Lý luận về lạm phát tiền tệ
Trang 1Lời nói đầu
Lạm phát là một hiện tợng kinh tế phức tạp gắn liền với sự tăng lên đồng loạt của giá cả và sự mất giá cảu tiền tệ Nói đến lạm phát có thể có nhiều ngời cảm giác nh quen thuộc và cho rằng đây là vấn đề đã gặp Tuy nhiên là vấn đề
đã gặp nhng lúng túng và lo lắng lạm phát mỗi lần xuất hiện đều mang theo một sức tàn phá tiềm ẩn, làm giảm sút mức sống của ngời dân và có thể nếu ở một mức nào đó thì lạm phát gây ra rối ren chính trị – xã hội
Lạm phát là một phạm trù kinh tế vĩ mô, chứa đựng nội hàm phức tạp Lạm phát là một căn bệnh tiềm ẩn đối với nền kinh tế phát triển theo kinh tế thị trờng, no xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các dáu hiệu mất cân đối , mất cân đối giữa cung và cầu hàng hoá, mất cân đối giữa cung – cầu tiền tệ Lạm phát là một vấn đề lớn , khó và phức tạp nên mỗi khi nó xuất hiện lại đòi hỏi nhiều tâm trí và sức lực của các nhà kinh tế, các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nàh quản lý lao tâm, khổ trí nhằm tìm ra các giải pháp kiềm chế
nó để tránh hậu quả do no gây ra
Trong vài năm qua nền kinh tế Việt nam có những nét ngày càng khởi sắc Chẳng hạn n tốc độ phát triển kinh tế đã từ 4,8 năm 1999 lên 7% năm 2003.Năm 2004 chúng ta đã thàng công kiềm chế đợc tỷ lệ lạm phát ở một con
số Nhng nguy cơ lạm phát trong những năm tiếp theo vẫn còn tiềm ẩn Vì vậy bài viết này với đề tài “Lý luận về lạm phát tiền tệ” đợc xây dựng xuất phát từ vấn đề lạm phát là cần thiết, cấp bách của lạm phát Nhng vói lợng kiến thức cha thật đủ vì vậy em hy vọng đợc sự góp ý, nhận xét của giáo viên hớng dẫn
Trang 2sự tăng gía của một vài hàng hoá riêng lể nào đó thì cha có thể gọi là lạm phát, khi giá của của một vài hàng hoá khác lại giảm mà mức giá chung không tăng lên Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát Nhiều công trình nghiên cứu tìm kiếm bản chất, nguyên nhân và hậu quả của lạm phát đuợc tiến hành trong nhiều thập kỷ qua Hiện nay đã và đang có nhiều cuộc tranh luận kéo dài của các trờng phái khác nhau xung quanh vấn đề bản chất và các yếu tố tác động đến lạm phát.
Lạm phát có thể đợc định nghĩa đúng nhất là xu hớng duy trì mức giá chung cao Sự tăng giá của bất kỳ hàng hoá đơn lẻ nào đó không gọi là lạm phát nếu giá của các hàng hoá khác lại giảm Lạm phát làm cho đời sống kinh tế giảm sút, tình trạng thất nghiệp tăng lên, bất bình xã hội nhiều thêm Do vậy, lạm phát là “nguyên nhân chính gây ra sự rối loạn chính trị”, và “là một vấn đề
đặc thù ở các nớc phát triển nó gây ra nhiều tranh cãi về những nguyên nhân, giải phát và các chính sách phù hợp”
Trang 3và 1994 là bao nhiêu? Câu trả lời là 6,4% Phép tính đợc thực hiện nh sau:
Tỷ lệ lạm phát = (149 - 140)/ 140Chỉ giá: chỉ số giá tiêu dùng, đôi khi đợc gọi là chỉ số mức sống, bao gồm những hàng hoá mà một ngời làm công ở đô thị và công nhân văn phòng mua,
nh lơng thực, nhà ở, đồ dùng gia đình, đi lại, quần áo, dịch vụ y tế và giải trí Chỉ số giá bán buôn bao gồm hàng trăm hàng hoá nh nông sản và lơng thực chế biến, cũng nh hàng công nghiệp và hàng dệt, nhiên liệu, hoá chất, cao su, gỗ, giấy, kim loại, mấy móc, dụng cụ gia đình, chất khoáng phi kim, và phơng tiện vận tải Một chỉ số giá khác đợc các nhà kinh tế thờng dùng là chỉ số thiểu phát giá ẩn Chỉ số thiểu phát giá ẩn bao gồm các thành phần của tổng sản phẩm quốc nội – dịch vụ ngời tiêu dùng, hàng lâu bền và nhânh hỏng, đầu t cố định cho nhà ở và đầu t cố định khac, xuất khẩu và nhập lhẩu, và hàng hoá và dịch vụ
mà chính phủ mua
Cấu trúc của một chỉ số giá Vì lạm phát đợc đo bằng các chỉ số giá nên việc hiểu các chỉ số giá đợc hình thành nh thế naod là rất quan trọng Một minh hoạ đơn giản có thể chỉ ra các nguyên tắc thiết yếu tạo nên chỉ số giá tiêu dùng Gỉa sử một gia điình chi $20.000 , $21.000, $22.000 vào lần lợt các năm 1992,
1993 1994 cho những rổ hàng hoá giống nhau Nếu năm 1992 đợc dùng làm năm cơ sở, chỉ số cho hàng hoá vào năm nay là 100 Bằng các chia chi phí của
rổ hàng hoá đố vào năm 1993 ($21.000) cho chi phí trong năm cơ sổ ($20.000)
và nhân 100 để loại bổ phân sô, ta đợc là 105 cho năm 1993 Theo cách tơng tự, chỉ số của năm 1994 là 110, hoặc :
Chi phí cho rổ hàng hoá (năm 1994) $22.000 x 100
x 100 = = 100Chi phí cho rổ hàng hoá (năm 1992) $20.000
Rổ hàng hoá đợc sử dụng để tính chỉ số giá là nhóm mẫu đại diện cho số ợng hàng hoá của mỗi hàng trong rổ – số áo váy, áo sơ mi, ổ bánh mỳ, lít
Trang 4l-xăng, vé xem phim, vô tuyến, xe hơi đợc mua trong một năm cụ thể Tổng của các kết quả tính đợc đó nhân với giá với khối lợng của mỗi hàng trong rổ hàng hoá cho ta giá trị của rổ hàng Sau khi tính đợc giá của rổ hàng hoá, bớc cuối cùng để tính chỉ số giá là chọn năm cơ sổ và tính các chỉ số nh mô tả trên.Một bộ các chỉ số giá không phải là thớc đo hoàn hoả của lạm phat Chỉ một mẫu hàng hoá đợc tính trong chỉ số Khó xác định hàng hoá nào tạo nên một nhóm đại diện và nó thay đổi theo thời gian trớc sự thay đổi thị hiếu và sở thích của ngời tiêu dùng Cũng khó tính đến sự thay đổi trong lợng hàng hoá diễn ra theo thời gian; đối với một vài hàng hoá tốt hơn chứ không phải chi phí cao hơn cho hàng hoá với chất lợng nh thế Mặc dù không hoàn hảo chỉ số giá vẫn là chỉ số hữu ích để đo xu hớng của giá.
đầu phát huy ảnh hởng Kết quả là tỷ lệ lạm phát hàng năm trong giai đoạn năm
1965 , 1970 hơn gấp 3 lần tỷ lệ lạm phát của đầu thời kỳ (4,6%) Thập niên
1970 khởi đầu với tỷ lệ lạm phát cao lhoang 6% và kết thúc bằng một tỷ lệ cao hơn nhiều là 10% Điều gì đã xảy ra? Làm thế nào mà các nhà hoạch định chính sách lại để lạm phát ra ngoại tầm kiểm soát ? Trớc hết, vào những năm cuối của thập niên 1960, không hành động nào đợc thực hiện để hạn chế các yếu tố gây lạm phat Cách hiệu quả nhất để kiểm soát lạm phát tiền công và giá đợch hiện hành vao những năm đầu thập niên 1970 để ngăn chặn vấn đề lạm phát Kiểm soát tiền công và giá chỉ đối phó lại với các triệu chứng của lạm phát mà không phải là nguyên nhân cơ bản cảu lạm phát Năm 1974 không thực hiện kiểm soát năm và tỷ lệ lạm phát là 11%.Một yếu tố cuối cùng cần xem xét để đánh giá
Trang 5lạm phát tràn lan của giai đoạn này là giá năng lợng tăng Tăng giá của một đầu vào quan trọng nh năng lợng tăng Sau đó, một phần tỷ lệ lạm phát cao 10,6% giữa năm 1975 và 1980 phản ánh giá sản xuất hàng hoá và dịch vụ cao hơn.
0 2 4 6 8 10 12
60-65 66- 70 70 - 75 75- 80 80 -85 85 - 90 90 - 94
Tỷ lệ lạm phát
Hình 1Các yếu tố gây ra lạm phát đợc kiểm soát và những năm 1980.Để làm đợc
nh vậy, nền kinh tế phải trải qua suy thoái nghiêm trọng vào năm 1982 và 1982 Suy thoái kinh tế thờng diễn ra sau một thời gian dài lạm phát, vì để loại trừ lực lợng gây lạ phát nền linh tế thờng phải chững lại hoặc suy giảm Tỷ lệ lạm phát năm trung bình là 6.1% giữa năm 1980 và 1985 Tuy nhiên tỷ lệ lạm phát trung bình này chịu ảnh hởng mạnh của tỷ lệ lạm phát 13.5% của năm 1980.Tỷ lệ lạm phát giảm xuống còn 4,3% trong giai đoạn 1990 –1994 Bài học có thể rút ra
từ giai đoạn lịch sử này là tỷ lệ lạm phát rất cao phản ảnh thất bại trong giải quyết vấn đề lạm phát khi lạm phát khi lạm phát lần đầu nảy sinh trong nền kinh tế Các yếu tố gây ra lạm phát và c xử theo cách sẽ gây ra lạm phát
Trang 6III nguyên nhân và hậu quả của lạm pháP.
1 Nguyên nhân.
a Lý thuyết cơ cấu về lạm phát.
Theo lý thuyết này, nguyên nhân của lạm phát là do sự mất cân đối về cơ cấu kinh tế, mâu thuẫn về phân phối gây ra tăng giá Cơ chế lan truyền đã tạo nên căng thẳng thêm các mâu thuẫm đó và dẫn đến lạm phát tăng lên Các nhà kinh tế theo trờng phái cơ cấu cho rằng lạm phát là tất yếu của nền kinh tế khi muốn tăng trởng cao nhng lại tồn tại nhiều khiếm khuyết, hạn chế và yếu kém Lạm phát do mất cân đối cơ cấu kinh tế xuất hiện khi có quan hệ không bình th-ờng trong các cân đối lớn của nền kinh tế nh công nghiệp – nông nghiệp, công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, sản xuất – dịch vụ, xuất khẩu – nhập khẩu, tích luỹ – tiêu dùng Thực tế lạm phát ở ccác nớc Châu Mỹ La tinh thờng gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế trong bối cảnh từ một nớc kém phát triển với nền kinh tế hớng nội chuyển sang nền kinh tế hớng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu Những thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế thờng dẫn đến giá tăng lên khi cơ cấu thị trờng cha đợc hoàn chỉnh, các nguồn vật lực có giới hạn, các quan hệ không đợc đặt trong một sự cân đối hợp ls, năng lực sản xuất không đợc khai thác hết, trạng thái cừa thừa vừa thiếu xuất hiện Cụ thể, tình trạng mất cân đối thờng xuất hiện là:
- Mất cân đối giữa cung và cầu lơng thực thực phẩm (cung nhỏ hơn cầu)
- Ngoại tệ có hạn do nhập nhiều hơn xuất;
- Ngân sách thâm hụt và bị hạn chế do thu đợc ít nhng nhu cầu chi cao
- Lạm phát cơ cấu có thể viết dới phơng trình sau:
Có thể lý giả những hiện tợng trên là, mất cân đối giữa cung và cầu lơng thực thực phẩm là do quá trình đô thị hoá, những ngời sống ở đô thị có nguồn thu nhập cao lên làm cho nhu cầu tiêu dùng lơng thực thực phẩm tăng lên, nhng sản xuất nông nghiệp lại cha đợc quan tâm phát triển đúng mức đã làm lợng
Trang 7cung lơng thực thực phảm bị hạn chế, và kết qủa làm cho cầu nhiều hơn cung quá mức đã đẩy giá lơng thực, thực phâm lên cao.
Mất cân đối giữa cung và cầu ngoại tệ xẩy ra đối với những nớc nhập khẩu nhiều hơn xuất (thờng là nhập siêu quá cao) và không có luồng ngoại tệ nào khác ngoài xuất khẩu để có ngoại tệ nhập khẩu đã dẫn đến cán cân thanh toán quốc tế của những nớc này lâm vào tình trạng khó khăn và buộc họ phải phá giá
đồng tiền làm cho lạm phát tăng lên
Kinh tế đồi hỏi tăng trởng nhanh nhng nguồn vốn trong nớc lại hạn chế, trong đó, thu ngân sách có hạn mà nhu cầu chi thì cao nên nhiều nớc đã phát hành tiền cho ngân sách vay để bảo đảm chi và đây là một nguyên nhân dãn đến lạm phát
Để kiểm soát đợc lạm phát đòi hỏi phải loại bỏ những mất cân đối nêu trên, nh tăng sản xuất lơng thực – thực phẩm, tăng xuất khẩu trên cơ sổ tạo
điêu kiện thuận lời cho sảm xuất để xuất khẩu phát triển, cải tiến cơ chế tỷ giá hối đoái có lợi cho ngời làm hàng xuất khẩu, hạn chế chi tiêu của Chính Phủ và xã hội, chỉ chi ở mức thu đợc, không để thâm hut ngân sách quá cao
Trang 8sách vay)để đáp ứng nhu cầu tăng chi tiêu dùng của Chính phủ và xã hội Do
đó, ngoài thị trờng thì cung tiền tệ , và khan hiếm hàng hoá tăng lên kết quả lạm phát ngày một cao
Lạm phát tiền tệ đợc viết dới phơng trình sau :
l = m – gTrong đó m: Tốc độ tăng trởng tiền tệ
g : tốc độ tăng trởng GDP thực
Theo nhà kinh tês học MILTON FRIEDMAN: Lạm phát do cung tiền tệ cao là hiện tọng xảy ra khi Ngân hàng Trung Ương cung ứng một lợng tiền vợt quá cầu về tiền tệ của nền kinh té để bù đắp thâm hụt Ngân sách nhà nớc hay
mở rộng tín dụng cảu các Ngân hàng thơng mại
Khi lợng tiền quá lớn nằm trong tây ngời dân sẽ tăng tổng cầu hàng hoá và dịch vụ mà tổng cung hàng hoá và dịch vụ ở một thời điểm nhất định cha kịp tăng làm cho giá tăng lên Để kiểm soát loại lạm phát này phải sử dụng cách tiếp cận tiền tệ trong đó khống chế tổng phơng tiện thanh toán ở mức tăng cung tiền tệ tơng ứng với mức kiểm soát tăng lơng, khống chế hạn mức tín dụng.Các nhà kinh tế cũng không phản đối những mất cân đối của nền kinh tế làm tác động gây cho giá tăng lên, nhng họ lý giải rằng chung quy vẫn là do l-ợng cung tiền tệ vợt qua cầu vì cho rằng nếu không có cung tiền tệ tăng lên thì cầu hàng hoá sẽ bịi khống chế lại và giá cũng không thể tăng lên do đã tạo ra đ-
ợc một sự cân bằng thị trờng mới ở mức cung cầu tiền tệ và hàng hoá giới hạn Chẳng hạn nh trong những năm 1970 khi giá thị trờng quốc tês tăng lên cao do cơn sốt dầu lửa thì một số nớc vẫn không bơm tiền ra thị trờng theo tín hiệu tăng giá dầu trên thị trờng quốc tê mà khống chế lợng tiền không đổi làm cho cầu tiền tệ vợt quá cung tiền tệ đã tác động làm cho dân chung, Chính Phủ và các tổ chức phải tiêu ts xăng dầu hơn, kết quả là giá cả trên thị trờng ở một số nớc không tăng, nền kinh tế ổn định không bị tác động mạnh của cơn sốc dầu lửa trên thị trờng thế giới
Trang 9Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngời thong nhất lạm phát là một căn bệnh tiềm
ẩn của mọi nền kinh tế theo cơ chế thị trờng Lạm phát xuất hiện khi mất cân
đối giữa cuung và cầu tiền tệ Nguyên nhân của lạm phát bao gồm nhiều yếu tố thể hiện qua các hình thức, nh lạm phát do cầu kéo; lạm phát do chi phí đẩy; thiếu ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội; lạm phát do số lợng tiền nhiều so với cầu tiền tên trên thị trờng
Lạm phát do cầu kéo thực chất là do sự mất cân đôi giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ Khi tổng cầu hàng hoá và dịch vụ có khả năng thanh toán lớn hơn tổng cung hàng hoá và dịch vụ đã đâye gí tăng lên để thiết lập một
sự cân bằng mơid trên trị trờng, trong đó tổng cung bằng tổng cầu Lạm phát phụ thuộc vào độ co giãn của giá cung hàng hoá và dịch Cunug hàng hoá và dịch vụ có thể tăng nhanh do tăng giá một chút nếu độ co giãn của giá lớn Một mặt, nếu các cơ sổ sản xuất đang sản cuất hoạt động thấp hơn công suất hiện có
và còn nhiều công suất sản xuất cha đợc sử dụng thì cung hàng hoá sẽ sẽ tăng nhờ tác động tăng cầu hoá và có thể không gây ra lạm phát Mặt khác, nếu có sẵn ngoại tệ thì nhập khẩu sẽ tăng lên khi tổng cầu hàng hoá tăng, do vậy cũng
có thể không tạo tăng giá và cũng sẽ không gây ra lạm phát
Nh phân tích ở trên cho thấy, lạm phát do tổng cầu tăng lên chỉ trong trờng hợp nguồn ngoại tệ để nhập khẩu bị hạn chế, các năng lực sản xuất đã huy động hất làm cho tổng cung không thể nào tăng lên để cân bằng đợc với tổng cầu ở mức giá có định, buộc giá phải tăng lên để tạo cân bằng mới cao hơn, tức là lạm phát đã xuát hiện
Thực tế lạm phát diễn ra trong hầu hết tất cả các nền kinh tế và trong từng thời
điểm khác nhau lúc cao lúc thấp do chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô của nớc đó Các nớc Châu Mỹ La Tinh đã có thời lạm phát phi mã kéo dài nhiều năm Nguyên nhân gây ra lạm phát ở nớc này có nhiều, bao gồm các yếu tố về cơ cấu và các yếu
tố về tiền tệ Trong giai đoạn đó một số nớc châu Mỹ La Tinh đã mắc phải một số
Trang 10sai lầm, thay vì thắt chặt tiền tệ thì lại tăng chi tiêu cảu Chính Phủ thông quan tăng
l-ơng, tăng chi cho các hoạt động phi kinh tế nên lạm phát đã đang ở mức phi mã lại càng lạm phát cao hơn
Ngời tranh luận rằng trong các nền kinh tế hoạt động ở mức nh toàn bộ năng lực sản lợng, Lạm phát thờng xảy ra khi tổng cầu hànghoá dịch vụ tăng quá lợng cung chiện có, Nếu tổng cầu tăng và không có sự cân bằng tổng cung
và tổng cầu, giá sẽ tăng lên điểm cân bằng theo thị trờng mới mà ở đó cầu một lần nữa lại cân bằng với cung Cuối cùng là giá dợc đẩy cao hơn Tuy nhiên,
điều đó không có nghiãc là lạm phát chỉ do mức tăng cảu cầu
Có thể lạm phát hoàn toàn phụ thuộc vào sự co giãn về giá của cung Sản ọng có thể tăng mạnh bởi một mức tăng nhỏ về giá nếu sự co giãn về giá lớn Một mặt, nếu các nhà cung cấp đang hoạt động dới mức năng xuất lại lớn hơn nhiều, sản lợng sẽ tăng do tác động chủ yếu từ việc tăng cầu chứ không phải tạo nên vòng xoáy lạm phát
l-Mặt khác, nếu có khả năng về ngoại kối có săn, sẽ dẫn đến việc nhập một lợng hàng nhập khẩu lớn do tăng tổng cầu Do vậy, nói chung đối với nền kinh
tế, Lạm phát là một kết quả của việc tăng tổng cầu không thể tránh khỏi xét trong trờng hợp này, nếu nền kinh tế bị hạn chế về ngoại hối và đã sử dụng hết năng lực sản xuất
Khi nghiên cứu thị trờng lao động, Cook và Kirpatrick cho rằng giá tăng không chỉ do tăng tổng cầu mà còn do tình hình cung liên quan đến đặc trng hành vi bên trong của thị trờng lao động Do vậy, việcliểm soát lạm phát sẽ phụ thuộc hoặc vào việc giảm cầu trong thị trờng hàng hoá
Lạm phát do chi phí đẩy xẩy ra khi có tác động của các yếu tố bên ngoài tác động và không gắn với tình hình tổng cung và tổng cầu cảu nền kinh tế Nh chúng ta đều biết, ở hầu hết các nớc đang phát triển thờng phải nhập một lợng lớn nguyên vật liệu này trên thị trờng sản xuất trong nớc , nếu giá của những
Trang 11loại nguyên vật liệu này trên thị trờng thế giới tăng lên làm cho chi phí sản xuất các sản phẩm sẽ tăng lên (lạm phát xuất hiện khi giá nguyên vật liệu tăng, tiền công tăng, tiền công tăng lên cao hơn năng suất lao động bình quân, chi phí khấu hao lớn, máy móc thiết bị lạc hậu tiêu tốn nhiên liệu) và để bảo tồn sự tồn tại cảu các cơ sổ sản xuất trên cơ sổ đảm bảo sản xuất có lãi và bù đắp đợc chi phí bắt buộc các nhà sản xuất phải đa giá bán trên thị trờng trong nớc tăng lên theo(trờng hợp này xảy ra ở các nớc đangphát triển khi sản xuất đang ở dạng
độc quyền hoặc bán độc quyền, các quy luật thị trờng cha đợc phát huy hết)
Đây là tình trạng khi chi phi sản xuất tăng lên quá ,ức trung bình mà nền kinh tế
có thể chịu đựng đợc đã đẩy giá tăng lên Đặc điểm của laọi lạm phát này thờng diễn ra trong điều kiện nền sản xuất cha đạt tới mức giá trị sản lợng tiềm năng
so vơid năng lực hiện tại, nghiã là hiệu quả sản xuất thấp
Lạm phát chi phí đẩy là lạm phãtuất hiện từ các nhân tố ngoại sinh không liên
hệ nhiều đến vấn đề tổng cung và tổng cầu cảu nền kinh tế Cóc thể giá cảu mỗi hàng hoá h\đơn lẻ bao gồm các chi phí sản xuất và chi phi sản xuất và phi sản xuất tơng ứng là các loại chi phí tiêu hoa nguyên liệu, chi phi lao dộng, lợi nhuận và các loại thuế gián tiếp và trợ cấp trong một số trờng hợp nào đó
Không còn nghi ngờ là hầu hết ở các nớc đang phát triển nơi còn độc quyền nua và độc quyền bán, các công ty và các hãng thờng đặt giá ở mức tăng liên tục trên mức chi phí nhằm thu đợc lợi nhuận bien tăng lên cảu họ Cuối cùng, nếu chi phí đàu vào(nguyên liệu, lao động, công nghệ, )có xu hớng tăng thì cho phí hàng hoá sẽ tăng Do vậy, những thay đổi về chi phí đợc xem là nguyên nhân lạm phát
Nhiều nớc đang phát triển nhập khẩu nguyên liệu thờng bị ảnh hởng của lạm phát ở các nớc khác Trong trờng hợp này, chi phí nguyên liệu nhập khẩu tăng khi tỷ giá ngoại hối không đổi Ví dụ, khi giá dầu mỏ tăng, hầu hết các nớc
đâng phat triển phải đối mặt với vấn đề lạm phát trong những năm 70 – 80
Do đo, lạm páht từ nhập khẩu là một nguyên nhân quan trong dẫn đến lạm phát
Trang 12nội địa, nếu nớc đó phụ thuộc chủ yếu và hàng nhập khẩu dùng để làm đầu vào sản xuất.
Lạm phát chi phí đẩy bao gồm cả lạm phát do tiền lơng tăng lên và một số nhà kinh tế học cho rằng thuyết lạm phát tiền lơng đảy không phổ biến ở các n-
ớc đang phát triển Ngời ta lý giải rằng thị trờng lao động ở các nớc đang phát triển Ngời ta lý giải rằng thị trờng lao động ở các nớc đang phát triển đặc trng bởi sự phân đoạn thị trờng Tuy nhiên, khi việc làm tăng tơng ứng với tổng thu nhập và các tổ chức công đoàn vững mạnh, lý thuyết lạm phát phát tiền lơng
đẩy sẽ ngày cáng trở nên xác đáng
2 Tác hại của lạm phát.
Tuy không làm thay đổi thu nhập thực tế của mọi ngời, nhng lạm phát gây
ra nhiều tác hại thực sự đối với nền kinh tế Chính những tác hại này làm cho sự gia tăng cung tiền tác động tới các biến số thực tế
- Chi phí mòn giầy
Tác hại đầu tiên của lạm phát đợc các nhà mô tả bằng thuật ngữ chi phi mòn giầy Hiểu theo nghĩa đen, từ này có nghĩa là khi có lạm phát, mọi ngời phải đến ngân hàng nhiều lần hơn để rút tiền ra hoặc chuyển từ tiền tài khoản tiết liệm sang tài khoản thanh khoản và vì vậy giầy của họ mòn nhanh hơn, mau hỏng hơn Tuy nhiên, các nhà kinh tế thờng hiểu từ chi phí mòn giày theo nghĩa bóng, họ coi chi phí mòn giầy là chi phí để giảm lợng tiền nắm giữ
Khi lạm phát thấp, chi phí mòn giày thờng nhỏ Nhng loại chi phí này có thể lớn hoặc cực kỳ lớn ở các nớc có siêu lạm phát
Thông thờng các doang nghiệp ổn định giá bán trong một thời gian, có thể
là một tuần, một tháng, nhng cũng có thể tới vài năm Các cuộc điều tra cho thấy trung bình, các doang nghiệp không thay đổi giá thờng xuyên vì họ phải chịu chi phí cho sự thay đổi giá Các nhà kinh tế gọi chi phí này là chi phí thực
đơn Nó bao gồm các chi phí phát sinh khi doanh nghiệp phải tính toán lại giá
Trang 13hàng, in lại giá, hớng dẫn cho nhân viên bán hàng bán theo giá mới, in và phân phối các catalo mới, chi phí quảng cáo cho gia mới
Khi lạm phát tăng coa, các doanh nghiệp phải thay đổi giá thờng xuyên hơn và điều này làm tăng chi phí thực đơn mà họ phải chịu Đặc biệt khi có siêu lạm phát, chi phí sản xuất tăng lên hàng ngày và các daonh nghiệp cũng phải thay đổi giá hàng ngày, thậm chí nhanh hơn Thực tế này làm cho chi phí thực
đơn của họ tăng lên rất nhanh Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng chi phí thực
đơn của họ tăng lên rất nhanh Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng chi phí thực
đơn của họ tăng lên rất nhanh Vì vậy, chúng ta có thể kết luận rằng chi phí thực
đơn nhỏ lhi lạm phát thấp, nhng lớn, thậm chí rất lớn khi có lạm phát cao
- Những biến động của giá tơng đối và sự phân bổ nguồn lực sai lầm
Chúng ta đã biết rằng khi giá cả của hàng hoá tăng, mức giá chung sẽ tăng
và mức giá tăng thêm đợc gọi là lạm phát Nếu mức giá tăng thêm là do tốc độ tăng nh nhâu của giá cả các hàng hoá và dịch vụ gây ra, các nhà kinh tế nói chúng ta có lạm phat thuần tuý Khi lạm phát không thuần tuý xảy ra, giá các hàng hoá và dịch vụ tăng với tốc độ khác nhau Điều này làm thay đổi giá tơng
đối của các hàng hoá tại sao sự thay đổi của giá tơng đối lại quan trọng? Nó quan trọng vì nền kinh tế thị trờng dựa vào giá tơng đối để phân bổ lại nguồn lực Ngời tiêu dùng quyết định mua một hàng hoá nào đó bằng cách so sánh giá cả và chất lợng của nó với giá cả và chất lợng của hàng hoá khác Thông quaquyết định mua hàng, ngời tiêu dùng quyết định phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho các doanh nghiệp và nghàng sản xuất Khi lạm phát làm biến dạng giá tơng đối, quyết định của ngời tiêu dùng cũng bị biến dạng và thị trờng mất khả năng phân bổ nguồn lực một các có hiệu quả Đây rõ ràng là một tác hại dáng kẻ của lạm phát
- Những biến dạng của thuế do lạm phát gây ra