Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, cho đến nay đã trởthành công ty bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Hàn Quốc và là thành viên then chốtcủa Tập đoàn Hanwha, một trong 10 tập đoàn lớn nh
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -BÀI TẬP CÁ NHÂN MÔN QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC
PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC CÔNG TY
KOREA LIFE INSURANCE
Giáo viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thanh Liêm Học viên thực hiện : Hồ Tiến Thành
Lớp : Cao học QTKD K29
Đăk Lăk, tháng 6 năm 2015
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Trang 4PHẦN THỨ NHẤT GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY KOREA LIFE
1 Giới thiệu chung về công ty KOREA LIFE
- Korea Life được thành lập năm 1946, là công ty bảo hiểm nhân thọ đầutiên ở Hàn Quốc Trải qua quá trình xây dựng và phát triển, cho đến nay đã trởthành công ty bảo hiểm nhân thọ lớn nhất Hàn Quốc và là thành viên then chốtcủa Tập đoàn Hanwha, một trong 10 tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc và nằmtrong danh sách 500 tập đoàn lớn nhất toàn cầu
- Công ty đang hoạt động tại nội địa và 04 quốc gia khác nhau, bao gồm:Trung Quốc, Vương Quốc Anh, Hoa Kỳ và Việt Nam
- Với quá trình nỗ lực phát triển của mình, vào tháng 12/2007, Korea Lifevinh dự là Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hàn Quốc được xếp hạng tíndụng cao nhất là “AAA” bởi Korea Ratings và Cơ quan Kiểm định Thông tinDịch vụ Tín dụng Hàn Quốc (Korea Information Service Credit Check)
Trang 52.1 Từ năm 1946 – 1990
Đây là giai đoạn hình thành và đánh dấu những thành công ban đầu củacông ty, là nền tảng giúp cho công ty có thể mở rộng thị trường ra thế giới
Một số cột mốc đáng chú ý của giai đoạn này như sau:
- Korea Life được thành lập vào năm 1946 với số vốn là 10 triệu WON, tựhào là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hàn Quốc
- Sau 18 năm hoạt động, đến năm 1964 công ty đã mua lại các Công ty bảohiểm nhân thọ: Hyupdong Life, Dongbang Life, và Daehan Education Trongnăm này đồng thời vinh dự nhận được “Giải thưởng của Tổng thống trong đợtvận động tiết kiệm lần thứ nhất”
- Năm 1970, công ty tiếp tục vinh dự nhận được “Giải thưởng của Tổngthống trong đợt vận động tiết kiệm lần thứ ba” và đến năm 1979, tổng giá trị hợpđồng mà công ty ký kết đạt mốc 1.000 tỷ WON, điều mà chưa có công ty bảohiểm nhân thọ của Hàn Quốc đạt được
- Tiếp đà phát triển mạnh mẽ, với mong muốn thể hiện vị trí của công tymình không chỉ trong nước mà còn ở thị trường, công ty đã đầu tư xây dựng trụ
sở chính của mình tại thủ đô Seoul, khánh thành năm 1985 Đây được coi là tòanhà cao nhất Châu Á vào lúc bấy giờ
- Sau sự kiện to lớn này đó 1 năm, năm 1986, công ty công bố tổng tài sảncủa công ty đạt 1.000 tỷ WON, nhằm thể hiện và đảm bảo năng lực tài chínhmạnh mẽ nhất đến các bên hữu quan
2.2 Từ năm 1991 – 2001
Đây là giai đoạn công ty tiến hành khẳng định vị trí của mình tại thị trườngtrong nước, quảng bá thương hiệu của mình tới khách hàng thông qua một loạtcác công bố về nguồn lực tài chính cũng như các kết quả đạt được
Một số cột mốc đáng chú ý của giai đoạn này như sau:
Trang 6- Công ty tăng vốn điều lệ lên thành 30 tỷ WON vào năm 1994 đồng thờisản phẩm Niên kim Hưu trí dành cho giáo viên giành được giải thưởng “Sảnphẩm được ưa thích nhất” theo điều tra của Hiệp hội Marketing Hàn Quốc.
- Năm 1996 là năm đánh dấu nhiều sự kiện của công ty
+ Lần đầu tiên công ty cho ra mắt trang Web chính thức:
www.Korealife.com
Đây là một sự kiện mang tính bước ngoặt trong việc giúp công ty có thểquảng bá hình ảnh tới công chúng, tạo ra một kênh thông tin liên lạc giữa công ty
và các bên hữu quan
+ Tổng giá trị tài sản được định giá 10 nghìn tỷ WON, thể hiện giá trị to lớn
mà chưa công ty bảo hiểm nhân thọ nào dám nghĩ tới
+ Cũng trong năm này, công ty tổ chức sự kiện kỷ niệm 50 năm ngày thànhlập công ty Korea life, đánh dấu chặng đường hình thành và phát triển thànhcông, hướng tới sự bền vững, đảm bảo trọn đời cho các khách hàng
- Năm 2001, năm cuối của giai đoạn này đánh dấu thành công bằng việcmua lại các công ty bảo hiểm nhân thọ Hyundai Life và Samsin Life, đồng thờinâng vốn điều lệ lên tới 3,55 nghìn tỷ WON
2.3 Từ năm 2002 – Hiện nay
Giai đoạn này công ty Korea life đã chính thức trở thành công ty bảo hiểmlớn nhất Hàn Quốc và là một trong số những công ty bảo hiểm nhân thọ lớn nhấtChâu Á
Đây là giai đoạn công ty có những bước tiến mạnh mẽ ra thị trường thếgiới, thâm nhập vào những thị trường rộng lớn, phát triển và đầy tiềm năng như:Trung Quốc, Việt Nam, Nhật…
Một số cột mốc đáng chú ý của giai đoạn này như sau:
- Năm 2002 đánh dấu sự kiện mang tính bước ngoặt đó là công ty Gia nhậpvào Tập đoàn Hanwha, một trong 10 tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc và nằm
Trang 7trong danh sách 500 tập đoàn lớn nhất toàn cầu Tập đoàn này được thành lậpvào năm 1952, có một danh mục đầu tư đa dạng với 40 công ty thành viên ở HànQuốc cùng 52 chi nhánh và công ty thành viên Đây chính là điều kiện thuận lợigiúp công ty có thể phát triển rộng hơn ra toàn thế giới.
- Đây là giai đoạn thể hiện sự phát triển mạnh mẽ của công ty bằng việc mởmột loạt các văn phòng đại diện tại các quốc gia đầy tiềm năng phát triển, tiêubiểu là:
+ Năm 2003 mở văn phòng đại diện tại Bắc Kinh (Trung Quốc);
+ Năm 2005 mở văn phòng đại diện tại Tokyo (Nhật Bản) và Hà Nội (ViệtNam);
+ Năm 2007 mở văn phòng đại diện tại New York (Mỹ) và Lon Don (Anh)Chưa kể là một loạt các hệ thống liên kết tại các quốc gia khác thông quahoạt động đầu tư của tập đoàn Hanwha tại 19 quốc gia trên toàn thế giới
- Những thành tựu đạt được tiêu biểu nhất của giai đoạn này là:
+ Vào tháng 12/2007, Korea Life vinh dự là Công ty bảo hiểm nhân thọđầu tiên của Hàn Quốc được xếp hạng tín dụng cao nhất là “AAA” bởi KoreaRatings và Cơ quan Kiểm định Thông tin Dịch vụ Tín dụng Hàn Quốc (KoreaInformation Service Credit Check) Đồng thời giữ vững được xếp hạng tín dụngnày cho tới ngày nay
+ Ngoài ra là thành công trong việc tung ra các gói sản phẩm và dịch vụ đadạng, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng
Trải qua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển đó, công ty tự tin hướng tới những mục tiêu cao hơn trong tương lai, trở thành người đồng hành tin cậy với mọi khách hàng.
Trang 83 Các sản phẩm của công ty
3.1 Sản phẩm chính
- An Khang Hưu Trí Toàn Diện : Tập trung vào khách hàng đóng bảo hiểm
để hưởng lương hưu, không phải lo lắng về tài chính
- An Sinh Giáo Dục Toàn Diện : Đây là sản phẩm mà bố mẹ mua cho con
của mình, đảm bảo cho tương lại của con mình nếu bố mẹ gặp rủi ro về sứckhỏe
- An Sinh Tích Lũy Toàn Diện : Đảm bảo cho tài chính của gia đình khách
hàng luôn được đảm bảo thực hiện các mục tiêu cá nhân từ ngắn cho tới dài hạn
- An Khang Đắc Lộc Trọn Đời : Một điểm tựa tài chính không những giúp
khách hàng an tâm trước mọi thay đổi bất ngờ của cuộc sống mà còn nâng bướcthành công cho các kế hoạch ngắn, trung và dài hạn
- An Sinh Tích Lũy Ngắn Hạn : Đây sẽ là khoản tiền lớn giúp khách hàng
thực hiện ngay ước mơ mà 6 – 10 năm trước mình đã ấp ủ
3.2 Sản phẩm bổ sung
- Bảo Hiểm Hỗ Trợ Tài Chính Người Phụ Thuộc
- Bảo Hiểm Tử Kỳ
- Bảo Hiểm Miễn Đóng Phí Bảo Hiểm
- Bảo Hiểm Mọi Rủi Ro Do Tai Nạn
- Sản phẩm bổ sung Hỗ Trợ Viện Phí và Phẫu Thuật.
Đây là những sản phẩm bổ sung nhằm đảm bảo cho cuộc sống của gia đìnhkhách hàng bớt được những lo âu và khó khăn khi chẳng may gặp rủi ro về sứckhỏe
4 Phạm vi hoạt động của công ty
- Hiện nay công ty Korea Life vẫn phát triển mạnh mẽ nhất tại thị trườngtrong nước Khách hàng trong nước của công ty hiện khoảng hơn 6 triệu khách
Trang 9hàng, điều này có nghĩa là trong 100 người Hàn Quốc thì có hơn 12 người đang
là khách hàng của Korea Life
- Đối với thị trường quốc tế, công ty mới mở thêm các công ty con tại cácquốc gia như: Việt Nam, Nhật Bản, Mỹ, Anh Ngoài ra là các hệ thống liên kếttại 19 quốc gia trên toàn thế giới thông qua các hạng mục đầu tư của tập đoànHanwha
- Dưới đây là bản đồ phạm vi hoạt động của công ty Korea Life:
5 Sứ mệnh và viễn cảnh của công ty
Cam kết của Korea Life Insurance với các bên hữu quan
* Đối với khách hàng:
Chúng tôi theo kịp với những biến đối trong cuộc sống của khách hàng.Chúng tôi là hy vọng cho tương lai của khách hàng mà khách hàng đã hướng
Trang 10đến Chúng tôi cung cấp cho khách hàng các giải pháp chuyên môn và tinh tế,đẳng cấp thế giới về dịch vụ tài chính
Xây dựng và phát triển các mối quan hệ với khách hàng thông qua việccung cấp những giá trị và dịch vụ hàng đầu Đáp ứng nhu cầu của khách hàngvới những sản phẩm tài chính chất lượng cao
* Đối với nhân viên:
Luôn khuyến khích tính chủ động và sáng tạo của mỗi nhân viên Tạo môitrường làm việc hăng say với chế độ tưởng thưởng xứng đáng nhằm nuôi dưỡngniềm tự hào và tinh thần gắn bó của người lao động đối với công ty
* Đối với cổ đông:
Nâng cao các khả năng để cung cấp bảo hiểm để đem lại sự hài lòng ngoàimong đợi của các cổ đông
5.2 Viễn cảnh (Vision)
Spurred by its vision to become a global leader, Korea Life Insurance has proclaimed an ambitious plan to achieve total asset of KRW 77 trillion in sales
by 2012.
Korea Life Insurance has formulated a detailed action plan to become a
“Different No 1” and will achieve its mission through three strategic initiatives:
‘Fundamenal Focus’ to strengthen core competencies, ‘Business Innovation’ to identify potential areas of growth and monetize them, and ‘Innovative Culture’
to encourage the autonomy and creativity of each employee.
These goals are not just grand business propositions, but are candid declarations of our passion and perseverance towards becoming a global leader, a “ Different No 1.”
We are raising the bar to provide policyholders and shareholders with satisfaction going beyond expectation.
Korea Life Insurance - aiming ever higher
Trang 11Thúc đẩy bởi viễn cảnh của mình để trở thành một công ty dẫn đạo toàncầu, công ty Korea Life đã công bố một kế hoạch đầy tham vọng để đạt đượctổng giá trị 77 nghìn tỷ WON doanh số bán hàng vào năm 2012.
Bảo hiểm nhân thọ Hàn Quốc đã xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết
để trở tạo ra sự "Khác biệt duy nhất" và sẽ đạt được nhiệm vụ của mình thôngqua ba sáng kiến chiến lược: Mục tiêu cơ bản để tăng cường năng lực cốt lõi, đổimới kinh doanh, xác định các lĩnh vực tiềm năng tăng trưởng, tạo ra lợi nhuận từchúng và văn hóa sáng tạo để khuyến khích tính chủ động và sáng tạo của mỗinhân viên
Những mục tiêu này không chỉ là mệnh đề kinh doanh lớn, là sự khai báothẳng thắn của niềm đam mê và sự kiên trì của chúng tôi hướng tới trở thành mộtcông ty dẫn đạo toàn cầu, một công ty "khác biệt duy nhất"
Chúng tôi đang nâng cao các khả năng để cung cấp bảo hiểm và các cổđông sẽ hài lòng ngoài mong đợi
a Tư tưởng cốt lõi
b Hình dung tương lai:
Trở thành công ty bảo hiểm nhân thọ được tín nhiệm nhất bằng cách gópphần mang đến tương lai tốt đẹp hơn cho con người thông qua các sản phẩm vàdịch vụ tiên tiến nhất
Trang 12PHẦN THỨ HAI PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
1 Môi trường toàn cầu
Đây là nhân tố ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanhcủa công ty Ngày nay với xu hướng toàn cầu hoá, được sự hỗ trợ của cách mạngcông nghệ thông tin Thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, thế giới trởthành phẳng hơn Nền kinh tế các nước ngày càng tác động, quan hệ chặt chẽhơn, phụ thuộc vào nhau nhiều hơn
1.1 Môi trường kinh tế
Dù trải qua 2 cuộc khủng hoảng, nhưng nhìn chung nền kinh tế thế giới đãchứng kiến nhiều thay đổi to lớn trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 Trong giaiđoạn này, sức mạnh kinh tế của các quốc gia đang phát triển ngày càng gia tăng,trong khi các quốc gia phát triển lại suy yếu
Khối lượng kinh tế thế giới, hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu năm
2009 đạt 57.96 ngàn tỷ USD, tăng 85% so với con số 31.3 ngàn tỷ USD trongnăm 2001
Giá trị thương mại quốc tế tăng 98% trong giai đoạn 2001-2009, từ 12.65ngàn tỷ USD lên 25.1 ngàn tỷ USD Từ 2001-2009, tỷ trọng kinh tế Mỹ trongtổng giá trị sản lượng kinh tế chung của thế giới giảm từ 32.6% xuống 24.61%.Tương tự, tỷ trọng của Nhật Bản cũng giảm từ 13.6% xuống 8.75% Trái lại, tỷtrọng của nền kinh tế Trung Quốc đã tăng từ 3.7% lên 8.47%
Từ 2001-2010, tổng quyền bỏ phiếu của Trung Quốc, Braxin và Ấn Độtrong IMF tăng từ 6.35% lên 6.91%, riêng Trung Quốc tăng từ 2.98% lên 3.65%.Trong cuộc cải cách mới nhất của IMF, tỷ lệ quyền bỏ phiếu của Trung Quốc sẽtăng lên 6.07% và trở thành thành viên có quyền lực lớn thứ 3 của IMF Mỹ vẫn
Trang 13là nước có quyền bỏ phiếu cao nhất dù tỷ lệ này đã giảm nhẹ từ 17.49% xuống16.74%.
Kinh tế toàn cầu đã và đang trải qua giai đoạn khó khăn, quá trình phụchồi diễn ra chậm chạp, tăng trưởng đang suy giảm Theo IMF, kinh tế toàn cầunăm 2011 chỉ đạt mức 4,0%, thấp hơn 5,1% so với năm 2010 Năm 2012 dự kiếntăng trưởng cũng chỉ ở mức 4,0%
Khu vực các nước phát triển tăng trưởng 1,6% năm 2011 và 1,9% năm
2012, so với tăng trưởng 3,1% của năm 2010 Khu vực các nước đang phát triển
và mới nổi, tăng trưởng 6,4% năm 2011 và 6,1% năm 2012, so với mức 7,3%năm 2010 Mỹ - nền kinh tế lớn nhất thế giới đã mất 1% điểm tăng trưởng, vớiGDP sẽ chỉ tăng 1,5% trong năm nay và 1,8% trong năm 2012 Với 17 nướcthuộc khu vực đồng euro, tăng trưởng GDP sẽ giảm bớt khoảng nửa điểm, còn1,1% vào năm 2012
Nhật Bản đã tăng trưởng trở lại, nhưng cũng chỉ đạt mức 0,5% trong nămnay Trung Quốc tiếp tục là nước dẫn đầu với mức tăng trưởng 9% trong nămtới Nga, Mỹ Latin, châu Phi, Trung Đông và Bắc Phi tăng trưởng sẽ thấp hơn sovới dự báo trước đây
Năm 2011, châu Âu bất đắc dĩ trở thành tâm điểm của cả thế giới khi cuộckhủng hoảng nợ công tại Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đe dọaxóa sổ mọi thành quả khối này đạt được trong 1 thập kỷ qua Cuộc khủng hoảngnày vốn bắt nguồn từ năm 2009 và trở nên trầm trọng hơn trong năm 2010 khicác nước thành viên Eurozone và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) thông qua khoản vaykhẩn cấp trị giá 110 tỷ euro cho Hy Lạp với điều kiện nước này phải thực hiệnchính sách thắt lưng buộc bụng khắc nghiệt Cũng từ đó, nợ công bắt đầu lan trànsang các nước khác trong Eurozone Đến tháng 11/2010, tiếp tục Ailen phải nhậngói cứu trợ 85 tỷ euro và đến tháng 5/2011, đến lượt Bồ Đào Nha cầu viện quốc
tế khoản vay 78 tỷ euro để tránh nguy cơ sụp đổ
Trang 14Đến cuối năm 2011, cuộc khủng hoàng trầm trọng này diễn biến hết sứcphức tạp và đã lan sang Italia, Tây Ban Nha, thậm chí cả nước Pháp Các nhàlãnh đạo thế giới đã buộc phải gia tăng nỗ lực và có những hành động mang tínhquyết định nhằm tránh nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ công đẩy thế giới vào mộtcuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế mới Tình hình nghiêm trọngđến mức các chuyên gia và tổ chức tài chính đều tính đến khả năng sụp đổ củađồng euro Ngay cả Thủ tướng Đức Angela Merkel cũng phải thừa nhận: “Châu
Âu giờ đây có lẽ đang ở thời điểm khó khăn nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứhai”
Tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone vẫn liên tục tăng và đạt mức cao nhất10,3% trong tháng 10 với 16,3 triệu người không có việc làm, mức cao nhất kể
từ năm 1995 đến nay Trong đó, Tây Ban Nha có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất khốivới mức 22,8% và Italia là 8,5%
Trong báo cáo thường niên mà Ủy ban châu Âu vừa công bố thì nợ côngcủa 17 nước thuộc Eurozone vẫn tiếp tục tăng và có thể lên tới 88,7% GDP vàonăm 2012 bất chấp việc kinh tế tăng trưởng trở lại Ủy ban này cũng dự đoán tốc
độ tăng trưởng trong năm nay của Eurozone cũng chỉ ở mức 1,8% nhưng tỷ lệ nợtrên GDP vẫn tiếp tục tăng cao lên mức 87,9% Riêng các “chúa chổm” như HyLạp, Ailen, Bồ Đào Nha hay Italia sẽ lên tới trên 100% GDP trong khi mức trầntheo quy định của khối là chỉ là 60% Còn nhớ, tỷ lệ nợ trên GDP của Eurozonenăm 2007 chỉ ở mức 66,3% Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ trên GDP của toàn bộ 27 nướcthành viên Liên minh châu Âu được dự báo sẽ tăng từ mức 59% của năm 2007lên 83,3% vào năm 2012
Theo ngân hàng Morgan Stanley và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tếThế giới (OECD), kinh tế châu Âu chỉ tăng trưởng 1,6% trong năm 2011 và0,2% vào năm 2012 Còn IMF thì cho biết, kinh tế châu Âu tăng trưởng 1,6%trong năm 2011 và 1,1% trong năm 2012 Đây quả là những con số đầy bất antrong bối cảnh bế tắc của châu Âu hiện nay
Trang 15Ảnh hưởng đến ngành bảo hiểm:
* Cơ hội: Trong điều kiện suy giảm kinh tế, khi lãi suất tiền gửi giảm
nhanh, đầu tư chứng khoán và bất động sản mạo hiểm và bấp bênh tạo cho ngườidân có suy nghĩ đúng hơn về bảo hiểm nhân thọ, đây là một kênh đầu tư an toàn,lâu dài và hiệu quả để đáp ứng nhu cầu tài chính tương lai với những công việckhông thể không làm trong cuộc đời
* Đe dọa:
Suy thoái kinh tế toàn cầu ảnh hưởng lớn tới thu nhập của nhiều người laođộng trên toàn thế giới từ người làm công ăn lương đến những tiểu thương, tiểuchủ và chủ doanh nghiệp Điều này làm cho nguồn khách hàng tiềm năng giảmsút Không ít khách hàng tham gia bảo hiểm gặp khó khăn về kinh tế không đủkhả năng đóng phí bảo hiểm
1.2 Môi trường nhân khẩu học
Ngược lại, dân số ở những vùng phát triển hơn được dự đoán sẽ thay đổirất ít, từ 1,23 lên 1,28 tỷ người, nếu không tính số di cưthuần từ các nước đangphát triển tới thì chỉ tăng thêm 1,15 tỷ người, dự đoán mỗi năm tăng trung bình2,4 triệu người từ 2009 đến 2050
Các kết quả Báo cáo năm 2008 cùng với những phát hiện từ các cuộc tổngđiều tra dân số quốc gia gần đây nhất và các khảo sát dân số chuyên biệt lớn thực
Trang 16hiện trên thế giới cho thấy rằng những chỉ số và dữ liệu nhân khẩu học về các xuhướng tiếp cận ở phạm vi toàn cầu, khu vực, các cấp độ quốc gia, và về tính toánchỉ số cơ bản khác được sử dụng phổ biến bởi hệ thống Liên hợp quốc.
Hiện nay dân số ở các nước ít phát triển vẫn là dân số trẻ với 29% trẻ emdưới 15 tuổi, trên 19% trong độ tuổi từ 15 – 24 Thực tế số trẻ em và thanh thiếuniên ở những vùng này vẫn luôn ở mức cao (1,7 tỷ trẻ em và 1,1 tỷ thanh thiếuniên) đặt ra thách thức cơ bản cho các quốc gia này là phải đối mặt với sự cầnthiết trong việc chuẩn bị về giáo dục và việc làm cho đội quân trẻ em và thanhthiếu niên ngay cả trong điều kiện khủng hoảng tài chính-kinh tế xảy ra Tìnhhình này ở những quốc gia kém phát triển nhất lại càng phải chịu sức ép bởi sốtrẻ dưới 15 tuổi chiếm 40% dân số và thanh thiếu niên khoảng hơn 20%
Ở những vùng phát triển hơn, trẻ em và thanh thiếu niên ước tính chỉchiếm 13% - 17% tổng dân số.Ởnhững vùng này số trẻ em được dự đoán sẽthay đổi rất ít trong tương lai, vẫn hạn chế trong khoảng 200 triệu người, sốthanh thiếu niên được dự đoán giảm từ 160 triệu hiện nay xuống còn 134 triệuđến năm 2050
Ở cả khu vực phát triển và kém phát triển, số người trong độ tuổi lao động,25-59 tuổi vẫn luôn ở mức cao, tương ứng ở hai khu vực là 605 triệu người và2,5 tỷ người.Ởnhững nước phát triển hơn dân số được mong đợi đạt đỉnh điểmvào thập kỷ tới và sẽ dừng lại sau đó, trong khi đó, những nước kém phát triểncon số đó sẽ tiếp tục tăng, đạt tới 3,6 tỉ người vào năm 2050, tăng gần nửa tỉ quacác thập kỷ tiếp theo Các xu hướng dân số này chứng minh độ khẩn cấp củaviệc hỗ trợ tạo công ăn việc làm ở những nước đang phát triển như một phần củabất kì chiến lược đối phó với khủng hoảng kinh tế nào mà thế giới đang trải qua
Trên toàn cầu, dân số từ 60 tuổi trở lên đang tăng nhanh hơn bao giờ hết.Hơn nữa, các vấn đề của già hóa dân số không thể bị bỏ qua Ở những khu vựcphát triển hơn, dân số trong độ tuổi 60 hay cao hơn đang gia tăng ở tốc độ nhanhhơn bao giờ hết (1,9% mỗi năm) và người ta ước tính con số này còn tăng trên
Trang 1750% trong bốn thập kỉ tới, tăng từ 264 triệu năm 2009 tới 416 triệu vào năm
2050 So sánh với các khu vực phát triển thì dân số ở những nước kém phát triểncũng đang già hoá đáng kể Qua hai thập kỉ tới, dân số từ 60 tuổi trở lên ở nhữngnước đang phát triển được dự tính sẽ tăng với tỷ lệ hơn 3% mỗi năm và con sốnày được dự tính từ 475 triệu vào năm 2009 tới 1,6 tỷ vào năm 2050
Xu hướng dự báo tùy thuộc vào việc giảm sinh ở những nước đang pháttriển Giảm sinh là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến già hoá dân số Khả năng sinhsản ở những nước đang phát triển được ước tính giảm từ 2,73 con/ 1 phụ nữ vàogiai đoạn 2005- 2010 còn 2,05 con/1phụ nữ vào giai đoạn 2045- 2050 Sự suygiảm này thể hiện rõ ràng hơn ở nhóm 49 nước kém phát triển nhất: Từ 4,39con/1 phụ nữ còn 2,42 con/1 phụ nữ Để đạt được mức giảm như vậy, điều cốtyếu là nhờ vào các chương trình kế hoạch hoá gia đình mở rộng, đặc biệt là ởnhững nước kém phát triển nhất Trong năm 2005, việc sử dụng các biện pháptránh thai hiện đại ở những nước kém phát triển là gần 24% đối với phụ nữ trong
độ tuổi sinh đẻ, những người đã kết hôn hoặc có quan hệ hôn nhân và hơn 23%
có nhu cầu không được đáp ứng về kế hoạch hoá gia đình Tính cấp thiết củaviệc thực hiện dự án giảm khả năng sinh sản được coi là trọng tâm bởi mối longại rằng, nếu khả năng sinh sản vẫn duy trì ở mức độ như đã ước tính trong giaiđoạn 2005-2010, dân số ở những vùng kém phát triển sẽ tăng tới 9,8 tỉ người vàonăm 2050 thay vì 7,9 tỉ Điều đó cho thấy rằng, dân số thế giới sẽ tăng gấp hailần so với dự tính hiện tại nếu không giảm tỉ lệ sinh
Ảnh hưởng đến ngành bảo hiểm: Dân số thay đổi kéo theo sự thay đổi của
các nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ
1.3 Môi trường công nghệ
Trong lĩnh vực bảo hiểm nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng, việcứng dụng công nghệ thông tin đã cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm vi tínhhoá quá trình dịch vụ, giảm bớt tính cồng kềnh của cơ cấu tổ chức doanh nghiệp
Trang 18bảo hiểm, đa dạng hoá kênh phân phối và các hình thức dịch vụ, tăng cường dịch
vụ khách hàng bằng các dịch vụ phụ trợ kỹ thuật cao,
Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin tạo ra mộtthói quen tiêu dùng mới cho khách hàng Khách hàng ngày càng có nhu cầu tìmhiểu thông tin qua các phương tiện thông tin hiện đại như qua: Internet, điệnthoại, email được cung cấp các dịch vụ tài chính tổng hợp như: bảo hiểm - đầu
tư - thanh toán Do vậy, đây là cơ hội để các doanh nghiệp bảo hiểm triệt đểứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đadạng của khách hàng trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập
* Cơ hội:
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin giúp cho các công tybảo hiểm phát triển nhanh chóng trong việc phát triển và mở rộng thị trường sảnphẩm đồng thời đã đưa đến cho khách hàng nhiều sự hiểu biết cũng như vai tròcủa bảo hiểm trong cuộc sống hàng ngày Mặt khác, sự phát triển mạnh mẽ vềcông nghệ thông tin giúp công ty bảo hiểm có thể dễ dàng truyền tải các thôngtin đến khách hàng
- Ngành nghiên cứu: Bảo hiểm nhân thọ
2.1 Môi trường kinh tế
Hàn Quốc là một trong số rất ít những quốc gia đã nỗ lực để tránh được suythoái trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và cũng là nền kinh tếđầu tiên trong nhóm OECD tăng trưởng trở lại sau khủng hoảng Năm 2009, khi
Trang 19cả thế giới công nghiệp phát triển đều bị suy thoái, GDP của Hàn Quốc vẫn tăng0,2% và tăng tới 6,1% (2010) Định hướng chiến lược phát triển xuất khẩu đãbuộc các công ty Hàn Quốc tiến hành quảng cáo sản phẩm ra thị trường bênngoài hơn là thị trường trong nước Nhờ vậy, xuất khẩu của Hàn Quốc liên tụctăng trưởng, ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu Xuất khẩuchiếm 50% trong tổng thu nhập quốc dân của Hàn Quốc Mặc dù, giá đồng wontăng mạnh so với đồng USD, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc vẫn khácao Năm 2010, Hàn Quốc vươn lên đứng thứ 7 thế giới về xuất khẩu, chỉ sauTrung Quốc, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Hà Lan và Pháp
Năm 2011, các tập đoàn lớn đạt xuất khẩu tăng 17% (khoảng 513 tỉ USD)
-là năm đầu tiên Hàn Quốc vượt ngưỡng 1 nghìn tỷ USD về kim ngạch thươngmại
Sau khủng hoảng, Hàn Quốc đã kịp thời điều chỉnh lại chiến lược phát triểnkinh tế, trong đó chú trọng tái cơ cấu lại các doanh nghiệp lớn, điều chỉnh lạinhân sự, nhấn mạnh phát triển kinh tế tri thức Năm 2011, Hàn Quốc có 8 doanhnghiệp được nằm trong top 50 doanh nghiệp hàng đầu tại khu vực châu Á – TháiBình Dương do tạp chí chuyên xếp hạng Forbes công bố, chỉ đứng thứ 2 (sauTrung Quốc) Top 50 doanh nghiệp này được chọn lựa từ 1000 doanh nghiệp ởChâu Á, có mức doanh thu hoặc giá trị vốn thị trường ít nhất đạt 3 tỷ USD Tiêuchuẩn để đánh giá dựa trên hiệu suất tài chính trong vòng 5 năm (2006-2011) Hàn Quốc đã tận dụng sự thay đổi chiến lược phát triển kinh tế của TrungQuốc (chuyển từ chiến lược xuất khẩu sang chiến lược hướng vào tiêu dùng nộiđịa) làm cơ hội thuận lợi cho hàng hóa tiêu dùng chất lượng cao của Hàn Quốc(điện, điện tử, ôtô, mỹ phẩm cao cấp và các ngành công nghiệp xây dựng, cungcấp nước, hệ thống nước thải) để xâm nhập vào thị trường Trung Quốc TheoCục khuyến khích đầu tư thương mại Hàn Quốc (KOTRA – Korea TradeInvestment Promotion Agency), Hàn Quốc có khoảng 4000 công ty, doanh
Trang 20nghiệp đang họat động tại Trung Quốc Trên thực tế, các doanh nghiệp HànQuốc họat động rất hiệu quả ở thị trường Trung Quốc và các thị trường mới nổi.Năm 2011, các tập đoàn lớn của Hàn Quốc đảm nhiệm vai trò thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế Vai trò này được thể hiện trong mục tiêu đặt ra cho 30 tập đoànhàng đầu quốc gia phải đạt mức đầu tư 101 tỷ USD, tăng 12% so với mức đầu tưcủa năm 2010 (khoảng 90 tỷ USD), tuyển dụng 1 triệu nhân viên và xuất khẩu
500 tỷ USD Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dành hơn 23 tỷ USD cho hoạt độngnghiên cứu và phát triển những động lực tăng trưởng mới Những con số này chothấy vai trò to lớn của các doanh nghiệp Hàn Quốc trong lĩnh vực tạo việc làm Nguy cơ suy thoái kép của kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực tới xuất khẩubuộc Hàn Quốc phải hướng tới chi tiêu tiêu dùng để duy trì tăng trưởng Vì vậy,song song với thúc đẩy xuất khẩu, chính phủ Hàn Quốc thực hiện các biện phápkích cầu trong nước để tạo ra sự cân bằng cho nền kinh tế Để duy trì tăngtrưởng, Hàn Quốc hướng tới chi tiêu tiêu dùng với gói kích cầu được thông qualớn chưa từng có trong lịch sử, trị giá 28,9 nghìn tỷ won (khoảng 21 tỷ USD) đểchặn đứng đà suy giảm kinh tế, tạo việc làm mới Gói kích cầu của chính phủHàn Quốc tương đương với 5,4% tổng sản phẩm nội địa (GDP) và là mức chingân sách bổ sung cao nhất trong khu vực Thông qua kích thích chi tiêu nội địa
sẽ có lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và những người có thu nhập thấp để vực dậynền kinh tế và khuyến khích người nghèo làm việc Sự phục hồi của nhu cầu tiêudùng trong nước đi đôi với nền tảng xuất khẩu vững chắc đã tạo đà để kinh tếHàn Quốc phát triển mạnh hơn
Tổng sản phẩm quốc nội đã tăng 2,4% trong quý 2 năm 2012 so với hồi đầunăm, mức tăng trưởng ít nhất kể tư hồi quý 3 năm 2009 Con số này cũng thấphơn so với mức dự báo 2,5% của 15 nhà kinh tế học mà hãng tin Bloombergkhảo sát So với quý 1, nền kinh tế lớn thứ 4 của Châu Á chỉ tăng trưởng có0,4%
Trang 21Đã nhiều thập kỷ, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Hàn Quốc đạtmức trung bình 8,6% và Hàn Quốc đang là quốc gia có nền thương mại lớn thứ
11 trên thế giới
Đơn vị: Tỷ đô-la Mỹ Nguồn: Ngân hàng Hàn Quốc
Thị trường tài chính quốc tế đánh giá khá lạc quan về những tiến bộ kinh tếcủa Hàn Quốc, bao gồm duy trì tăng trưởng cao, lạm phát vừa phải, tích trữ quốcgia ở mức cao, thâm hụt ngoại thương thấp và ngân sách Chính phủ có thặng dưđáng kể Tuy nhiên, gần đây, những thành tựu ấn tượng này đã bị lu mờ bởinhững khó khăn của một số tập đoàn lớn và các tổ chức tài chính Những thất bạinày làm mất lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài và dẫn tới cuộc khủng hoảng vềtính thanh khoản cuối năm 1997 Cuộc khủng hoảng gây ra nạn thất nghiệp trầmtrọng
Tổng cộng dự trữ ngoại tệ của Hàn Quốc chỉ đạt 20,4 tỷ đô-la Mỹ vào cuốinăm 1997, nhưng đã tăng lên tới 201,2 tỷ đô-la Mỹ vào cuối năm 2008 Thậmchí Hàn Quốc còn có thể hoàn trả khoản vay hỗ trợ 13,5 tỷ đô-la cho Quỹ Tiền tệQuốc tế Ngày 16 tháng 12 năm 1999, Ban Chấp hành Quỹ Tiền tệ Quốc tế tuyên
bố cuộc khủng hoảng ngoại hối ở Hàn Quốc đã được giải quyết một cách triệt để.Trong khi đó, đánh giá về tín dụng của Hàn Quốc được phục hồi trở lại mức xếphạng đầu tư
Trang 22* Cơ hội:
Với sự phục hồi của nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người ngày càngđược cải thiện, đời sống của dân cư không ngừng được nâng cao Người dân đãbắt đầu có tích luỹ và yên tâm sử dụng tiền tích luỹ này để đầu tư trở lại nền kinh
tế trong đó bảo hiểm nhân thọ là một trong những kênh đầu tư vốn được ngườidân lựa chọn Đây chính là những yếu tố rất quan trọng và là cơ sở cho sự pháttriển của bảo hiểm nhân thọ
* Đe dọa:
Trong khi nền kinh tế chưa hoàn toàn phục hồi, thì số lượng hợp đồng khaithác mới của bảo hiểm nhân thọ có thể giảm sút đồng thời số lượng hợp đồngbảo hiểm chấm dứt trước hạn trong năm nay sẽ tăng cao hơn bởi những khó khăn
về kinh tế đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân Mặc khác số lượngngười thất nghiệp cũng còn lớn và khó có khả năng giảm nhanh trong tương laigần cũng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của một bộ phận dân cư, điều này ảnhhưởng đến khả năng tham gia bảo hiểm nhân thọ của người dân
2.2 Môi trường nhân khẩu học
Với dân số trên đạt 50 triệu người (năm 2012), Hàn Quốc sẽ trở thànhquốc gia thứ 7 trên thế giới (cùng với Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh và Italy)
có Lợi tức tính theo đầu người (PCI) từ 20.000 USD trở lên Tuy nhiên, với tỷ lệsinh thấp như hiện nay, xứ sở Kim chi hiện đang đứng trước nguy cơ có một dân
số già
Cũng theo cơ quan trên, dân số Hàn Quốc sẽ tiếp tục duy trì ở ngưỡng 50triệu người cho đến năm 2045 sau khi đạt đỉnh 52,16 triệu người vào năm 2030.Sau thời điểm năm 2045, dân số của xứ sở Kim chi sẽ bắt đầu giảm trở lạingưỡng 50 triệu người do có tỷ lệ sinh thấp nhất thế giới Sau đó từ năm 2045 sẽgiảm trở lại xuống dưới ngưỡng 50 triệu người, và cứ 100 người trong độ tuổi từ
15 - 64 năm 2010 thì đến năm 2040 sẽ giảm chỉ còn 80,2 người, đưa Hàn Quốc
Trang 23lên vị trí thứ ba về giảm dân số trong cùng kỳ, sau Nhật Bản (75,5 người) và Đức(78,4 người).
Tỷ lệ sinh ở Hàn Quốc đã biến động theo chiều hướng giảm, từ 2,06 năm
1983, xuống 1,23 năm 2010, mà một trong những nguyên nhân là sự gia tăng tỷ
lệ phụ nữ hoạt động kinh tế ở độ tuổi 20, từ 32% năm 1980 lên 69,4% năm 2010
Tuy nhiên, tỷ lệ sinh được dự báo sẽ tăng dần lên 1,42 vào năm 2040 vànếu sau đó tiếp tục tăng lên 1,79 vào năm 2060 thì dân số Hàn Quốc có thể ởmức trên 50 triệu lâu thêm 13 năm nữa, và sự già hóa dân số sẽ chậm lại 14 năm
Tuổi thọ của nam giới Hàn Quốc đã tăng từ 61,8 tuổi năm 1980 lên 77,2năm 2010, và của phụ nữ cũng tăng từ 70 tuổi năm 1980 lên 84,1 tuổi năm 2010
Tuổi thọ trung bình của người dân Hàn Quốc năm 2010 vào khoảng 80 tuổi, caothứ ba thế giới, sau Nhật Bản (83,7 tuổi) và Pháp (81,7 tuổi)
Một trong những lý do dẫn đến dân số Hàn Quốc tăng nhanh là số lượngngười nước ngoài Trong giai đoạn giữa năm 2001 và 2005 số lượng người xuấtcảnh đông hơn số lượng người nhập cảnh vào Hàn Quốc Trung bình mỗi năm có79.000 người dân nước này xuất cảnh nhưng chỉ có 38.000 người nước ngoàinhập cảnh Hàn Quốc
Tuy nhiên, đến năm 2006 đã có một làn sóng người lao động và phụ nữngoại quốc đến Hàn Quốc làm việc và lấy chồng Chỉ tính riêng giai đoạn từ
2006 - 2010 đã có 283.000 người nước ngoài đến Hàn Quốc Lý do thứ hai phải
kể đến là tỷ lệ sinh Năm 2005, tỷ lệ này là 1,08 trẻ em/1 phụ nữ nhưng đến năm
2011 đã là 1,24/1 phụ nữ
* Cơ hội:
Với sự gia tăng dân số thì nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ của Hàn Quốc làrất lớn, đây là một trong nhứng yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các công ty bảohiểm
* Đe dọa:
Là nước có cơ cấu dân số già nên số người trong độ tuổi lao động và trẻ
em thấp, do đó tiềm năng về nhu cầu bảo hiểm nhân thọ tại Hàn Quốc hạn chế
Trang 242.3.Môi trường công nghệ
Công nghệ thông tin đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với ngành bảohiểm nói riêng và ngành tài chính nói chung, là yếu tố quyết định tới khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tếhiện nay
Không đầu tư công nghệ thông tin thì khó có thể tạo ra sản phẩm khác biệt,hoàn thiện chính sách khách hàng, phát triển thị trường, nâng cao hiệu quả quản
lý nghiệp vụ, giảm thiểu chi phí…
* Cơ hội:
Khoa học hay công nghệ sẽ làm thay đổi cách thức thực hiện các côngviệc trong các tổ chức sản xuất và cung cấp dịch vụ truyền thống, ví dụ như báocáo tài chính và báo cáo thuế, giải quyết khiếu nại, hợp đồng bảo hiểm đơn giảnhóa, dịch vụ khách hàng Nhân viên trong những tổ chức này có thể làm việc tạinhững địa điểm khác nhau, cả trong nước và nước ngoài; và có thể kết nối trựctiếp qua mạng với trụ sở chính Công việc sẽ ngày càng được xử lý nhiều bởimáy móc với sự can thiệp rất ít của con người Vì thế những nhân viên này sẽđược hưởng nhiều phúc lợi hơn, mức độ hưởng phúc lợi cá biệt hóa và sự linhhoạt về giờ giấc làm việc Tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời sản phẩm mới,quản lý đầu tư, hợp đồng phức hợp, cơ cấu tài chính – với sự đóng góp củanhững con người đầy sáng tạo, được tổ chức thành các nhóm dự án năng độngnhằm xác định và củng cố vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp và đảm bảo khảnăng thu lợi nhuận hiện tại và trong tương lai
* Đe dọa:
Với việc tiếp cận hệ thống internet, sẽ làm thay đổi một cách cơ bản cáchthức mà các sản phẩm bảo hiểm được bán và phục vụ Khách hàng sẽ tìm kiếmcác nhà cung cấp mới (chẳng hạn như công ty bảo hiểm Google hay bất kỳ ai…);các công ty bảo hiểm hoạt động theo kiểu truyền thống sẽ gặp khó khăn để ứngphó với những nhu cầu của đối tượng khách hàng mới này Trong một “thế giới