- Chùa Quỳnh Lâm có pho tượng Di Lặc, văn bia kể rằng cao đến 6 trượng Nhiều điêu khắc gỗ và đồng, các tác phẩm hội họa của thời Lý nay đã không còn, nhưng chúng ta còn lưu giữ được nhữn
Trang 1ÔN TẬP MỸ THUẬT VIỆT NAM
1 Mỹ thuật Phật giáo thời Lý
Tiếp thu truyền thống từ văn hóa thời đại đồ đồng, nền mỹ thuật VN trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên độc lập thời Lý đã này sinh nhiều công trình nghệ thuật có quy mô lớn, độc đáo đặc biệt là nền Mỹ thuật mang đậm Phật giáo thời kỳ này với 4 công trình nghệ thuật lớn là: chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên, Phật Quỳnh Lâm, vạc Phổ Minh
- Chùa Một Cột là một phối cảnh to đẹp của cả kiến trúc, điêu khắc, hội họa Đặc biệt chùa có quả chuông lớn gọi là chuông Quy Điền nặng đến nỗi không thể treo nổi trên tòa phương đình nên phải để dưới đất
- Tháp Báo Thiên xây cạnh hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm) là một kiến trúc cao vút (khoảng 1000m), có quả chuông dùng tới 12.000 kg đồng được khắc bài minh văn do chính tay vua Lý Thánh Tông soạn
- Chùa Phật Tích có tượng Phật cao tới 6 thước
Trang 2- Chùa Quỳnh Lâm có pho tượng Di Lặc, văn bia kể rằng cao đến 6 trượng
Nhiều điêu khắc gỗ và đồng, các tác phẩm hội họa của thời Lý nay đã không còn, nhưng chúng ta còn lưu giữ được những hình trạm khắc trên mặt phẳng và những tượng tròn thuộc chất liệu đá, gốm tráng men hoặc đồ mộc
- Ở chùa Phật Tích nhiều hình mẫu điêu khắc vẫn được lưu giữ đến tận ngày nay như tượng Phật A di Đà, hộ pháp, kim cương, người chim, bệ tượng chạm sóng nước, hoa lá và người; sư tử và thành bậc cửa chạm chim phượng múa ở chùa Bà Tấm; cột biểu chạm rồng ở chùa Dạm
- Bố cục của những tác phẩm này hết sức chặt chẽ, gọn gàng, luôn có cái đẹp cân xứng Những mảnh khối rất hài hòa với đường nét, chi tiết nhuần nhị, nét chạm mịn màng trông rất tự nhiên và thoải mái
- Tượng Phật A Di Đà qua nét đẹp hình thể bên ngoài toát ra từ mỗi bộ phận cơ thể,
tư thế , nếp áo, cho ta cảm nhận được cả nét đẹp thể chất bên trong Những nhân vật ở chân cột đá chùa Phật Tích rất gần với những người múa dâng hoa ở bệ và thành bậc cửa tháp núi Chương Sơn và cả những người múa chạm trên đất nung ở chùa Đọi hay chạm trên gỗ ở chùa Thái Lạc đều cho ta thấy những dư vang của hình người trong nghệ thuật thời đại đồ đồng: tóc búi cao trên đỉnh đầu, tay đeo vòng to, tai căng rộng…
- Chùa Bà Tấn và chùa Hương Lãng có các hình tượng nghệ thuật đó là các con sư
tử nằm phủ phục làm bệ tam thế và các lan can thành bậc cửa chạm nổi chim múa Từ khối đá to cứng, bằng bàn tay của những nghệ sĩ đã tạo ra một hình nghệ thuật bề thế, oai hùng, mang đạm dấu vết của sự dũng cảm và của sức mạnh Đường nét chạm trổ mềm mại và cong uyển chuyển, các chi tiết được diễn tả hết sức sắc sảo và nhuần nhị, sinh động như một con vật sống thực Trên mình còn được điểm vào những bông hoa nhiều cánh nở xòe
- Trong hầu hết các di tích mỹ thuật Phật giáo thời Lý đã được phát hiện đều có những hình nghệ thuật rất phổ biến và đặc biệt rất thống nhất đó là hình con rồng, sóng
Trang 3nước, hình hoa dây cúc, hoa sen Đa số những hình này là các mẫu trang trí thường làm nền để tôn thêm vẻ đẹp cho tác phẩm chính
- Cùng với điêu khắc, hội họa thời Lý cũng đạt được những thành tựu rực rỡ:
- Các vua thời Lý cho vẽ tranh tường, tranh trên gỗ ở cung điện, chùa tháp, tranh hội họa kết hợp với kiến trúc mang nội dung nhà Phật như: Tranh vẽ trên lan can hồ Linh Chiểu, tranh vẽ tường chùa Sùng Nghiêm với nội dung ca ngợi cõi Phật Hội họa thời Lý minh họa những giáo lý, tả thực về cõi Niết bàn, thế giới hư vô của Tiên phật nhằm tôn vinh đạo Phật
- Tranh tường rất phát triển ở các chùa tháp Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh chẳng những đẹp ở cấu trúc và điêu khắc “mái nhà như trĩ xòe cánh, chậm trổ như phượng lại chầu” mà còn nổi tiếng ở tranh tôn giáo: tường vách vẽ đồ như duyên nhân quả, thiên biến vạn hóa rất huyền diệu Người nào trông thấy cũng phải gắng làm điều thiện Đáng
là một nơi cư trú của Phật vậy (bia Sùng Nghiêm Diên Khánh tự)
- Tranh chân dung: tranh Phật được vẽ hàng nghìn bức
- Tranh chữ: đó là những dòng chữ đẹp được coi như một bức tranh với phong cách độc đáo Bia Sùng Thiện Diên Linh kể rằng vua Lý Thánh Tông “viết bút lông rất khéo, chữ ngài như rồng bay phượng múa Sử cũ chép năm 1071 vua Lý Thánh Tông đã ngự viết chữ “Phật” cao một trượng sáu thước (khoảng 5 m) rồi cho khắc vào bia đá để ở trên chùa núi Tiên Du Chữ “Phật” khổng lồ này chính là một bức tranh chữ
- Những tranh vẽ trên gốm của thời Lý bao gồm gốm mộc trang trí kiến trúc và gốm tráng men là những đồ dùng hàng ngày Có hai lối tạo hình chính là: lối vẽ bằng vật cứng những hình trang trí lên mặt gốm thường gặp ở đất nung và gốm men ngọc và lối vẽ kết hợp vẽ nét kết hợp tô màu bằng vật mềm Cả hai lối vẽ đều phản ánh thiên nhiên và con người Hoa văn trang trí mang đậm tinh thần Phật giáo như hoa sen, hoa cúc trong đĩa gốm men ngọc, chim bói cá trên thạp nhỏ gốm hoa nâu…
Trang 4- Ngoài ra nhiều đồ dùng hằng ngày cũng mang giá trị mỹ thuật cao như các mặt hàng dệt, đồ mỹ nghệ bằng ngọc ngà, vàng, bạc và đồ gốm
2 Những đề tài trong tranh dân gian Việt Nam
Tranh dân gian theo dòng thời gian lịch sử có hai loại tranh chính đó là tranh tết và tranh thờ
- Tranh tết: chủ yếu là tranh chúc tụng ngày tết, mỗi khi tết đến thì mọi người đều treo tranh trong nhà hoặc đem biếu cho bà con Các đề tài chủ yếu trong tranh tết thường là từ những cái dân dã nhất: đàn gà, đàn lợn, ông đồ, đám cưới, cóc, chuột,… cho đến mô tả các trò chơi dân gian sinh động của ngày tết: múa lân, múa rồng, đấu vật, chơi đu, bịt mắt bắt dê… hay khát vọng sung túc cho cả năm: vinh hoa – phú quý, Tiến tài, Tiến lộc, chúc phúc, Tứ quý, các bộ tứ bình như Tùng – Cúc – Trúc – Mai, Long – Lân – Quy – Phượng, tố nữ chơi đàn… và còn có cả châm biếm, phản ánh cuộc sống thường ngày của con người: đánh ghen, thầy đồ cóc, đám cưới chuột… Tất cả các đề tài này đều được thể hiện qua dòng tranh Đông Hồ Điểm độc đáo của tranh Đông Hồ là được tạo bởi 5 màu sắc chính là đen, xanh, vàng, đỏ, trắng, có nhiều nét tương đồng với 5 yếu tố ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ Bởi vậy, sự hòa hợp của các gam màu trên tranh Tết Đông Hồ
là điềm báo cho sự khởi phát thuận lợi của ngũ hành dịp đầu năm, mang đến may mắn và điềm lành cho gia chủ Bằng những đường nét tinh tế, giàu tính gợi hình và màu sắc tươi tắn, hài hòa, mỗi bức tranh đều chứa đựng những ẩn ý nhân văn sâu sắc
- Tranh thờ: là dòng tranh chủ yếu của dòng tranh Hàng Trống Tranh thờ nổi bật với hai
đề tài chính là Phật giáo và Đạo giáo Tranh thờ có 5 loại:
+ Tranh thờ dân gian: Tam phủ, Tứ phủ, Táo quân, thổ công, thổ địa, ngũ sinh, ngũ hổ, bạch hổ… được vẽ với màu sắc tươi vui, khía cạnh độc đáo, sang tạo giàu sức sống, nét
vẽ sinh động…
Trang 5+ Tranh thờ các vị thần truyền thuyết: Bàn Cổ, Địa Tạng Vương, thần mây – mưa – sấm – chớp…
+ Tranh thờ Phật: thập điện, cứu khổ nạn, Quan Âm thuyết pháp, Đạt Ma Tổ Sư…
+ Tranh thờ linh vật: Ngựa Hồng, Ngựa Bạch,… và tranh thờ tổ tiên
Các đề tài tranh thờ nói lên sự tôn sùng Trời – Phật, thần thánh, là những vị thần bảo vệ cho gia chủ Nhịp điệu sống động của người và vật được thể hiện qua những nét vẽ uyển chuyển, “có thần”, nhưng luôn được chế ngự từ những đường viền khỏa mạnh, sắc nét
Sự tương phản hài hòa giữa các màu sắc và chất lượng làm cho mỗi bức tranh vừa nổi lại vừa tươi sáng
Ngoài ra, còn có các đề tài về lịch sử Việt Nam (Trưng Trắc cưỡi voi xung trận, Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, Việt Nam độc lập, bình dân học vụ, Bác Hồ về thăm làng…), những truyện Nôm như truyện Kiều và Nhị Độ Mai cũng được làm đề tài cho tranh dân gian
- Đề tài:
+ Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã
+ Phản ứng từ những gì gần gũi, thân thiết nhất với người dân đến những cái thiêng liêng cao quý
- Nội dung: mỗi bức tranh đều mang ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều góc độ tâm trạng của con người, ước vọng của người dân (giản dị => cao quý) Đề cao cái đẹp, đạo lý làm người, giáo dục phẩm chất tốt, cầu mong những điều tốt đẹp trong cuộc sống Nội dung có thể là tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh sinh hoạt hoặc tranh minh họa – lịch sử
3 Nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam thế kỷ 18
- Thế kỷ 18 là một thế kỷ lớn, rộng và phức tạp của lịch sử việt nam Phần nữa đầu tiếp tục sự thịnh vượng tương đối và phần cuối suy thoái đi tới khủng hoảng dược giải
Trang 6quyết bằng sự chấm dứt thời kỳ phân tranh và mở mang bờ cõi đã hết vai trò lịch sử, thiết lập nền thống nhất bởi cuộc khởi nghĩa và chiến thắng của nguyễn huệ Thế kỷ này kết thúc một giai đoạn phát triển rực rỡ và đặc sắc của văn hóa việt nam cận đại
- Trong giai đoạn này điêu khắc phật giáo bành trướng cực mạnh trong các ngôi chùa bắc bộ Do tình hình nghiên cứu hiện tại chưa xác định chính xác niên đại của từng pho tượng ở một số chùa Nên giới nghiên cứu dùng phương pháp thống kê đối chiếu những pho tượng có niên đại tuyệt đối để suy ra những pho tượng khác Hệ thống điêu khắc ở mỗi chùa bao trùm ít nhất 4 thế kỷ 17, 18, 19, 20, do đấy khi xác định người ta thường xếp loại 1, 2, 3, 4 tương ứng với 4 thế kỷ trong thế kỷ 18 đã xác định chùa giám, kim liên, tây phương, Mía, dâu, sủi, kiến sơ, trăm gian…
+ Điêu khắc chùa Giám: theo văn bia của chùa: chùa Giám đã làm 46 pho tượng chủ yếu của ngôi chùa, điện thờ phật chùa Giám ngày nay đã xáo trộn, không thể xác nhận hoàn toàn theo bia Pho tượng phật có thể, là tượng như lai (1715), gỗ phủ sơn, ngồi tư thế bán kết già, tay đặt đầu gối, tay giơ ngang, vai với hai ngón tay chỉ lên khoảng định niệm Đầu hơi to, tóc xoắn ốc lộ khướu trán, mặt rộng, mắt nhắm nghiền Các nếp y phục chạy vòng hướng vào trung tâm Ngực áo trang trí nhiều trang sức nổi Điêu khắc chùa kim liên (1726), mang tính hỗn hợp thần phật nhiều hơn, ba tòa nhà, tòa đầu bên phải có các tượng đức ông, quan hầu, ngựa hồng, bên mái là đức thánh quan hầu: tòa giữa là các tượng phật, tòa cuối 5 gian, tính từ phải sang: gia tiên thập phương thế giới - có các bài vị
gỗ đặt trên sập, bà thủ đền, bài vị, 2 ông hoàng, thờ bà chúa quỳnh hoa, gồm tượng tam tòa thánh mẫu, ngũ vị tôn quan, công chúa quỳnh hoa, 2 ông hoàng, các tượng chầu bà đức vua, 2 ông hoàng, tượng phật, 4 tượng sư tổ nam, 2 tượng sư tổ nữ Đáng chú ý có tượng tôn ngộ không gỗ phủ sơn cao 1m10, tay vung phía trước, tay giơ cao gậy, các chi tiết chân, tay, mặt mũi, quần áo diễn ta sinh động gần với sự thực, tượng vân phủ đồ tát,
gỗ phủ sơn, cao1m58, bệ 26 cm trong tư thế chấp 2 tay nắm trước ngực, mắt đăm chiêu khô héo, tà áo duỗi dài ra tạo các nhịp điệu xáo trộn vây bọc cơ thể tĩnh lặng Đối với văn thù là tượng phổ hiền bồ tát cũng có kích thước tương tự, tượng đứng chắp tay, mặt căng tròn, mắt nhắm nghiền, các nếp áo kéo dài Tượng phật, gỗ phủ sơn, cao 60 cm, bệ tòa
Trang 7sen cao 20 cm trong tư thế ngồi bán kết già tinh thần phẳng lặng áo hai nếp vắt qua vai chảy tràn xuống mặt bệ theo truyền thống tượng thế kỷ 16 – 17, tạo ra nhịp lượn sinh động Tượng quan âm 42 tay, cao 1m20 là một trong những pho tượng đẹp nhất ngôi chùa, đặt trên bệ tòa sen gỗ hình lục lăng không đều cao 20 cm Các bàn tay xếp so le nhiều hướng, với các ngón tay bùng co duỗi nhiều nhưng rất tinh xảo
+ Sự hoàn thiện của điêu khắc chùa tây phương đóng vai trò tạo ra bộ mặt của điêu khắc cuối thế kỷ 18 với cứu cánh tinh thần của phật giáo tịnh độ tông Tất nhiên không phải toàn bộ tượng chùa làm năm 1794 Có tượng quan âm 12 tay thế kỷ 17 là cổ nhất, muộn nhất là hai tượng kim cuơng mang từ nơi khác đến và quan âm 112 tay thế kỷ 19 , còn lại căn bản thuộc về thế kỷ 18 Đặc biệt là các nhóm: 1 - 7 tượng kim cương
+ Bộ tượng di đà tam tôn, tuyết sơn, di lặc, vân thù, phổ hiền, bộ tượng tam thế, 18 pho tượng các vị tổ sự sắp đặt các hệ thống này có tính loại hình cao mang tính tinh thần nhập cuộc của phật giáo nhằm đưa con người đến với niết bàn
+ Tượng bát bộ kim cương, gồm 8 pho, nhưng hiện còn 7, tất cả đều cao 2m2 tính từ đầu xuống không kể tầm vươn của các binh khí, thể hiện trình độ rất cao của nghệ thuật điêu khắc lắp ghép các thành phần gỗ, cũng như cách tìm bố cục, chuyển động trên một thân thể mang giáp trụ trong các thế võ Các trang trí phát triển, khuôn mặt mỗi người một vẻ mang tính cường điệu cao Bộ di đà tam tôn, gồm tượng adi đà đứng đứng hai bên thế chí cao 179cm, bệ 40 cm, và quan âm cao 185cm, bệ 37,5cm bày hàng trên cùng của điện thờ trung tâm tòa giữa
+ 4-18 pho tượng các vị tổ đóng góp lớn vào diện mạo nghệ thuật phật giáo có tính chất hiện thực: mỗi tượng là một tính cách, nội tâm, số phận riêng biệt trong nét điển hình của tuớng mạo gắn với thân phận của con người, tổ II mahacadiếp, tượng đứng cao 188cm,
bệ cao 40cm Ông xuất thân từ thợ rèn, rất thông minh và khẻo mạnh, có chí tu hành theo phật đi giảng kinh Tượng thể hiện một người lao động chững chặc, trán hơi nhô, lưỡng quyền cao, má hóp lông mày rậm, râu tỉa gọn, tay phải để ngang ngực, tay trái thu vào nách, bày tại tòa trung tâm trên điện thờ phật,
Trang 8+ Điêu khắc chùa Mía: sùng nghiêm tự, sơn tây, hà nội, là một tập hợp rất lớn, và không thuần nhất, do nhiều lần dồn chùa, đền nên các tượng ở nơi khác đem đến tượng thế kỷ
18 chiếm địa vị căn bản trong chùa Hai pho tượng hộ pháp thiện – ác cao 3m45 cả bệ và
8 pho tượng kim cương cao 2m20 rất đặc trưng cho tượng tròn đất sét đắp phủ sơn, tính chất kiểu sức phát triển cao độ với nhiều chi tiết và màu sắc trên các giáp trụ phức tạp So với tượng kim cương chùa tây phương bằng gỗ, kim cương chùa mía bằng đất đắp nên động tác thay đổi mạnh mẽ hơn với các thế võ vung binh khí và động thái chưởng cước, các màu vàng nâu, son xanh, hồng, tía phủ rất tinh vi, không có tương phản cường điệu,
mà ác màu sắc thuyên chuyển thâm trầm thay đổi theo từng phần nhỏ của diện tích
+ Điêu khắc chùa dậu (pháp vân tự - hà bắc), đóng góp vào lịch sử mỹ thuật những tác phẩm bất hủ, tượng phật adidà tiếp dẫn đứng cao 1m05, tay luôn thẳng, tay đặt lòng các chi tiết đều giản lược cho các mảng lớn ở ngực, mặt, tay, áo quần nổi khối.bức tượng gợi cho ta nhớ đến tượng phật hành hương nổi tiếng trong nghệ thuật sukhothai thái lan Tượng chùa dâu không đều như chùa khác, nhưng cũng rất nhục cảm
+ Điêu khắc đá trong 10 cung điện, đền thờ, lăng mộ: cung cổ bi 1727, 2 voi, 2 sư tử, 2
hổ, lăng đinh hương – ngựa, 2 nghê, 6 tượng người, lăng họ đỗ 1734, 2 chó, 2 ngựa, 2 nghê, 6 tượng người, sự suy giảm của phong trào dựng đình kéo theo điêu khắc đình làng thế kỷ XVIII, nghệ thuật phù điêu với các tập hợp chạm bong cực kỳ nhiều lớp, phức tạp thế kỷ XVII đã lùi dần, các đình có xu hướng chạm mặt phẳng
+ Khuynh hướng: loại hình hóa, hiện thực tả chân, chân dung, thô, mộc dân gian ở người hầu, thị giả và nhiều tượng nhỏ
+ Khuynh hướng trang trí hoành tráng ở hộ pháp, kim cương đi liền với trang trí kiến trúc
+ Tượng người và thú: ở lăng mộ cũng không có kiệt tác bao giờ nhưng lăng mộ thế kỷ
18 tiếp nối truyền thống từ các thế kỷ trước, và chuẩn bị cho tượng ngoài trời ở lăng mộ nhà nguyễn sau này Các đồ bằng đá và bia đá trang trí trên lăng mộ
Trang 9+ Cuối thế kỷ 18 có 11767 làng xã ở bắc bộ và thanh nghệ, chưa kể điêu khắc đình và lăng mộ Nghệ thuật điêu khắc thế kỷ 18: sự tràn ngập lãnh thổ và trở thành ngôn ngữ nghệ thuật phổ biến nhất cho toàn dân
4 Những nét mới trong nghệ thuật tạo hình đương đại Việt Nam
Cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra, đó là điều kiện khách quan lẫn chủ quan giúp cho nền mỹ thuật nước nhà nảy sinh một nền nghệ thuật tạo hình
Giai đoạn trước 1945 không có một dòng hiện thực phê phán mạnh mẽ, chưa có những tác giả tiêu biểu nhưng vẫn có vài tác phẩm để đời như Cha và con, Cô đơn của Trần Văn Cẩn
Các tác phẩm thi vị hóa, mộc mạc các phong cảnh như Chơi ô ăn quan, rửa rau cầu ao của Nguyễn Phan Chánh, các tác phẩm khác hầu như chưa đi vào chiều sâu để mổ xẻ kĩ càng hơn những thực tại của xã hội nhưng nó vẫn toát lên vẻ giản dị của những con người bình dị nhất Cho nên nghệ thuật Việt Nam thời này chất dân tộc được thể hiện khá rõ ràng
Sau năm 1930, dòng nghệ thuật có tính chất vô sản chưa được thể hiện rõ dù cách mạng nước ta đã phát triển khá mạnh mẽ, các tác phẩm có những màu sắc khá u buồn
Từ khi Pháp áp đặt mạnh mẽ văn hóa của mình vào nước Việt nên các giới nghệ sĩ bấy giờ cũng bị tác động phần nào
Nghệ thuật tạo hình lúc đó đã ra khỏi giai đoạn khuyết danh, không tên tuổi như trước nữa Trên lý do là kinh tế hàng hóa và sự hình thành các đô thị, hình thành nhiều giai cấp khác nhau trong xã hội nước ta
Tại sao các thợ hàn, thợ nề lại được công nhận là những người nghệ sĩ, nhà điêu khắc, họa sĩ có tên tuổi và số lượng này càng nhiều là ban đầu trường mỹ thuật đông dương và
mỹ nghệ được xây dựng đã đào tạo ra nhiều lớp nghệ sĩ khác nhau và chuyên nghiệp đủ loại Trong những lúc này để cho nhân dân biết nhiều hơn về nghệ thuật này thì các giới nghệ sĩ đã tranh thủ triển lãm để giới thiệu các tác phẩm của mình
Trang 10Giới nghệ sĩ đã có điều kiện tiếp xúc với nền nghệ thuật châu Âu, tiếp cận những tinh hoa nên họ đã biết rõ hơn kỹ thuật cơ bản đối với một tác phẩm, luật viễn cận, luật bố cục, giải phẫu học mỹ thuật, lý thuyết về màu, những chất liệu mới như sơn dầu, bột màu, thạch cao làm cho những ngôn ngữ trong nghệ thuật thêm nhiều màu sắc, thêm sự phong phú
Những chất liệu dường như là cũ nhưng khi đến giai đoạn này mang như sơn mài từ một chất liệu tạo hình độc đáo tạo nên nghệ thuật tạo hình khá độc đáo, lạ Lụa thì đã mang được hương vị của Việt Nam Tranh khắc gỗ lần nữa cũng được phát huy…( Chùa thầy, đền trung tự của nguyễn gia trí, tranh lụa của nguyễn phan chánh)…
Cách mạng tháng tám đã giúp người nghệ sĩ thoát ra những gì còn đang chật hẹp trong lối nghệ thuật của mình Con đường nghệ thuật không còn đậm hương vị nghệ thuật nữa mà mang đậm vị nhân sinh đã giúp nhiều giới nghệ sĩ khá hồ hởi để tham gia như Trần Văn Cẩn nước việt nam của người Việt Nam, áp phích lớn của Nguyễn Sáng với toàn dân đoàn kết,… đã tố cáo được nhiều tội ác của chiến tranh, mong muốn hòa bình Điều đó cho thấy thật sự giới nghệ sỹ đã hầu như theo tiếng gọi của cách mạng và làm cho nghệ thuật lúc này theo hướng cách mạng Nên các tác phẩm sẽ tả sự chân thực nhất xã hội lúc bấy giờ như Phá xiềng, Việt Nam được giải phóng, xuống đồng Chính môi trường cách mạng sẽ là môi trường đầy gian lao, đầy thử thách, lâu dài để tôi luyện các giới nghệ sĩ Trong thời kỳ này cũng có thêm vài chất liệu mới phát triển một cách mạnh mẽ như đồ họa, nó sẽ là những tác phẩm tuyên truyền một cách vô cùng hiệu quả
Cuộc kháng chiến chống Pháp, lớp nghệ sĩ theo cách mạng đã tập hợp lại, đến 1954, 1955 nhiều cuộc triển lãm thành công đã được diễn ra Lúc này cho thấy đã có sự phát triển mạnh, trưởng thành của những lớp nghệ sĩ Triển lãm trong nước lẫn nước ngoài như ở Moscow Cho đến 1964, nghệ thuật nước nhà đã phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu tức là số lượng và chất lượng, từ thể loại cho đến đề tài của những tác phẩm, đội ngũ đông đảo hơn, truyền thống được khai thác một cách triệt để, lưu giữ và phát triển