Hệ thống tiền tệ là chế độ tổ chức, lưu thông tiền tệ giữa các quốc gia dựa trên những thỏa ước và quy định ràng buộc giữa các quốc gia, có hiệu lực trong một không gian và thời gian nhất định. Các mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia nói riêng bằng cách này hay cách khác đều được biểu hiện thông qua các quan hệ tiền tệ. Từ đây đã hình thành nên hệ thống tiền tệ quốc tế, tập hợp các quy tắc, thể lệ và tổ chức nhằm tác động tới các quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới. Do mỗi hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời và chỉ vận hành có hiệu quả trong những điều kiện thích hợp về kinh tế, chính trị và xã hội nhất định nên khi những điều kiện này thay đổi sẽ dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ quốc tế. Cho đến nay đã có năm hệ thống tiền tệ quốc tế được sử dụng, bao gồm: chế độ bản vị vàng, bản vị đồng Bảng Anh, hệ thống Bretton Woods, hệ thống Jamaica, bản vị SDR và hệ thống tiền tệ Châu Âu.
Trang 1Hệ thống tiền tệ quốc tế Phần I Khái quát về hệ thống tiền tệ
Hệ thống tiền tệ là chế độ tổ chức, lưu thông tiền tệ giữa các quốc gia dựa trên những thỏa ước và quy định ràng buộc giữa các quốc gia, có hiệu lực trong một không gian và thời gian nhất định
Các mối quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và các quan hệ kinh tế đối ngoại của các quốc gia nói riêng bằng cách này hay cách khác đều được biểu hiện thông qua các quan hệ tiền tệ Từ đây đã hình thành nên hệ thống tiền tệ quốc tế, tập hợp các quy tắc, thể lệ và tổ chức nhằm tác động tới các quan hệ tài chính - tiền tệ giữa các quốc gia trên thế giới Do mỗi hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời và chỉ vận hành có hiệu quả trong những điều kiện thích hợp về kinh tế, chính trị và xã hội nhất định nên khi những điều kiện này thay đổi sẽ dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống tiền tệ quốc tế
Cho đến nay đã có năm hệ thống tiền tệ quốc tế được sử dụng, bao gồm: chế độ bản vị vàng, bản vị đồng Bảng Anh, hệ thống Bretton Woods, hệ thống Jamaica, bản vị SDR và
hệ thống tiền tệ Châu Âu
Phần II: Hệ thống tiền tệ quốc tế
I Chế độ bản vị vàng
Từ năm 1821 đến 1914, hấu hết các tiền tệ trên thế giới đều được quy đổi sang vàng Kinh tế toàn cầu được kết nối thông qua việc sử dụng chung cơ chế quy đổi vàng, tiền
Trang 2định của pháp luật với những yêu cầu như Nhà nước không hạn chế việc đúc tiền vàng, tiền giấy quốc gia được nhà nước xác định một trọng lượng vàng nhất định và được tự do chuyển đỏi ra vàng theo tỉ lệ đó, và tiền vàng được lưu thông không hạn chế Chế độ này được áp dụng phổ biến ở các nước cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỉ XX.
1.1.3 Chế độ bản vị vàng hối đoái
Đây là chế độ quy định tiền giấy quốc gia không được trực tiếp chuyển đổi ra vàng Muốn đổi ra vàng, cần phải thông qua một ngoại tệ Ngoại tệ đó phải được tự do chuyển đổi ra vàng như USD, Bảng Anh Chế độ này từng được áp dụng ở Ấn Độ năm 1898, ở Đức năm 1924, ở Hà Lan năm 1928
1.2.Nguyên tắc hoạt động
Thứ nhất, dưới chế độ bản vị vàng các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền của mình với vàng, hay nói cách khác là chính phủ ấn định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã ấn định Tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền của các quốc gia được xác định thông qua vàng
Trang 3Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất nhập khẩu vàng giữa các quốc gia được tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia với nhau nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng.
Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, Ngân hang trung ương luôn phải duy trì một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành, tức tiền do NHTW phát hành được “bảo đảm bằng vàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng
để như tuyên bố bảo đảm hàm lượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng và trì trệ kinh tế Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm
1819 sau khi Ngân hàng quốc gia thứ hai ra đời năm 1816
Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, dễ dàng phân biệt, thẩm định nhờ màu đặc trưng, độ dẻo, âm thanh khi va chạm, khối lượng riêng lớn; vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị - nó đã được chọn từ
xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ của cải
Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới còn áp dụng bản vị vàng Thay vào đó, tiền luật định được áp dụng, có nghĩa là Nhà nước áp đặt sử dụng đồng tiền do họ phát hành, yêu cầu nộp thuế, nhận trợ cấp, thanh toán của Chính phủ bằng đồng tiền đó Ở một
số định chế tài chính tư nhân, bản vị vàng vẫn được áp dụng
1.4 Lịch sử phát triển
Tính chất không ổn định của chế độ hai bản vị đã kìm hãm sự phát triển nhanh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhưng trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện khách quan để thực hiện một chế độ bản vị đơn vàng, vì lượng vàng khai thác ra chưa thể đáp ứng yêu cầu lưu thông tiền tệ bằng vàng, do đó, phải đúc tiền bạc để đưa vào lưu thông
Trang 4trình tạo ra tín dụng Tín dụng bởi các tổ chức ngân hàng dưới chế độ bản vị vàng đe dọa khả năng chuyển đổi của giấy bạc do họ phát hành và dẫn đến hậu quả là vàng bị rút ra khỏi các quỹ dự trữ của ngân hàng đó ngoài ý muốn.
1.5.1 Sự ổn định nhờ bản vị vàng
Theo lý thuyết, bản vị vàng giới hạn quyền năng của chính phủ trong việc tạo ra lạm phát bằng cách bơm thêm tiền giấy vào lưu thông, mặc dầu vậy, có bằng chứng cho thấy trước Thế chiến thứ nhất, các nhà quản lý tiền tệ đã không mở rộng hay thu hẹp cung tiền ngay cả khi nước đó bị thất thoát vàng Bản vị vàng tạo ra sự vững chắc của thương mại quốc tế do nó cung cấp một cơ cấu cố định tỷ giá tiền tệ Sau các chế độ bản vị bạc mất giá liên tục của mười năm đầu thế kỷ 18, vàng được coi là sự thay thế tốt hơn và trở thành nguyên nhân, mục đích cho thương mại Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ 19, những lập luận chống lại bản vị vàng tạo ra xu hướng chính trị ở đa số các quốc gia công nghiệp nghiêng
về những dạng tiền tệ dựa trên bạc, hoặc thậm chí là tiền giấy không thôi
Dưới chế độ bản vị vàng cổ điển quốc tế, những biến động về giá ở một quốc gia sẽ được điều chỉnh một phần hoặc toàn bộ bởi cơ chế tự cân bằng thanh toán gọi là cơ chế dòng chảy giá cả-bản kim (bản kim ở đây là tiền xu vàng) Cơ cấu này như sau:
Đầu tiên, khi giá một loại hàng hóa giảm xuống nhờ cung tăng vọt, tăng hiệu quả vốn, giảm giá đầu vào hoặc do cạnh tranh, người mua sẽ nghiêng về hàng hóa đó nhiều hơn những hàng hóa khác Bởi sự ổn định tỷ giá tiền-vàng, người tiêu dùng ở các nước khác sẽ mua hàng hóa được định giá thấp nhất và vì thế, vàng sẽ chảy về các nước có nền kinh tế hiệu quả nhất
Lúc đó, quốc gia mới nhận luồng vàng đến phải tăng cung tiền tệ và chịu áp lực lạm phát vừa phải để bù lại việc giảm giá trước đó Đồng thời, lượng tiền lưu hành ở các nền kinh tế kém hiệu quả bị giảm đi, vì vậy giá cả ở các nước này giảm xuống cho đến khi sự cân bằng được khôi phục
Các ngân hàng trung ương, với mục đích ngăn cản luồng vàng chảy đi, sẽ chống đỡ
Trang 5bằng cách tăng tỷ lệ lãi suất làm sao để đưa giá cả trở lại mức cân bằng quốc tế nhanh hơn
Về mặt lý thuyết, chừng nào còn duy trì bản vị vàng thì chừng đó hạn chế được lạm phát cao hoặc giảm phát ngoài tầm kiểm soát Có một thời gian, người ta tin rằng các thị trường luôn luôn vận hành rạch ròi (xem nguyên lý Say) Sự giảm phát sẽ làm thay đổi giá của vốn trước tiên, có nghĩa là giá của vốn giảm và cho phép tăng trưởng nhanh hơn đồng thời giá cả về mặt dài hạn vẫn ổn định Tuy nhiên, in trên thực tế, điều này lại không diễn ra mà tiền lương (giá của lao động), chứ không phải giá của tư bản, sẽ bị hạ xuống trước tiên
1.5.2 Mô hình Mundell-Fleming
Theo kinh tế học tân cổ điển, mô hình Mundell-Fleming diễn tả động thái của các đồng tiền trong chế độ bản vị vàng Do giá trị tiền tệ được gắn liền với hàm lượng vàng, những yếu tố tự do còn lại để điều tiết thị trường vốn-tiền tệ là (1) tự do di chuyển luồng vốn và (2) chính sách tài chính, tiền tệ Một lý do khiến đa số các nhà kinh tế học vĩ mô hiện nay không ủng hộ sự trở lại của bản vị vàng là mối quan ngại hai yếu tố trên không đủ để đối phó với suy thoái hoặc giảm phát lớn
Mundell lập luận rằng vì trong một nền kinh tế công nghiệp, một lượng lớn tư bản không linh động, chế độ bản vị vàng quốc tế hoặc thậm chí là chỉ ở một quốc gia có thể được tái lập Vẫn theo ông, điều này sẽ cho phép ngân hàng trung ương một phạm vi tự do
đủ để giảm thiểu tác động tiêu cực của chu kỳ kinh tế Nó sẽ giảm tỷ lệ lãi suất ở pha suy thoái và tăng trở lại để kiềm chế tăng trưởng nóng Milton Friedman không thống nhất ở điểm này, ông nêu ra các tác động bởi tiền tệ về mặt lượng sẽ gây ra giảm phát trong hệ thống đó và các quốc gia thành công sẽ nhận ra lợi ích thu được ít hơn là Mundell kỳ vọng, bởi luồng vàng di chuyển đến một quốc gia sẽ gây lạm phát ở nước đó Cuộc tranh luận này tương tự cuộc tranh luận của Adam Smith và David Hume trong thế kỷ 18 về việc tăng lượng tiền tệ có phải là một mục tiêu đáng thực hiện hay không
Nhiều quốc gia chống lưng cho nền kinh tế bằng cách tích trữ vàng Số dự trữ này không phải để bảo đảm giấy bạc được phát hành mà nó là tài sản bảo vệ tiền tệ khỏi tỷ lệ lạm phát cao Những người cố súy cho vàng cho rằng không cần biện pháp này vì tiền tệ tự
nó đã mang giá trị nội tại Bản vị vàng khi đó được khuyến khích bởi những người tin rằng một vật cất trữ giá trị ổn định là thành tố quan trọng nhất đối với sự an tâm trong kinh doanh
Nói chung thì ngày nay đại đa số các chính phủ và các nhà kinh tế không ủng hộ bản vị vàng, vì chế độ này thường cho thấy là không tạo đủ sự linh hoạt cho nguồn cung tiền tệ và chính sách tài khóa Và lý do của việc này là ở chỗ nguồn cung cấp vàng mới (tức là nguồn cung cấp thêm tiền tệ dưới chế độ bản vị vàng) thì giới hạn và phải được sử dụng một cách căn cơ
Một quốc gia đơn lẻ không thể cách li nền kinh tế của nó với những biến động suy
Trang 6cầu hóa của thế kỷ 19 là bằng chứng của sự tính thực tiễn và ưu việt của chế độ bản vị vàng và nêu ra rằng nước Anh đã đi lên vị trí đế vương, cai trị gần một phần tư dân số thế giới và xây dựng đế quốc thương mại mà ngày nay là Khối thịnh vượng chung Anh.
Những kẻ ky cóp vàng (goldbug) lấy nó là vật bảo vệ trước sự lạm phát giá cả hàng hóa và
là biểu hiện cội nguồn của tài nguyên Vì vàng có thể đổi ra bất kỳ đồng tiền nào, được chấp nhận ở mọi quốc gia trên thế giới, họ xem vàng là vật bảo đảm trước sự phiêu lưu của các ngân hàng trung ương trong chính sách tiền tệ và vàng là phương tiện chống rủi ro biến động tiền tệ Với lập luận này, họ cho rằng cuối cùng thì chế độ vàng sẽ trở lại vì nó là vật mang giá trị ổn định duy nhất
Ngày nay, không nhiều nhà kinh tế học ủng hộ việc trở lại bản vị vàng trừ trường phái kinh tế học Áo và trường phát trọng cung Tuy vậy nhiều nhà kinh tế lớn đồng tình với việc lấy kim loại là cơ sở của tiền tệ, đồng thời lập luận chống lại tiền luật định Lý do mà
có rất ít sự ủng hộ bản vị vàng đó là những hệ quả của sự tự điều chỉnh đó không được coi
là thích đáng ở thế kỷ 20 và 21
Vì vậy, bản vị vàng có xu hướng bị bãi bỏ khi các chính phủ nhận thấy việc bỏ qua nó
có lợi ích hơn Thực chất, bản vị vàng không có nghĩa là các quốc gia không thể chuyển sang tiền luật định khi có chiến sự hoặc trong các tình trạng khẩn cấp khác Điều này vẫn xảy ra mặc dù vàng tăng giá trong các tình huống như vậy vì mọi người thường sử dụng vàng để tích trữ vì lo sợ rằng tiền luật định thường cho phép lạm chi và do đó thường dẫn tới lạm phát hoặc sử dụng tem phiếu
1.6.Ưu điểm – Nhược điểm
1.6.1.Ưu điểm
- Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển và hưng thịnh Điều này được chứng minh trong thời kì 1880-1914, với hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn
và kiểm soát ngoại hối và chu chuyển vốn ít khi được áp dụng cộng với việc không có một
sự phá giá hay nâng cao giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển với trung tâm là London
- Khuyến khích phân công lao động quốc tế, giúp gia tăng phúc lợi thế giới Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro về
Trang 7tỉ giá, điều này khiến cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển, luồng vốn lưu chuyển
tự do giữa các quốc gia để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất
- Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán vận hành trơn tru Với cơ chế dòng vàng – giá
cả như đã nêu trên, những bất cân đối trong cán cân thanh toán của các quốc gia sẽ tự động được điều chỉnh về trạng thái cân bằng Trong trường hợp các quốc gia tuân thủ những quy tắc của hệ thống, cơ chế dòng vàng – giá cả sẽ vận hành một cách trơn tru và hiệu quả
- Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra Vì có sự tác động của cơ chế dòng vàng – giá cả nên những thâm hụt hay thặng dư trong cán cân thanh toán của một quốc gia được điều chỉnh một cách tự động theo quan hệ cung cầu phổ biến, do đó, trong thời kì này ít khi xảy ra những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia
- Những mỏ vàng có thể phát hiện bất cứ lúc nào, do đó làm tăng lượng cung ứng tiền
và có thể dẫn đến tình trạng lạm phát Ngược lại, ở những quốc gia khan hiếm vàng thì sẽ
bị hạn chế lượng cung ứng tiền, và trở thành nguyên nhân gây kìm hãm nền kinh tế
- Mặt khác, trong chế độ bản vị vàng không có những cơ chế ràng buộc các quốc gia phải tuân thủ các quy tắc của hệ thống nên trên thực tế, quy tắc về đảm bảo số tiền phát hành trên cơ sở lượng vàng dự trữ thường bị bỏ qua
- Với cơ chế điều chỉnh thông qua dòng vàng lưu chuyển tự do giữa các quốc gia và việc phát hành tiền dựa trên lượng vàng dự trữ khiến cho việc điều hành của NHTW kém linh động, vai trò của NHTW trong nền kinh tế cũng không rõ nét
II Bản vị đồng Bảng Anh
2.1 Khái niệm
Bảng Anh ( ký hiệu : £, mã ISO : GBP ) là đơn vị tiền tệ chính thức của Vương quốc
Anh, bao gồm các lãnh thổ hải ngoại và thuộc địa Ký hiệu của đồng bảng Anh ban đầu có
2 vạch trên thân (₤), sau này mới chuyển thành một gạch (£), ký hiệu này xuất xứ từ ký tự
L trong LSD (tên viết tắt của các đơn vị trong hệ đếm 12 – librae, solidi, denarii, chuyển sang tiếng Anh là Pound, silling và pence)
2.2 Lịch sử lâu đời
Đồng bảng Anh là đồng tiền lâu đời nhất còn được sử dụng sau khi một số quốc gia thuộc khối EU chuyển sang dùng đồng Euro (€) Nó là đồng tiền được lưu trữ trong các
Trang 8Đồng Tealby cổ.
Elizabeth I cùng nhóm cố vấn của bà đã đưa ra “đồng bảng Anh” như một đơn vị tiền
tệ vào năm 1560-1561 để chống lạm phát, tuy nhiên, việc này lại phát sinh ra việc làm bạc giả gây cản trở giá trị của tiền tệ
Trước đồng bảng Anh, trong thời gian đầu thời kỳ Trung cổ, những đồng xu làm bằng bạc được sử dụng như một loại tiền tệ Kể từ đó, đồng bảng vẫn giữ một vị trí ổn định bất
kể các đồng tiền khác của Châu Âu thay đổi ra sao Qua các khủng hoảng tài chính năm
1621, 1694-96, 1774 và 1797, đồng bảng vẫn vững vàng
Ngay cả những thời điểm khó khăn (khi Nội chiến nước Anh gây loạn lạc) cũng không làm đồng bảng mất giá Có ý kiến cho rằng, nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ, nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong suốt thế kỷ 18 Đồng bảng là đồng tiền chính thức của Ngân hàng Anh ngay khi
nó được thành lập năm 1694
2.3 Các hình in trên đồng Bảng
Bảng Anh được phát hành dưới 2 dạng là tiền kim loại và tiền giấy
Trang 9
2.3.1 Tiền kim loại
Do xưởng đúc tiền hoàng gia phát hành bao gồm mệnh giá 1 xu, 2 xu, 5 xu, 10 xu, 20
xu, 1 bảng và 2 bảng Có cả đồng 5 bảng nhưng ít được sử dụng
Trên đồng 1 xu có hình cổng thành Westminster Palace Được phát hành ngày 15 tháng 2 năm 1971.
Trên đồng 2 xu có hình biểu tượng của Huân tước xứ Wales Được phát hành ngày 15 tháng 2 năm 1971.
Trang 10Trên đồng 5 xu có hình hoa Thistle, quốc hoa của xứ Scotland Hiện tại phiên bản nhỏ hơn được phát hành tháng 6 năm 1990 (phiên bản lớn hơn được giới thiệu năm 1968, bị hủy năm 1990).
Trên đồng 10 xu có hình một con sư tử, tượng trưng cho xứ England Hiện tại phiên bản nhỏ hơn phát hành tháng 9 năm 1992 (phiên bản lớn hơn được giới thiệu năm 1968 song
đã bị hủy vào năm 1993).
Trang 11Đồng 20 xu có hình Tudor Rose – quốc hoa của Vương Quốc Anh Phát hành ngày 9 tháng
6 năm 1982.
Đồng 50 xu có hình Britannia, nữ thần tượng trưng cho đại đế quốc Anh và hình một con
sư tử cũng là biểu tượng của nước Anh Hiện tại, bản nhỏ hơn được giới thiệu tháng 9 năm 1997,(phiên bản lớn hơn được giới thiệu tháng 10 năm 1969 và bị hủy năm 1998).
Trang 12Đồng 1 bảng có rất nhiều hình ảnh phản ánh các quốc gia khác nhau của Vương
quốc Anh: biểu tượng sư tử quen thuộc của đội tuyển Anh, biểu tượng của cây thánh giá Celtic xứ Bắc Ireland Được phát hành vào ngày 21 tháng 4 năm 1983.
Đồng 2 bảng có thiết kế đại diện cho sự phát triển về công nghiệp ở Anh Phát hành ngày
15 tháng 6 năm 1998.
2.3.2 Tiền giấy
Do ngân hàng Anh và các ngân hàng ở Scotland, bắc Ireland phát hành Bao gồm các mệnh giá : 5 bảng, 10 bảng, 20 bảng và 50 bảng
Trang 13Trên tờ 5 bảng có in hình Elizabeth Fry, một nhà hoạt động xã hội đã có công cải thiện điều kiện sống cho phụ nữ ở các nhà tù Châu Âu Song tờ 5 bảng này đã không còn là đồng tiền tệ chính thức vào ngày 21 tháng 11 năm 2003.
Trên tờ 10 bảng có in hình Charles Darwin, nhà khoa học tự nhiên, người đề
xuất Thuyết Tiến hóa Ngoài ra, nó còn được in hình các hệ động thực vật mà ông đã từng khám phá.
Tờ 20 bảng có hình Edward Elgar, một nhà soạn nhạc người Anh.
Trang 14Tờ 50 bảng có hình John Houblon, người sáng lập Ngân hàng Anh và là thống đốc đầu tiên của ngân hàng Anh.
Có cả tiền giấy mệnh giá 100 bảng, nhưng không lưu thông trên thị trường Tiền giấy mệnh giá 1 bảng được dùng ở quần đảo Channels và Scotland
Bảng Anh vẫn luôn là một trong những đồng tiền có giá trị cao nhất trên thế giới
2.4 Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá giao dịch của đô la Mỹ với đồng bảng Anh(USD/GBP) qua một số năm:
Tỷ giá giao dịch với đồng Việt Nam (GBP/VND) cập nhật ngày 20/01/2013 là:
• 33.208 Tỷ giá Ngân Hàng Vietinbank
• 33.502.69 Tỷ giá ngân hàng VietcomBank
2.5 Lịch sử ra đời và phát triển của đồng bảng Anh
Năm 1526, đơn vị pound bạc được nâng lên 373,242 gram gọi là Troy pound
Trang 15Là một đơn vị tiền tệ, đồng bảng Anh xuất xứ từ giá trị của khối lượng bạc trong đồng Tower pound.
Kể từ đó, đồng pound sterling giữ ổn định giá trị nội tại của nó bất kể các đồng tiền khác của Châu Âu thay đổi ra sao, qua các khủng hoảng tài chính năm 1621, 1694-96,
1774 và 1797 và thậm chí là sau khi nước Anh chuyển sang bản vị vàng Ngay cả những loạn lạc của Nội chiến nước Anh cũng không làm đồng bảng mất giá Có ý kiến cho rằng nhờ đồng tiền vững giá trong nhiều thế kỷ, nước Anh xây dựng được nền tảng tài chính ưu việt, hệ thống tín dụng an toàn, uy tín trong suốt thế kỷ 18 Đồng bảng là đồng tiền chính thức của Ngân hàng Anh ngay khi nó thành lập năm 1694
2.5.3 Bản vị vàng
Đồng bảng chuyển sang bản vị vàng một cách không chính thức từ bản vị bạc nhờ sự định giá vàng quá cao ở Anh khiến vàng chảy về nước Anh đối lại cho dòng xuất khẩu bạc đều đặn Thực tế này xảy ra dù có việc tái định giá vàng năm 1717 của Ngài Isaac Newtonlúc đó là người đứng đầu Xưởng đúc tiền hoàng gia (Royal Mint) Bản vị vàng được lập lại sau khi Chiến tranh Napoleon cho đến sau Thế chiến thứ nhất
Cho đến trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nước Anh là một trong những nền kinh
tế mạnh nhất thế giới, chiếm 40% luồng xuất ngoại đầu tư của toàn cầu Thế nhưng, sau Đại chiến thế giới I (1914-1918), các quốc gia ở Châu Âu bị kiệt quệ về kinh tế, nước Anh cũng nằm trong tình trạng này, nó vay nợ 850 triệu bảng chủ yếu là từ Hoa Kỳ, với lãi suất lên tới 40% chi tiêu của chính phủ Tuy nhiên, London vẫn giữ được vị thế mạnh về kinh
tế và tài chính so với các nước trong khu vực nhờ có hệ thống thuộc địa rộng lớn và thị trường London rất phát triển của mình Lợi dụng vị thế đó, Anh đã thiết lập hệ thống tiền
tệ quốc tế, lấy chính đồng bảng Anh làm đồng tiền chủ chốt Tại hội nghị Jenno, được
Trang 16thể đổi đồng bảng lấy vàng thỏi chứ không phải xu vàng Vì vậy đồng tiền tệ quốc tế này còn được gọi là chế độ bản vị vàng thoi, hay chế độ bản vị vàng hối đoái Bản vị vàng bị từ
bỏ ngày 21 thỏng 09 năm 1931 trong thời gian Đại khủng hoảng và bảng Anh mất giỏ 25%
Ngày nay, việc đảm bảo quy đổi tiền tệ ra kim loại quý không còn nữa Dollar Mỹ là đồng tiền cuối cùng duy trì bản vị vàng tới năm 1971 Bảng Anh đã từng là đồng tiền của nhiều khu vực của Đế quốc Anh Khi Đế quốc Anh trở thành Khối thịnh vượng chung, các quốc gia tự phát hành đồng tiền riêng như đồng bảng Australia (1910-1966) và đồng bảng Ireland (1928-1999) Những đồng tiền này nằm trong ảnh hưởng của đồng bảng và tỷ giá gắn với bảng Anh
2.5.4 Gắn chặt với đô la Mỹ
Kể từ khi từ bỏ cam kết quy đổi trực tiếp đồng bảng ra vàng (bản vị vàng), có một số
nỗ lực để cố định giá trị của bảng Anh với một số ngoại tệ khác, đặc biệt là với đô la Mỹ
Dưới những áp lực kinh tế liên tiếp và mặc dù luôn từ chối phá giá đồng bảng, cuối cùng, ngày 19 tháng 9 năm 1949, chính phủ Anh buộc phải phá giá tiền tê 40% từ tỷ giá với đô la Mỹ là £1 = US$4 xuống US$2,80 Động thái này kéo theo sự phá giá so với đô la
Mỹ của đồng tiền các quốc gia khác gồm Úc, Đan Mạch, Ireland, Ai Cập, Ấn Độ, Israel, New Zealand, Na Uy, và Nam Phi
Đến giữa những năm 1960, đồng bảng lại đứng trước áp lực phá giá so với đồng đô la
Mỹ Mùa hè năm 1966, giá trị bảng Anh tụt xuống trên thị trường tiền tệ Chính phủ của thủ tướng Wilson buộc phải thắt chặt kiểm soát giao dịch ngoại tệ Ngày 18 tháng 11 năm
1967, đồng bảng Anh mất giá tới 14,3% xuống mức £1 = US$2,41 Trong nhiều biện pháp quản lý, có cả những biện pháp cực đoan như cấm khách du lịch mang ra khỏi nước Anh quá £50 Sự cấm đoán được dỡ bỏ năm 1970
Trang 17Cùng với sự sụp đổ của Hệ thống tiền tệ Bretton Woods, đồng tiền của nước Anh được thả nổi, để tự thị trường quyết định giá trị Khu vực ảnh hưởng của đồng bảng Anh chấm dứt sự tồn tại cùng quyết định này, các thành viên của khu vực cũng thả nổi tỷ giá tiền tệ.
Một cuộc khủng hoảng tài chính nữa diễn ra năm 1976 khi có tin tiết lộ rằng Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF) cho rằng tỷ giá của đồng bảng nên ở tỷ giá £1 = US$1,50 Kết quả là tỷ giá thị trường của bảng Anh sa xuống mức £1 = US$1,57 và chính phủ Anh quyết định phải vay £2,3 tỷ từ IMF để cứu vãn tỷ giá đồng tiền Đầu thập kỷ 1980, đồng tiền nước Anh tăng dần giá trị lên trên US$2 nhờ lãi suất tăng lên khi chính sách tiền tệ hướng đến sử dụng công cụ nguồn cung tiền tệ Tỷ giá cao của đồng bảng bị chỉ trích là một nguyên nhân của sự suy thoái kinh tế của nước Anh năm 1981 Tỷ giá tụt xuống mức thấp nhất là tháng
2 năm 1985 với giá £1 =US$1,05 Nó nhanh chóng lấy lại sức mạnh vào đầu những năm
1990, trở về ngưỡng US$2
2.5.5 Gắn chặt với đồng Mác Đức
Năm 1988, Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson dưới thời thủ tướng Margaret Thatcher quyết định rằng đồng bảng sẽ "theo bóng" đồng Mác Tây Đức Hậu quả là lạm phát gia tăng nhanh chóng trong khi kinh tế bùng nổ ngắn hạn bởi lãi suất quá thấp Chính phủ của Đảng Bảo thủ Anh từ chối sử dụng các cơ chế bổ sung khác nhằm kiểm soát bùng nổ tín dụng Cựu thủ tướng Ted Health mô tả Bộ trưởng Tài chính Nigel Lawson là "tay chơi gôn chỉ có một gậy"
2.5.6 Gắn với đồng tiền chung Châu Âu
Một thay đổi chính sách tỷ giá khác là vào ngày 08 tháng 10 năm 1990 khi chính phủ của thủ tướng Thatcher gia nhập Cơ chế tỷ giá Châu Âu (European Exchange Rate
Mechanisim - ERM) ở tỷ giá £1 = DM2,95 Tuy vậy, sau ngày thứ Tư đen tối (16 tháng 09
năm 1992), nước Anh ra khỏi cơ chế này bởi nền kinh tế Anh làm cơ chế này không thể duy trì được Tỷ phú George Soros kiếm được khoảng 1 tỷ đô la Mỹ nhờ đầu cơ bán trước mua sau đồng bảng Anh
Sự kiện " thứ Tư Đen " chứng kiến tỷ lệ lãi suất nhảy vọt từ 10% lên 12% và cuối cùng
là 15% trong một nỗ lực vô ích nhằm cứu vãn tỷ giá đồng bảng không bị rớt khỏi các mức giới hạn của Cơ chế tỷ giá Châu Âu Tỷ giá ngoại hối sa xuống £1 = DM2,20 Những người ủng hộ giá trị thấp của đồng bảng cho rằng đồng tiền Anh rẻ hơn đã thúc đẩy xuất khẩu và góp phần vào sự thịnh vượng kinh tế của nước Anh thập kỷ 1990
Ngân hàng trung ương của Malaysia (Bank Negara Malaysia) tiết lộ rằng nó bị lỗ hơn 4
tỷ đô la Mỹ khi đồng bảng Anh bị phá giá
Trang 18soát lạm phát, thống đốc Ngân hàng Anh phải giải trình trước chính phủ Anh về thực tế này.
2.5.8 Với đồng tiền chung Châu Âu - Euro (€)
Là một thành viên của Liên minh Châu Âu nước Anh có quyền chấp nhận euro (€) là đồng tiền chính thức của nó Song, do còn nhiều tranh cãi về mặt chính trị không chỉ là bởi nước Anh đã từng bị buộc phải ra khỏi Cơ chế Tỷ giá Châu Âu khi mà sự yếu kém của kinh tế Anh làm cho cơ chế này không duy trì được Cùng với Đan Mạch và Thụy Điển, Anh chưa gia nhập đồng hệ thống đồng tiền chung Châu Âu Đứng về mặt lý thuyết, các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu phải gia nhập hệ thống này và chấp nhận đồng euro, tuy nhiên có quyền trì hoãn không xác định thời gian Việc thay thế đồng bảng bằng đồng euro gặp phải trở ngại còn bởi lý do đồng bảng là biểu tượng tự hào quốc gia của Anh
Mặc dù bảng Anh và Euro (€) không gắn chặt với nhau, hai đồng tiền này đã có một thời gian dài lên xuống cùng nhau Cho đến giữa năm 2006, sự song hành này mới chấm dứt Những lo ngại về lạm phát khiến Ngân hàng Anh hai lần nâng tỷ lệ lãi suất ngoài dự kiến vào cuối năm 2006 và đầu 2007, kết quả là đồng bảng chạm mức tỷ giá so với Euro (€) cao nhất kể từ tháng Giêng năm 2003 Ngày 18 tháng 04 năm 2007, đồng bảng Anh nhảy lên mức tỷ giá cao nhất trong vòng 26 năm so với đô la Mỹ Trước đó một ngày, nó
đã vượt qua ngưỡng US$2 của năm 1992
Vậy, hệ thống tiền tệ dựa trên bảng Anh được hình thành nhằm phục vụ cho ý đồ kinh
tế và chính trị của nước Anh Khi kinh tế nước Anh suy thoái, hệ thống thuộc địa của Anh
bị thu hẹp mạnh mẽ do phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế lớn của thế giới (1929_1933) đến gần thì vị trí của GBP không còn nữa Hệ thống tiền tệ dựa trên bảng Anh sụp đổ, GBP mất vị trí là đồng tiền quốc tế, nó chỉ còn là đồng tiền quốc gia Nhưng do vị thế tài chính của nước Anh trên thị trường quốc tế còn rất lớn, cho nên hiện nay GBP vẫn là đồng tiền có khả năng thanh toán mạnh trên thế giới
Trang 192.6 Giá trị của đồng bảng
Năm 2006, thư viện của Hạ Nghị viện Vương quốc Anh phát hành một ấn bản thống kê giá trị của bảng Anh từng năm từ 1750 đến 2005 với giá trị của năm 1974 (là năm bỏ bản
vị vàng của nền kinh tế Mỹ) là 100 Về giai đoạn 1750-1914, được nhận xét: "Mặc dù giá
cả có những biến động đáng kể theo từng năm trước năm 1914 (phản ánh tình hình mùa màng, chiến tranh, v.v ) nhưng trong thời gian dài mức tăng giá không thể so sánh với giai đoạn sau 1945" Bản nhận xét tiếp tục, "từ năm 1945, giá cả tăng hàng năm tổng cộng đến
2005 là hơn 27 lần mức giá năm 1945"
Chỉ số giá trị đồng bảng năm 1750 là 5,1, tăng đến đỉnh cao ở con số 16,3 năm 1813,
và sau đó nhanh chóng giảm xuống quanh 10,0 ngay sau kết thúc chiến tranh Napoleon Cho đến hết thế kỷ 19, chỉ số dao động trong khoảng 8,5 đến 10,0 Chỉ số đồng bản năm
1914 là 9,8; lên đỉnh cao 25,3 năm 1920 để rồi giảm xuống 15,8 năm 1933 và 1934 Như vậy giá cả thời điểm này đã gấp ba lần so với 180 năm trước đó Lạm phát đã có ảnh
hưởng to lớn trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai: - chỉ số 20,2 năm 1940 và 757,3 năm 2005
III Hệ thống Bretton Woods (BWS)
3.1 Sự hình thành hệ thống Bretton Woods
• Nguyên nhân : Sau Chiến tranh TG thứ nhất, các quốc gia đã cố gắng phục hồi lại
hệ thống bản vị vàng nhưng nó đã sụp đổ hoàn toàn trong cuộc Đại khủng hoảng của những năm 1930 Ngay trước khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các nước
Trang 20giữ gần như toàn bộ lượng vàng của thế giới nên các nhà lãnh đạo quyết định gắn các đồng tiền thế giới với đồng đôla, đồng tiền mà tiếp sau đó được họ đồng ý đổi
ra vàng ở mức 35 USD/1ounce
3.2.Nguyên tắc hoạt động
Hệ thống tiền tệ quốc tế mới được xây dựng chủ yếu trên cơ sở kế hoạch do đoàn đại biểu Mỹ đưa ra (một kế hoạch khác do Anh đưa ra đã không được chấp thuận) theo đó hệ thống phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản sau đây:
- Các tổ chức quốc tế - hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài chính tiền tệ đòi hỏi phải thành lập một tổ chức quốc tế với những chức năng và quyền hạn nhất định
- Chế độ tỷ giá hối đoái - tỷ giá hối đoái phải được xác định cố định về mặt ngắn hạn, nhưng có thể được điều chỉnh khi xuất hiện tình trạng “mất cân đối cơ bản”
- Dự trữ quốc tế - để giúp chế độ tỷ giá cố định điều chỉnh hoạt động một cách có hiệu quả, các quốc gia cần tới một lượng dự trữ quốc tế lớn, vì vậy phải có sự gia tăng vàng và các nguồn dự trữ bằng tiền Dự trữ Qte đc cung cấp thông qua các hạn mức cho vay và hạn mức đóng góp đối với các thành viên thuộc IMF
- Khả năng chuyển đổi của đồng tiền – vì lợi ích kinh tế chung mà tất cả các quốc gia phải tham gia vào mọi hệ thống thương mại đa phương tự do, trong đó các đồng tiền phải được chuyển đổi tự do và ko hạn chế
- IMF sẽ điều tiết chế độ tỷ giá của các Quốc gia, giám sát việc tuân thủ những quy định đã
đc thống nhất về thương mại và tài chính Quốc tế, đồng thời cung cấp tín dụng cho các Quốc gia thành viên gặp phải tình trạng thiếu hụt tạm thời trong cán cân thanh toán
3.
3 Đặc điểm của hệ thống Bretton Woods
Thứ nhất là chế độ tỷ giá Tỷ giá hối đoái cố định trong ngắn hạn, có thể điều chỉnh
trong nhưng trường hợp cụ thể Theo quy định của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), mỗi đồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá cố định với USD và được phép dao động trong biên
Trang 21độ ±1% Giá USD được cố định với vàng là 35USD/ounce Việc cố định tỷ giá đôla với vàng đã tạo lòng tin cho cả thế giới vì Mỹ vào thời điểm đó chiếm 70% dự trữ vàng của thế giới Chính phủ Mỹ cam kết đổi đôla ra vàng không hạn chế Một cách gián tiếp, các quốc gia có thể hoàn toàn tin tưởng khi neo giá đồng tiền nước mình với đồng đôla Trong những trường hợp mất cân bằng nghiêm trọng trong cán cân thanh toán, các quốc gia có thể tiến hành phá giá hay nâng giá đồng tiền với biên độ nhỏ hơn 10% trước khi IMF phải can thiệp.
Thứ hai, là dự trự quốc tế Muốn duy trì tỷ giá hối đoái cố định, các quốc gia phải có
một lượng dự trữ quốc tế đủ lớn bằng vàng và ngoại tệ Theo quy định của IMF, tổ chức này sẽ giám sát và hỗ trợ hợp tác quốc tế trên lĩnh vực tiền tệ và thương mại Để cho các quan hệ thương mại ổn định, cần phải duy trì một hệ thống tỷ giá ổn định, hiệu quả Nhằm trành cho các quốc gia thành viên thực hiện phá giá hoặc nâng giá đồng tiền, IMF cung cấp cho các thành viên một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho thâm hụt cán cân thanh toán Hạn mức tín dụng phụ thuộc vào quy mô của các nền kinh tế và tỷ trọng đóng góp của các quốc gia đó vào IMF Các quốc gia đóng góp vào IMF theo tỷ lệ 1/4 là tài sản
dự trữ (chủ yểu là vàng), 3/4 bằng đồng tiền quốc gia Khi gặp khó khăn, mỗi thành viên được rút 25% hạn mức trong lần đầu, sau đó muốn rút thêm phải tuân thủ nghiêm ngặt các chính sách kinh tế của IMF đưa ra, có thể rút trong 4 lần, mỗi lần 25% hạn mức
Thứ ba là khả năng chuyển đổi các đồng tiền Các quốc gia tham gia vào quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF) và Hiệp định chung về thương mại và thuế quan GATT phải cam kết chuyển đổi không hạn chế đồng nội tệ đối với các giao dịch trong cán cân vãng lai (có thể hạn chế kiểm soát chu chuyển vốn nhưng không kiểm soát các chuyển đổi tiền tệ phục vụ mục đích thương mại)
3.4 Nội dung chủ yếu của hệ thống Bretton Woods
- Một là, chế độ tiền tệ Bretton-woods đã thừa nhận USD là đồng tiền chuẩn, làm trụ cột cho chế độ tiền tệ này Nó được coi là phương tiện dự trữ và thanh toán quốc tế, đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ tiền tệ, thanh toán và tính dụng quốc tế
- Hai là, việc sử dụng USD trong thanh toán quốc tế về ngoại thương và các quan hệ đối ngoại khác không hạn chế, các đồng tiền của các nước khác phải liên hệ chặt chẽ với USD theo chế độ tỷ giá cố định Theo chế độ tỷ giá này thì các nước thành viên phải chấp hành những quy định sau đây:
+ Phải xác định và công bố cho IMF tiêu chuẩn giá cả (nội dung vàng) của đồng tiền nước mình
+ Không được tự ý tăng, giảm nội dung vàng của đồng tiền nước mình vượt quá mức
±10% nếu không được IMF đồng ý
+ Ngân hàng trung ương của các nước thành viên của IMF phải can thiệp vào thị trường