1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÁC HẠI CỦA ĐƯỜNG HÓA HỌC

23 749 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 669,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Loại đường này được sử dụng phổ biến để làm bánh kẹo, nước ngọt, chè, sâm lạnh, sữa đậu nành… Tại các quán cơm người ta vẫn dùng loại đường này để nấu nướng cho rẻ, đem lại lợi nhuận c

Trang 1

Chào mừng Cô và các bạn đến với bài thuyết trình của nhóm mình!

1 Nguyễn Thị Xuân Phượng

2 Nguyễn Anh Thư

3 Bùi Thị Hồng Kơng

4 Nguyễn Duy Khánh MƠN: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Trang 2

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG

ĐƯỜNG HÓA HỌC Ở THÀNH

PHỐ CẦN THƠ TRONG GIAI

ĐOẠN HIỆN NAY

Trang 4

I Giới thiệu chung

II Đường hóa học

III.Thực trạng về việc sử dụng đường hóa học hiện nay

IV Đề xuất giải pháp

V Phương pháp nghiên cứu

VI Kết luận

Trang 5

I GIỚI THIỆU CHUNG

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

- Hiện nay, trên thị trường loại đường hóa học thông dụng gọi là

“đường ngọt”, được nhiều người chuyên bán đồ ăn ưa dùng

- Loại đường này được sử dụng phổ biến để làm bánh kẹo, nước ngọt, chè, sâm lạnh, sữa đậu nành… Tại các quán cơm người ta vẫn dùng loại đường này để nấu nướng cho rẻ, đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với sử dụng đường mía

- Có độ ngọt cao, giá thành rẻ, đường hóa học dần trở thành một gia vị không thể thiếu trong các loại thực phẩm

NHƯNG LIỆU VIỆC ĐƯỜNG HÓA HỌC CÓ THẬT SỰ MANG LẠI LỢI ÍCH CHO CON NGƯỜI HAY KHÔNG?

Đây là lí do mà nhóm em thực hiện đề tài này

Trang 7

2 MỤC ĐÍCH

- Tìm hiểu thực trạng và đề xuất ra một số giải pháp cho việc sử dụng đường hóa học hiện nay

3 MỤC TIÊU

- Giúp hiểu rõ mặt lợi, mặt hại của đường hóa học

- Ảnh hưởng của đường hóa học đối với sức khỏe con người

-Thống kê, khảo sát thực trạng sử dụng đường hóa học hiện nay

4 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI

- Đối tượng: người tiêu dùng

- Phạm vi: Quận Ninh Kiều, TP.Cần Thơ

- Thời gian thực hiện: 3,5 năm

Trang 8

II ĐƯỜNG HÓA HỌC

1 KHÁI NIỆM

- “Đường hóa học” chỉ là cách gọi thông thường của người tiêu dùng đặt cho một nhóm chất mà trong công nghệ thực phẩm gọi là

“chất tạo ngọt”, tiếng Anh là “sweetener”

- Ngoài ra, từ “hóa học” ở đây được dùng theo một nghĩa có phần hơi tiêu cực nhằm ám chỉ những chất do con người tạo ra bằng tổng hợp hóa học và hàm ý không tốt

- Theo Viện Vệ sinh y tế công cộng TP Hồ Chí Minh, đường hóa học (hay là chất ngọt tổng hợp) là chất không có trong tự nhiên,

thường có vị ngọt rất cao so với đường kính saccharose (ngọt

khoảng gấp 500 lần) và tuyệt nhiên không hề có một giá trị dinh

dưỡng nào khác

Trang 9

2 PHÂN LOẠI

- Đường hóa học có rất nhiều loại Những loại đường này đều

có một điểm chung là tạo cho vị giác người dùng có cảm giác

ngọt, nhưng về bản chất những loại đường này hoàn toàn khác

nhau

- Một số loại được chiết suất từ các nguyên liệu tự nhiên và một

số được tổng hợp bằng phương pháp hóa học, trong đó các chất thường được sử dụng nhất là saccharin (E954), aspartame (E951), acesulfame K (E950) và một số chất khác ít được sử dụng hay

đang được nghiên cứu thêm là stevioside, sucralose (E955)…

Trang 10

* Aspartame là một chất tạo ngọt tổng hợp có vị

ngọt khá thanh và ngọt gấp 150-200 lần đường, nó được sử dụng phù hợp nhất cho các sản phẩm khô, còn trong các sản phẩm có độ ẩm cao và qua chế biến nhiệt thì thường không ổn định Hiện nay, trong công nghiệp thực phẩm aspartame được sử dụng khá phổ biến, kể cả trong các loại nước giải khát vì tính ngọt thanh và độ ngọt khá cao JECFA khuyến cáo giá trị ADI là 7,5 mg/kg thể trọng

Sucralose có tính chất gần

giống với đường, có tính ổn

định cao, tan tốt trong nước

và có thể chịu được nhiệt độ

cao nên có thể được sử dụng

trong rất nhiều dạng sản

phẩm khác nhau Đến nay, đã

có nhiều công trình nghiên

cứu chứng minh rằng

sucralose an toàn cho người,

không gây ung thư và giá trị

ADI được khuyến cáo là 15

mg/kg thể trọng

Trang 11

Acesulfame K là tên gọi tắt của muối kali của hợp chất

6-methyl-1,2,3-oxathiazine-4(3)-one-2,2-dioxide, đây là một chất tạo ngọt có khả năng tan tốt trong nước, nhưng sẽ bị phân hủy ở nhiệt độ khoảng 235oC, ở điều kiện bình thường nó có độ ngọt gấp 150-200 lần đường Trong

công nghiệp thực phẩm acesulfame K được sử dụng chủ yếu trong nước giải khát, đường ăn kiêng và chewing gum; còn trong ngành dược thì nó thường được sử dụng trong các loại kem đánh răng, nước súc miệng

Acesulfame K đã được JECFA nghiên cứu về khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe của con người từ năm 1981 và đã có nhiều tranh cãi về độc

tính của nó, nhưng đến nay acesulfame K được xác nhận là an toàn và giá trị ADI của nó là 0-9 mg/kg thể trọng Sucralose là một loại chất tạo ngọt nhân tạo mới, là dẫn xuất từ đường thông thường (saccharose), nó

có độ ngọt gấp 600 lần đường và không bị phân hủy trong hệ thống tiêu hóa nên không sinh năng lượng

Trang 12

Stevioside là một chất tạo ngọt được chiết xuất từ lá của

cây cỏ ngọt (Stevia rebaudiana), mọc nhiều ở Nhật, Hàn

Quốc và các nước Nam Mỹ, độ ngọt của stevioside phụ

thuộc nhiều vào nguồn gốc thực vật của cây cỏ ngọt và

thường gấp từ 100-300 lần đường Đến nay JECFA vẫn

chưa đánh giá một cách đầy đủ về tác động của

stevioside đến sức khỏe của con người, tuy nhiên ở Nhật

thì nó được sử dụng trong nhiều loại sản phẩm khác

nhau từ nước giải khát đến các loại kẹo hoặc chewing

gum; nhưng tại châu Âu thì nó không được phép sử

dụng trong thực phẩm

Trang 13

Saccharin- Nhóm chất tạo ngọt tổng hợp mà người tiêu dùng rất dễ tìm mua ở

các tiệm tạp hóa, có dạng hạt gần giống khối chữ nhật là saccharin, đây là tên gọi chung cho một nhóm chất tạo ngọt tổng hợp gồm saccharin và các muối natri, kali

và canxi của nó, chúng là nhóm chất tạo ngọt được sử dụng đầu tiên trên thế giới

và hiện nay vẫn còn được phép sử dụng trong thực phẩm, vì chúng là những chất tạo ngọt có độ ổn định cao, ít bị biến đổi ngay cả được chế biến nhiệt đến 300oC

và có độ ngọt gấp khoảng 300 lần đường nhưng có hậu vị hơi đắng.

Hiện nay, saccharin được cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế IARC phân loại vào nhóm 3, nhóm các chất hầu như không có khả năng gây ung thư cho người, tuy nhiên một số công trình nghiên cứu riêng lẻ trên động vật cho thấy việc cho các động vật thí nghiệm ăn liều cao saccharin trong thời gian dài có thể gây ung thư.

Để đảm bảo an toàn thì Ủy ban phụ gia thực phẩm JECFA đã khuyến cáo mức

độ sử dụng hàng ngày chấp nhận được (ADI) của con người đối với saccharin là 2,5 mg/kg thể trọng Theo quy định của Việt Nam thì hàm lượng saccharin

được phép còn lại trong sản phẩm từ 50-300 mg/kg sản phẩm tùy theo chủng

loại.

Trang 14

3 TÁC HẠI

a/ Ban đầu

- Một điểm nguy hiểm là loại đường này rất dễ hòa tan trong nước, không màu, không mùi nên rất khó phát hiện Tuy nhiên, khi ăn phải thực phẩm có đường hóa học, thường sẽ cảm nhận được vị ngọt gắt, hơi chát và hơi đắng Vì vậy, người bán

thường dùng thêm đường mía khi chế biến để thực phẩm được ngọt, ngon hơn và đỡ đắng Đường hóa học tạo vị ngọt lợ sau khi ăn, đặc biệt là khi uống nước lúc nào cũng đọng lại vị ngọt trong miệng

- Ăn phải thực phẩm chứa nhiều đường hóa học có thể gây cảm giác nhức đầu, chóng mặt, ù tai, buồn nôn hoặc có thể dị ứng nếu dùng với số lượng nhiều

Trang 15

b/ Về lâu dài

- Một số loại đường hóa học có tác hại nhất định đến cơ thể con người Nếu thai phụ thường xuyên ăn nhiều đường hóa học, sẽ gây kích thích niêm mạc đường ruột, suy giảm chức năng tiêu hóa, gây rối loạn tiêu hóa và trở ngại cho sự hấp thụ chất dinh dưỡng, đồng thời có thể gây hại tới chức năng thận

Đối với trẻ em, đây là lứa tuổi đang cần bổ sung năng lượng và chất dinh dưỡng để phát triển trí não và chiều cao nên việc sử dụng

đường hóa học nhiều sẽ kìm hãm sự phát triển của trẻ, thậm chí sinh

ra bệnh tật hay suy dinh dưỡng, hoặc trí não không phát triển bình thường

Trang 16

- Bên cạnh đó chức năng thải độc của gan, thận của trẻ em đều kém nên các hóa chất này sẽ tích lũy lại Một số trẻ tự nhiên biếng

ăn bởi những chất ngọt “dởm” cản trở khả năng hấp thu protein, sắt, kẽm khiến trẻ chậm lớn

- Không những vậy đường hóa học còn có khả năng gây ra gần

100 tác dụng phụ như gây sinh non, ung thư, đau đầu, chóng mặt, nôn mửa, mất ngủ, mệt mỏi thường xuyên, đau bụng, chuột rút, rối loạn kinh nguyệt, thị giác, trí nhớ, bất lực ở nam, bệnh bạch cầu, suyễn, động kinh, chậm phát triển trí tuệ…

Trang 17

c/ Mặt tích cực

- Đồ ngọt không có năng lượng như đường aspartame,

đường saccharine… gọi là đường hóa học Các loại đường

này có thể dùng để pha một số đồ uống như café, chè, nước

giải khát công nghiệp Vì là đường có ít năng lượng nên

không làm tăng cân và tăng đường máu

- Vì vậy, đường hóa học có thể được dùng để giảm cân,

phần nào chữa được bệnh béo phì Không những vậy, nó

còn giúp cho những bệnh nhân bị bệnh đái tháo đường

nhưng với liều lượng thích hợp

Trang 18

III.THỰC TRẠNG VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐƯỜNG HÓA HỌC HIỆN NAY

- Đường hóa họcới đđược bày bán khắp các tiệm tạp hóa v

Trang 19

nước ngọt, chè, sâm lạnh, sữa đậu nành và tại các quán cơm người ta vẫn thường dùng loại đường này để nấu

nướng cho rẻ và lợi nhuận cao hơn nhiều so với đường

mía

Dù biết rõ những điều có hại cho người tiêu dùng nhưng

vì lợi nhuận cá nhân người ta vẫn sẵn sàng sử dụng các loại đường hóa học này

Trang 20

3 Phương pháp nghiên cứu

-Điều tra: những chủ buôn bán thực phẩm có chứa đường hóa học và cả người sử dụng

-Quan sát: hành động biểu hiện của đối tượng khảo sát

-Tiến hành thí nghiệm để kiểm tra nồng độ giới hạn gây hại của đường hóa học

-So sánh, đối chiếu các mẫu đều tra quan sát, và các kết quả thí nghiệm

Trang 21

4 Biện pháp

-Sau khi hoàn thành xong đề tài, gởi đề tài đến các

phương tiện truyền thông để tuyên truyền rộng rãi

-Nhờ sự can thiệp của cơ quan chức năng trong việc

kiểm định chất lượng thực phẩm

-Cách nhận biết thực phẩm có đường hóa học

Một điểm nguy hiểm là loại đường này rất dễ hòa tan

trong nước, không màu, không mùi nên rất khó phát

hiện. Tuy nhiên, khi ăn phải thực phẩm có đường hóa

học, thường sẽ cảm nhận được vị ngọt gắt, hơi chát và hơi đắng Vì vậy, người bán thường dùng thêm đường

mía khi chế biến để thực phẩm được ngọt, ngon hơn và

đỡ đắng. Đường hóa học tạo vị ngọt lợ sau khi ăn, đặc biệt là khi uống nước lúc nào cũng đọng lại vị ngọt trong miện

Trang 22

KÊT LUẬN

-Phải sử dụng đường hóa học 1 cách hợp lí và đúng mục đích

-Để bảo vệ sức khỏe cho gia đình mình trước thực

trạng đường hóa học được buôn bán và sử dụng tràn lan trên thị trường, người tiêu dùng cần sáng suốt trong

việc lựa chọn thực phẩm, thức uống hàng ngày. Hạn chế

sử dụng thực phẩm bỏ hộp, nước uống đóng chai Thay vào đó nên ăn những thực phẩm tươi sống, uống nước

ép từ trái cây tự nhiên để đảm bảo cho cơ thể vẫn cung cấp đầy đủ năng lượng, dinh dưỡng mà lại an toàn cho sức khỏe

Trang 23

Bài thuyết trình của nhóm em đã hết Cám ơn Cô và các bạn đã chú ý lắng

nghe!!

Ngày đăng: 12/09/2015, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w