khác nhau tuỳ thuộc vào chi phí xử lý Điều này bắt buộc các nhà quảng cáo phải tính đến giá thành xử lý chất thải và tìm
ra những phương thức quảng cáo ít chất thải hơn Tính trung bình hàng năm, mỗi hộ gia đình ở Pháp nhận được khoảng 40kg tờ rơi quảng cáo từ hộp thư của mình
- Bộ Môi trường đã ký thoả thuận khung với ngành nông nghiệp năm 2003 về việc thu gom và xử lý chất thải nông dược (hoá chất và bao bì) Các nhà sản xuất thuốc nông dược phải chịu các chi phí về xử lý Các thoả thuận tương tự cũng đã được ký kết cho các sản phẩm tàu du lịch cũ và tái chế rác thải nhựa nông nghiệp
- Từ những năm 90, chính quyền đã yêu cầu các nhà sản xuất phải thực hiện các nghiên cứu về quản lý chất thải (Waste Management Studies) để xác định khối lượng, tính độc hại chất thải của mình và xác định phương án xử lý
Trang 36- Về vận chuyển chất thải xuyên biên giới, CH Pháp xuất khẩu một ít chất thải bao bì (khoảng 10% giấy bao gói được xuất khẩu để tái chế) Vận chuyển chất thải không nguy hại, có thể tái chế sẽ làm tăng hiệu quả của nền kinh tế toàn cầu, tuy nhiên giới hạn giữa chất thải nguy hại và không nguy hại cần phải được xác định rõ
và cần được hướng dẫn bằng các qui định quốc tế
- Thực hiện cơ chế tăng cường trách nhiệm của nhà sản xuất (extended producers responsibility - EPR) đối với các loại sản phẩm bao bì, pin, phương tiện giao thông, điện điện tử và khuyến khích cắt giảm phát thải khí nhà kính
- Canađa đã ban hành qui định mới về xuất nhập khẩu chất thải nguy hại và vật liệu nguy hại có thể tái chế tháng 11/2005 với việc tách riêng các định nghĩa về chất thải và vật liệu có thể tái chế (recyclable materials) Qui định này cũng đã đưa
ra các chỉ tiêu quản lý thân thiện môi trường và xây dựng kế hoạch giảm xuất khẩu
- Cập nhật và thống kê chương trình EPR với hơn 50 chương trình EPR khác nhau cho nhiều loại sản phẩm khác nhau như xăm lốp, giấy, sơn, tủ lạnh, pin, v.v
- Xây dựng Chiến lược quốc gia về tái chế và phục hồi tài nguyên (National Resource Recovery and Recycling Strategy) với sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan Chiến lược đưa ra cơ chế phục hồi tài nguyên bền vững mang lại hiệu quả
về xã hội, kinh tế và môi trường Chiến lược bao gồm các nội dung quan trọng như
Trang 37xác định các chính sách, xây dựng cơ sở dữ liệu, thông tin, công nghệ và sáng chế, truyền thông, v.v
- Phát hành sách hướng dẫn “Chất thải rắn là nguồn tài nguyên - Sổ tay cho các cộng đồng bền vững” phổ biến khái niệm rác-nguồn tài nguyên và hỗ trợ chính quyền địa phương xây dựng các hệ thống quản lý phát triển các cộng đồng bền vững (sustainable community)
- Thực hiện việc xem xét, rà soát các công nghệ hiện đại cho quản lý tổng hợp chất thải rắn với mục đích bảo tồn nguồn tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính, giảm sự phụ thuộc vào các bãi chôn lấp rác (giảm khối lượng rác phải chôn lấp) Xác định các tác động của quản lý chất thải đối với phát thải khí nhà kính, đặc biệt thông qua phương pháp vòng đời sản phẩm để xác định lượng phát thải khí nhà kính, từ đó kết hợp với các hoạt động 3R Năm 2005, một nghiên cứu đã cho thấy cứ tái chế một tấn nhôm sẽ giảm được 6 tấn CO2 tương đương so với sản xuất nhôm từ nguyên liệu thô
- Hàng năm Canađa tổ chức “Tuần lễ giảm thiểu chất thải” vào tuần thứ 3 của tháng 10 với sự tham gia rộng rãi của các cấp chính quyền, các hội tái chế, trường
học, các doanh nghiệp và cộng đồng Phong trào được phát động với nguyên tắc Too
Good to Waste (tạm dịch “Vẫn còn tốt để thải bỏ”) và trọng tâm thúc đẩy 3R Các
loại sổ tay được soạn thảo và phân phát cho các đối tượng khác nhau (ví dụ cụ thể
có thể tham khảo tại: http://www.wrwcanada.com/pdf/Municipal_Kit_EN_2006.pdf)
- Các hoạt động khác như thành lập Quỹ xanh (Green Municipal Fund) đã tài trợ cho 486 nghiên cứu, khảo sát thực tế, dự án với tổng số tiền lên tới 275 triệu USD Chương trình thúc đẩy tái chế (Enhanced Recycling Program), kết thúc 3/2006 cũng đã được thực hiện ở cấp tỉnh, thành phố để tài trợ cho các dự án môi trường và tăng cường các hoạt động đối tác, tổ chức các hội thảo, truyền thông quảng bá và nâng cao nhận thức về các vấn đề 3R Canađa cũng tham gia tích cực vào các hoạt động hợp tác quốc tế về 3R, trong tổ chức OECD, với sáng kiến 3R của Nhật Bản
d) Nhật Bản
Trang 38Chính phủ Nhật Bản đã ban hành một số luật về tái chế bao gồm:
- Luật khuyến khích phân loại và tái chế vỏ chai, lọ và bao bì 1995
- Luật tái chế các đồ dùng gia đình 1998
- Luật tái chế vật liệu xây dựng 2000
- Luật tái chế thực phẩm 2000
- Luật tái chế các phương tiện giao thông đã qua sử dụng 2002
- Luật mua sắm xanh 2000
Cùng kết hợp với EPR, các giải pháp này cùng với sự tự nguyện của khối doanh nghiệp đã mang lại tỷ lệ tái chế chất thải đạt 16,8% năm 2003, riêng đối với chất thải công nghiệp đạt 49% năm 2003 Hiện nay, sau 10 năm thực hiện, Hội đồng môi trường quốc gia và Hội đồng công nghiệp đã rà soát, đánh giá lại luật này, đề xuất sửa đổi với những biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn việc sản xuất bao bì, vỏ chai
Chính phủ cũng đã ban hành “Kế hoạch hỗ trợ thiết lập một xã hội tái chế” (Support Scheme for Establishing a Sound Material-Cycle Society) năm 2005 với mục đích thúc đẩy các hoạt động 3R thông qua việc thiết lập các cơ sở, thiết bị xử lý
và tái chế chất thải (cơ sở thu hồi năng lượng, tái chế vật liệu và chất thải hữu cơ) rộng rãi trên toàn quốc với sự tham gia của chính quyền trung ương và địa phương Một phần ba kinh phí cho các dự án này được chính phủ cấp, phần còn lại là đóng góp của địa phương Tuy nhiên đối với những dự án công nghệ cao (như tận thu metan và các khí sinh học với hiệu suất cao), chính phủ trợ cấp đến 50% kinh phí Trong năm 2005 có 237 thành phố/đô thị lớn nhỏ đã xây dựng xã hội tái chế theo mô hình này
Về truyền thông, Bộ Môi trường Nhật Bản đã đưa ra sáng kiến khuyến khích
sử dụng furoshiki, một loại túi vải, khi mua hàng từ các siêu thị để giảm thiểu chất
thải từ các loại túi nhựa bán sẵn Mùa hè năm 2005, một chương trình quảng bá 3R
đã được thực hiện trên cả nước Nhật Bản
Trang 39Về hợp tác quốc tế, Chính phủ Nhật Bản đã tổ chức hội thảo về chất thải điện
tử tháng 11/2005 tại Tokyo, với sự phối hợp của Ban thư ký Công ước Basel Hội thảo đã xây dựng chương trình hành động và đưa ra các khuyến nghị về thực hiện các dự án quản lý chất thải điện tử thân thiện với môi trường khu vực châu Á - Thái Bình Dương Cũng trong tháng 11/2005 Mạng lưới châu Á về phòng ngừa vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới đã tổ chức hội thảo lần thứ hai thảo luận
về các vấn đề trong lĩnh vực này Các hội thảo, hội nghị về 3R cũng đã được Chính phủ Nhật Bản tích cực tổ chức với sự tham gia của các nước trong khu vực và trên thế giới Chính phủ Nhật Bản, thông qua tổ chức JICA cũng đã tích cực hỗ trợ các nước đang phát triển trong lĩnh vực này
Những kết quả về 3R ở Nhật Bản có thể kể đến tỷ lệ chất thải chôn lấp giảm
từ 85 triệu tấn chất thải công nghiệp và 19 tấn chất thải đô thị xuống còn 40 và 9 triệu tấn và tỷ lệ tái chế tăng Tỷ lệ tái chế một số loại sản phẩm đã tăng đáng kể, đến năm 2003: điều hoà: 81%, TV: 78%, tủ lạnh: 63%, máy giặt: 65%
Kết quả này đạt được là nhờ những nỗ lực thực hiện các chính sách cũng như thực hiện nghiêm EPR, xây dựng các diễn đàn về 3R Một diễn đàn quan trọng là Diễn đàn thúc đẩy các hoạt động về 3R với sự tham gia của chính quyền địa phương, các công ty tư nhân, công nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức chính phủ/phi chính phủ được thành lập tháng 1/2006 Diễn đàn này đã tổ chức hội thảo “Zero-Waste Partnership Conference” (tạm dịch “Hợp tác về Không chất thải”) với mục tiêu xây dựng xã hội không-chất-thải
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, việc giảm khối lượng chất thải phát sinh đang bị chậm lại Vấn đề nữa là mặc dù việc chôn lấp chất thải bất hợp pháp (illegal dumping) và khối lượng chôn lấp có giảm song vẫn còn tồn tại Chính phủ
đã có một số biện pháp như tăng phí xử lý chất thải và chỉnh sửa lại Luật quản lý chất thải và vệ sinh công cộng để tăng mức phạt đối với hành động chôn lấp bất hợp pháp
Trang 40Về xuất nhập khẩu chất thải, Nhật Bản xuất khẩu các phế liệu kim loại (thép, đồng và nhôm), giấy, và nhựa tới 90% sang Trung Quốc và Hồng Kông Nhập khẩu các loại chất thải tái chế vào Nhật đã giảm xuống còn 60% so với 1990 với các chất nhập chủ yếu là dầu thực vật, xỉ lò cao và thép phế liệu Cũng giống như các nước phát triển khác, việc phân biệt chất thải có thể tái chế nguy hại hay không ở các nước nhập khẩu thường không rõ ràng và gây cản trở Mặt khác, các loại hàng cũ điện tử (second-hand) đôi khi cũng bị coi là chất thải và bị trả lại Nhật Bản
Việc xuất nhập khẩu chất thải có thể tái chế như là phế liệu đôi khi có hiệu quả kinh tế cao, có lợi ích cho cả hai bên Tuy nhiên, cũng có trường hợp lợi dụng chủ trương này để xuất khẩu và vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới Để tránh tình trạng này Nhật Bản thường xuyên cung cấp thông tin đến các đối tác thông qua Mạng lưới châu Á về phòng ngừa vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới
e) Hoa Kỳ
Hoa Kỳ hiện tại tái chế 30% chất thải rắn, khuyến khích các hoạt động 3R đặc biệt trong hai thập niên gần đây Các hoạt động đươc bắt đầu năm 1987, khi xà lan Mobro chở 3.000 tấn rác phải đi lang thang trên biển vì không tiểu bang nào chịu chấp nhận chôn lấp Thông điệp gửi tới cộng đồng lúc đó là “Đã hết đất dành cho các bãi rác” Từ đó, các hoạt động 3R đã được thúc đẩy mạnh mẽ Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) khuyến khích tái chế và compost rác thải, nhưng luật pháp liên bang không bắt buộc các cấp chính quyền địa phương phải thực hiện mà các chính sách này thường được cấp chính quyền bang và địa phương thường ban hành trong lãnh thổ của mình
Một trong những bang có hoạt động 3R tích cực nhất là California Năm
1989, California đã ban hành Luật quản lý chất thải tổng hợp, (California Integrated Waste Management Act) còn gọi là luật AB939 (Assembly Bill 939), với mục tiêu
đề ra là giảm lượng rác chôn lấp 25% đến 1995 và 50% đến 2000 Theo luật này, các thành phố và hạt thuộc bang không đạt chỉ tiêu có thể bị phạt đến 10.000$/ngày