Với cảm hứng lãng mạn, thủ pháp đốilập được khai thác triệt để, đoạn thơ đã khắc hoạ được vẻ hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc và hình ảnh vừa bi vừa hùng của người lính Tây Tiến cũn
Trang 1HỒ CHÍ MINH
I – VÀI NÉT VỀ TIỂU SỬ
- Hồ Chí Minh (1890 – 1969), quê ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Sinh
ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ của Người là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc.Thời trẻ học chữ Hán ở nhà, sau học tại Trường Quốc học Huế, rồi dạy học ở Trường Dục Thanh
- Năm 1911, Người ra nước ngoài tìm đường cứu nước Năm 1919, Người gửi tới Hộinghị hoà bình ở Véc-xay (Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam
- Năm 1920, Người dự Đại hội Tua và trở thành một trong những thành viên sáng lập
Đảng Cộng sản Pháp
- Người chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản ở trong nước tại Hương Cảng,
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3 – 2 – 1930
- Tháng 2 – 1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, thành lập Mặt trận Việt
Minh Ngày 13 – 08 – 1942, Người sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ quốc tế, nhưng bịchính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ và giam 13 tháng, trải qua 18 nhà tù
- Sau khi ra tù, Người về nước, tiếp tục lãnh đạo cách mạng, tiến tới giành thắng lợi trong
cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945
- Năm 1946, Người được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Từ đó,Người giữ chức vụ cao nhất của Đảng và Nhà nước cho đến khi qua đời vào ngày 2 – 9 – 1969
- Người khai sáng sự nghiệp cách mạng vĩ đại; đem lại độc lập, tự do cho dân tộc Người
đặt nền móng vững chắc cho văn học cách mạng Việt Nam Người được UNESCO suy tôn “Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn”.
+ “Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
(Thư gửi các hoạ sĩ nhân dịp triển lãm hội hoạ 1951)
Trang 2+ Người nhắc nhở những tác phẩm : “chất mơ mộng nhiều quá, mà cái chất thật của sựsinh hoạt rất ít”.
+ Theo Bác nhà văn phải “miêu tả cho hay, cho chân thật và cho hùng hồn” và “giữ tình cảm chân thật”, “nên chú ý phát huy cốt cách dân tộc” và “ giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”.
+ Người đề cao sự sáng tạo của văn nghệ sĩ : “chớ gò bó họ vào khuôn, làm mất vẻ sángtạo”
- Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ mục đích và đối tượng tiếp nhận để quyết định nội dung, hình thức của tác phẩm văn học : “Viết cho ai?”(đối tượng), “Viết để làm gì ?”(mục
đích) và “Viết cái gì ?”(nội dung), “Viết như thế nào ?”(hình thức)…
+ Bản án chế độ thực dân Pháp (1925): tố cáo chế độ thực dân, nói lên nỗi thống khổ của
người dân thuộc địa
+ Tuyên ngôn Độc lập (1945) : tuyên bố quyền độc lập của dân tộc Việt Nam
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) và Không có gì quý hơn độc lập, tự do (1966)
thể hiện sâu sắc tiếng gọi của non sông đất nước
+ Di chúc (1969), tác phẩm để lại muôn vàn tình thương yêu cho nhân dân và đề ra chiến
lược phát triển đất nước
b) – Truyện và kí
- Đặc điểm nổi bật : Bút pháp hiện đại, tình huống truyện độc đáo, trí tưởng tượng phong
phú, hình tượng sống động, sắc sảo, nghệ thuật trần thuật linh hoạt “Chất trí tuệ và tính hiện đại”.
- Tác phẩm tiêu biểu : Pa-ri (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu (1925),…
c) – Thơ ca
- Đặc điểm nổi bật : Thơ Bác khắc hạo bức chân dung nhân vật trữ tình mang nặng “nỗinước nhà”, phong độ ung dung, lạc quan, tâm hồn hoà hợp với thiên nhiên và bản lĩnh của mộtnhà cách mạng luôn làm chủ tình thế
Trang 3- Tác phẩm tiêu biểu :
+ Nhật kí trong tù (1942 – 1943) : 134 bài thơ (cả đề từ), tiêu biểu : Chiều tối, Lai Tân,…
+ Chùm thơ viết thời kì tiền khởi nghĩa và trong kháng chiến chống Pháp : Thơ tuyên
truyền (Dân cày, Công nhân, Ca binh lính,…) ; Thơ nghệ thuật (Tức cảnh Pác Bó, Đăng sơn, Nguyên tiêu, Báo tiệp, Cảnh khuya,…).
3 – Phong cách nghệ thuật
a) – Văn chính luận
- Ngắn gọn, tư duy sắc sảo
- Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, hùng hồn, bằng chứng thuyết phục
- Giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp
- Thơ tuyên truyền : Lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắc dân gian hiện đại
- Thơ nghệ thuật : Vẻ đẹp hàm súc, hoà hợp giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, giữa chất
1954, ông làm biên tập viên tại Báo Văn nghệ, rồi chuyển về Nhà xuất bản Văn học
- Quang Dũng là một nghệ sĩ đa tài (làm thơ, viết văn, vẽ tranh…), nhưng được biết đến
nhiều nhất là thơ - hồn thơ đầy cảm hứng lãng mạn, hào hoa, thanh lịch – có khả năng cảm nhận
và diễn tả tinh tế, giàu chất thơ mộng
Trang 4- Những tác phẩm chính : Mùa hoa gạo (truyện ngắn, 1950), Rừng biển quê hương (thơ, văn in chung với Trần Lê Văn, 1957), Đường lên Châu Thuận (1964), Rừng về xuôi (truyện kí, 1968), Nhà đồi (truyện kí, 1970), Gương mặt hồ Tây (bút kí, in chung 1984), Mây đầu ô (tập thơ,
1986), …
- Năm 2001, Quang Dũng được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
2 – Bài thơ Tây Tiến
Bài thơ Tây Tiến được khơi nguồn cảm hứng từ nỗi nhớ đoàn quân Tây Tiến Tây Tiến là
một đơn vị quân đội được thành lập đầu năm 1947 hoạt động ở biên giới Việt – Lào, có nhiệm vụphối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ởthượng Lào cũng như ở miền Tây Bắc Bộ Việt Nam Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên
Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, chiến đấu trong hoàn cảnh rất gian khổ nhưng họrất lạc quan và dũng cảm
Sau một thời gian hoạt động ở Lào, đoàn quân Tây Tiến trở về Hòa Bình thành lập trungđoàn 52 Đại đội trưởng Quang Dũng ở đó đến cuối năm 1948, rồi được chuyển sang đơn vị
khác Rời đơn vị chưa bao lâu, tại Phù Lưu Chanh, ông viết Nhớ Tây Tiến sau đổi lại là Tây Tiến
và in trong Mây đầu ô.
II – NỘI DUNG CHI TIẾT
Nhắc đến Quang Dũng, độc giả không chỉ nhớ tới Tây Tiến như một kỉ niệm đẹp mà còn gợi nhớ về hình ảnh xứ Đoài mây trắng : Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm (Đôi mắt người Sơn Tây) – quê hương của nhà thơ – Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) Quang Dũng đã mang “cái hào hoa của người Hà Nội và của cả xứ Đoài” ấy để làm nên chất men say lãng mạn ở Tây Tiến cùng nhiều bài thơ khác của ông.
Đặc biệt, hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa của Quang Dũng được
thăng hoa ở Tây Tiến, nhất là đoạn thơ sau : …
1 – Một Tây Tiến dữ dội, hùng vĩ (Sông Mã xa rồi … mùa em thơm nếp xôi)
Cảm hứng bao trùm bài thơ Tây Tiến là nỗi nhớ Mở đầu bài thơ là tiếng gọi thân
thương trìu mến hướng về Tây Tiến : “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi !” Sau tiếng gọi ấy chính là
nỗi nhớ Tây Tiến dạt dào cảm xúc :
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
“Nhớ chơi vơi” là nỗi nhớ khó định hình, khó nắm bắt nó nhẹ tênh bay bỗng nhưng nặng vô cùng Từ “chơi vơi” hợp với vần “ơi” ở câu trên đạ tạo âm hưởng lan toả Nỗi nhớ ấy như vươn
theo thời gian, trải rộng với không gian và thấm vào lòng người
Trang 5Tây Bắc là nơi in đậm bao gian khổ, niềm vui, nỗi buồn của những người chiến sĩ, là nơi
mà Quang Dũng từng đi qua Nỗi nhớ rừng núi với Quang Dũng đã bắt đầu bằng những cuộchành quân :
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường lát hoa về trong đêm hơi Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi ấn tượng về vùng đất xa xôi, hoang sơ Âm điệu câu thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” như chùng xuống, đều đều, gợi lên sự mệt mỏi, bải
hoải làm ta tưởng chừng như đoàn quân sắp ngã, sắp chìm trong sương mù dày đặc Thế nhưng
đến câu sau âm điệu như vút lên cao bởi câu thơ hầu hết là thanh bằng : Mường Lất hoa về trong đêm hơi” Đó là hình ảnh hoa rừng hiện ra trong sương mù, thật mơ mộng và lãng mạn “Hoa về”
là một cách nói đa nghĩa, thể hiện sự táo bạo và mang đậm phong cách lính… Hình ảnh ấy đãxoá tan cái mệt nhọc của đoàn quân để họ tiếp bước
Tiếp theo là những câu thơ gợi ra cái hùng vĩ, dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc với những
núi cao, vực sâu, dốc thẳm :
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Ở Tây Tiến ấy, câu chữ như bị bẻ gãy để tạo hình độ cao dựng đứng giữa hai triền dốc
núi: Dốc lên khúc khuỷu / dốc thăm thẳm ; Ngàn thước lên cao / ngàn thước xuống Nhịp ngắt
4/3 quen thuộc của thể thơ bảy tiếng trở thành giao điểm phân định rạch ròi hai hướng lên xuốngcủa vô vàn con dốc tạo thành các cung đường hành quân Tây Tiến
Ở Tây Tiến ấy, câu thơ nhiều thanh trắc (Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm) cùng những
từ ghép, từ láy giàu sức tạo hình được đặt liên tiếp nhau để đặc tả sự gian nan trùng điệp : khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút.
Thử thách với con người đâu chỉ ở núi cao, vực sâu, dốc thẳm Đọc những câu thơ :
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
mà tưởng chừng gặp những chuyện chuyện đường rừng Thác gầm thét và cọp trêu người gắn với hai từ chiều chiều, đêm đêm dùng để chỉ tính thường trực, liên tục của những hiểm nguy đang rình rập Địa danh nào cảnh vật ấy Chỉ cần đọc hai tiếng Mường Hịch như đã thấy lởn vởn dấu
chân cọp dữ vừa lướt qua
Trang 6Giữa cái hùng vĩ, dữ dội hoang sơ đó, hình ảnh đoàn quân Tây Tiến hiện ra với nhiều nét rất đặc trưng của đời lính Đọc theo từng câu thơ, chúng ta tưởng chừng như còn nghe thấy
hơi thở nặng nhọc của họ trên mỗi chặng hành quân vượt dốc, với những gương mặt dãi dầusương gió :
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Trên mỗi chặng đường, không ít người lính đã kiệt sức thậm chí có người đã hi sinh vì
lam sơn chướng khí, vì rừng thiêng nước độc Cụm từ gục lên sung mũ toát lên một sự hi sinh vô
cùng cao đẹp vì hạnh phúc của mọi người Hình ảnh thật là vừa bi vừa hùng
Tuy nhiên, cũng có những giây phút đoàn quân cảm nhận được sự thư thái và niềm vuicủa đời lính Đó là niềm vui khi chinh phục được núi cao, rừng thẳm, là sự phát hiện rất đặc biệt
về độ cao : Heo hút cồn mây súng ngửi trời Đặc biệt, giữa mạch thơ tập trung diễn tả cái dữ dội
tột đỉnh của thiên nhiên, lại hiện ra một ánh nhìn vô cùng bay bổng của người lính Tây Tiến :
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Câu thơ toàn thanh bằng như toát lên một tiếng thơ phào nhẹ
nhỏm của người lính sau chặng đường vượt dốc vất vả
Vượt qua núi rừng, đoàn quân đến với những bản làng Nơi đó, người lính ngập tràn hạnhphúc giữa tình quân dân ấm áp với những hương vị đặc trưng của miền Tây :
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
Khép lại đoạn thơ, người đọc hình dung rất rõ về một cuộc hành quân gian nan nhưng đầytinh thần lạc quan và lãng mạn của đoàn quân Tây Tiến Với cảm hứng lãng mạn, thủ pháp đốilập được khai thác triệt để, đoạn thơ đã khắc hoạ được vẻ hoang vu, dữ dội của núi rừng Tây Bắc
và hình ảnh vừa bi vừa hùng của người lính Tây Tiến cũng như những kỉ niệm ấm áp tình quândân trong kháng chiến chống Pháp
2 – Một Tây Tiến thơ mộng, trữ tình (Doanh trại … đong đưa)
Khác với đoạn thơ phía trên, đến đoạn thơ thứ hai này, hình ảnh thơ không còn dữ dội màđậm màu sắc trữ tình, thơ mộng với hai bức tranh, hai khung cảnh khác nhau : buổi liên hoan ởdoanh trại và cuộc tiễn đưa trong một chiều sương Giọng thơ vì thế cũng chuyển từ nặng nề sangrộn vui và có lúc sâu lắng thiết tha
Bốn dòng thơ đầu tái hiện những kỉ niệm về tình quân dân thắm thiết trong đêm liên hoan văn nghệ nơi bản làng mà đoàn quân Tây Tiến dừng chân nghỉ Đoạn thơ đã đem đến
cho người đọc ấn tượng về không khí hội hè rộn ràng vui vẻ, cái nhìn chiêm ngưỡng, say sưa mà
đa tình của lính Tây Tiến trước vẻ đẹp phương xa xứ lạ,
Trang 7Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn Truyện Kiều có câu : “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa” (3096) Quang Dũng sáng tạo thành “hội đuốc hoa” để nói về đêm liên hoan lửa trại của các chiến sĩ với đồng bào bản mường Ánh sáng của hội hè bừng lên từ đuốc hoa, từ áo xiêm lộng lẫy làm cho người lính cũng ngạc nhiên reo vui : “kìa em”… Dáng
người đẹp mềm mại, e ấp theo những điệu múa, tiếng khèn rộn ràng thật tình tứ làm sao Trongcái nhìn lãng mạn, hào hoa của người lính, ánh đuốc của buổi liên hoan đã thành những ngọn
đuốc hoa tân hôn ngọt ngào Còn người đẹp xiêm y như bước ra từ huyền thoại :
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Người lính như nhập cuộc, hoà mình say sưa theo âm điệu dìu dặt, theo điệu múa yểuđiệu, đưa hồn về những giấc mơ, những chân trời chưa tới, xây hồn thơ với bao mộng ước ngọt
ngào : Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.
Bốn câu thơ tiếp theo gợi ra nỗi nhớ về cảnh sông nước miền Tây thơ mộng với bức tranh Châu Mộc chiều sương bảng lảng mơ hồ :
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Tác giả chỉ phác hoạ đôi nét, chủ yếu đánh thức, gợi cảm nhận ở người đọc Những chữ
có thấy, có nhớ là hỏi lòng mình đầy bang khuâng, lưu luyến Cảnh thơ tĩnh lặng, buồn, song rất thi vị Tâm tình con người gửi trong cái xôn xao nỗi niềm của hồn lau nẻo bến bờ, trong một
dáng người khoẻ khoắn trên con thuyền độc mộc trôi dòng nước lũ Những đoá hoa rừng duyên
dáng, tình tứ biết đong đưa làm duyên với lính Tây Tiến Tất cả những cảnh ấy, người ấy làm sao
không thấy và không nhớ ?
Thi liệu trong bốn câu thơ trên đã tạo nên vẻ đẹp cổ điển bức tranh suối rừng nơi miền đất
lạ Thấp thoáng trong vần thơ Tây Tiến là những câu cổ thi tuyệt bút :
Sương đầu núi buổi chiều như dội, Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…
Trang 8(Chinh phụ ngâm)
Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau :
Ngàn lau cười trong nắng Hồn của mùa thu về Hồn mùa thu sắp đi Ngàn lau xao xác trắng.
(Lau mùa thu – Chế Lan Viên)
Trong hai bức tranh, hai khung cảnh ấy, người lính hiện ra với tâm hồn lạc quan, yêu đờicủa người lính Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh,sinh viên nên sự lạc quan, yêu đời đã sẵn có trong tâm hồn họ Hơn nữa, sống đời lính bôn ba thì
ít nhiều họ cũng hay mơ mộng, đa tình Những tâm hồn nhạy cảm đó bắt gặp những cảnh tưngbừng, hay cảnh sông nước hữu tình thì hỏi sao tâm hồn người lính không xao xuyến rung động Tây Tiến của những buổi liên hoan văn nghệ quân dân, của những chiều sương mơ hồbảng lảng đã để lại cảm giác nhung nhớ, bâng khuâng trong lòng người Khác với đoạn thơ thứnhất, ở đây Quang Dũng chủ yếu sử dụng những nét vẽ mềm mại, tinh tế, cái tinh tế toát ra từ
“cốt cách hào hoa phong nhã và một thi tài hiếm có” (Trinh Đường).
3 – Một tượng đài người lính Tây Tiến bất tử với thời gian (Tây Tiến đoàn binh … độc hành) Trước hết, hình tượng người lính Tây Tiến được khắc hoạ bằng một nét vẽ chân dung rất gân guốc, lạ hoá và phi thường :
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Nhưng đó là cái lạ hoá, gân guốc bắt nguồn từ hiện thực đến từng chi tiết Không mọc tóc
là hậu quả của trận sốt rét rừng Rồi trải qua nơi rừng thiêng nước độc, gian khổ thiếu thốn, thuốc
men không có Quân xanh màu lá cũng là thực tế hiển nhiên Nhiều bài thơ chống Pháp từng nói
tới hiện thực này
_ Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ.
(Tố Hữu)
_ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt rung người vầng trán ướt mồ hôi”
(Chính Hữu)
Trang 9Tuy nhiên, hiện thực ấy khúc xạ qua bút pháp lãng mạn Quang Dũng trở thành cách nói
mang khẩu khí lính Tây Tiến Không mọc tóc chứ không phải tóc không thể mọc Quân xanh màu lá còn là xanh áo lính, xanh lá nguỵ trang Thế mới xứng với những chữ dữ oai hùm Đó
mới thực là khí phách, tinh thần của đoàn quân
Đời lính đâu chỉ biết đối mặt với lam sơn chướng khí, đâu chỉ biết đối mặt với đạn bom,
người lính cũng có những giây phút tâm hồn bay bổng rất lãng mạn, mộng mơ :
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Bên cạnh cái gian khổ trèo đèo lội suối, bên cạnh nhiệm vụ chính trị của đời lính, bên cạnhtinh thần sục sôi chiến đấu, vẫn có một khoảng trời của tâm tưởng đi về trong mộng ước với dáng
hình người đẹp Dáng kiều thơm gợi vẻ đẹp yêu kiều, thanh lịch, sắc nước hương trời của người
thiếu nữ Hà thành – nơi mà ở đó người lính từng sống, từng học tập và cũng là nơi các anh từ giãngười thân lên đường đi chiến đấu Nơi hậu phương ấy trở thành động lực thúc giục người línhquên gian khổ để tiến lên phía trước, vượt qua bom đạn để trở về
Những câu thơ tiếp theo sau như là lời phát ngôn cho lí tưởng, khát vọng của người lính Tây Tiến với niềm tự hào chất ngất :
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh Đời xanh tuổi trẻ, đời xanh bao mơ ước còn đang phía trước Nhưng với các anh, còn gì quý hơn Tổ quốc thân yêu, còn gì “quý hơn độc lập tự do” Vì thế, dù biết rằng đời lính gửi vào
đầu súng mũi lê, ra đi không hẹn ngày về , nhưng các anh vẫn chấp nhận ra đi để dâng hiến, để
xả thân Họ chẳng khác nào các vị tướng ngày xưa tung hoành chiến trận Hai câu thơ như gợi lạihào khí của cha ông ta xưa :
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu
(Phạm Ngũ Lão)
Hào khí thời đại cũng ùa vào chắp cánh cho hai câu thơ này Nó gợi cái âm vang của lời
thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” (Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi – Nào có sá chi đâu ngày trở về - Ra đi ra đi bảo tồn sông núi – Ra đi ra đi thà chết không lùi…) Tinh thần “nhất khứ bất phục phản” ngàn đời ấy đã trở thành lí tưởng, khát vọng của người chiến sĩ Tây Tiến.
Đoạn thơ thứ ba khép lại bằng sự hi sinh của người lính :
Áo bào thay chiếu anh về đất
Trang 10Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Quang Dũng không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt, dữ dội Trên chặng đường hànhquân, nhiều người lính không thể vượt qua đã vĩnh viễn gục lên súng mũ bỏ quên đời Dọc đường Tây Tiến cũng là vô vàn nấm mồ liệt sĩ mọc lên Rải rác biên cương mồ viễn xứ Tuy nhiên, ấn
tượng để lại với người đọc là cái đẹp trong tâm tưởng của họ Họ đều là những chiến tướng ngày
xưa rực rỡ với chiếc áo bào :
Giã nhà đeo bức chiến bào Thét roi cầu Vị ào áo gió thu (Chinh Phụ Ngâm)
Cái chết đã được sang trọng hoá lên để xứng với ngoại hình, nội tâm và lí tưởng của họ
Về đất là cách nói giảm nhằm thể hiện sự ra đi thanh thản của người lính sau khi làm tròn trách nhiệm người trai Cái chết của họ như thiêng liêng và động đến cả đất trời : Sông Mã gầm lên khúc độc hành Câu trên nhẹ nhàng, thanh thản, kìm nén Câu dưới dữ dội, gào thét Tất cả nội lực câu thơ đều dồn xuống từ gầm và gợi ra một âm hưởng thật bi tráng cho đoạn thơ.
Cả đoạn thơ như một khúc ca mang âm điệu bi tráng về tượng đài người lính Tây Tiến.Những câu thơ với hàng loạt các từ Hán Việt trang trọng, những hình ảnh phi thường đã làmsống lại một thời oanh liệt của dân tộc ta
III – KẾT LUẬN
Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền tây hùng vĩ, dữ dội
và mĩ lệ Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ còn có sức
hấp dẫn lâu dài đối với người đọc
Tây Tiến (hoặc đoạn thơ trên nói riêng) rất tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Quang
Trang 11- Tố Hữu (1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê gốc ở làng Phù Lai,
nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo có truyền thống văn chương, từ sáu, bảy tuổi, Tố Hữu đã học và tập làm thơ
- Ông giác ngộ cách mạng trong thời kì Mặt trận Dân chủ và trở thành người lãnh đạo
Đoàn Thanh niên Dân chủ ở Huế, rồi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.
- Những bài thơ đầu tiên của ông được sáng tác năm 1937, 1938 Tháng 4 – 1939, ông bị thực dân Pháp bắt và giam giữ ở các nhà lao miền Trung và Tây Nguyên Tháng 3 – 1942, Tố Hữu vượt ngục Đắc Lay, tiếp tục hoạt động cách mạng.
- Ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước : Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa ở thành phố Huế, Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
- Tố Hữu đã vinh dự nhận giải Nhất Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1954 –
1955, Giải thưởng văn học ASEAN (1996), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
b) – Đường Cách mạng, đường thơ
Tập thơ Từ ấy (1937 – 1946)
Tập thơ gồm 72 bài, gồm ba phần : Máu lửa, Xiềng xích, và Giải phóng.
Phản ánh chặng đường cách mạng của những năm diễn ra phong trào Mặt trận Dân chủ
và cuộc vận động nhân dân tiến tới cuộc khỡi nghĩa tháng Tám năm 1945
Tập thơ thể hiện niềm say mê khi bắt gặp lí tưởng cách mạng và bước trưởng thành củangười thanh niên quyết tâm hi sinh cho Đảng Đó là tình cảm cảm thông, sẻ chia của nhà thơ với
những mảnh đời “cùng khổ”; niềm khát khao tự do, quyết tâm chiến đấu vì lí tưởng Cộng sản.
Tập thơ Việt Bắc (1946 – 1954)
Tập thơ gồm 27 bài
Tập thơ Việt Bắc ra đời trong thời kì kháng chiến chống Pháp Tập thơ tập trung phản ánh
hình ảnh nhân dân, bộ đội ( anh vệ quốc quân, bà mẹ nông dân, chị phụ nữ, em liên lạc…) và căn
cứ kháng chiến Việt Bắc
Tập Việt Bắc bộc lộ những tình cảm lớn của nhà thơ Tố Hữu và của những người kháng chiến : tình quân dân “cá nước”, miền xuôi – miền ngược, nhân dân – Bác, nhân dân – cách
mạng…
Trang 12 Tập thơ Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977)
Ra trận gồm 34 bài, Máu và hoa gồm 13 bài.
Hai tập thơ ra đời trong thời kì cả nước kháng chiến chống Mĩ Hai tập thơ tập trung cangợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ghi lại những bản hùng ca về Miền Nam trong lửa đạn ángngời, ca ngợi những hi sinh, khẳng định niềm tin, niềm tự hào chiến thắng
Tập thơ Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999)
Hai tập thơ ra đời trong thời kì cả nước đã thống nhất, đang bước vào thời kì khắc phụcnhững tổn hại của chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới
Nhà thơ tập trung thể hiện những suy cảm, chiêm nghiệm về cuộc sống, về giá trị conngười Nhà thơ bộc lộ rõ niềm tin vào lí tưởng và con đường Đảng đã lựa chọn, tin vào bản chấttốt đẹp của con người Việt Nam mới
c) – Phong cách thơ Tố Hữu
Về mặt nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình – chính trị rất sâu sắc :
Hồn thơ hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, niềm vui lớn của con người cách mạng và
đời sống cách mạng Chính vì vậy mà chặng đường thơ của Tố Hữu luôn phản ảnh chặng đườnghoạt động cách mạng của ông nói riêng và cách mạng của dân tộc nói chung (Chứng minh bằng
các tập thơ : Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng,…) ;
Thơ Tố Hữu đậm nét cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi Ông luôn hướng về tương lai với niềm tin, tin vào tương lai cách mạng, tin vào con người sống đẹp : “Người yêu người sống để yêu nhau” ;
Giọng thơ tâm tình của Tố Hữu là lời ca ngọt ngào, thương mến : “Đồng bào ơi, anh chị
em ơi”, “Hỡi các chị các anh”,… Nhà thơ thường bộc lộ sự xót xa thương cảm, hay trìu mến, say
mê Thơ lục bát của ông ngân nga, đi vào âm điệu tâm hồn của dân tộc Giọng thơ tâm tình ngọt
Trang 13ngào của ông còn được tạo nên bởi nhiều yếu tố biểu đạt đậm chất dân gian : kiểu kết cấu đối đáp
giao duyên, cách xưng hô Mình – ta, hình ảnh ẩn dụ, so sánh,…
Về mặt nghệ thuật, thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Vấn đề cốt lõi của cách mạng và
đời sống được Tố Hữu phản ánh theo truyền thống đạo lí của ông cha (truyền thống thuỷ chungson sắt…) Tính dân tộc còn thể hiện ở thể thơ truyền thống (chủ yếu là lục bát); trong vận dụng
tục ngữ, ca dao, những lối nói dân dã; trong cách cảm, cách thể hiện
2 – Bài thơ Việt Bắc
Hoàn cảnh ra đời :
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi Tháng 7 – 1954, Hiệp địnhGiơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng vàbắt tay vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới
Tháng 10 – 1954, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội
Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử đó, Tố Hữu viết bài thơ Việt Bắc để nói lên tình cảm thắm thiết với Việt Bắc – quê hương của cách mạng Việt Bắc rất tiêu biểu cho thể tài thơ trữ tình
chính trị của Tố Hữu
Giá trị tư tưởng :
Việt Bắc thể hiện tình cảm của Tố Hữu đồng thời tiêu biểu cho tình cảm cao đẹp của
những người kháng chiến đối với căn cứ Việt Bắc, đối với nhân dân và Đất nước
Việt Bắc là khúc hát ân tình thủy chung giữa những con người cách mạng kháng chiến
(người miền xuôi) với Việt Bắc và giữa nhân dân Việt Bắc với cách mạng, thể hiện truyền thốngđạo lí thủy chung, giàu ân nghĩa của dân tộc ta
II – NỘI DUNG CHI TIẾT
Ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử hào hùng của dân tộc, sau chiến thắng Điện Biên Phủ
chấn động địa cầu, Thủ đô Hà Nội rợp đỏ bóng cờ trong ngày hội non sông (10 – 1954), bài thơ
Việt Bắc là tiếng hát nghĩa tình sắt son thuỷ chung của mình với ta, của chiến sĩ, cán bộ, đồng bào với chiến khu Việt Bắc, với cách mạng và kháng chiến, đối với Đảng và Bác Hồ Việt Bắc còn là
khúc tráng ca anh hùng của một dân tộc thắng trận sau hơn ba ngàn ngày máu lửa
Bài thơ Việt Bắc mang tầm vóc một trường ca, dài 150 câu lục bát, vừa mang âm điệu ca
dao, dân ca đậm đà, vừa mang vẻ đẹp thơ ca cổ điển và thơ ca cách mạng dân tộc Đặc sắc củabài thơ có thể kể đến đoạn thơ sau :…
1 – Đoạn 1 (Mình về mình có nhớ ta … Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay)
Trang 14Giống như những khúc hát giã bạn “người ơi người ở đừng về” trong đêm hội, ở đây
người cất lên tiếng nói đầu tiên trong cuộc chia tay là người ở lại, gợi nhắc về những kỉ niệm
gắn bó suốt mười lăm năm :
Mình về mình có nhớ ta.
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
Giọng cất lên là giọng của yêu thương trìu mến, nhung nhớ, chia xa Tất cả nhắc gọi về kỉniệm giống như vô vàn những cuộc chia tay muôn thuở xưa nay Có bao nhiêu điều cụ thể từng
chia sẻ, gắn bó đã trôi qua suốt Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng… Cụm từ thiết tha mặn nồng dường như không chỉ là tình yêu lứa đôi mà còn gói trọn cả những sẻ chia sóng gió thác ghềnh làm nên cái nặng sâu bền chặt của tình nghĩa vợ chồng Thời gian mười lăm năm được
đánh dấu từ mốc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc,hoà bình lập lại, Việt Bắc đã làm tròn sứ mệnh của một căn cứ địa cách mạng vững chắc
Chuyện nghĩa tình cách mạng lớn lao đầy màu sắc chính trị như vậy đã hoá thân tự nhiên
vào câu chuyện tình cảm lứa đôi bền chặt, để mười lăm năm ấy trở thành thiết tha mặn nồng dìu
dặt và quyến luyến lòng người
Đúng ở thời khắc chia tay, mối bận tâm, điều muốn nhắn gửi, cũng là điều muốn dò đón,
khắc sâu chính là mối băn khoăn Có nhớ không ? trào lên qua câu chữ :
Mình về mình có nhớ không
Bảo là hỏi tu từ, hỏi để gợi nhắc, gợi nhớ cũng đúng Nhưng bảo là mối quan tâm thực sự
tha thiết đang chờ đợi câu trả lời có lẽ đúng hơn Có nhớ không ? trở thành mối quan tâm đau đáu
riết róng vì thói thường gian khổ thì bền chặt, sung sướng hạnh phúc rất dễ làm con người quên
đi những ngọt bùi cay đắng đã nếm trải
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?
Bốn câu thơ trên chính là khúc dạo đầu của cảm xúc chia tay để từ đó biết bao điều chưanói sẽ được thổ lộ giãi tỏ tâm tình Lời hỏi chỉ là cái cớ gợi dẫn để trào tuôn mạch cảm xúc nhớthương trong lòng người lên đường
Bốn câu thơ cuối của đoạn (lời người đi) đã tái hiện trước mắt người đọc một cuộc chia tay kẻ ở người đi đầy bâng khuâng, lưu luyến :
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…
Trang 15Sắc áo chàm chất phát, đậm đà, quen thuộc gắn bó với đồng bào Việt Bắc giờ đây hiện
lên như một điểm nhớ thân thương trong lòng người ra đi qua cách sử dụng nghệ thuật hoán dụcủa nhà thơ Tất cả đã làm trào dâng cảm xúc trong lòng người lên đường
Người ra đi như đồng vọng thiết tha với cảm xúc thiết tha của người ở lại nên ngập
ngừng không nỡ bước chân :
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Các từ láy bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết hài hoà đồng điệu với nhau để thể hiện cảm
xúc, vừa lưu luyến nhớ thương, vừa mong ngóng nôn nao Những câu thơ gợi nhắc tới bao cuộcchia tay muôn thuở trong thi ca :
Nhủ rồi tay lại cầm tay Bước đi một bước giây giây lại dừng (Chinh phụ ngâm)
Nhà thơ đã sử dụng thành công nhịp ngắt linh hoạt của thơ lục bát để gợi ra khung cảnh
và ấn tượng, cảm xúc cuộc chia tay : Áo chàm đưa/ buổi phân li; Cầm tay nhau/ biết nói gì/ hôm nay… Như hiển hiện sau câu chữ là động thái trữ tình : người đi kẻ ở tay trong tay, những
khoảng ngừng lặng không nói nên lời bởi bộn bề cảm xúc, biết nói gì đây bởi quá nhiều điều đểnói, bắt đầu từ đâu và nói bao nhiêu cho đủ, cho thoả bấy nhiêu năm thiết tha mặn nồng gắn bócùng nhau
2 – Đoạn 2 (Mình đi có nhớ những ngày … Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa ?)
Đoạn thơ là lời người ở lại nhắn nhủ với người đi đừng quên “chiến khu” – vùng đất
gắn liền với những gian lao trong kháng chiến và lòng căm thù giặc nhưng cũng rất hào hùng trong chiến đấu :
Mình đi, có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai ?
Những dòng thơ gợi nhắc kỉ niệm đã lí giải vì sao nhà thơ gọi mười lăm năm ấy bằng từ thiết tha mặn nồng đầy nghĩa tình Bởi đó là thời gian dệt lên từ tình yêu thương, từ gian khổ thiếu thốn, từ sự chung sức chung lòng Ở đó ta – mình cùng chia sẻ những khó khăn, vất vả của cảnh mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù, cùng dằn lòng với miếng cơm chấm muối, chung một mối thù nặng vai, cùng trải qua những buổi hắt hiu lau xám để gánh cuộc kháng chiến trên
Trang 16vai Từ thuở khởi đầu chiến đấu, bên ta đã có mình, hỏi sao không chất chứa tình cảm thiết tha mặn nồng lưu luyến ?
Đặt trong cấu trúc cân đối, hài hoà của những tiểu đối trong các câu thơ tám chữ, ấn tượng
để lại với người đọc là cái sắt son bền chặt thuỷ chung của tình cảm con người Từ miếng
cơm chấm muối mà nung nấu tâm can mối thù nặng vai thêm sôi sục Từ hắt hiu lau xám, mưa nguồn, suối lũ, mây mù mà ngời lên đậm đà lòng son vẹn tròn, chung thuỷ Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình Mười lăm năm ấy cũng là bao nhiêu kỉ niệm kháng chiến.
Theo dòng hồi tưởng, người ở lại gợi nhắc cho chúng ta trở về thuở ban đầu gây dựng
nền móng cách mạng cho đến khi lớn mạnh trưởng thành Và đến giờ, nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc vẫn sắt son và mãi khắc ghi trong dạ :
Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già.
Mình đi có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa ? Những khi ấy, mình – ta từng chung niềm vui kháng chiến sôi sục trong những ngày
kháng Nhật, phong trào Việt Minh và mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào nơi Đội Việt Namtuyên truyền giải phóng quân được thành lập, tiền thân của quân đội Việt Nam lớn mạnh sau này,nơi Quốc dân Đại hội phát động cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước
Có rất nhiều cảm xúc đang dâng lên trong lòng người đưa tiễn trước lúc chia xa Đó là nỗi
nhớ khôn khuây, ngơ ngẩn : Mình về, rừng núi nhớ ai – Trám bùi để rụng, măng mai để già…
Đó là nỗi niềm bồi hồi dâng lên khi kỉ niệm dào dạt ùa về
Nghệ thuật nhân hoá, ẩn dụ rừng núi nhớ ai,… trám để rụng, măng để già, điệp từ mình
về, mình đi, có nhớ, còn nhớ, nhịp câu 2/4 – 4/4 đều đặn… gợi lên hình ảnh một người đang bâng
khuâng sững sờ với cảm giác hụt hẫng của chia li, dè chừng sự lãng quên nên tha thiết nhắc nhởngười về bằng những hoài niệm ân nghĩa nhất, nguồn cội sâu rộng nhất , sâu trong tình người,rộng trong thời gian, không gian Đây là tình cảm những con người cách mạng trong không gian,thời gian của cách mạng
3 – Đoạn 3 – (Nhớ gì như nhớ người yêu … Chày đêm nện cối đều đều suối xa)
Trang 17Hiện theo mỗi điệp khúc nhớ là hình ảnh con người và thiên nhiên hoà quyện trong nhau.
Khác với đoạn thơ trước, cảnh Việt Bắc ở đây hiện ra rất thơ mộng hiền hoà Một vầng trăng
thấp thoáng nơi đầu núi, một ánh nắng chiều lấp ló lưng nương :
Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Những bản làng bồng bềnh thực hư trong sương khói :
Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Những rừng nứa, bờ tre, những núi đèo, ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê đầy vơi trongnhung nhớ :
Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Mỗi cảnh vật là một nét nhớ, nét thương thân thuộc vì gợi nhắc đến con người Việt Bắc.
Đó là những con người từng chia bùi sẻ ngọt cùng người cách mạng :
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi Thương nhau chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng Các từ ngữ thương nhau, sẻ nửa, đắp cùng như những ngọn lửa thắp sáng vần thơ, làm
cho tình đồng bào đồng chí, tình quân dân cá nước thêm ấm áp Câu thơ làm ta nhớ đến những
vần thơ sáng ngời tình đồng chí của Chính Hữu : Súng bên súng đầu sát bên đầu – Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ (Đồng Chí).
Đó là những con người tảo tần lam lũ, chịu thương chịu khó :
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô
Trên những miền núi quê ta, chúng ta dễ dàng bắt gặp những hình ảnh những người mẹ
vừa làm nương rẫy vừa địu con trên lưng thật cảm động : Mặt trời của bắp nằm ở trên đồi – Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng" (Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ – Nguyễn Khoa
Điềm Người mẹ chống Pháp và người mẹ chống Mĩ có những điểm tương đồng trong công việc
Nét đẹp của hình tượng được khơi lên từ tính chất công việc “Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội”…
Người mẹ được khắc hoạ trong từng chi tiết sống động nhất, nổi bật nhất đã từng xuất hiện nhưthế này trong nhiều trang thơ của Tố Hữu và bao giờ cũng gây một mối giao cảm mãnh liệt
Trang 18Đó là những con người từng cùng vui niềm vui của lớp học xoá mù chữ, diệt giặc dốt
và những giờ liên hoan tưng bừng với ngọn đuốc sáng :
Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sang những giờ liên hoan
Đó còn là những người lạc quan yêu đời gắn bó cùng kháng chiến và cuộc sống thanhbình tươi đẹp Việt Bắc :
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa.
Bức tranh không chỉ có đường nét, màu sắc, ánh sáng mà còn gợi tới âm thanh : tiếng i tờ
vỡ lòng ngượng nghịu, tiếng hát ca vang núi đèo, tiếng mõ rừng chiều thân quen, tiếng chày đêmnện cối điểm nhịp đều đều nơi suối xa… Những âm thanh ấy đã thổi cái hồn riêng vào bức tranhthơ
Bên cạnh việc sử dụng điệp từ nhớ, trong cả đoạn thơ tác giả còn sử dụng thành công
nhiều biện pháp nghệ thuật khác Đó là nhịp điệu thơ mượt mà, êm ái, như ru người đọc vào
những kỉ niệm bang khuâng Đó là những hình ảnh thân thuộc gần gũi của thiên nhiên và conngười mang đậm chất Việt Bắc Đó còn là những cách diễn tả đậm màu sắc trữ tình phù hợp vớicấu tứ như cuộc chia tay của đôi bạn tình đã từng gắn bó nay phải tạm chia xa Việt Bắc đã trở
thành người yêu (Nhớ gì như nhớ người yêu), thành người thương (Sớm khuya bếp lửa người thương đi về) trong nỗi nhớ ấy.
Đoạn thơ trên là bức tranh toàn cảnh về thiên nhiên và con người Việt Bắc Tuy nhiên,không phải nhà thơ chỉ dừng lại ở việc tả cảnh tả người, mà qua mỗi hình ảnh thiên nhiên, mỗihình ảnh về con người đều chất chứa một nỗi niềm nhung nhớ của người đi Bức tranh hiện ravới nhiều chi tiết thật cụ thể, thật quen thuộc, thật cảm động Điều đó thể hiện nghĩa tình thuỷchung của người đi rất sâu đậm với chiến khu Việt Bắc
4 – Đoạn 4 (Ta về, mình có nhớ ta … Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung)
Trong nhiều đoạn thơ của Việt Bắc, người đọc dễ dàng bắt gặp vẻ đẹp của thiên nhiên và
con người hiện lên thật sinh động Đặc biệt tác giả đã dụng tâm khắc hoạ một bức tứ bình về thiên nhiên, con người Việt Bắc trọn vẹn trong khổ thơ cân đối hài hoà :
Ta về, mình có nhớ ta
… …
Trang 19Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Hai câu đầu khái quát chung về nỗi nhớ, cũng là hé mở cách tạo “bố cục” cho bức
tranh : một nét vẽ hoa (những hoa) – thiên nhiên và một nét vẽ con người (cùng người), cứ thế
những bông hoa chuối rừng đỏ tươi thắp lửa thấp thoáng bên tàu lá Cả khu rừng màu xanh như
được điểm thêm sắc đỏ cùng “nắng ánh” như tạo một không gian khí trời mùa đông “không lạnh lẽo” Trong khung cảnh đó, nhà thơ vẽ một nét chấm phá về con người, đó là con người đi rừng
lao động thu hái sản vật núi rừng :
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Mùa xuân Việt Bắc bạt ngàn màu trắng của hoa mơ Màu trắng của hoa mơ như gợi sắcxuân núi rừng Việt Bắc một nét mơn mởn tươi trong và tinh khiết Hoà cùng sắc xuân ấy là cảnhngười dân Việt Bắc chuốt giang đan nón Cuộc sống mùa xuân như sôi động hơn cũng chính bởicảnh lao động của những thôn dân nơi đây :
Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Hè sang, tiếng ve kêu báo tín hiệu của mùa và rừng phách ào ạt đổ vàng Đó cũng chính
là lúc “cô em gái” đi hái măng “một mình” Mùa nào thức nấy, thiên nhiên đã cung cấp nhiều
“sản vật” núi rừng cho bữa ăn hằng ngày của người dân nơi đây Cảnh “cô em gái” măng cũng
thường xuất hiện nơi núi rừng Việt Bắc và đã để lại ấn tượng lâu dài trong lòng người đi :
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình.
Mùa thu thanh bình trong ánh trăng hạnh phúc Trong ánh trăng huyền ảo lung linh, giọng
ai cất lên tiếng hát về mối ân tình thuỷ chung càng làm cho bức tranh Việt Bắc thêm thơ mộng vàtrữ tình biết bao :
Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.
Trang 20Đoạn thơ trên có thể xem là tuyệt bút khi viết về thiên nhiên và con người Việt Bắc Chỉqua một vài nét chấm phá, cảnh núi rừng Việt Bắc xuất hiện thật sinh động : mỗi mùa một nétriêng, thiên nhiên hiện lên đa dạng theo thời gian, không gian, có nắng sớm, nắng chiều, trăng
khuya và các mùa… Bức tranh chẳng khác nào cuộc sống “nhàn” mà các nhà nho thường chọn
để giữ tròn nhân cách con người :
Thu ăn măn trúc, đông ăn giá Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao (Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Đặc biệt, bức tranh Việt Bắc càng hữu tình, sinh động hơn khi có sự gắn bó với conngười qua cách miêu tả tài tình : một câu tả cảnh đi liền là một câu tả người Âm hưởng bao trùmđoạn thơ là ngọt ngào, thiết tha sâu lắng như ru vỗ con người vào nhịp nhớ đều đặn của những kỉniệm không quên
5 – Đoạn 5 (Nhớ khi giặc đến giặc lùng … Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng)
Ta dễ dàng cảm nhận được đoạn thơ trên khắc hoạ cuộc sống chiến đấu nơi Việt Bắc
mang âm điệu mạnh mẽ, dồn dập, sôi nổi, hào hùng Hình ảnh thơ hoành tráng, mang đậm chất
sử thi và cảm hứng lãng mạn bay bổng Một hình tượng “đất nước đứng lên” như sống dậy trong
mỗi câu thơ
Đó là hình tượng người dân Việt Bắc, người cán bộ kháng chiến, bộ đội, dân công, rừng cây, núi đá, tất cả đã thống nhất thành một trận tuyến chống quân thù :
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
… … Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà.
Cuộc kháng chiến thần thánh ngày một trưởng thành lớn mạnh Từ lúc giặc đến giặc lùng, rừng và người Việt Bắc che chở, bao bọc nhau, đến chỗ rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây là một
bước phát triển của kháng chiến
Nhớ khi giặc đến giặc lùng Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây.
Sự lớn mạnh đó là nhờ vào sự chung lòng đoàn kết chiến đấu của mọi người dân :
Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng.
Trang 21Để rồi từ đó, chúng ta có những chiến thắng đầu tiên nức lòng nhân dân, bộ đội gắn vớicác địa danh Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, Phố Ràng, Cao – Lạng, Nhị Hà,…
Ai về ai có nhớ không ?
… … Nhớ từ Cao – Lạng, nhớ sang Nhị Hà…
Đó là bức tranh Việt Bắc ra trận với khí thế sôi nổi, hào hùng Cuộc kháng chiến
chống Pháp đã đi đến những ngày quyết định cuối cùng Cả một đội quân nhân dân trùng trùng ratrận được khắc hoạ hoành tráng trong mỗi câu thơ :
Những đường Việt Bắc của ta
… … Đèn pha bật sang như ngày mai lên.
Những con đường Việt Bắc cụ thể, cũng là những nẻo đường cách mạng của dân tộc đãđến ngày rộng trải thênh thang Con đường là hình ảnh quen thuộc trong thơ Tố Hữu gắn với ýnghĩa biểu tượng về đường cách mạng Tả con đường ra trận nhưng là để nói lên khí thế dũngmãnh của những người ra trận bằng biện pháp so sánh cường điệu và từ láy gợi thanh :
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Tưởng như mặt đất cũng đang chuyển động dưới bàn chân những chiến sĩ trong một cuộc ra quân
vĩ đại từ khắp các ngả đường của căn cứ địa cách mạng
Trong cuộc ra quân ấy, hình ảnh đoàn quân rất đẹp
Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Đẹp trong đội ngũ điệp điệp, trùng trùng như một sức mạnh vô tận, đẹp trong ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan gợi nhớ hình ảnh đầu súng trăng treo trong thơ Chính Hữu và hình ảnh súng ngửi trời trong thơ Quang Dũng Cái ánh sao ở đây vừa như gần gũi thân quen với mũ
nan của anh, lại như rực sáng lí tưởng trên đầu mũi súng của người lính Một hình ảnh thơ vừathực, vừa lãng mạn, gợi nhiều liên tưởng đẹp về anh bộ đội cụ Hồ
Hai câu 5, 6 là hình ảnh những đoàn dân công phục vụ tuyền tiến Khí thế mạnh mẽ củađội quân nhân dân được tác giả khắc hoạ bằng lối thậm xưng, phóng đại :
Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Trang 22Hình ảnh những đoàn dân công đỏ đuốc đi trong đêm là đúng với hiện thực Nhưng với ánh đuốc
đỏ rực ấy cùng với muôn tàn lửa bay thì lại lãng mạn biết bao Có khác gì một hội hoa đăng ! Còn bước chân nát đá là bước chân của những người đạp bằng mọi chông gai để đi tới, hình ảnh được lấy từ ý ca dao : Trông cho chân cứng đá mềm…
Hai câu tiếp theo là hình ảnh những đoàn xe ra trận mà đèn pha bật sáng quét sạch màn sương đêm dày thăm thẳm :
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sang như ngày mai lên.
Rất hiện thực mà cũng rất lãng mạn Từ những đêm Việt Bắc, những đường Việt Bắc đó,một cảm hứng lãng mạn bay bổng về tương lai tươi sáng của dân tộc chói loà qua từng câu thơđầy hào khí
Và đây là một “bản đồ vui” toả rộng khắp đất nước báo tin chiến thắng :
Tin vui chiến thắng trăm miền
… … Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
Nhịp điệu thơ dồn dập tươi vui, náo nức phấn khởi Mỗi một địa danh là một nốt nhạc vuirộn ràng trong bản hùng ca chiến thắng
Các địa danh không chỉ có ở Việt Bắc mà còn trải dọc theo trăm miền đất nước : từ Nam
Bộ, Tây Nguyên cho tới Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên Sự xuất hiện của một loạt các địa danh
trăm miền bên cạnh nhau gắn với các tin vui chiến thắng dường như cho thấy tốc độ thần kì của
những thắng lợi đó
Những từ ngữ vui về, vui từ, vui lên mặc nhiên đã đặt Việt Bắc vào tâm điểm của mọi
miền vui Từ Việt Bắc niềm vui toả đi Và từ khắp nơi, tin vui bay lại Việt Bắc
III – KẾT LUẬN
Việt Bắc là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và
con người kháng chiến Thể thơ lục bát, kiểu kết cấu đối đáp, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian –tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của Tố Hữu : Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thốngquý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thuỷ chung của cách mạng, của con người Việt Nam
Việt Bắc (hoặc đoạn thơ trên) tiêu biểu cho hồn thơ và thể tài thơ trữ tình – chính trị mang
đậm tính sử thi, cảm hứng lãng mạng và đậm đà tính dân tộc của Tố Hữu
Trang 23ĐẤT NƯỚC
(Trích trường ca Mặt đường khát vọng)
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
I – TIỂU DẪN
1 – Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm
- Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, quê Thừa Thiên Huế Ông xuất thân trong một gia
đình trí thức cách mạng Sau khi tốt nghiệp Đại học sư phạm Hà Nội năm 1964, ông vào Namchiến đấu Từng hoạt động ở chiến khu Trị - Thiên rồi vào nội thành Huế, xây dựng cơ sở cáchmạng, viết báo, làm thơ
- Nguyễn Khoa Điềm từng tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá III, là Tổng
thư kí Hội Nhà văn Việt Nam khoá V Ông từng giữ chức vụ: Trưởng ban tư tưởng văn hoá Trungương, Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin
- Ông là nhà hoạt động chính trị văn nghệ, thuộc thế hệ những nhà thơ trẻ trưởng thành trongkháng chiến chống Mĩ Thơ ông giàu cảm xúc và chất suy tư về đất nước và con người Việt Nam.Năm 2000, ông vinh dự nhận giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
- Các tác phẩm chính : Đất ngoại ô (tập thơ, 1972), Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986), Thơ Nguyễn Khoa Điềm (tuyển chọn, 1990), Cõi lặng (thơ,
2007)
2 – Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
Trường ca Mặt đường khát vọng được hoàn thành năm 1971 trên chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa (in lần đầu năm 1974), viết về sự thức tỉnh tinh thần dân tộc của tuổi trẻ đô thị miền Nam, giúp thanh niên vùng địch tạm chiếm nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân đất nước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, xuống đường đấu tranh hòa nhập với cuộc chiến đấu của toàn dân tộc.
Đoạn trích Đất Nước chiếm gần trọn vẹn chương V của bản trường ca Đây là chương hay
nhất tập trung những suy nghĩ cảm nhận mới mẻ về đất nước, đồng thời thể hiện sâu sắc tư tưởng
cốt lõi của tác phẩm : Đất Nước của Nhân dân.
II – NỘI DUNG CHI TIẾT
Đất nước là một đề tài chẳng bao giờ cũ nhưng cũng không còn mới trong văn học nghệ
Trang 24tiếp nhận khá nhiều tác phẩm hay : Đất nước (Nguyễn Đình Thi), Ta đi tới (Tố Hữu), Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ? (Chế Lan Viên), Những người đi tới biển (Thanh Thảo), Đất Nước – trích Mặt đường khát vọng (Nguyễn Khoa Điềm),
Mặt khác, tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” mà Nguyễn Khoa Điềm phát biểu không chỉ
là nhận thức của riêng nhà thơ mà còn là của cả thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong những nămchống Mĩ cứu nước (Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Mĩ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, ) Tuy vậy, mỗi nhà thơ lại có một góc nhìn riêng gắn liền với những trải nghiệm riêng của
mình về đất nước Đất Nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm là
một minh chứng Có thể thấy điều đó qua đoạn thơ sau :
1 – Đoạn 1 (Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi … Đất Nước có từ ngày đó…)
Với nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đất nước đã có từ thuở rất xa xưa trong những câu
chuyện cổ tích mẹ thường hay kể :
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thường hay kể.
Từ xa xưa ấy đến nay, Đất Nước đã được hình thành từ nhiều yếu tố, nhiều phương
diện Đất nước hiển hiện và hình thành từ những yếu tố giản dị trong đời sống như miếng trầu bà
ăn, luỹ tre làng, cái kèo, cái cột, hạt gạo,
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Hay :
Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng.
Đất nước cũng bắt đầu cùng với sự ra đời của những nét phong tục rất đẹp của nhân dân ta
suốt mấy ngàn năm qua : miếng trầu bây giờ bà ăn (tục ăn trầu), tóc mẹ thì bới sau đầu,
Đất nước lớn lên từ những ngày đầu trồng tre đánh giặc giữ nước như cậu bé làng Gióng
Trang 25son lịch sử chói lọi mà nhìn từ trong chiều sâu văn hoá và văn học dân gian Đây cũng chính làđiểm mới trong cách tìm về nguồn cội của đất nước của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Một đoạn thơ ngắn nhưng gợi dậy biết bao nét văn hoá và văn học dân gian quen thuộc.
Đó là tục ăn trầu, là miếng trầu giao duyên, miếng trầu nên nghĩa nên tình đã thành một nét đẹptrong văn hoá Việt Đó là cách búi tóc thành cuộn sau gáy quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam
Đó còn là kho tàng truyện cổ tích của người Việt mà mỗi khi bốn tiếng “ngày xửa ngày xưa” cất lên ai cũng nhớ; là câu chuyện về cổ tích Trầu cau thấm đượm tình anh em, là câu chuyện về Thánh Gióng chống giặc ngoại xâm Đó là những câu ca dao về chồng vợ trọn nghĩa vẹn tình :
Tay bưng đĩa muối chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau,
Có thể nói, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rất tài tình và hiệu quả những chi tiết trên Nhàthơ không chỉ ra cụ thể bài nào, không dẫn nguyên văn một câu nào mà chỉ dẫn ra, gợi ra một vài
từ ngữ và hình ảnh tiêu biểu Nhưng từ đó cũng đủ để nhà thơ thể hiện một đất nước dung dị, gầngũi và gợi dậy trong tâm thức người đọc cả một bề dày và chiều sâu văn hoá nghìn đời của dân tộcrất đáng tự hào
Một đoạn thơ ngắn nhưng lại có một trường liên tưởng thật sâu rộng Nén trong từng câutừng chữ là vốn sống, vốn văn hoá, văn học dân gian và những cảm nhận phong phú về đất nướccủa tác giả
2 – Đoạn 2 (Trong anh và em hôm nay Làm nên Đất Nước muôn đời)
Đi tìm lời đáp cho câu hỏi Đất Nước là gì ?, trong đoạn thơ trên nhà thơ đã có những phát hiện sâu sắc và mới mẻ về Đất Nước : Đất Nước gắn bó thân thiết với mỗi con người Việt
Nam.
Hai câu thơ mở đoạn là sự nhận thức chân lí về cội nguồn, về truyền thống, về lịch sử của Đất Nước Đó là một Đất Nước thiêng liêng, gần gũi, giản dị và gắn bó thân thiết với
“anh và em”, với mọi người :
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước Không đâu xa vời, Đất Nước là sự hoá thân và kết tinh trong mỗi con người Chỉ một phần nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của đất nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã diễn đạt một cách
“mềm hoá” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em” Và của bao lứa đôi khác :
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Trang 26(Giang Nam)
Bảy câu thơ tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ “hôm nay”
đến “mai sau”
Trước hết, Đất Nước được hình thành và đi lên từ mối quan hệ gắn bó giữa những cá
nhân – “anh và em” với cộng đồng – “mọi người” :
Khi hay đứa cầm tay Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn, to lớn Hai chữ cầm tay trong câu “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên, là yêu thương.
“Khi chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào, Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương chia sẻ cho nhau những đắng cay ngọt bùi mới có thể có hình ảnh “Đất Nước vẹn tròn, to lớn” Từ hài hoà, nồng thắm đến vẹn tròn, to lớn là cả một bước phát triển và đi lên rất
lớn của lịch sử dân tộc và đất nước Hay nói như nhà thơ Nguyễn Đình Thi là :
Súng nổ rung trời giận dữ Người lên như nước vỡ bờ Nước Việt Nam từ máu lửa
Rũ bùn đứng dậy sáng loà.
(Đất nước)
Nghĩa là, chỉ khi nào nêu cao truyền thống “lá lành đùm lá rách”, khi nào “ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất Nước vẹn tròn, to lớn”, hay “Nước Việt Nam – đứng dậy sáng loà”.
Tiếp theo, Đất Nước còn được hiện lên trong sự kì vọng và niềm tin của nhà thơ vào triển vọng sáng tươi trong tương lai :
Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày mơ mộng Thế hệ con cháu mai sau sẽ tiếp bước ông cha “Gánh vác phần người đi trước để lại” để xây dựng đất nước ta “To đẹp hơn, đàng hoàng hơn” (Hồ Chí Minh) Hai chữ “lớn lên” biểu lộ một niềm tin về trí tuệ và bản lĩnh của những thế hệ mai sau trong hành trình đi tới “những tháng ngày
Trang 27mơ mộng” “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, đẹp ngoài trí tưởng tượng về một Việt Nam văn minh, giàu mạnh “Mai này” nghĩa là điều mơ ước, kì vọng ấy sẽ thành hiện thực trong thời gian rất gần.
Bốn câu thơ cuối của đoạn cảm xúc dâng trào Từ những cảm nghĩ trên về Đất Nước, tác giả đã đi đến những suy nghĩ về trách nhiệm của mỗi cá nhân :
Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Làm nên Đất Nước muôn đời.
Những câu thơ như một lời tự nhủ, tự dặn mình của nhà thơ và lớn hơn là của cả thế hệ lúcbấy giờ ý thức về bổn phận đối với Đất Nước Giọng thơ chân thành, tha thiết, nhẹ nhàng như lời
thủ thỉ, tâm tình, nhắn nhủ người yêu Em ơi em là tiếng gọi yêu thương với bao niềm vui sướng đang dâng lên trong lòng Những từ gắn bó, san sẻ, hoá thân là biểu hiện của trách nhiệm, của lòng yêu nước Phải biết gắn bó và san sẻ phải biết hoá thân thì mới có thể Làm nên Đất Nước muôn đời.
Tứ thơ rất đẹp Đất Nước thân thương gắn bó với mọi người Phải biết hiến dâng cho “Đất Nước muôn đời” Đoạn thơ còn đẹp vì sáng ngời niềm tin về tương lai Đất Nước và tiền đồ tươi
sáng của dân tộc Đoạn thơ mang tính chính luận, chất trữ tình thể hiện một hồn thơ dạt dào cảmxúc và giàu chất suy tư
3 – Đoạn 3 (Những người vợ nhớ chồng … đã hoá núi sông ta)*
Tám dòng thơ đầu của đoạn thơ thể hiện cảm nhận của nhà thơ về hình tượng đất nước, một đất nước hùng vĩ, một giang sơn gấm vóc
Nhà thơ đã nhìn ngắm Đất Nước mình qua các danh thắng trải dài từ Bắc chí Nam.
Tất cả các địa danh được nhắc đến đều gắn liền với một huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử
về nhân dân trong lịch sử Nói cách khác, chính những huyền thoại, huyền tích và sự thật lịch sử vềnhân dân đã làm nên tên tuổi của các địa danh ấy, biến chúng thành danh thắng, thành di tích lịch
sử, văn hoá được mỗi người thừa nhận và biết đến : những người vợ nhớ chồng – núi vọng phu ; cặp vợ chồng yêu nhau – hòn Trống Mái ; người học trò nghèo – núi Bút, non Nghiên ; Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Trong con mắt của nhà thơ, mỗi danh thắng không chỉ là một nét vẽ tô điểm vào bức
“tranh hoạ đồ” Đất Nước mà còn ẩn chứa những nét đẹp tâm hồn của nhân dân trong mấy
nghìn năm lịch sử Đó là nét đẹp của truyền thống thuỷ chung son sắt và tình nghĩa vợ chồng mặn
nồng đã “góp cho”, đã “góp nên”, làm đẹp thêm, tô điểm thêm Đất nước :
Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái.