Đây là bài giảng cho sinh viên chuyên ngành môi trường ở các trường cao đẳng , đại học. Bài giảng mô tả chi tiết từ phần khái niệm cho đến đặc điểm và luật đa dạng sinh học mới nhất. Đây là tài liệu bổ ích cho sinh viên ngành môi trường
Trang 1Kí hiệu viết tắt Giải thích
Ôtc Ô tiêu chuẩn
CGIAR Nhóm tư vấn về nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế/ Consultative Group
on International Agricultural Research CITES Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật có nguy cơ bị
tuyệt chủng/ Convention on International Trade in Endangered Srecies FAO Tổ chức nông lương thế giới/Food and Agriculture Organization GDP Tổng thu nhập quốc dân/ Gross Domestic Product
GEF Quỹ môi trường toàn cầu/ Global Environment Facility
HST Hệ sinh thái
ICBP Tổ chức bảo vệ chim quốc tế/ The International Council for Bird
Protection IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên Quốc tế/ The World Conservation Union KBT Khu bảo tồn
KHHĐĐDS/BA
P
Kế hoạch hành động đa dạng sinh học/ Biodiversity Activity Plan
MAB Chương trình con người và sinh quyển (của UNESCO)/ Man and the
Biosphere Program NXB Nhà xuất bản
PCD Phát triển chương trình có sự tham gia/ Participatory Curriculum
Development SFSP Chương trình Hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội/ Social Forestry Support
Programme
SU Đơn vị hỗ trợ của SFSP tại Hà Nội/ Support Unit
UNCED Hội nghị Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển/ Conference on
Environment and Development.
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp quốc/ United Nations Development
Programme UNEP Chương trình môi trường Liên hiệp quốc/ United Nations
Enviromental Programme UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc/ United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization VQG Vườn Quốc gia
WB Ngân hàng thế giới/ World Bank
WRI Viện tài nguyên thế giới/ World Resources Institule
WWF Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên/ World Wide Fund for Nature
Trang 2CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Khái niệm đa dạng sinh học.
Thuật ngữ ĐDSH (biological diversity/biodiversity) được dùng lần đầutiên vào năm 1988 (Wilson, 1988) và sau khi Công ước ĐDSH được ký kết(Công ước này đã được 157 Chính phủ ký kết ở Hội nghị Thượng đỉnh Rio deJaneiro vào ngày 05/06/1992, có hiệu lực vào ngày 29/12/1993), đã đượcdùng phổ biến
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH
- Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế – WWF (1989) quanniệm: “ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loàithực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và lànhững HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường”
- Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thểsống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dướinước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên”
- Theo Từ điển ĐDSH và phát triển bền vững của Bộ Khoa học Côngnghệ và môi trường (NXB Khoa học và kỹ thuật, 2001): “ĐDSH là thuật ngữdùng để mô tả sự phong phú và đa dạng của giới tự nhiên “ĐDSH là sựphong phú của mọi cơ thể sống từ mọi nguồn, trong các HST trên đất liền,dưới biển và các HST dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạonên.”
- ĐDSH bao gồm cả các nguồn tài nguyên di truyền, các cơ thể hay cácphần cơ thể, các quần thể, hay các hợp phần sinh học khác của HST, hiệnđang có giá trị sử dụng hay có tiềm năng sử dụng cho loài người
- Nói cách khác, ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất
cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của sự sống ở tất cả các dạng, cáccấp độ và các tổ hợp giữa chúng Đó không chỉ là tổng số của các HST, cácloài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạpbên trong và giữa chúng với nhau
Ngoài ra, ĐDSH còn bao gồm cả đa dạng văn hóa, sự thể hiện của conngười với vai trò là một thành viên của thế giới sinh vật và là một nhân tốquan trọng của HST
Trang 31.1 Đa dạng di truyền
* Khái niệm: Đa dạng di truyền (ĐDDT) là phạm trù chỉ mức độ dadạng của biến dị di truyền, sự khác biệt về di truyền giữa các xuất xứ, quầnthể và giữa các cá thể trong một loài hay một quần thể
* Bản chất và nguồn gốc của ĐDDT
ĐDDT do các gen tạo nên Gen là đơn vị di truyền, một đoạn của vậtchất di truyền qui định sự di truyền của tính trạng Một gen kiểm soát sự biểuhiện và phát triển của một tính trạng nhất định của một sinh vật Sự biểu hiện
cụ thể của tính trạng sẽ biến đổi đa dạng (ví dụ màu tóc hay màu mắt người)
và mỗi một dạng của gen quy định một dạng biểu hiện cụ thể như vậy đượcgọi là gen alen Do vậy, sự thể hiện của một gen trong một sinh vật sẽ ở dạngmột alen trong tập hợp nhiều alen của gen đó
Sự tồn tại của một loài có được là nhờ quá trình sản xuất và sự sao chéplại các tính trạng và tính chất của cơ thể từ thế hệ này sang thế hệ khác qua ditruyền Cơ sở vật chất di truyền của các loài sinh vật là các axit nucleic vàgồm có hai loại: ADN (axit deoxiribonucleic) và ARN (axit ribonucleic)
ADN là nơi tích luỹ và bảo quản các thông tin di truyền Mỗi loài sinhvật và thậm chí trong một cá thể của loài đều có những phân tử ADN đặctrưng cho loài, tính đặc trưng này được thể hiện qua số lượng và trình tự sắpxếp các nucleic trong ADN, qua hàm lượng ADN trong nhân tế bào và tỷ lệgiữa các cặp bazơ A+T/G+X Trật tự các nucleotit trong các gen có liên quanđến việc quy định các tính trạng và đặc trưng của cơ thể
Trong quá trình tiến hoá của sinh vật từ thấp lên cao, hàm lượng ADNtrong các tế bào cũng được tăng lên Đó là biểu hiện của đa dạng gen
Vật liệu di truyền của vi sinh vật, của thực vật và động vật chứa đựngnhiều thông tin xác định đặc điểm tính chất của loài và các cá thể Chính vậy,
sự đa dạng các vật liệu di truyền đã tạo nên sự đa dạng của thế giới sinh vật.Ngay cả trong các cá thể của loài, những tính trạng của các cá thể cũng có thểthay đổi do những biến dị di truyền (đột biến gen và nhiễm sắc thể) xảy ratrong quá trình tái tổ hợp
Ví dụ: Chúng ta có hàng ngàn giống lúa khác nhau nhưng chúng đều xuất phát từ một loài Oryza sativa, có rất nhiều thứ vật nuôi khác nhau trong cùng một loài, thậm chí ngay cả trong cùng một giống cũng có sự khác nhau về bản chất di truyền do sự đột biến kiểu gen.
Trang 4Những biến đổi trên cũng có thể có lợi hoặc có hại, thường những biếnđổi có lợi xảy ra nhiều hơn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinhtồn Khả năng sống sót khác nhau giữa các cá thể của một quần thể dẫn đến
sự thay đổi tần suất xuất hiện các gen trong tập hợp các biến dị di truyền vàquá trình này được gọi là quá trình tiến hoá (Falconer, 1981)
Hay nói cách khác, ĐDDT đã có ảnh hưởng quyết định đến một cá thểđộng vật hay thực vật có thể hay không có thể tồn tại trong một môi trườngnhất định Ví dụ: Một số loài thực vật có thể mọc và sinh trưởng tốt trong môitrường nước mặn (rong biển, tảo biển), một số loài động vật (thú, bò sát, cá)sống được trong môi trường biển (Cá voi, rắn đẻn, rùa biển, đồi mồi, cábiển ) Có được những thích nghi này là nhờ kết quả của biến đổi di truyền
Biến đổi di truyền tồn tại trong tất cả các loài sinh vật, trong các quầnthể có sự ngăn cách địa lý và ở các cá thể trong một quần thể nhưng có thể ởcác mức độ khác nhau Mặt khác, tính di truyền của một loài có lúc không ổnđịnh mà biến đổi phụ thuộc vào các yếu tố bên trong và bên ngoài cơ thể.Biến đổi vật liệu di truyền trong một loài không những làm cho nó có thể tiếnhoá qua chọn lọc tự nhiên mà còn cả quá trình chọn lọc nhân tạo Sự đa dạng
về di truyền trong loài thường bị ảnh hưởng bởi những tập tính sinh sản củacác cá thể trong quần thể Một quần thể là một nhóm cá thể giao phối vớinhau để sản sinh ra thế hệ con cháu hữu thụ; loài có thể bao gồm một haynhiều quần thể Một quần thể có thể chỉ có vài cá thể đến hàng triệu cá thể.Các cá thể trong một quần thể thường có kiểu gen khác nhau Sự khác nhaugiữa các cá thể (kiểu hình) là do tương tác giữa kiểu gen và môi trường tạo ra
Hình 1.2: Kiểu hình của cá thể được quyết định do kiểu gen và môi trường
(Alcock, 1993), (nguồn: Cơ sở sinh học bảo tồn, 1999)
(A) - Các cá thể khác nhau về gen có thể có các kiểu hình khác nhau kể
cả khi chúng phát triển trong cùng một môi trường
Trang 5(B) - Các cá thể có cùng kiểu gen có thể có các kiểu hình khác nhaunếu chúng phát triển trong các môi trường khác nhau như ở vùng ôn đới vàvùng nhiệt đới; nơi có nhiều thức ăn khác với nơi ít thức ăn.
Sự khác biệt về gen (ĐDDT) cho phép các loài thích ứng được với sựthay đổi của môi trường Thực tế cho thấy, những loài quý hiếm, phân bố hẹpthường đơn điệu về gen so với các loài phổ biến, phân bố rộng; do vậy chúngthường rất nhạy cảm với sự biến đổi của môi trường và hậu quả là dễ bị tuyệtchủng
1.2 Loài và đa dạng loài:
1.2.1 Khái niệm về loài và phân loại:
- Khái niệm về loài: “Loài là tập hợp những sinh vật được cách ly về mặt sinh học trong quá trình tiến hoá, giao phối tự do với nhau để cho thế hệ con cái hoàn toàn hữu thụ, cách ly với các loài khác bởi sự khó kết hợp với nhau về mặt sinh sản hữu tính”
- Phân loại:
Loài là đơn vị cơ sở của bậc phân loại, có bộ mã di truyền ổn định.+ Trong phân loại học hiện đại
° Các Loài (Species) giống nhau được xếp vào Giống (Genus).
° Các giống có quan hệ họ hàng được xếp vào Họ (Family).
° Các họ gần nhau được xếp vào Bộ (Order).
° Các bộ giống nhau được xếp vào Lớp (Class).
° Các Lớp giống nhau được xếp vào Ngành (Phylum).
° Các ngành giống nhau được xếp vào Giới (Kingdom).
+ Tên của loài được đặt theo tên hệ thống kép (Binomial nomenclature) gồm 2 từ:
Từ trước chỉ giống (viết hoa)
Từ sau chỉ loài (viết thường)
Trong nghiên cứu, tên một loài đầy đủ, ngoài tên giống, loài, phảighi kèm theo sau tên tác giả đặt tên cho loài đó và năm định tên
Ví dụ: Loài Khỉ cộc (Khỉ mặt đỏ) được ghi đầy đủ như sau: Macaca arctoides (Geoffroy, 1825) hoặc Lát hoa là Chukrasia tabularis Juss.
Ví dụ về thang bậc phân loại cụ thể cho loài Khỉ cộc như sau:
Trang 6Tên loài Khỉ Cộc Macaca arctoides (Geoffrov, 1831)
Đơn vị phân loại Tên Việt Nam Tên khoa học
Ngành (Phylum) Động vật có xương sống Chordata
Có một số loài tên gồm 3 từ, ở đây từ thứ 3 chỉ một dạng biến đổi(về địa lý, sinh thái ) của loài và được gọi là phân loài hoặc loàiphụ
Ví dụ: loài Hổ Đông Dương viết là Panthera tigris corbetti Mazak,1968
1.2.2 Đa dạng loài
- Khái niệm: Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được
tìm thấy tại một khu vực nhất định tại một vùng nào đó
Thế giới sự sống chủ yếu được xem xét ở khía cạnh các loài, nên thuật
ngữ "đa dạng sinh học" thường được dùng như một từ đồng nghĩa của "đa dạng loài", đặc biệt là "sự phong phú về loài", thuật ngữ dùng để chỉ số lượng
loài trong một vùng hoặc một nơi cư trú Loài cũng là sự chú ý đầu tiên của
cơ chế tiến hoá, nguồn gốc cũng như sự tuyệt chủng
Robert Whittaker đã sử dụng một hệ thống 3 bậc đơn giản mô tả quy
mô đa dạng của loài, cụ thể:
+ Đa dạng alpha: Là tính đa dạng xuất hiện trong một sinh cảnh hoặcmột quần xã Ví dụ: Sự đa dạng của các loài chim, thú, cây gỗ trong một kiểurừng
+ Đa dạng beta: Là sự đa dạng tồn tại trong vùng giáp ranh giữa cácsinh cảnh hoặc quần xã Ví dụ: Sự đa dạng của các loài thú trong 2 khu rừnggần kề nhưng khác kiểu (sinh cảnh chuyển tiếp giữa 2 kiểu rừng)
+ Đa dạng gamma: Là sự đa dạng trong một quy mô địa lý Ví dụ: Sự
đa dạng của các loài cây gỗ, các loài thú, chim trong những sinh cảnh khácnhau, cách xa nhau một vùng địa lý
- Quy luật phân bố của tính đa dạng loài:
Mức độ đa dạng về loài của sinh vật phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tốmôi trường Nhìn chung sự đa dạng của loài tuân theo những quy luật sau:
Trang 7Hình 1.3 Đồ thị phân bố đa dạng loài sinh vật ở cạn trên thế giới
+ Đa dạng loài tỷ lệ nghịch với độ cao
+ Đa dạng loài tỷ lệ nghịch với vĩ độ
+ Đa dạng loài cao nhất ở những khu vực có điều kiện khí hậu thuận lợi
và các mắt xích trong chuỗi thức ăn có quan hệ chặt chẽ
Đa dạng loài sinh vật ở cạn tập trung tại khu vực Trung – Nam Mỹ,Nam - Đông Nam Á và Trung – Nam Phi Khu vực Bắc cực và Nam cực có
sự đa dạng thấp nhất Các khu vực núi cao như đỉnh Himalaya, khu vực đỉnhAn-pơ, khu vực sa mạc Sahara, Hoang mạc Goobi, …là những nơi có điềukiện khí hậu khắc nghiệt và chuỗi thức ăn có quan hệ không chặt chẽ nên tínhĐDSH thấp hơn các khu vực nhiệt đới nóng ẩm, nơi có chuổi thức ăn rất đadạng Một điểm cần lưu ý nữa là các khu vực cách biệt thường có tính đadạng cao về loài sinh vật đặc hữu Ví dụ như: Châu Úc, Madagasca,…
Trang 8Bảng 1.2 Đa dạng loài thú ở một số nước thuộc các vùng địa lý khác nhau Nước nhiệt đới D.tích Km 2 Số loài Nước ôn đới D.tích Km 2 Số loài
Trung bình 3,16 loài/km 2 Trung bình 0,47 loài/km 2
Bảng 1.3 Đa dạng loài thực vật ở một số vùng địa lý khác nhau
(Theo N.Myers,“Threatened Biotas”)
1.3 Đa dạng hệ sinh thái:
HST có thể rất lớn như một Đại dương, cũng có thể rất bé như một bể
cá cảnh Tuy nhiên các HST nhỏ đều nằm trong một HST lớn hơn
HST bao giờ cũng có xu hướng tự điều chỉnh để đi đến sự cân bằng,làm cho các thành phần của HST nằm trong sự tương tác hài hoà và ổn định
1.3.2 Đa dạng HST:
Đa dạng HST là phạm trù chỉ sự phong phú của môi trường trên cạn vàdưới nước trên quả đất tạo nên một số lượng lớn các HST khác nhau Sự đadạng các HST được phản ánh bởi sự đa dạng về sinh cảnh qua mối quan hệgiữa các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái trong sinh quyển (chutrình vật chất, các quan hệ về cách sống, )
Trang 9Đánh giá định lượng về tính đa dạng ở mức quần xã, nơi cư trú hoặcHST còn nhiều khó khăn Trong khi có thể định nghĩa về nguyên tắc thế nào
là đa dạng di truyền và đa dạng loài, từ đó xây dựng các phương pháp đánhgiá khác nhau, thì không có một định nghĩa và phân loại thống nhất nào về đadạng HST ở mức toàn cầu, và trên thực tế khó đánh giá được đa dạng HST ởcác cấp độ khác ngoài cấp khu vực và vùng, và cũng thường chỉ xem xét đốivới thảm thực vật Một HST khác nhiều so với một loài hay một gen ở chỗchúng còn bao gồm cả các thành phần vô sinh, chẳng hạn đá mẹ và khí hậu
Đa dạng HST thường được đánh giá qua tính đa dạng các loài thànhviên Nó có thể bao gồm việc đánh giá độ phong phú tương đối của các loàikhác nhau cũng như các kiểu dạng của loài Trong trường hợp thứ nhất, cácloài khác nhau càng phong phú, thì nói chung vùng hoặc nơi cư trú càng đadạng Trong trường hợp thứ hai, người ta quan tâm tới số lượng loài trong cáclớp kích thước khác nhau, tại các dải dinh dưỡng khác nhau, hoặc trong cácnhóm phân loại khác nhau Do đó một HST giả thiết chỉ có một vài loài thựcvật sẽ kém đa dạng hơn vùng có cùng số lượng loài nhưng bao gồm cả độngvật ăn cỏ và động vật ăn thịt Do tầm quan trọng của các yếu tố này khác nhaukhi đánh giá tính đa dạng của các khu vực khác nhau, nên không có một chỉ
số có căn cứ chính xác cho việc đánh giá tính đa dạng Điều này rõ ràng có ýnghĩa quan trọng đối với việc xếp hạng các khu vực khác nhau Có 2 nhómHST: Nhóm HST ở cạn và nhóm HST đất ngập nước
Nguyên nhân của sự tuyệt chủng: Do nhiễu động đã xảy ra như hoạtđộng của núi lửa, vận động tạo sơn, băng hà đã biến đổi sâu sắc khí hậu trênthế giới làm cho nhiều loài không còn điều kiện để tiếp tục tồn tại
Mặt khác, sự tuyệt chủng của các loài xảy ra ngay cả khi không cónhững nhiễu động lớn Thuyết tiến hoá đã chứng minh rằng do cạnh tranh nênloài chiến thắng đã đẩy loài chiến bại đến sự tuyệt chủng bằng việc trấn áp,
Trang 10xua đuổi và ăn thịt Loài chiến thắng có thể tiến hoá trở thành loài mới tuỳthuộc vào những điều kiện biến đổi của môi trường hay do đột biến ngẫunhiên làm thay đổi bộ gen của loài.
Hiện chúng ta cũng chưa có hiểu biết đầy đủ về các yếu tố quyết định
sự phồn vinh hay suy thoái của một loài, nhưng ít nhất cũng có thể khẳng
định rằng sự tuyệt chủng là một hiện tượng nằm trong chu trình vận động tự nhiên tương tự như là sự hình thành loài mới.
3 Giá trị của đa dạng sinh học:
3.1.Giá trị kinh tế trực tiếp
Giá trị kinh tế trực tiếp là những giá trị của các sản phẩm sinh vật được
con người trực tiếp khai thác và sử dụng Các giá trị này thường được tính
toán dựa trên số liệu điều tra ở những điểm khai thác và đối chiếu với số liệuthống kê việc xuất nhập khẩu của cả nước Giá trị kinh tế trực tiếp được chiathành giá trị sử dụng cho tiêu thụ và giá trị sử dụng cho sản xuất
3.1.1 Giá trị sử dụng cho tiêu thụ
- Giá trị sử dụng cho tiêu thụ được đánh giá bao gồm các sản phẩm tiêudùng cho cuộc sống hàng ngày như: Củi đốt và các loại sản phẩm khác chotiêu dùng của gia đình Các sản phẩm này không xuất hiện trên thị trường nênhầu như chúng không đóng góp gì vào tổng thu nhập quốc dân (GDP), nhưngnếu không có những nguồn tài nguyên này thì cuộc sống con người sẽ gặpnhững kho khăn nhất định Sự tồn tại của con người không thể tách rời cácloài sinh vật Thế giới sinh vật mang lại cho con người nhiều sản phẩm màcon người đã, đang và sẽ sử dụng như: thức ăn, nước uống, gỗ, củi, nguyênliệu, dược liệu
VD: Một chén thuốc bắc chữa bệnh, các loại rau và thực phẩm đượcdùng trong các bữa ăn hàng ngày
- Một trong những nhu cầu cần thiết của con người đối với tài nguyênsinh vật là nguồn đạm động vật Ngoài nguồn từ vật nuôi, ở nhiều vùng miềnnúi hàng năm còn thu được một lượng thịt động vật rừng không nhỏ
- ĐDSH còn là nguồn thuốc chữa bệnh Khoảng 80% dân số thế giớichủ yếu dựa vào thuốc có nguồn gốc động thực vật (Tamsworth, 1988) Trên
500 loài thực vật được dùng làm thuốc ở Trung Quốc, khoảng 2000 loài câydược liệu được sử dụng ở vùng rừng Amazôn (WRI/IUCN/UNEP, 1992).Điều tra sơ bộ ở Việt Nam có khoảng 500 loài cây và 64 loài động vật đãđược con người sử dụng trong chữa bệnh Theo Đào Văn Tiến (1976) trong
Trang 11những năm của thập kỷ 60, hàng năm các địa phương Miền Bắc đã thu muađược khoảng 400.000 tấn xương thú rừng để nấu cao.
VD: Thuốc chữa bệnh ung thư từ cây Thông đỏ, từ San hô đỏ; thuốcphòng bệnh sốt rét từ cây Thanh hao hoa vàng
Ngoài ra, con người còn sử dụng hàng ngàn loài cây làm thức ăn, thức
ăn gia súc, lấy gỗ, chiết xuất tinh dầu và phục vụ cho nhiều mục đích khácnữa
Giá trị tiêu thụ của từng sản phẩm có thể xác định bằng cách khảo sátxem phải cần bao nhiêu tiền để mua một sản phẩm tương tự trên thị trườngkhi cộng đồng không còn khai thác tài nguyên thiên nhiên xung quanh
3.1.2 Giá trị sử dụng cho sản xuất.
- Giá trị sử dụng cho sản xuất là giá trị thu được thông qua việc bán cácsản phẩm thu hái, khai thác được từ thiên nhiên trên thị trường như củi, gỗ,song mây, cây dược liệu, hoa quả, thịt và da động vật hoang dã
- Giá trị sản xuất của các nguồn tài nguyên thiên nhiên là rất lớn ngay
cả ở những nước công nghiệp Tại Mỹ hàng năm có khoảng 4,5% giá trị GDPtương đương 87 tỷ đô la thu được bằng cách này hay cách khác từ các loàihoang dã (Perscott 1986) Ở các nước đang phát triển do hoạt động côngnghiệp còn ít, đặc biệt là vùng nông thôn miền núi thì giá trị này còn cao hơnnhiều
Lấy số liệu thực của năm 2004, riêng hàng xuất khẩu của ngành thuỷsản Việt Nam đã có giá trị 2 tỷ USD Ngành Nông – Lâm nghiệp hiện đangquản lý nguồn tài nguyên rừng có giá trị vô cùng to lớn Với giá khoảng250USD/m3 gỗ, thì hàng năm chỉ tính riêng mặt hàng gỗ làm nguyên liệugiấy, ĐDSH đã có giá trị khoảng 1,5 tỷ – 3,5 tỷ USD Đó là chưa kể hàngnăm rừng đã cung cấp các mặt hàng lâm sản ngoại gỗ đã có giá trị khoảng 1,5
tỷ USD cho xuất khẩu và cũng khoảng đó cho tiêu dùng trong nước (nguồn:Báo cáo hiện trạng môi trường Quốc gia – chuyên đề ĐDSH)
- Giá trị sản xuất lớn nhất của nhiều loài là khả năng cung cấp nguồnnguyên vật liệu cho công nghiệp, nông nghiệp và là cơ sở để cải tiến giốngvật nuôi, cây trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp Đặc biệt quan trọng lànguồn gen lấy từ các loài hoang dã có khả năng kháng bệnh cao và chốngchịu được điều kiện ngoại cảnh bất lợi tốt hơn
- Các loài hoang dã còn cung cấp nguồn dược liệu quan trọng Ở Mỹ cótới 25% các đơn thuốc sử dụng các chế phẩm điều chế từ cây, cỏ, nấm và các
Trang 12loài vi sinh vật (Fam Sworth 1988, Eisner 1991) Ở Việt Nam qua điều tra sơ
bộ có khoảng 3.200 loài cây và 64 loài động vật đã được con người sử dụnglàm dược liệu, chữa bệnh (Võ Văn Chi, 1997)
3.2 Giá trị kinh tế gián tiếp
Giá trị kinh tế gián tiếp là lợi ích do ĐDSH mang lại cho cả cộng đồng.Như vậy giá trị kinh tế gián tiếp của ĐDSH bao gồm cả chất lượng nước, bảo
vệ đất, dịch vụ nghỉ mát, thẩm mỹ, phục vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học,điều hoà khí hậu và tích lũy cho xã hội tương lai
Giá trị gián tiếp được hiểu theo một khía cạnh khác bao gồm các quátrình xảy ra trong môi trường và các chức năng bảo vệ của HST Đó là nhữngmối lợi không đo đếm được và nhiều khi là vô giá Vì những lợi ích nàykhông phải là hàng hoá nên thường không được tính đến trong quá trình tínhGDP của quốc gia Tuy nhiên chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việcduy trì những sản phẩm tự nhiên mà nền kinh tế quốc gia phụ thuộc
Giá trị kinh tế gián tiếp có thể kể đến gồm:
3.2.1 Giá trị sinh thái:
- Các HST là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loàingười
+ HST rừng nhiệt đới được xem như là “lá phổi xanh” của thế giới + ĐDSH là nhân tố quan trọng để duy trì các quá trình sinh thái cơ bảnnhư: Quang hợp của thực vật, mối quan hệ giữa các loài, điều hòa nguồnnước, điều hòa khí hậu, bảo vệ và làm tăng độ phì đất, hạn chế sự xói mòncủa đất và bờ biển Rừng trên các sườn dốc điều tiết dòng chảy, rừng ngậpmăn và các rạn san hô là những băng cản hữu hiệu trước những trận cuồngphong của thuỷ triều
+ Sau cùng, ĐDSH là một nhân tố quan trọng để tạo ra và giữ vững cânbằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho conngười
+ Con người không thể sống được nếu thiếu không khí, chính hệ thựcvật đã và đang cung cấp miễn phí lượng oxy khổng lồ cho cuộc sống của hàng
tỷ người trên trái đất trong suốt cuộc đời của mình
Theo tính toán của Jim Enright và Yodfon Association (2000): Rừngngập mặn có khả năng tính luỹ CO2 ở mức cao Rừng ngập mặn 15 tuổi giảmđược 90,24 tấn CO2/ha/năm – tác động lớn làm giảm hiệu ứng nhà kính
- ĐDSH còn góp phần tạo ra các dịch vụ nghỉ ngơi và du lịch sinh thái
Trang 13+ Du lịch sinh thái có thể là một trong những biện pháp hiệu quả đốivới việc bảo vệ ĐDSH, nhất là khi chúng được tổ chức, phối hợp chặt chẽ vớichương trình quản lý và bảo tồn tổng hợp (Munn, 1992)
Tuy vậy, cần chú ý đến việc tổ chức cho du khách quan sát những vấn
đề cần thiết liên quan đến bảo vệ môi trường, tài nguyên; tránh những hànhđộng tiêu cực hay việc xây dựng những cơ sở hạ tầng quá khang trang, hiệnđại có thể sẽ trở thành mối đe dọa đối với ĐDSH
3.2.2 Giá trị giáo dục và khoa học
- Nhiều sách giáo khoa đuợc biên soạn, nhiều chương trình vô tuyến vàphim ảnh được xây dựng về chủ đề bảo tồn thiên nhiên với mục đích giáo dục
và giải trí Thêm vào đó những tài liệu về lịch sử tự nhiên cũng được đưa vàogiáo trình giảng dạy trong các trường học (Hair và Pomerantz, 1987)
- Một số lượng lớn các nhà khoa học chuyên ngành và những ngườiyêu thích sinh thái học đã tìm hiểu HST mà không phải tiêu tốn nhiều tiền vàkhông đòi hỏi nhiều loại dịch vụ cao cấp Những hoạt động khoa học nàymang lại lợi nhuận kinh tế cho những khu vực nơi họ tiến hành quan sátnghiên cứu Giá trị thực sự còn là khả năng nâng cao kiến thức, tăng cườngtính giáo dục và tăng vốn sống cho con người
- Ngược lại, thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dụccon người hiểu rõ hơn về giá trị của ĐDSH Sự đa dạng của các loài trên thếgiới có thể được coi như là cẩm nang để giữ cho quả đất của chúng ta vậnhành một cách hữu hiệu Sự mất mát của các loài có thể ví như sự mất đinhững trang sách của cuốn cẩm nang cần thiết Nếu như một lúc nào đó,chúng ta cần đến những thông tin của cuốn cẩm nang này để bảo vệ chúng ta
và những loài khác trên thế giới thì chúng ta không tìm đâu ra được nữa
Ngoài ra, nó còn có giá trị trong quan trắc môi trường: Những loài đặc
biệt nhạy cảm với những chất độc có thể trở thành hệ thống chỉ thị báo độngrất sớm cho những quan trắc hiện trạng môi trường Một số loài có thể đượcdùng như những công cụ thay thế máy móc quan trắc đắt tiền
Một trong những loài có tính chất chỉ thị cao là địa y sống trên đã hấpthụ những hoá chất trong nước mưa và những chất gây ô nhiễm trong khôngkhí Thành phần của quần xã địa y có thể dùng như chỉ thị sinh học về mức độ
ô nhiễm không khí Các loài động vật thân mềm như trai, sò sống ở các HSTthuỷ sinh có thể là những sinh vật chỉ thị hữu hiệu cho quan trắc môi trườngnước
Trang 143.2.3 Giá trị văn hóa và dân tộc học
- Ngoài những giá trị nêu trên, ĐDSH còn có nhiều giá trị về văn hóa
và dân tộc học mà nó dựa trên các nền tảng về đạo đức cũng như kinh tế Hệthống giá trị của hầu hết các tôn giáo, triết học và văn hóa cung cấp nhữngnguyên tắc và đạo lý cho việc bảo tồn loài Những nguyên tắc, triết lý nàyđược con người hiểu và quán triệt một cách dễ dàng, giúp cho loài
- Một trong những quan niệm đạo đức lớn là mỗi loài sinh vật sinh rađều có quyền để tồn tại Con người hoàn toàn không có quyền tiêu diệt cácloài mà ngược lại phải nỗ lực hành động nhằm hạn chế sự tuyệt chủng củaloài
- Loài có quan hệ phức tạp với quần xã sinh vật Sự biến mất của mộtloài có thể mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho một số loài khác nhưsuy giảm số lượng hoặc cũng có thể bị tiêu diệt theo ĐDSH giúp con ngườisống và hiểu nhau hơn Các cảnh quan thiên nhiên không ngừng cung cấp vàlàm giàu tri thức cho các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, các nhà tư tưởng và nhàtôn giáo học
- Sự tôn trọng cuộc sống con người và đa dạng văn hóa phải được đặtngang hàng với sự tôn trọng ĐDSH Con người phải chịu trách nhiệm quản lýtrái đất, nếu như chúng ta làm tổn hại nguồn tài nguyên thiên nhiên trên tráiđất và làm cho nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng, thì những thế hệ tiếp sau sẽphải trả giá trong cuộc sống bởi sự mất mát này
Trang 15CHƯƠNG II
ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM
1 Một số yếu tố tạo nên tính ĐDSH ở Việt Nam
1.1.Vị trí địa lý
Vùng nhiệt đới, đặc biệt là rừng nhiệt đới và biển nhiệt đới là nơi cótính đa dạng sinh học cao (McNeely- 1990) Trong khi đó Việt Nam lại thuộcvùng nhiệt đới với ¾ diện tích lục địa (diện tích lục địa là 330.541km2) là đồinúi với nhiều hệ sinh thái rừng khác nhau và vùng biển gấp nhiều lần lục địa
Việt Nam thuộc mỏm chóp Đông Nam của lục địa Âu Á Kết quảnghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa họctrong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ởChâu Á có nguồn tài nguyên thiên nhiên (Natural Resources) rất phong phú,
đa dạng Bên cạnh các loài đặc hữu (Endemic) mang tính bản địa còn cónhiều loài thuộc các trung tâm lân cận di cư sang Các HST ở Việt Nam đượctiếp nhận 3 luồng di cư chính:
+ Luồng từ Nam Trung Quốc
+ Luồng từ dãy núi Hymalaya - Mianma
+ Luồng từ Indonesia - Malaysia
1.2 Địa hình đa dạng, hệ thống sông ngòi dày đặc
Địa hình Việt Nam khá đa dạng với những đồng bằng châu thổ rộnglớn (đồng bằng sông Mê Công, đồng bằng sông Hồng), nhiều núi cao (dãyHoàng Liên Sơn, Tam đảo, Ngọc Linh) và nhiều cao nguyên (cao nguyênĐồng Văn, Sơn La, Mộc Châu, Plâycu, Đắc Lắc, Di Linh )
Hệ thống sông ngòi Việt Nam dày đặc, chỉ tính những con sông dài trên10km đã có trên 2.500 sông Hai con sông lớn là sông Hồng và sông CửuLong Hầu hết các sông đổ ra biển, một vài con sông ở phía bắc đổ về phíaTrung Quốc (sông Nà Rì, Kỳ Cùng) và một số sông ở cao nguyên miền Trung
đổ ra phía tây vào lưu vực sông Mê Kông Phần lớn các con sông đều dốcmạnh, chảy xiết, nhiều ghềnh thác
1.3 Vĩ độ và đai cao
Việt Nam là một trong những quốc gia nằm ở phần đông bán đảo ĐôngDương, thuộc trung tâm của khu vực Đông Nam Á với tổng diện tích phần đấtliền là 330.541km2, kéo dài 16 vĩ tuyến (từ 8030' – 23022' độ vĩ Bắc) và trảirộng trên 7 kinh tuyến (từ 102010' – 109021' độ kinh Đông); Bắc giáp Trung
Trang 16Hoa; Tây giáp Lào và Campuchia; Đông và Đông Nam là biển Đông Bờ biểnViệt Nam dài 3.260km
Mặc dù nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, song vì vị trí địa lý kéo dài
16 vĩ tuyến từ Bắc xuống Nam, lại ảnh hưởng của độ cao, địa hình nên khíhậu không đồng nhất trong cả nước Nhiệt độ trung bình hàng năm tăng dần
từ Bắc xuống Nam và càng lên cao thì nhiệt độ càng giảm
1.4 Địa mạo và hệ thống hoàn lưu
Hệ thống gió mùa (hoàn lưu khí quyển) ở Việt Nam rất phong phú,cùng với đặc điểm địa mạo đã hình thành nên chế độ thời tiết ở Việt Nam
Thứ nhất là gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc đi vào Việt Namtrong thời gian từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, có đặc điểm: khô và lạnh Vàvùng chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ loài gió này là vùng Đông Bắc, lý dongoài việc gần phía Đông Nam Trung Quốc thì vùng này có hệ thống núi hìnhnan quạt mở rộng ở phần phía Bắc Đặc điểm địa mạo này đã tạo thuận lợicho sự xâm nhập của gió mùa Đông Bắc Chính vì vậy, mùa lạnh ở vùng nàykéo dài, vành đai á nhiệt đới hạ xuống thấp (khoảng 600m, trong khi đó toànmiền Bắc là 700m)
Thứ hai cũng là gió mùa Đông Bắc, nhưng thổi từ tháng 12 đến tháng 1năm sau và ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Bắc Trung Bộ Đặc điểm loại giónày là lạnh và ẩm do thổi qua Vịnh Bắc Bộ, thời tiết lạnh, kèm theo mưa phùn
sẽ biểu hiện khi loại gió này ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Bắc Trung Bộ
Thứ ba là gió mùa Đông Nam và Tây Nam thổi từ biển vào trong thờigian từ tháng 4 đến tháng 10 Loại gió này mang theo nhiều hơi nước, gâymưa cục bộ trên nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam Riêng vùng Bắc Trung Bộ,
do có dãy Trường Sơn ở phía Tây đón gió mà vùng này có lượng mưa caohơn nhiều vùng khác Lượng mưa bình quân năm ở hầu hết nhiều vùng trong
cả nước khoảng 2.000m, một vài địa phương vùng Bắc Trung Bộ nhận đượclượng mưa cao hơn, khoảng 3.000mm
Thứ tư là gió Tây khô nóng thổi từ Vịnh Ban Can qua lục địa đến ViệtNam từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm Đến Việt Nam đặc biệt vùng BắcTrung Bộ, do dãy Trường Sơn ngăn lại hơi nước mà thời tiết biểu hiện rõ ởvùng trong giai đoạn này là khô nóng
Các loài sinh vật luôn tồn tại và thích nghi với môi trường sống Chế độthời tiết của Việt Nam phong phú là cơ sở tạo nên tính đa dạng sinh học củaViệt Nam, đặc biệt đa dạng về các vùng địa lý sinh học
Trang 172 Đa dạng về thành phần loài thực vật và động vật:
2.1 Đa dạng loài thực vật:
Mặc dù có những tổn thất quan trọng về diện tích rừng trong một thờigian do chiến tranh kéo dài nhưng hệ thực vật Việt nam vẫn còn phong phú vềthành phần loài
Bảng 2.1 Thành phần loài trong các ngành thực vật ở Việt Nam
(Nguồn: Nguyễn Nghĩa thìn, 1997)
Mức độ đa dạng loài của hệ thực vật Việt Nam còn thể hiện trong các
họ giàu loài nhất (trên 100 loài).
Bảng 2.2 Các họ giàu loài nhất của hệ thực vật Việt Nam
Trang 18- Nhiều họ có ít loài, nhưng giàu về số lượng cá thể biểu thị mức độ tậptrung của mỗi loài Đó là những họ giữ vai trò quan trọng trong thành phần
loài cây của các thảm thực vật như họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae)
- Tính ĐDSH của thực vật nhiệt đới Việt Nam còn thể hiện ở sự phongphú về các loài dây leo và thực vật nửa phụ sinh (khoảng 750 loài), thực vậtphụ sinh (khoảng 600 loài), thực vật ký sinh (khoảng 50 loài)
- Hơn nữa, hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy hệ thựcvật Việt Nam không có các họ đặc hữu nhưng có khoảng 3% số chi và 27,7%
số loài đặc hữu Các loài và chi đặc hữu phân bố chủ yếu ở các vùng có HSTđộc đáo như: khu vực núi cao Hoàng Liên Sơn, Phan Xi Păng ở miền Bắc,Khu vực núi cao Ngọc Linh (Kon Tum) ở miền Trung, Cao nguyên - vùngChư Yang Sin và dãy Bi Doup (Lâm Đồng) ở phía nam và khu vực rừng ẩmnúi thấp ở phần Bắc Trung bộ (Đặng Huy Huỳnh, 1998)
- Thực vật rừng nước ta còn nhiều loài có giá trị cao như Gõ đỏ
(Afzelia xylocarpa), Gụ mật (Sindora cochinchinensis), Hoàng đàn (Cupressus turulosa), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Hoàng liên chân gà (Coptis chinensis), Ba kích (Morinda officinalis).
2.2 Đa dạng loài động vật:
Hiện chưa có tài liệu nào thống kê cụ thể loài động vật tại Việt Nam,song dựa vào thông báo của Cục Bảo vệ Môi Trường Việt Nam về thành phầnloài trong các nhóm động vật, chúng ta có thể thống kê như sau:
Bảng 2.3 Thống kê các nhóm phân loại của hệ động vật Việt nam
Nhóm phân loại Số loài ở Việt Nam Họ % loài so với TG
Trang 19(Canimuntiacus truongsonensis), Bò sừng xoắn (Pseunovibos spiralis) và CầyTây nguyên cùng một số loài các chưa định danh tại khu vực sông Lam chưa
kể hàng trăm loài động vật không xương sống mới cũng đã tìm được trongthời gian trên
Các trung tâm phân bố động vật bản địa của Việt Nam tập trung ở khuvực Hoàng Liên Sơn, khu vực Bắc Trung Bộ, Khu vực Tây Nguyên
3 Đa dạng hệ sinh thái:
Với đặc điểm địa lý, tính đa dạng về địa hình, khí hậu phân hóa phứctạp đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các HST khác nhau ở ViệtNam
3.1 Các HST rừng trên cạn: Theo Thái Văn Trừng (1978) thì các HST rừng
Việt Nam có thể được chia thành 14 kiểu:
1 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới;
2 Kiểu rừng rụng lá ẩm nhiệt đới;
3 Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới;
4 Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới;
5 Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới;
6 Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô nhiệt đới;
7 Kiểu trảng cây to, cây bụi, cây cỏ cao khô nhiệt đới;
8 Kiểu truông bụi gai hạn nhiệt đới;
9 Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp;
10 Kiểu rừng kín cây lá kim ẩm ôn đới ẩm núi vừa;
11 Kiểu rừng thưa cây lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp;
12 Kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao;
13 Kiểu quần hệ lạnh vùng cao;
14 Kiểu rừng kín hỗn hợp cây lá rộng,lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992) đã giới thiệu 9 kiểu rừng trêncạn chính ở Việt Nam như sau:
1 Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới: Kiểu này có diện tích
lớn, phân bố rộng trên cả nước ở độ cao dưới 700m (Miền Bắc) và dưới1.000m (Miền Nam) Thực vật chủ yếu là cây nhiệt đới, tính đa dạng loài cao,rừng có 3 – 5 tầng, hệ động vật rất phong phú
2 Kiểu rừng lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới: Phân bố cả nước ở độ cao
dưới 700m (Miền Bắc) và dưới 1.000m (Miền Nam) Cấu trúc phức tạp, cónhiều cây cao, có từ 25% - 75% cây rụng lá trong tổ thành loài thực vật rừng
Trang 203 Kiểu rừng kín lá rộng rụng lá nhiệt đới: Hình thành ở vùng có lượng
mưa thấp, từ 1.200 – 2.500mm, mùa khô kéo dài Kiểu này gặp ở Hà Bắc,Sơn La, Nghệ - Tĩnh, Đắc Lăk, Đồng Nai Tổ thành rừng gồm 2 tầng và cótrên 75% cây rụng lá
4 Kiểu rừng thưa cây lá rộng nhiệt đới (rừng khộp): Phân bố tập trung
ở Tây nguyên và một số tỉnh miền Đông Nam bộ, nơi có khí hậu khô nóng,mùa khô kéo dài, cấu trúc tổ thành rừng đơn giản, cây cao to với mật độ thưa.Động vật đặc trưng bởi nhiều loài thú móng guốc
5 Kiểu rừng kín thường xanh ẩm Á nhiệt đới: Phân bố ở độ cao tren
700 m (Miền Bắc) và trên 1.000m (Miền Nam), nơi có lượng mưa 1.200mm –2.500mm, nhiệt độ trung bình năm 15 – 20oC Kiểu rừng này gặp ở Lai Châu,Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Kom Tum,… Rừng thường có 2 tầng, câyrừng ưu thế thuộc khu hệ thực vật bản địa Việt Nam , trong HST thường tậptrung nhiều loài động vật , thực vật đặc hữu
6 Kiểu rừng ngập mặn hình thành trên đất mới bồi tụ vùng ven biển, cửa sông: Phân bố tập trung ở Nam Bộ và một ít ở Bắc Bộ Rừng một tầng, tổ
thành đơn giản với các loài cây như: Đước, Bần, Mắm, Sú, Vẹt,… Thànhphần động vật đơn giản nhưng rất phong phú về chim và các loài cá
7 Kiểu rừng trên hệ núi đá vôi: Rừng đá vôi bao gồm các kiểu rừng
phụ, thuộc kiểu rừng kín thường xanh và nửa rụng lá phân bố ở các vành đainhiệt đới và á nhiệt đới trên đất đa vôi ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ.Rừng đá vôi rộng nhất là khu Phong Nha – Kẻ Bàng Rừng có 2 tầng, cây ưuthế thường là Nghiến, Trai lý, Mạy tèo, Ô rô,… Động vật ở đây thường cótính chuyên hoá cao với môi trường núi đá vôi như Soln dương, Hươu xạ, cácloài linh trưởng,… Hầu hết còn lại những khu đá tai mèo không thích hợpcho canh tác nông nghiệp ở nhiều nơi rừng đã bị xuống cấp do cháy rừng,khai thác gỗ và khai khoáng
8 Kiểu rừng lá kim: Phân bố ở Tây nguyên, các tỉnh Lào Cai, Lai
Châu,… những nơi có khí hậu khô lạnh, lượng mưa 600 – 1.200 mm, đất xấu.Rừng có 2- 3 tầng, ưu hợp chủ yếu là thông nhựa, thông ba lá, thông dầu Hệsinh thái này có tương đối nhiều loài thực vật có giá trị sử dụng và thươngmại cao như Pơ mu, Hoàng Đàn, …
9 Kiểu rừng tre nứa: Kiểu rừng này được hình thành trên đất rừng tự
nhiên sau khai thác rừng hoặc sau phát nương làm rẫy và phân bố trên toànquốc Rừng Tre nứa tự nhiên có nhiều ở Thanh Hoá, Hoà Bình Giới động vật
Trang 21ở đây chủ yếu là các loài chuột, dúi, chồn, cầy, cáo, … có rất ít loài động vậtlớn.
Ngoài ra, do có nhiều chương trình trồng rừng như Dự án PAM, dự án
327, Dự án 661, Dự án trồng rừng Việt - Đức,… với các mục đích khác nhau
mà hiện nay diện tích rừng trồng ở Việt Nam cũng đã có nhiều đóng góp cho
sự đa dạng HST rừng tại Việt Nam với những HST có cấu trúc rừng đơn giảnnhưng đang có chiều hướng đa dạng hơn theo sự thay đổi về nhận thức củacác nhà quản lý và kinh doanh rừng
Bên cạnh đó, sự đa dạng về điều kiện môi trường, loài cây trồng, vậtnuôi và tập quán canh tác mà ở Việt Nam còn có rất nhiều HST nông nghiệp,điển hình như: HST chuyên canh lúa nước; HST nông lâm kết hợp gồm rừngphòng hộ, cây nông nghiệp và trâu bò; HST cây công nghiệp và cây tạo tán;HST chuyên canh cây công nghiệp kết hợp chăn nuôi (cây mía, cây sắn, cao
su, cà phê, ); HST chuyên canh cây ăn qủa và nuôi ong; HST hoa cây cảnh,HST chuyên canh rau, Đây là những HST nhân tạo, có thành phần loài đơngiản, tính bền vững thấp, các loài động vật và thực vật ở đây thường kém vềgiá trị khoa học, giá trị bảo tồn nhưng đặc biệt cao về giá trị kinh tế đã vàđang có nhiều đóng góp cho việc cải thiện đời sống của cộng đồng người dântrong khu vực, đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, cung cấp nguyên liệu chocác nhà máy chế biến giấy, đường, bột mì, thức ăn gia súc và xuất khẩu
3.2 Các HST đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa: “ Đất ngập nước là những vùng đầm lầy,than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên haytạm thời, có nước chảy hay nước tụ, là nước ngọt, nước lợ hay nước biển kể
cả những vùng nước biển có độ sâu không quá 6 mét khi triều thấp”
Đất ngập nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về loại hình và HST,thuộc 2 nhóm ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển Trong đó có một số kiểu
có tính ĐDSH cao
1 Kiểu rừng tràm: Phát triển trên đất than bùn ở đồng bằng sông Mê
Kông (ở U Minh, Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên) Có thể trước đây
đã được thấy ở đồng bằng sông Hồng trên đất chua phèn ngập úng thườngxuyên hoặc định kỳ Những khu rừng này đã tự thay thế bằng rừng thứ sinh
và những khu rừng trên đầm lầy than bùn đã trở nên phong phú hơn do nhữngchồi non mới mọc lên trên gốc cây của những khu rừng già cỗi
Trang 222 Rạn san hô: Ở Việt Nam, rạn san hô phân bố rải rác suốt cả khu vực
ven biển, với sự gia tăng đa dạng loài về cơ cấu và loại hình từ Bắc xuốngNam Kết cấu của các rạn san hô cũng rất đa dạng bao gồm các rạn san hôdạng bờ, bãi phẳng và các đường cản (Stoddard, 1978)
Các rạn san hô dạng bờ rất phổ biến và đặc trưng bởi chiều rộng nhỏ,san hô rất đa dạng, thảm san hô tương đối thấp, phát triển những đỉnh cao4,8m và sâu tối đa khoảng 15m (Võ Sĩ Tuấn, 1993 a; Võ Sĩ Tuấn và Đào Tan
Ho, 1991) Các rạn san hô dạng đường chắn phân bố ở bờ biển Phú Yên vàKhánh Hoà có độ che phủ lớn và tính đa dạng cao
Các rạn san hô dạng bãi phẳng thì hạn chế ở những bờ nửa chìm nửanổi tại Vịnh Nha Trang và gần bán đảo Cam Ranh (Võ Sĩ Tuấn, 1993) Quầnđảo Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà cách bờ biển chính Đông Nam 400km
và trải dài 5 vĩ độ Hai dạng san hô tại quần đảo Trường Sa là đảo san hôvòng và bãi rộng, có độ sâu tối đa 4m với các đỉnh từ 5 -10m Các đảo san hôvòng có đường kính tới 50m bao quanh hàng trăm mét san hô có độ che phủ
và đa dạng cao HST của các rạn san hô rất phong phú với vô số các loài cá,nhuyễn thể, các tảo, nấm và động vật biển
3 HST cửa sông, đồng bằng châu thổ sông và cửa các con sông dạng đầm phá: Có 3 dạng cửa sông rải rác khắp vùng bờ biển Việt Nam: Cửa sông,
châu thổ và cửa sông dạng đầm phá
4 Các HST đầm phá ven biển: Các đầm phá ven biển đặc trưng chiếm
5% chiều dài đường bờ biển và chỉ xuất hiện ở vùng miền trung từ Huế đếnPhan Rang (Ninh Thuận), nơi cung cấp nhiều cá và mức triều thấp (0,5-2,5m).Những đầm phá này, diện tích từ 280-21.600ha, được khép lại bởi những bứcchắn cát từ 2-25m chiều cao hoặc các đụn cát và thông với biển bởi các vịnhnhỏ chiều rộng thay đổi tuỳ theo mùa
5 Các HST bãi lầy thuỷ triều: Những bãi lầy chủ yếu phân bố dọc biển
phía bắc từ Móng Cái phía bắc Quảng Ninh tới Thanh Hoá, và ở phía nam từVũng Tàu tới Kiên Giang ở miền Trung, có rất ít bãi lầy thuỷ triều Tổng diệntích của các bãi lầy thuỷ triều khoảng 300.000ha, 70% diện tích có rừng ngậpmặn (gần 100 loài) và cỏ biển Hầu hết các bãi lầy thuỷ triều ở đồng bằngchâu thổ sông Hồng và sông Mê Kông trải dài ra biển từ những khu rừngngập mặn
Bảng 2.4 Phân bố trên toàn quốc bãi lầy thuỷ triều và rừng ngập mặn
Trang 23Bãi lầy thuỷ triều Rừng ngập mặn tự nhiên Rừng ngập mặn trồng lại
Sự đa dạng về HST đất ngập nước còn được thể hiện ở các HST ao hồ,
sông suối nước ngọt phân bố hầu khắp các vùng trên toàn lãnh thổ nước ta.Những HST này có thành phần loài thực vật tương đối đơn giản với các loàithực vật phù du như: tảo, rong, rêu, lục bình, cỏ lác,… nhưng đem lại nhiềunguồn lợi về thuỷ sản, năng lượng, đặc biệt là kiến tạo nên cảnh quan cho môitrường sống, tạo ra nơi nghỉ dưỡng, du lịch và điều hoà khí hậu
4 Đa dạng các vùng địa lý sinh học.
Việc phân chia các vùng địa lý sinh học (Đơn vị địa lý sinh học Biounit) ở các quốc gia trên thế giới đều dựa vào các yếu tố sau:
-1 Yếu tố địa hình,
2 Yếu tố khí hậu,
3 Yếu tố phân bố địa lý,
4 Tính thích nghi của đơn vị loài,
5 Sự phân bố của các thảm thực vật,
6 Sự phân bố của các nhóm hoặc lớp động vật
7 Sự khác nhau về tổ hợp loài và các giới hạn phân bố của các loài chỉthị
Trong đó, yếu tố thứ bảy được coi là yếu tố cơ bản nhất đối với việcphân chia các vùng địa lý sinh vật
- Việt Nam cũng được coi là một trong những nước có sự đa dạng cao
về vùng địa lý sinh học Căn cứ vào các yếu tố trên, các nhà sinh vật ViệtNam (Thái Văn Trừng, Đào Văn Tiến, Võ Quí, Đặng Ngọc Thanh, Mai ĐìnhYên, Cao Văn Sung, Đặng Huy Huỳnh, Trần Kiên, Phan Kế Lộc ) đã chiaViệt Nam thành 5 vùng địa lý sinh học như sau:
1 Vùng địa lý sinh học Đông Bắc
2 Vùng địa lý sinh học Tây Bắc
3 Vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ
4 Vùng địa lý sinh học Nam Trung Bộ và Tây Nguyên
5 Vùng địa lý sinh học Đông Nam Bộ
Trang 24- Khi nghiên cứu về các vùng địa lý sinh học Việt Nam năm 1995, Tiến
sĩ Jorhn Mackinnon đã chia vùng lãnh thổ đất liền của nước ta thành các đơn
vị sinh học nhỏ hơn bao gồm:
1 Vùng địa lý sinh học Đông Bắc,
2 Vùng địa lý sinh học Hoàng Liên Sơn,
3 Vùng địa lý sinh học Bắc Trung tâm Đông Dương,
4 Vùng địa lý sinh học Châu thổ Sông Hồng,
5 Vùng địa lý sinh học Nam Trung tâm Đông Dương,
6 Vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ,
7 Vùng địa lý sinh học Nam Trung Bộ,
8 Vùng địa lý sinh học Tây Nguyên,
9 Vùng địa lý sinh học cao nguyên Đà Lạt,
10 Vùng địa lý sinh học Châu thổ sông Cửu Long
- Theo Mackinnon thì các vật cản tự nhiên đã tạo nên sự hình thành cáctrung tâm ĐDSH của Việt Nam và Đông Dương
+ Thứ nhất, dãy núi chính Trường Sơn như một barie ngăn 2 vùng rừng
ẩm hơn ở Miền Đông và khô hơn ở Miền Tây, nơi thuộc vùng địa lý sinh họclưu vực sông Mê Kông Những núi cao ở đây chứa đựng nhiều loài và phânloài đặc hữu và là nơi có thể được phân chia nhỏ hơn thành 2 đơn vị địa sinhhọc phụ là Cao nguyên Đà Lạt và Trung tâm Tây Nguyên Vùng đồng bằngchâu thổ sông Mê Kông vẫn còn những nét đặc thù về phương diện sinh họctrải từ những vùng đồi núi ra tận phía đông
+ Một yếu tố tự nhiên khác được xem xét là đèo Bạch Mã-Hải Vân, đèonày chia khu hệ nhiệt đới Nam Trung Bộ ra khỏi vùng cận nhiệt đới BắcTrung Bộ Đèo Hải Vân tạo nên một đơn vị khí hậu và phản ánh qua sự phân
bố về các loài thực vật và động vật
VD: Bò xám (Bos sauveli), Bò rừng (Bos javanicus), Hươu Cà toong (Cervus eldi), Khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) chỉ phân bố trong các đơn
vị địa lý sinh vật phía Nam Bạch Mã-Hải Vân hoặc các phân loài của loài
Voọc đen (Trachypithecus francoisi), Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Khỉ mốc (Macaca assamensis) chỉ phân bố ở phía Bắc Bạch Mã-
Hải Vân
+ Bắc Việt Nam có nhiều đơn vị địa sinh học khác nhau được phâncách bởi các con sông Sự phân bố của các dạng thú Linh trưởng đặc hữu và
Trang 25một số loài chim đã nói lên tầm quan trọng của các con sông này như ranhgiới cho các loài động vật.
+ Cuối cùng, vùng núi thuộc dãy Hoàng Liên Sơn ở Tây Bắc Việt Nam,
nó được coi là một đơn vị đặc thù nối với dãy Hengduan Trung Quốc đếnphía Đông dãy Himalaya Những dãy núi này cao hơn dãy núi còn lại củaViệt Nam và thực sự có sự khác biệt về thực vật và động vật
Sự phân chia này không hoàn toàn giống sự phân chia các vùng địa lýsinh vật Việt Nam mà các nhà khoa học nước ta đã chia mặc dù việc phân
chia các vùng địa lý sinh vật đều dựa vào sự phân bố khác nhau của thảm thực vật, các loài thực vật, động vật mang tính chỉ thị Khó có thể nêu lý do
tại sao và cơ sở nào đúng vì các nghiên cứu và số liệu thu được về sinh vật ởnước ta còn quá nghèo Tuy nhiên những thực tế tự nhiên cũng có thể giúp ta
dễ dàng nhận thấy
Ví dụ: Dãy Bạch Mã-Hải Vân là chiếc barie tự nhiên ngăn chia sựphân bố của nhiều loài thực vật và động vật giữa hai miền Bắc và Nam, đặcbiệt là các loài thú (Như VD trên)
Tuy nhiên, việc phân chia các vùng địa lý sinh học chỉ mang tính tươngđối bởi vì các loài sinh vật luôn có khả năng phát tán và di cư, nhất là trongnhững năm gần đây, khi môi trường sống bị tác động và có sự thay đổi lớn,tính chất chỉ thị của các loài đôi lúc đã trở nên mờ nhạt
Với việc phân chia các vùng địa lý sinh học như đã nêu trên thể hiện rõtính phong phú của ĐDSH trong các HST trên cạn và các thủy vực ở ViệtNam Các nghiên cứu cũng đã xác định ở Việt Nam hiện có 4 trung tâm
ĐDSH chính là: Hoàng Liên Sơn, Bắc Trường Sơn, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
Chúng ta sẽ tìm hiểu tính chỉ thị của các loài sinh vật ở các vùng địa lýsinh học khác nhau của Việt Nam
4.1 Vùng địa lý sinh học Đông Bắc.
- Vùng Đông Bắc có địa hình chủ yếu là đồi núi thấp xen nhiều thunglũng và đồng bằng
+ Trong thời kỳ vận động tạo sơn sau cùng, vùng này được nâng caolên thêm song không có ngọn núi nào đạt 2000m (khoảng 1000-1500m) và cócấu trúc tương đối đồng nhất
Trang 26+ Điều đặc biệt ở đây là: Hướng núi vùng Đông Bắc có hình nan quạt
mở rộng ở phần phía Bắc, đầu qui tụ vào núi Tam Đảo Các nan quạt đó làcác cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn, Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều
+ Cấu tạo địa hình núi này đã phần nào cản trở sự xâm nhập của gióĐông Nam nhưng lại tạo thuận lợi cho sự xâm nhập của gió mùa Đông Bắc
- Với những đặc điểm địa hình trên nên mùa lạnh ở vùng này kéo dài,vành đai á nhiệt đới hạ xuống thấp (khoảng 500-600m)
- Vùng này nổi tiếng với những cảnh quan đẹp: Vịnh Hạ Long, quầnđảo Cát Bà, Động Tam Thanh, Căn cứ địa Bắc Sơn, Tam Đảo, Hồ Ba Bể
- Nguồn tài nguyên:
+ Các loại thực vật quí như: Lim, Nghiến, Trai lí, Hoàng đàn, Táu mật.+ Hệ động vật: Nhiều loài quí chỉ thấy phân bố ở đây như: Hươu xạ,Thỏ rừng Trung Quốc, Voọc đầu trắng, Cá cóc Tam Đảo, Ếch Mẫu Sơn
4.2 Vùng địa lý sinh học Hoàng Liên Sơn.
- Địa hình: Có nhiều điểm khác với vùng Đông Bắc và gồm cả vùngnúi cao và vùng núi thấp
+ Vùng núi cao gồm phần kéo dài của khối nền Vân Nam – Tứ XuyênTrung Quốc như dãy Hoàng Liên với đỉnh Fansipan 3142m
+ Vùng núi thấp là các dãy núi và cao nguyên thuộc tỉnh Hà Giang,Tuyên Quang, Yên Bái, phần đất phía Tây Bắc của Hà Tây và Đông Bắc củaHoà Bình
- Vùng này có đặc điểm khí hậu mang tính hỗn hợp giữa vùng ĐôngBắc và vùng Tây Bắc
- Nguồn tài nguyên: Đặc trưng vùng là các đặc sản và cây thuốc nhuNấm hương, Mộc nhĩ, Thảo quả, Quế Về động vật: gặp một số loài chỉ phân
bố ở vùng này như Voọc mũi hếch, Thằn lằn tai Ba vì (Tropidophorusbaviensis), Rắn bình mũi Sapa (Pararhadopsis chapaensis), Răn Khiếm(Oligodon lacroixi)
4.3 Vùng địa lý sinh học Tây Bắc.
- Theo Mackinon: Thì vùng này nằm trong vùng Bắc Trung tâm ĐôngDương Các nhà sinh học Việt Nam gọi đó là vùng địa lý sinh học Tây Bắc vàbao gồm chủ yếu lãnh thỗ các tỉnh: Lai Châu, Sơn La cùng phần phía TâyNam tỉnh Hoà Bình, phía Tây tỉnh Ninh Bình và phía Tây tỉnh Thanh Hoá
Trang 27- Địa hình vùng địa lý sinh học này khá phức tạp, nhiều núi cao, caonguyên và nhiều thung lũng hiểm trở Các dãy nũi cao chạy vòng quanh tạonên vùng này như một lòng chảo.
- Đặc điểm của địa hình đã có ảnh hưởng nhiều và làm phức tạp thêmtính chất khí hậu của vùng Tây Bắc
- Nguồn tài nguyên: Tài nguyên sinh vật xưa rất nổi tiếng bởi nhữngkhu rừng rộng bạt ngàn và ưu thế là những quần thể Thông lông gà, Du sam,
Tô hạp Điện Biên; Động vật chỉ thị của vùng này là các loại Voọc xám, Voọcmông trắng, Vượn đen tuyền, Ga lôi beli, Khướu mào
4.4 Vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ
- Việc phân chia vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ rất khác nhau,ngay cả các nhà khoa học Việt Nam (tham khảo giáo trình) Mặc dù các ýkiến còn phân tán ít nhiều nhưng cái chung nhất vẫn coi sông Cả là một ranhgiới tự nhiên đáng quan tâm và vùng đất từ Nam sông Cả đến Thừa ThiênHuế có nhiều đặc điểm rất riêng – ta chấp nhận đó là vùng địa lý sinh học BắcTrung Bộ
- Địa hình: Sự vận động của địa máng Trường Sơn đã hình thành nêndãy Trường Sơn chạy song song với biển đã không tạo thuận lợi cho việc hìnhthành các châu thổ rộng lớn như ở vùng đồng bằng sông Hồng ở vùng ĐôngBắc
+ Phần lớn diện tích vùng này là núi thấp
+ Núi cao có các đỉnh Pu Lai Leng (2711m), Rào Cỏ (2286m) nằmtrên đường biên giới Việt – Lào
+ Do có sự phân cắt mạnh, do tính không đối xứng của dãy Trường Sơnđịa hình vùng này có độ dốc lớn, nhiều đèo cao
- Khí hậu cũng có nhiều nét đặc trưng với lượng mưa hàng năm lớn,nhiệt độ bình quân hàng năm cao và mùa hè có gió Tây (gió Lào) khô nóng
- Nguồn tài nguyên: Tuy có bề ngang hẹp nhưng những đặc điểm địahình, khí hậu của vùng đã tạo nên tính đa dạng và phong phú của tài nguyênsinh vật ở đây
+ Đến nay, vùng này vẫn còn là nơi chứa nhiều bí ẩn, đặc biệt là hệđộng vật: Ba loài thú mới phát hiện trong thập kỷ 90 là Sao la (Pseudoryxnghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis) và Mang TrườngSơn (Caninmutiacus truongsonensis) đều ở vùng này và nhiều loài đặc hữukhác chỉ phân bố ở đây như Voọc gáy trắng, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà lôi
Trang 28lam mào trắng, Gà lôi lam mào đen Vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ lànơi có nhiều yếu tố đặc hữu nhất Việt Nam.
Vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ được coi là vùng có tầm quan trọnglớn đối với hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
4.5.Vùng địa lý sinh học Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
- Đèo Hải Vân nổi lên như một chiếc barie tự nhiên phân cách đơn vịđịa lý sinh học vùng Bắc Trung Bộ – nơi có khí hậu cận nhiệt đới và NamTrung Bộ – nơi có khí hậu nhiệt đới Vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyênđược hình thành do sự vận động của địa khối Kon Tum, một bộ phận của địakhối Indonesia bao gồm cả đất đai của vùng Hạ Lào, Cămpuchia và Thái Lan
- Địa hình: Vùng này năm trên cả 2 sườn Đông và Tây của dãy TrườngSơn
+ Vùng phía Đông của dãy Trường Sơn chủ yếu là núi và đồi với vàiđỉnh cao nằm ở phía Tây (Ngọc Linh 2598m)
Khí hậu: Mang tính nhiệt đới điển hình
+ Vùng phía Tây dãy Trường Sơn tuỳ thuộc khối cổ Kon Tum nhưngđược trẻ hoá trong quá trình tân kiến tạo và tương đối bằng phẳng nhờ sựphun trào của nham thạch núi lửa
Khí hậu được chia thành 2 mùa: Mùa mưa (từ tháng 5 đến cuối tháng
10), mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4)
- Nguồn tài nguyên: Hệ thực động vật đặc trưng có quan hệ gần gũi vớinhóm thực vật Ấn Độ – Mã Lai mang tính nhiệt đới
+ Thực vật đặc trưng là các loài cây họ Dầu (Dipterocarpaceae)
+ Động vật đặc trưng là các loài thú lớn thuộc bọn Guốc chẵn (Trâurừng, Bò rừng, Bò xám, Hươu cà toong, Hươu vàng, Chó sói nhỏ )
Như vậy, tài nguyên sinh vật của vùng này có giá trị kinh tế cao vì sinhkhối của chúng rất lớn
4.6.Vùng địa lý sinh học Đông Nam Bộ (Nam Trung tâm Đông Dương).
- Thực chất, đây là vùng cực Nam của vùng Tây Nguyên và được hìnhthành trên cơ sở vận động tạo sơn của Khối nền Kon Tum cùng với sự xuấthiện của lớp phù sa cổ
- Địa hình: Ít dốc nhưng được nâng cao ở phần phía Bắc do sự phuntrào của các núi lửa và tạo nên các cao nguyên Di Linh, Đà Lạt, Langbian vànghiêng dần về phía Đông Nam hình thành khu đồng bằng điển hình
- Khí hậu nhiệt đới (gồm 2 mùa mưa và khô)
Trang 29- Tài nguyên sinh vật: Do điều kiện địa hình tương đối bằng phẳng, khíhậu nhiệt đới nên tài nguyên sinh vật tuy không đa dạng về loài nhưng trữlượng quần thể các loài lại rất cao.
+ Hệ thực vật có nhiều loài quí như Cẩm lai, Trắc, Thông hai lá
+ Hệ động vật đáng chú ý có Tê giác một sừng, ngoài ra còn các loàithú lớn khác như: Voi, Hổ, Bò Tót Cao nguyên Đà Lạt là nới có nhiều loàithực vật, động vật đặc hữu hiện đang được các nhà khoa học quan tâm
4.7.Vùng địa lý sinh học Nam Bộ.
- Vùng này được hình thành do sự bồi đắp phù sa của sông Mê Kôngtrong suốt một quá trình địa chất lâu dài
- Mặc dù nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới trên một địa hình bằngphẳng nhưng tính ĐDSH thấp vì con người sinh sống từ lâu đời
+ Rừng chủ yếu là rừng ngập mặn với đơn điệu về loài
Điều đáng chú ý đối với vùng này là sự phong phú của các sân chimnhư sân chim Chà là, Vĩnh Thành, Ngọc Hiển, Tam Nông , và các đầm rơi
+ Hệ động vật ở đây đáng chú ý có loài Sếu cổ trụi (ở sân chim TamNông - Đồng Tháp), Cò quắm cánh xanh và một số loài chim nước (ở nhiềusân chim) là loài hiện đang được thế giới quan tâm bảo tồn
Trang 30CHƯƠNG III
SỰ SUY THOÁI ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ VẤN ĐỀ BẢO TỒN
ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Suy thoái đa dạng sinh học.
Suy thoái ĐDSH có thể hiểu là sự suy giảm tính đa dạng, bao gồm sựsuy giảm loài, nguồn gen và HST, từ đó làm suy giảm giá trị, chức năng củaĐDSH Sự suy thoái ĐDSH được thể hiện ở các mặt:
Hệ sinh thái bị biến đổi
Mất loài
Mất đa dạng di truyền
Mất loài, sự xói mòn di truyền, sự du nhập xâm lấn của các loài sinhvật lạ, sự suy thoái các HST tự nhiên, nhất là rừng nhiệt đới đang diễn ra mộtcách nhanh chóng chưa từng có mà nguyên nhân chủ yếu là do tác động củacon người
Một quần xã sinh vật, HST có thể bị suy thoái trong một vùng, songnếu tất cả các loài nguyên bản vẫn còn sống sót thì quần xã và HST đó vẫncòn tiềm năng phục hồi Tương tự, đa dạng di truyền sẽ giảm khi kích thướcquần thể bị giảm, nhưng loài vẫn có khả năng tái tạo lại sự đa dạng di truyềnnhờ đột biến, tái tổ hợp
Loài bị tuyệt chủng thì những thông tin di truyền chứa trong bộ máy ditruyền của loài sẽ mất đi, loài đó khó có khả năng để phục hồi và con người sẽkhó còn cơ hội để nhận biết tiềm năng của loài đó
1.1 Suy thoái đa dạng sinh học trên thế giới.
Cùng với những biến cố về lịch sử, về kinh tế xã hội, ĐDSH trên toàncầu đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Một trong những dấu hiệu quantrọng nhất của sự suy thoái ĐDSH là sự tuyệt chủng loài do môi trường sống
bị tổn hại
1.1.1 Sự tuyệt chủng.
Khái niệm “tuyệt chủng” có nhiều nghĩa khác nhau
+ Một loài bị coi là tuyệt chủng khi không còn một cá thể nào của loài
đó còn sống sót ở bất kỳ đâu trên thế giới Ví dụ: loài chim hót Vermivora bachmanii, cá thể cuối cùng của loài này được nhìn thấy trong những năm của
thập kỷ 60
+ Loài mà chỉ còn một số cá thể còn sót lại nhờ sự chăm sóc, nuôi trồng
của con người thì được coi là đã bị tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dã.
Trang 31Ví dụ: loài Hươu sao (Cervus nippon) đã bị tuyệt chủng trong thiên nhiên hoang dã ở Việt Nam nhưng vẫn sống bình thường trong điều kiện nuôi
nhốt ở Hà Tĩnh, Nghệ An
Cả hai loài vừa nêu cũng được coi là tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu
+ Một loài được coi là tuyệt chủng cục bộ nếu như nó không còn sống
sót tại những nơi chúng đã từng sống, nhưng người ta vẫn tìm thấy chúng tạinhững nơi khác trong thiên nhiên
+ Một số nhà sinh thái học sử dụng cụm từ “loài bị tuyệt chủng về phương diện sinh thái học”, điều đó có nghĩa là số lượng loài còn lại ít đến
mức ảnh hưởng của nó không còn ý nghĩa đến những loài khác trong quần xã
Ví dụ: Loài Hổ (Panthera tigris) hiện nay bị tuyệt chủng về phương diện sinh
thái học, điều này có nghĩa là số lượng Hổ hiện còn trong thiên nhiên rất ít vàtác động của chúng đến quần thể động vật mồi là không đáng kể
Ngoài ra, trong nghiên cứu ĐDSH còn gọi một hiện tượng khác, đó là
"cái chết đang sống" Khi quần thể của loài có số lượng cá thể dưới mức báo
động, nhiều khả năng loài sẽ bị tuyệt chủng Đó là trường hợp của nhữngquần thể hay đàn động vật chỉ cơ bản là còn con cái, còn con đực luôn là đốitượng bị săn bắn (Voi chẳng hạn) Về phương diện chuyên môn các loài chưa
bị tuyệt chủng nếu như một vài cá thể của loài vẫn còn sống, nhưng lúc nàyquần thể không tiếp tục sinh sản một cách bình thường và sự sống sót cũngchỉ giới hạn trong vòng đời của những cá thể đó Ví dụ Rùa Hồ Gươm
Sự sống xuất hiện cách đây 3 - 4 tỷ năm và tính phức tạp của sự sốngbắt đầu tăng dần từ đầu thế kỷ Cambri (cách ngày nay khoảng 600 triệu năm).Cùng với sự tăng tính ĐDSH là sự tuyệt chủng bắt đầu xuất hiện Trong giaiđoạn từ kỷ Cambri đến nay, các nhà cổ sinh học cho rằng có ít nhất 5 lần bịtuyệt chủng hàng loạt:
+ Tuyệt chủng lần thứ nhất diễn ra vào cuối kỷ Ordovic (cách đâykhoảng 450 triệu năm), khoảng 12% các họ động vật biển và 60% số loàiđộng thực vật bị tuyệt chủng
+ Tuyệt chủng lần thứ hai diễn ra vào cuối kỷ Devon (cách đây khoảng
365 triệu năm) và kéo dài khoảng 7 triệu năm đã gây lên sự biến mất của 60%tổng số loài còn lại sau lần tuyệt chủng lần thứ nhất
+ Tuyệt chủng lần thứ ba là nghiêm trọng nhất kéo dài khoảng 1 triệunăm diễn ra vào kỷ Pecmi (cách đây khoảng 245 triệu năm) đã xoá sổ 54% số
Trang 32họ và khoảng 77 - 96% số loài động vật biển, 2/3 số loài bò sát, ếch nhái và30% số bộ côn trùng.
+ Tuyệt chủng lần thứ tư xẩy ra vào cuối kỷ Triat (cách đây khoảng
210 triệu năm) với khoảng 20% số loài sinh vật trên trái đất bị tiêu diệt
Hai đợt tuyệt chủng ba và bốn quá gần nhau vì vậy quá trình phục hồilại hoàn toàn phải mất 100 triệu năm (Wilson, 1992)
+ Tuyệt chủng lần thứ năm diễn ra vào cuối kỷ Cretaceus và đầu kỷTertiary (cách đây khoảng 65 triệu năm) Đây được coi là lần tuyệt chủng nổitiếng nhất Ngoài các loài thằn lằn khổng lồ, hơn một nửa loài bò sát và mộtnửa loài sống ở biển đã bị tuyệt chủng
Theo Wilson (1992) thì ngoài nguyên nhân do thiên thạch ở lần tuyệt chủng thứ năm và một phần do núi lửa phun trào ở lần thứ ba, sự tuyệt chủng còn lại là do hiện tượng băng hà toàn cầu.
Dựa trên cơ sở các bằng chứng cụ thể, các nhà khoa học đã nêu rằng có
85 loài thú và 113 loài chim đã bị tuyệt chủng từ những năm 1600 (bảng 3.1),tương ứng 2,1% các loài thú và 1,3% các loài chim (Reid & Miller, 1989;Smith et al 1993)
Bảng 3.1 Một số nhóm loài tuyệt chủng ghi nhận từ năm 1600 đến nay
và tăng lên 1 loài/ năm trong khoảng 1850 - 1950 Tốc độ tuyệt chủng tăng đãcho thấy những mối đe dọa với ĐDSH đã trở nên nghiêm trọng
Tốc độ tuyệt chủng đặc biệt lớn ở các đảo vì đảo không những là nơitập trung các loài đặc hữu mà nó còn bị khống chế về mặt không gian Hầuhết sự tuyệt chủng của các loài thú, chim, bò sát và ếch nhái được biết đến
Trang 33trong vòng 350 năm trở lại đây hầu hết là sống trên đảo và hơn 80% các loàithực vật đặc hữu trên các đảo hiện nay đều đang bị đe dọa tuyệt chủng.
Do rừng nhiệt đới là nơi sinh sống của phần lớn các loài sinh vật trênthế giới nên sự giảm sút nhanh chóng diện tích rừng và nạn phá rừng còn tiếptục cho đến khi chỉ còn lại các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn Quốc Gia thìkhoảng 2/3 số loài thực vật và chim sẽ bị tuyệt chủng (Simberloff, 1986).Nhiều nhà khoa học dự đoán rằng sẽ mất 5-10% số loài vào những năm 1990-
2020, bình quân mỗi ngày mất đi 40-140 loài Có thể sẽ bị mất khoảng 25%
số loài vào năm 2050
1.1.2 Nguy cơ dễ bị tuyệt chủng.
Khi môi trường bị suy thoái, quần thể của các loài sẽ bị giảm sút về sốlượng, và cuối cùng một số loài sẽ bị tuyệt chủng Các nhà sinh thái học đãnghiên cứu kiểm chứng và thấy rằng không phải tất cả các loài đều có nguy
cơ dễ bị tuyệt chủng giống nhau, ngược lại một số nhóm loài đặc biệt dễ bịtuyệt chủng (Gittleman, 1994) Các loài đặc biệt dễ bị tuyệt chủng nằm trongnhững nhóm sau đây:
Các loài có vùng phân bố địa lý hẹp
Các loài chỉ tồn tại với một hay một vài quần thể
Các loài có kích thước quần thể nhỏ
Các loài có quần thể đang bị suy giảm về số lượng
Các loài có mật độ quần thể thấp
Các loài cần có một vùng cư trú rộng lớn
Các loài có kích thước cá thể lớn
Các loài không có khả năng di chuyển tốt
Các loài di cư theo mùa
Các loài ít có tính biến dị di truyền (để thích nghi với môi trườngsống thay đổi)
Các loài đòi hỏi những yêu cầu sống đặc trưng (ví dụ mực nước,loài đòi hỏi nhu cầu cao về dinh dưỡng)
Các loài chỉ thị cho một môi trường ổn định
Các loài sống bầy đàn vĩnh cửu hoặc tạm thời
Các loài là đối tượng khai thác của con người
1.2 Suy thoái ĐDSH ở Việt Nam.
Hiện nay, Việt Nam cũng đang trong tình trạng chung của toàn cầu làĐDSH bị đe dọa và có chiều hướng suy giảm nghiêm trọng
Trang 34 Suy thoái về HST:
Sự suy thoái về HST thể hiện qua sự suy giảm diện tích rừng
Bảng 3.2 Diễn biến về diện tích rừng ở Việt Nam (đơn vị tính: 1.000.000ha)
Suy thoái về loài:
Nếu như trước những năm 1970, các kiểu rừng và diện tích rừng củanước ta còn phong phú và đa dạng với nhiều loài thực vật bản địa và các loàiđộng vật có kích thước lớn thì hiện nay, một số loài thực vật đã suy giảm
và trở thành nguồn gen quý hiếm không những đối với nước ta mà còn cả đối
với thế giới, ví dụ như các loài: Thông lá dẹt (Pinus kremffii), Thông nước (Glyptostropus pensilis), Sam đỏ (Taxus chinensis), Trầm hương (Aquilaria crassna), Sam bông (Ametlotaxus argotaenia), Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Cẩm lai (Dalbergia oliveri), Đó là những loài gỗ quý được
ngành Lâm nghiệp phân hạng
Một số loài động vật lớn trên thực tế hầu như đã bị diệt vong như: Tê
giác 2 sừng (Dicerorhynus sumatrensis), Heo vòi (Tapia indicus), Hươu sao (Cervus nippon), Trâu rừng (Bubalus bubalis), Bò xám ( Bos sauveli), Vượn tay trắng (Hylobates lar), Cầy nước (Cưynogale bennettii) Các loài chim, bò
sát và ếch nhái cũng nằm trong tình trạng tương tự như: Hạc cổ trắng, Cò áchâu, Già đẫy lớn, Cò quắm cánh xanh, Ngan cánh trắng, Gà so cổ hung, Gàlôi lam mào trắng, Gà lôi lam mào đen, Gà lôi hông tía, Công, Cá sấu, Cá cóctam đảo
Thực tế chứng minh, Sách đỏ Việt Nam phần động vật, xuất bản năm
1992 và phần thực vật, xuất bản năm 1996 đã công bố một danh lục gồm 365loài động vật và 356 loài thực vật đang trong tình trạng đe dọa tuyệt chủng
Suy thoái về di truyền:
Trang 35Mức độ suy giảm của biến dị di truyền thường đi cùng với nguy cơ đedọa của loài Trường hợp cực đoan là khi một loài đứng trước nguy cơ bịtuyệt chủng thì lượng biến dị di truyền của loài có khả năng bị mất đi hoàntoàn.
+ Một số loài động thực vật chỉ còn lại với số lượng cá thể rất ít như:
Bò xám, Tê giác một sừng, (động vật); Trầm hương, Hoàng đàn, Mun,Thủy tùng, Lát hoa, Sam đỏ, Thông pà cò, (thực vật) Có những loài trướcđây đã từng phân bố rộng ở Việt Nam nhưng đến nay đã bị tiêu diệt hoàn toànnhư loài Tê giác hai sừng
Suy thoái về di truyền còn thể hiện ở sự mất di truyền của loài phụ, cácxuất xứ, các quần thể quan trọng Chẳng hạn:
Thủy tùng là loài đã từng có phân bố khá rộng suốt từ Bắc đến Nam(Vũ Văn Cần, Vũ Văn Dũng, 1985), nhưng hiện nay loài này chỉ còn thấy ởhai vùng hẹp của tỉnh Đăk Lăk, đó là Trấp Ksor (Krông Năng), và dưới chânđập Ea Dra (xã Ea Vy, huyện Ea H'leo) với số lượng cá thể còn lại quá ít
Thông 5 lá Đà lạt: trước đây phân bố nhiều ở Trại Mát, cách thành phố
Đà Lạt khoảng 6 -7km, và đây là nơi thu được mẫu vật đầu tiên song hiện tạichỉ còn tìm thấy 2 cá thể cuối cùng tại khu vực, đang trong trạng thái bị đedọa khó có thể tồn tại lâu dài ( Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1997)
Sam đỏ thuộc họ Thanh Tùng (Taxaceae) hiện chỉ còn lại rất ít cá thể
phân bố rãi rát ở một số nơi và cũng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệtchủng
Nhóm thú Linh trưởng ở Việt Nam đa dạng về thành phần loài và cógiá trị cao về tính đặc hữu, song vì nhiều lý do mà nguồn tài nguyên này đã vàđang bị suy giảm Nguyên nhân quan trọng là diện tích rừng tự nhiên bị thuhẹp mà thú Linh trưởng là nhóm thú chuyên hóa với đời sống leo treo ở rừng.Tại Hội nghị Thú Linh trưởng Việt Nam tại Hà Nội (11/1998) đã kết luậnrằng các loài Linh trưởng Việt Nam đều đang bị đe dọa ở các mức độ khácnhau:
+ Nhóm bị đe dọa cao: có 7 loài và phân loài
+ Nhóm nguy cấp: có 9 loài và phân loài
+ Nhóm sắp nguy cấp: có 7 loài và phân loài
+ Nhóm bị đe dọa thấp: có 2 loài
(theo Phạm Nhật, 1998)
Trang 36Một vấn đề khác liên quan đến việc chọn giống là xói mòn di truyền.Các giống cao sản, thuần nhất đạt độ đồng đều cao được gây trồng rộng rãi vàthay thế các giống địa phương, các giống cũ làm cho nền tảng di truyền bị thuhẹp, nhiều giống cây trồng (nông lâm nghiệp) địa phương đã bị mất đi hoặc bịthu hẹp.
2 Nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học:
Có 2 loại nguyên nhân suy giảm ĐDSH:
2 1 Nguyên nhân gián tiếp: Là những nguyên nhân không tác động ngay
đến sự còn hay mất của một loài cụ thể nào cả, song nó đóng vai trò quantrọng nhất trong việc gia tăng sự suy thoái ĐDSH bởi các nguyên nhân nàychính là cơ sở của các nguyên nhân trực tiếp và phạm vi ảnh hưởng rất lớntrên nhiều vùng địa lý sinh học khác nhau
2.1.1 Mất và phá huỷ nơi cư trú: Là nguyên nhân quan trọng bậc nhất và trên
thực tế là một nhóm các nguyên nhân cụ thể hơn
Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các hoạt động của con người: Đó chính là
tác động của việc thay đổi mục đích sử dụng tài nguyên sinh học như: sự pháttriển nông nghiệp, đô thị, sự du canh du cư, đốt nương làm rẫy dẫn đến cháyrừng, khai thác rừng bừa bãi, sản xuất công nghiệp thải lượng cacbon dioxit
và các khí khác vào khí quyển, đốt các nhiên liệu có nguồn gốc cacbon nhưthan, dầu và gas … dẫn đến sự hủy hoại hoặc làm thay đổi các điều kiện sinhthái - nơi cư trú của các loài sinh vật và kéo theo sự tuyệt chủng hoặc sự suygiảm về số lượng và chất lượng quần thể sinh vật, kéo theo sự tan rã của cấutrúc quần xã và HST Việc cải tạo các HST cho các mục đích kinh doanh cótính chuyên hóa cao hay việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốcdiệt cỏ, các hoá chất công nghiệp đều góp phần phá hủy môi trường sống dẫnđến sự tiêu diệt của các loài côn trùng và vi sinh vật bản địa
Mất và phá hủy nơi cư trú bởi các vận động của tự nhiên: Việc phát sinh
mới hay hoạt động trở lại của các núi lửa, sóng thần, sạt lở đất, động đất, samạc hóa, cháy rừng cũng là những nguyên nhân quan trọng làm mất hoặchủy hoại nơi cư trú và góp phần vào việc làm giảm sự ĐDSH
2.1.2 Sự thay đổi trong thành phần HST:
Chẳng hạn như mất hoặc suy giảm của một loài có thể dẫn đến sự suygiảm ĐDSH Ví dụ, nỗ lực loại trừ chó sói châu Mỹ ở miền nam Californiadẫn đến việc giảm sút các quần thể chim hót trong vùng Khi quần thể chó sóichâu Mỹ giảm sút, quần thể con mồi của chúng, gấu trúc Mỹ, sẽ tăng lên Do
Trang 37gấu trúc Mỹ ăn trứng chim, nên khi số lượng chó sói ít hơn thì số lượng gấutrúc ăn trứng chim lại nhiều lên, kết quả là số lượng chim hót sẽ ít đi.
2.1.3 Gia tăng dân số :
Đe dọa lớn nhất đối với ĐDSH là số lượng và tốc độ gia tăng dân sốcủa loài người Việc phá huỷ các quần xã sinh học xảy ra nhiều nhất trongvòng 150 năm trở lại đây, trong thời gian này dân số loài người tăng từ 1 tỷngười vào năm 1850 đến 2 tỷ vào năm 1930, và đến 5,9 tỷ vào năm 1995, dựkiến dân số sẽ tăng 6,5 tỷ vào năm 2010 (nguồn Tổng cục thống kê, 2000)
Con người sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên như gỗ, củi, cácloài thực vật, thịt động vật hoang dã,…Con người cũng khai phá, chuyển đổirất nhiều diện tích đất đai vốn là những nơi cư trú tự nhiên của sinh vật hoang
dã thành đất đai sử dụng cho nông nghiệp và làm nhà ở, xây dựng thành phố,khu công nghiệp cùng cơ sở hạ tầng
2.1.4 Ô nhiễm môi trường sống.
Cho dù nơi sinh sống không bị ảnh hưởng một cách trực tiếp do việcphá huỷ hay chia cắt, nhưng các quần xã và các sinh vật sống trong đó có thể
bị ảnh hưởng sâu sắc do các hoạt động khác của con người Dạng nguy hiểmnhất của phá huỷ môi trường là sự ô nhiễm Có thể liệt kê một số nguyênnhân sau:
- Ô nhiễm do thuốc trừ sâu: Thuốc trừ sâu là nhân tố gây ô nhiễm nặng
nề và được khuyến cáo từ năm 1962 (Rachel Carson, 1962) Thuốc trừ sâuDDT (Diclorodiphenyltricloro – ethene) và các loại thuốc trừ sâu có chất Clohữu cơ khác là những chất không phân huỷ hoàn toàn và được tích luỹ tănglên theo các bậc tháp của chuỗi thức ăn
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu để diệt các loại côn trùng gây hại cho câytrồng, diệt ấu trùng cho các loài muỗi trong nước đã gây nhiều tổn hại tới cácquần thể sinh vật khác cùng sống trong môi trường
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu thường phải tăng nồng độ theo thời gian
do các sinh vật gây hại bị nhờn hoá chất
+ Việc sử dụng thuốc trừ sâu không những giết hại nhiều loài sinh vật
có ích mà còn gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm các yếu tố khác trong môitrường sống của con người
- Ô nhiễm nước: Ô nhiễm nước cũng là nguyên nhân gây suy thoái
ĐDSH thuỷ sinh như các loài cá, ốc, trai, hến
Trang 38Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là do các chất thải côngnghiệp, chất thải dân dụng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, rò rỉ xăng dầu từ cáctàu vận tải, các kim loại nặng(thuỷ ngân, chì, thiếc ) Các chất thải này theodòng chảy và lan trải trong một cùng rộng lớn Lượng các chất độc này xâmnhập, tích luỹ tăng dần theo thời gian trong cơ thể sinh vật sản xuất và đượcđưa vào chuỗi thức ăn Kết quả là một loạt loài ở các bậc dinh dưỡng tiếp theotrong chuỗi thức ăn cũng bị nhiễm độc theo.
Các trầm tích có nguồn gốc do xói mòn từ các vùng đất trống đồi núitrọc cũng có thể gây hại cho HST thuỷ vực Các chất trầm tích có lẫn mùn lácây, bùn, các chất rắn lơ lửng và cả các chất độc hại làm tăng độ đục củanước, làm giảm độ chiếu sáng trong nước nên đã làm giảm khả năng quanghợp của các loài tảo Sự gia tăng lớp trầm tích đáy đã gây hại cho nhiều loạisan hô - những loài đòi hỏi một môi trường sống tuyệt đối trong sạch
- Ô nhiễm không khí và mưa axít:
Các hoạt động công nghiệp xả thải vào khí quyển, đốt rừng làm nươngrẫy, làm thay đổi và làm ô nhiễm bầu khí quyển của trái đất Các nền côngnghiệp như luyện thép, các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu là than dầu
đã thải ra một lượng lớn nitrat, sulphat vào không khí, các khí này khi gặp hơinước trong khí quyển sẽ tạo ra axit nitric và sunphuric Các axit này liên kếtvới những đám mây và khí tạo thành mưa đã làm giảm độ pH của nước mưaxuống thấp và tăng khả năng hấp thụ các kim loại nặng độc hại
Do độ axít của các hồ, ao tăng lên vì mưa axít, nhiều cá con của nhiềuloài cá và cả những con cá trưởng thành cũng bị chết ngay lập tức Độ axíttăng và nước bị ô nhiễm là hai nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm đáng
kể các quần thể lưỡng cư trên thế giới Đối với phần lớn các loài lưỡng cư, ítnhất một phần trong chu kỳ sống của chúng phụ thuộc vào môi trường nước,
độ pH của nước giảm làm cho tỷ lệ trứng và ấu trùng bị chết tăng lên cao(BeeBee, 1990; Blaustein and Wake, 1995)
- Sư sản sinh ôzôn, các kim loại độc hại và lắng đọng khí nitơ.
+ Xe ô tô, các nhà máy nhiệt điện và các hoạt động công nghiệp thải racác khí hyđrocacbon, khi ôxit nitơ Dưới ánh sáng mặt trời, các hoá chất nàytác dụng với khí quyển và tạo ra khí ôzôn cùng các hoá phụ phẩm khác, tất cảcác khí này được gọi chung là mù quang hoá Nồng độ ôzôn cao ở tầng khíquyển gần mặt đất sẽ giết chết các mô thực vật, làm cho cây dễ bị tổn thương,làm hại đến các quần xã sinh học, giảm năng suất nông nghiệp
Trang 39+ Xăng có chì, các hoạt động khai mỏ, luyện kim và các hoạt độngcông nghiệp khác thải ra một lượng lớn chì, thiếc, và nhiều loại kim loại độchại khác vào khí quyển Các hợp chất này trực tiếp gây độc cho cuộc sống củađộng và thực vật.
2.1.5 Sự biến đổi khí hậu.
Khí cacbonic, mêtan và các khí khác trong khí quyển không ngăn cảnánh sáng mặt trời, cho phép năng lượng mặt trời xuyên qua khí quyển và sưởi
ấm bề mặt trái đất Tuy vậy, những khí này và hơi nước (dưới dạng nhữngđám mây) giữ lại năng lượng do trái đất phát ra dưới dạng nhiệt, làm chậm lạitốc độ phát tán nhiệt và bức xạ khỏi trái đất Các khí này được gọi là khí nhàkính do tác dụng của chúng rất giống với nhà kính – cho ánh sáng mặt trời điqua nhưng giữ lại năng lượng bên trong nhà kính và chuyển thành năng lượngnhiệt Nồng độ khí này càng đậm đặc bao nhiêu thì nhiệt lượng bị thu lại gầnmặt đất nhiều bấy nhiêu và nhiệt độ trên bề mặt trái đất lại tăng lên bấy nhiêu
Vai trò của khí nhà kính rất quan trọng vì nó giữ ấm bề mặt trái đất.Vấn đề quan trọng hiện nay là nồng độ của khí nhà kính tăng cùng với hoạtđộng của con người đến mức làm biến đổi khí hậu gây nên hiện tượng trái đấtnóng dần lên Hiện tượng nhiệt độ tăng dần lên còn làm cho các khối băng ởcác vùng cực tan ra Do việc giải phóng một khối lượng nước lớn do băng tan,trong vòng 50 đến 100 năm tới mức nước biển dâng cao từ 0,2 đến 1,5 m.Mức nước biển dâng cao sẽ làm ngập lụt những vùng đất thấp những khuĐNN ven bờ biển và nhiều thành phố lớn Ngoài ra, mức nước biển dâng sẽ
có khả năng gây hại đến nhiều loại san hô, nhất là những loại chỉ tồn tại ở một
độ sâu nhất định nơi có ánh sáng và dòng chảy phù hợp
Sự biến đổi khí hậu và nồng độ khí cacbonic trong khí quyển gia tăng
sẽ có khả năng làm thay đổi triệt để cấu trúc của các quần xã sinh học và sẽchỉ còn một số loài có khả năng phát triển thích ứng với điều kiện sống mới(Bazzaz và Fajer, 1992)
2.1.6 Sự bất lực của chính quyền và những chiến lược phát triển không hợp lý:
Nguyên nhân này có vai trò tương đối lớn, nhất là đối với các loài có
nguy cơ tuyệt chủng và ở các nước nghèo Hệ thống các văn bản pháp luậtchưa hoàn thiện và không được những người có trách nhiệm thực hiệnnghiêm túc Do cuộc sống khó khăn nên những người dân bản địa đã tiếnhành khai thác bất hợp pháp các loài động thực vật cung cấp cho thị trường,
Trang 40song các cấp chính quyền dường như không làm được nhiều để hạn chế tìnhtrạng trên, thậm chí do nguồn lợi kinh tế rất lớn nên một số nhà chức tráchcòn tiếp tay cho các hoạt động phi pháp Bên cạnh đó chính sách di dân đãlàm cho rất nhiều diện tích rừng bị mất đi nhanh chóng Các chính sách kinh
tế sai lầm đã làm giá cả gia tăng nhanh và đẩy một bộ phận người dân thuộcvùng sâu, vùng xa, những vùng có mức độ ĐDSH cao nhất, ngày càng trở nênkhốn khó, để tự nuôi sống mình và gia đình họ đã khai thác triệt để nguồn lợisinh học tại địa phương
2 2 Nguyên nhân trực tiếp:
2.2.1 Khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học.
Nhằm thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống, con người đã thường xuyên sănbắn, hái lượm thực phẩm và khai thác các nguồn tài nguyên khác
+ Khi dân số loài người vẫn còn ít và phương pháp thu hái còn thô sơ,con người đã thu hái và săn bắt một cách bền vững mà không làm cho các loàitrở nên tuyệt chủng
+ Khi dân số loài người tăng lên, nhu cầu sử dụng cũng tăng theo và họ
đã sử dụng các phương tiện hữu hiệu hơn: Súng được thay cho giáo mác vàcung tên; tàu đánh cá gắn máy thay cho thuyền buồm gỗ đánh bắt cá trên đạidương; cưa xăng thay cho chiếc rìu tay khi chặt gỗ Phương tiện khai tháchiện đại đã làm cho các loài bị khai thác suy giảm và tuyệt chủng nhanh hơn.Việc khai thác quá mức của con người ước tính đã gây nguy cơ tuyệt chủngcho 1/3 số loài động vật có xương sống
+ Trong những năm gần đây, việc khai thác quá mức được tăng lên khithị trường thương mại được mở rộng, đã gây ra những hiểm họa không nhỏđối với các loài sinh vật trong tự nhiên
Ví dụ: Thị trường buôn bán áo lông thú phát triển ở nhiều quốc gia.Các món ăn đặc sản (thịt các loài động vật hoang dã), thú chơi cây cảnh,phong lan cũng gây những hiểm họa không nhỏ đối với các loài này trong tựnhiên
2.2.2 Sự xâm nhập của các loài ngoại lai.
Phạm vị sống về địa lý của nhiều loài được giới hạn bởi các vật cản tựnhiên như đại dương, các sa mạc, các dãy núi, các con sông Ví dụ: Các loàiđộng vật có vú ở Bắc Hoa Kỳ không thể vượt qua biển Thái Bình Dương đểđến được Hawai Do sự cách ly về địa lý nên quá trình tiến hoá được phân lytheo các chiều hướng khác nhau trên những khu vực chính của trái đất