1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA )

32 552 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khu Vực Mậu Dịch Tự Do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA)
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 270,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế thế giới đã trải qua sự biến đổi chưa từng thấy trong nửa cuối những năm 1990

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA )

1.1 Nhân tố thúc đẩy

1.1.1 Sự phát triển mạnh mẽ của các khu vực mậu dịch tự do (FTA) trên toàn cầu

1.1.2 Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc và sự hấp dẫn của khu vực kinh tế năng động ASEAN

1.2 Nhân tố cản trở

1.2.1 Loại hình tổ chức của ACFTA

1.2.2 Tình trạng phân hóa hai cực

1.2.3 Cạnh tranh

1.2.4 Yếu tố chính trị

2 Thực trạng hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA)

2.1 Quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) 13

2.2 Những thỏa thuận đã đạt được của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc( ACFTA ) 13

2.2.1 Mục tiêu của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc 14

2.2.2 Các biện pháp hợp tác kinh tế 15

2.2.3 Các chương trình hoạt động 20

Trang 2

3 Những thành tựu và những tác động tới các nước thành viên khu vực

mậu dịch ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) 20

3.1 Những thành tựu 20

3.1.1 Hợp tác Tiểu vùng Mekong 20

3.1.2 Hợp tác nông nghiệp 22

3.1.3 Hợp tác Công nghệ thông tin và liên lạc (ICT) 22

3.1.4 Hợp tác Giao thông vận tải 22

3.1.5 Hợp tác du lịch 23

3.2 Những tác động tới các nước thành viên 23

3.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn 24

3.2.1.1 Tăng cường mở rộng tiềm năng thương mại 25

3.2.1.2 Cải thiện môi trường đầu tư 27

3.2.2 Tạo ra vị thế mới về chính trị trong các vòng thương lượng, đàm phán đa phương toàn cầu 28

3.2.3 Tạo ra môi trường hoà bình, ổn định và hợp tác 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

1 Sự cần thiết hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc ( CAFTA )

Bảng : Các khu vực mậu dịch tự do lớn của 1 số nước

Canada, Mehico, Trung Mỹ (CostaRica, El Salvador,

Malta, Cyprus,Andora, Thổ Nhĩ

Kỳ, Thuỵ Sỹ,

Trang 4

thuộc khốitam

giác phía bắc (El Salvador,Honduras,Nicaragoa),Dominica,Nicaragoa,Costa Rica,Bolivia, G3

Honduras,Guatamela,Nicaragoa),Venezuela,Columbia, Equdor,MERCOSUR,

Peru, Bolivia

Canada và Mehico (NAFTA),Israel,Jordan

Liechtenstein,Ireland, Norway,Séc, Hungary, BaLan, Slovak, Rumania,Bulgaria,Lithuania,Estonia,Latvia, Faeroes, Slovenia,

Mehico,Chile, Palestine, Tunisia, Israel, Jordan

Các khu mậu dịch tự do đang đàm phán hay có kế hoạch bắt đầu đàm phán

Chile,FTAA,Singapore

MERCOSUR,Các nước khốiAndean (Bolivia,Columbia, Peru, Venezuela)

Các khu mậu dịch tự do đang ở giai đoạn đề xuất

Trang 5

Nhật, Singapore,Pacific 5

Pacific 5

Nguồn: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI), 2001,

http://www.meti.go.jp/policy/trade-policy/epa/html.( Trích tư liệu từ website của bộtài chính Việt Nam )

Lý do khiến cho hàng loạt FTA nói trên được ký kết là bởi lẽ thực tế đã cho thấy, ở một mức độ nhất định, nguồn lợi mà FTA mang lại cho các quốc gia là rất lớn:

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh, các FTA gần như bao gồm toàn bộ các lĩnh

vực trong quan hệ kinh tế thương mại giữa các thành viên: không chỉ thương mạihàng hoá, thương mại dịch vụ, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, … mà

cả các vấn đề khác như du lịch, thương mại điện tử, doanh nghiệp vừa và nhỏ, phátthanh truyền hình … Với phạm vi bao quát rộng như vậy, FTA sẽ đem lại nhiều lợiích như mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, xúc tiến đầu tư vàchuyển giao công nghệ, tăng cường đàm phán đối với một nước thứ ba Hơn thế nữa,

tự do thương mại thông qua FTA sẽ càng làm tăng sức cạnh tranh của các nhà xuấtkhẩu và các tổ chức thương mại của các nước thành viên, tạo điều kiện cho họ dễdàng thành công trong các vòng đàm phán đa phương

Thứ hai, mức độ điều chỉnh của các FTA sâu rộng hơn rất nhiều so với WTO,với những ưu đãi cao nhất, tạo điều kiện thuận lợi tiến tới tự do hoá tối đa và triệttiêu hoàn toàn những trở ngại đối với thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, đặc biệt

là vấn đề triệt tiêu thuế suất nhập khẩu xuống 0% và các ưu đãi mở cửa thị trường

Trang 6

đầu tư Ngoài ra, bản chất của các FTA không chỉ đơn thuần là việc tự do hoá thươngmại, mà còn bao gồm cả việc hợp tác trong tất cả các lĩnh vực ngoài thương mại, vídụ: hợp tác trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, hợp tác trong việc phát triểncông nghệ thông tin, đơn giản hoá thủ tục hải quan, xúc tiến thương mại và đầu tư,

hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, … Nói cách khác, do hầu hết các FTA, đặc biệt

là những FTA mới được ký kết gần đây, đã đa dạng hoá nội dung bên cạnh nội dungloại bỏ thuế quan và tự do hoá khu vực dịch vụ nên mỗi khi con đường đa phương bịtắc nghẽn hay cản trở, các nước liền tìm đến những dàn xếp song phương hay khuvực

Một điểm lợi nữa của FTA là trong quá trình hình thành mạng lưới các FTA,mối liên hệ với đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và cải cách kinh tế trong nước đãđặc biệt được chú trọng Các FTA được xem như là các công cụ chính sách để giớihạn hay thúc đẩy cải cách trong nước cũng như thu hút FDI hơn là trông chờ có đượccác tác động trực tiếp to lớn của giảm thuế quan

1.1.2 Sức mạnh kinh tế mới của Trung Quốc và sự hấp dẫn của khu vực kinh tế năng động ASEAN.

Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự hình thành củaKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc Tăng trưởng kinh tế đã từng là thànhtích đầy ấn tượng của Trung Quốc và phần lớn các nước ASEAN trong 3 thập kỷ vừaqua Cả Trung Quốc và ASEAN đều theo đuổi chiến lược tăng trưởng hướng về xuấtkhẩu và đã đạt được các tỷ lệ tăng trưởng cao hơn nhiều tỷ lệ trung bình của thế giới Theo tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), tăng trưởng kinh tế củaTrung Quốc (TQ) đã tăng tốc kể từ khi bắt đầu chính sách đổi mới kinh tế năm 1978,bình quân 9,5%/năm và sẽ còn duy trì các năm về sau

Vào những năm 90, Trung Quốc tăng trưởng ở mức cao nhất trên thế giới.Tổng tiết kiệm nội địa và tổng đầu tư trong thập kỷ cuối đạt lần lượt hơn 40% và

Trang 7

34% GDP Thành tích trong khu vực đối ngoại cũng rất gây ấn tượng, xuất khẩu tăng

ở mức trung bình hàng năm hơn 15%, dự trữ quốc tế của Trung Quốc năm 1997 đạthơn mức nhập khẩu tương đương của 12 tháng Vốn nước ngoài chủ yếu là đầu tưtrực tiếp nước ngoài, đã tăng 275 lần trong giai đoạn từ năm 1983 đến 1986 Thâmhụt ngân sách và tỷ lệ lạm phát khá cao trong nửa đầu những năm 90 do sự thịnhvượng kinh tế, đã dần hạ xuống từ năm 1996 Các yếu tố vĩ mô cơ bản cùng với việckhông quy đổi của đồng tiền đã lý giải tại sao Trung Quốc không bị tác động trựctiếp của khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 giống như các nước châu Ákhác

Từ giai đoạn 2000 đến nay, kinh tế Trung Quốc luôn duy trì mức tăng trưởngkinh tế trên 8% /năm và đến nay Trung quốc đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớnthứ 4 thế giới

Năm 2001,Trung Quốc ra nhập WTO.Đây là bước ngoặt đánh dấu sự pháttriển mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc ,tạo điều kiện mở cửa hơn nữa của kinh

tế Trung Quốc trong thương mại quốc tế.Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2002(mộtnăm sau khi ra nhập WTO) đạt 620,79 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2001.Kimngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng trong các năm sau đó và tính đến năm 2006 kimngạch xuất nhập khẩu đạt 1700 tỷ USD vươn lên đứng thứ ba thế giới về xuất nhậpkhẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân 24,6% mỗi năm

Cùng với Trung Quốc, các nước ASEAN cũng bắt đầu thực hiện việc nới lỏngchính sách và các biện pháp tự do hoá trong những năm 1990 ASEAN là tổ chứcđầu tiên tại Đông Á thực hiện các FTA khu vực

Với 10 quốc gia ở Đông Nam Á, ASEAN hiện nay có quy mô dân số gần 500triệu người, tổng diện tích lãnh thổ 4,5 triệu km2, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạtkhoảng 737 tỷ USD và tổng kim ngạch thương mại đạt 720 tỷ USD, ASEAN đã trở

Trang 8

thành một đối tác quan trọng của nhiều quốc gia và là khu vực phát triển kinh tế năngđộng trong nền kinh tế thế giới.

Sự quyết tâm của ASEAN đã đem lại những kết quả đáng kể Mức thuế quantrung bình giữa các nước ASEAN được giảm từ 111.4% năm 1993 xuống còn 3.2%năm 1998 Đến nay, việc giảm thuế quan theo Chương trình Thuế quan ưu đãi cóhiệu lực chung cho Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN(CEPT/AFTA) về cơ bản đãhoàn thành

1.2 Nhân tố cản trở

1.2.1 Loại hình tổ chức của ACFTA

Loại hình tổ chức của ACFTA hiện nay vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi bởi lẽnếu xây dựng Khu vực mậu dịch tự do kiểu mở cửa thì ưu đãi mà các nước thànhviên được hưởng sẽ tương đối ít Nếu xây dựng Khu vực mậu dịch tự do kiểu khépkín, cơ chế hóa, chỉ mở cửa và áp dụng chế độ thuế ưu đãi đối với các nước thànhviên thì sẽ có lợi cho phát triển kinh tế của các nước thành viên, khiến các nước này

có được những lợi ích lớn nhất Tuy nhiên, hiện nay trình độ phát triển của các nướctrong khu vực còn khác nhau, điều này sẽ tạo nên trở lực từ những chế độ xã hộikhác nhau và trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau, thậm chí có thể hình thànhhàng rào mậu dịch mới, đi ngược lại với xu thế phát triển nhất thể hóa kinh tế toàncầu

1.2.2 Tình trạng phân hóa hai cực

Một số nước lạc hậu trong ASEAN lo ngại rằng tham gia khu mậu dịch tự dokhông những không nâng cao sức cạnh tranh của mình mà ngược lại còn bị lạc hậuhơn về kinh tế, sự phân hóa giữa hai cực càng nghiêm trọng, bởi lẽ:

Thứ nhất, những nước này cho rằng sức sản xuất trong nước không cao, một khi

mở cửa thị trường có thể sẽ bị tràn ngập bởi khối lượng lớn hàng xuất khẩu của các

Trang 9

nước có trình độ phát triển cao hơn, dẫn đến việc trở thành "thuộc địa kinh tế" củacác nước này Do vậy, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình, một số nước ASEAN sẽgặp phải trở lực khá lớn trong việc giảm mức thuế và tiến trình thúc đẩy nhất thểhóa kinh tế khu vực.

Thứ hai, cùng với việc ký kết một FTA với Trung Quốc, các nước ASEAN cũngkhông ngừng tìm kiếm các FTA song phương khác như FTA ASEAN – Nhật Bản,FTA ASEAN – Ấn Độ, FTA Mỹ – Singapore, FTA Singpore – New Zealand, FTAThái Lan – Ấn Độ, FTA Thái Lan – UAE, … và nếu các nước trong khối vẫn tiếp tụcchạy đua ở cuộc chơi FTA như vậy thì tiến trình thực hiện AFTA có thể bị đe doạ

Vì khi đạt được FTA, các nước sẽ lo tới quyền lợi của mình với các nước ngoài khối,còn việc thực hiện lộ trình giảm thuế chung trong ASEAN sẽ bị xếp xuống hàng thứyếu, làm cho hố sâu về hoà nhập tự do thương mại giữa các nước ASEAN ngày cànglớn dần Nếu ASEAN có khoảng 5 FTA như vậy thì sẽ dẫn tới sự ra đời các “tiểuvùng kinh tế” trong khu vực và tình trạng cạnh tranh cục bộ là chắc chắn Khi đó,AFTA sẽ chỉ là cái “vỏ bọc” của những FTA riêng biệt

1.2.3 Cạnh tranh

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc là khu vực tự do lớn nhất, cótiềm năng tạo ra những nguồn lợi rất lớn, song nó cũng tạo ra môi trường cạnhtranh rất gay gắt Mặc dù các nước thành viên ASEAN được hưởng lợi từ thặng dưmậu dịch và những lợi thế về chính trị, song nhiều nước trong khối này vẫn chorằng sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ tạo ra sức hút lớn đối với đầu tư nước ngoài màtrước đây đổ nhiều vào khu vực ASEAN, dẫu rằng khi nền kinh tế Trung Quốcđược tăng cường thì các nhà đầu tư Trung Quốc cũng sẽ đầu tư vào các nướcASEAN nhiều hơn và tự do hơn

Trang 10

Cạnh tranh kinh tế giữa ASEAN với Trung Quốc chủ yếu thể hiện trên ba mặtlà: cạnh tranh về mậu dịch, cạnh tranh trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vàcạnh tranh tại thị trường thứ ba.

1.2.4 Yếu tố chính trị

1.2.4.1 Vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông

Biển Đông (phía Trung Quốc gọi là Nam Hải, người phương Tây gọi là biểnNam Trung Hoa) là vấn đề còn tồn tại và gây căng thẳng giữa một số nước ĐôngNam Á với Trung Quốc Trong vấn đề biển Đông, Trường Sa là điểm tranh chấp gaygắt nhất trong việc công nhận phạm vi chủ quyền và lợi ích biển của các nước có liênquan Biển Đông chiếm 25% vận tải biển của thế giới, trữ lượng dầu mỏ ước tínhkhoảng 23.5 tỷ tấn và lượng khí đốt thiên nhiên khoảng 8269 tỷ m3 Cho nên có thểnói, sự phức tạp của vấn đề Biển Đông mang tính tổng hợp, nó không chỉ bao gồmyếu tố lịch sử, lợi ích chiến lược, chạy đua khai thác các nguồn tài nguyên thềm lụcđịa như dầu lửa, khí tự nhiên mà còn gọi là “tâm địa chấn” của mọi hoạt động trênbiển giữa các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương

1.2.4.2 Vấn đề về quyền chủ đạo trong ACFTA

Sự thành công của bất cứ một hiệp định thương mại khu vực nào thường có xuhướng là nhờ vào một nền kinh tế vững mạnh hoặc phát triển Tuy nhiên, không thểcho rằng xu hướng này sẽ bất biến về lâu dài Một khi Trung Quốc trở nên ổn địnhhơn với các cuộc cải cách của mình với tư cách là thành viên của WTO, quốc gia này

có thể sẽ tích cực tìm cách gây ảnh hưởng đến quá trình tự do hoá thương mại trongkhu vực Trong số các nước ASEAN, không một nước nào có thực lực kinh tế bằngTrung Quốc, nhưng nếu coi ASEAN là một khối thì lại có thể so sánh được vớiTrung Quốc Việc ai sẽ đóng vai trò chủ đạo ACFTA trong tương lai là một vấn đềkhá hóc búa

Trang 11

2 Thực trạng hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc ( ACFTA)

2.1 Quá trình hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA)

Đầu những năm 90 là giai đoạn hợp tác khu vực còn bị coi nhẹ nhưng trong nửacuối thập kỷ đó, các nước đã chứng kiến những động thái thể chế hoá các dàn xếpmậu dịch tự do thông qua các khu vực mậu dịch tự do song phương và thông qua cácsáng kiến khác Nếu như những năm đầu thập kỷ 90 là giai đoạn Mỹ tăng cường can

dự vào khu vực này, thì nửa cuối thập kỷ chứng kiến việc tăng cường mở rộng hợptác khu vực thông qua nhóm ASEAN + 3 (10 nước ASEAN và Trung Quốc, NhậtBản, Hàn Quốc)

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á đã làm các nước trong khu vực nhậnthức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của hợp tác kinh tế trong khu vực Sự hợp tác vềtiền tệ Châu Á và việc tổ chức các cuộc gặp 10 + 3 đã cho thấy, hợp tác kinh tế trongkhu vực này đã trở thành một vấn đề rất quan trọng Theo chương trình này, nhiều kếhoạch hợp tác kinh tế đã được đưa ra, như Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - TrungQuốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Ấn Độ, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN– Hàn Quốc, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự dogiữa Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, Khu vực mậu dịch tự do Đông Á, … Vấn

dề quan trọng nhất là việc các cường quốc kinh tế đã bắt đầu chú trọng đến phát triểnhợp tác kinh tế khu vực Nhật Bản, nước luôn theo hướng hợp tác thương mại đaphương, nay đã bắt đầu đàm phán với Hàn Quốc, Singapore và Mehico về các hiệpđịnh thương mại song phương Từ năm 1999, Trung Quốc cũng đã thay đổi thái độtrước đây của mình về hợp tác kinh tế khu vực Thực tế là Trung Quốc đã gia nhập

Tổ chức thương mại thế giới, tạo điều kiện để đưa hợp tác kinh tế khu vực lên mứccao hơn trên cơ sở thương mại tự do theo quy định của WTO

Trang 12

Mọi đề nghị về hợp tác kinh tế khu vực ở Đông Á đều có thể trở thành hiện thực,nhưng đồng thời những đề xuất này cũng vấp phải những trở ngại nhất định Xét vềmặt khả thi của các mối liên kết kinh tế khu vực, có khả năng nhất trong giai đoạnhiện nay là quan hệ hợp tác giữa 10 nước ASEAN và Trung Quốc Sự thành côngcủa mối hợp tác kinh tế 10 + 1 này có thể sẽ được phổ biến ra các nước khác trongkhu vực Đông Á và làm đối trọng với khối Liên hiệp Châu Âu (EU) đã được mởrộng và Khu vực mậu dịch tự do Châu Mỹ (FTAA)

Ý tưởng về việc thành lập một khu vực mậu dịch tự do giữa Trung Quốc vàASEAN xuất phát từ đề xuất của Cựu Thủ tướng Trung Quốc Chu Dung Cơ tại Hộinghị thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ 4 tổ chức vào tháng 11/ 2000.Trong năm này, Trung Quốc còn thoả thuận sẽ tăng cường hợp tác và đưa ra nhữnghạng mục hợp tác cụ thể như khai thác sông Mekong, xây dựng tuyến đường sắtxuyên Á…

Đến năm 2001, những thoả thuận này giữa Trung Quốc và ASEAN đã cónhững bước tiến mới Trung Quốc ủng hộ nỗ lực của ASEAN thiết lập khu vựckhông có vũ khí hạt nhân, xem xét ký kết Hiệp định hợp tác hữu nghị Đông Nam Á,cam kết đầu tư 5 triệu USD để nạo vét sông Mekong và tài trợ 1/3 chi phí xây dựngtuyến đường cao tốc Bankok - Côn Minh Đặc biệt, tại Hội nghị giữa những nhàlãnh đạo ASEAN - Trung Quốc tổ chức vào ngày 6 /11/ 2001 tại Banda SeriBegawan (Brunei), các nhà lãnh đạo Trung Quốc và 10 nước ASEAN đã đi đến nhấttrí về việc thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trongvòng 10 năm, đồng thời chính thức uỷ quyền cho các bộ trưởng và quan chức của haibên đàm phán về vấn đề này

Từ sau khi đạt được thỏa thuận thành lập ACFTA, hai bên đã nỗ lực xúc tiếncác công tác thúc đẩy tiến trình ra đời của ACFTA Các tổ chức như Uỷ ban đàmphán thương mại ASEAN - Trung Quốc (TNC - Trade Negotiation Committee) và

Trang 13

Hội đồng thương mại ASEAN - Trung Quốc đã được thành lập Đồng thời các cuộcgặp giữa các nhà lãnh đạo hai bên để đàm phán về phát triển hợp tác kinh tế thươngmại đã diễn ra liên tục trong năm qua như: Cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế caocấp ASEAN - Trung Quốc (SEOM - Senior Economic Officials Meeting) lần thứ 3hồi tháng 5/ 2002 tại Bắc Kinh, Hội thảo quốc tế về hợp tác trong thương mại, đầu tư

và phát triển ASEAN - Trung Quốc diễn ra vào tháng 6 tại Côn Minh Trung Quốc,Diễn đàn về hợp tác ASEAN - Trung Quốc vào tháng 8 tại Kuala Lumpur(Malaysia), Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN - Trung Quốc lần thứ nhất vào tháng

9 tại Brunei, cuộc gặp giữa các quan chức kinh tế cấp cao của hai bên vào tháng 10tại Singapore, … Bên cạnh đó, còn có rất nhiều các cuộc viếng thăm của các nhàlãnh đạo cũng như của các nhóm khảo sát của hai bên đến cả Trung Quốc vàASEAN để tìm hiểu tình hình thị trường và tìm kiếm cơ hội hợp tác

Với những nỗ lực của cả hai bên, ngày 4/ 11/ 2002, tại Hội nghị thượng đỉnhASEAN lần thứ 8 diễn ra ở thủ đô Phnompenh (Campuchia), các nhà lãnh đạoASEAN và Trung Quốc đã chính thức ký bản hiệp định khung về hợp tác kinh tếtoàn diện ASEAN - Trung Quốc (Framework Agreement on Asean–ChinaComprehensive Economic Cooperation - FAACCEC), mở đường cho việc thiết lậpKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) trong 10 năm tới Đây làmột sự kiện quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của quan hệ ASEAN - TrungQuốc trong thế kỷ này

Ý nghĩa của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN -Trung Quốc:

Trước đây, không phải không có những lo ngại về ý tưởng thành lập khối kinh

tế chung giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á vốn có xu hướng cạnh tranhhơn là hợp tác, thậm chí còn có ý kiến cho rằng sự trỗi dậy của nền kinh tế TrungQuốc, với tỷ lệ tăng trưởng liên tục đạt khoảng 7% , sẽ gây nên mối đe dọa đối với

Trang 14

ASEAN Trong bối cảnh đó, theo thông lệ, người ta trông đợi rằng ASEAN sẽ dựnglên những rào cản tự vệ để chống lại hàng hóa của Trung Quốc và triển khai các biệnpháp bảo hộ mậu dịch để đánh bật sự thách thức của Trung Quốc Tất nhiên, đấy làmột giải pháp Nhưng ASEAN đã chọn giải pháp khác, mang tính thách thức hơn, đó

là gần gũi hơn và mở cửa nền kinh tế của tổ chức này với Trung Quốc trên cơ sở có

đi có lại Hơn nữa, sau cuộc khủng hoảng 1997, e sợ bị gạt ra ngoài lề công cuộctoàn cầu hoá, ASEAN đã và đang nỗ lực phấn đấu trở thành khu vực kinh tế năngđộng nhất thế giới Thêm vào đó, Trung Quốc đưa ra những ưu tiên nhất định – hứahẹn mở cửa thị trường trước các nước ASEAN, đồng thời ưu đãi các nước kém pháttriển trong khối gồm Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar.Thế là ASEAN chấpthuận

Như vậy, Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc

ra đời đã đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài của ASEAN và Trung Quốc Hiệnnay, trong bối cảnh suy giảm của nền kinh tế thế giới, đặc biệt là kinh tế Mỹ, cácnước ASEAN nhận thấy rằng đã đến lúc họ không thể chỉ dựa vào xuất khẩu sang thịtrường Mỹ mà cần phải khai thác thị trường mới để phát triển kinh tế Từ trước đếnnay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của hầu hết các nước Đông Nam Á Kimngạch xuất khẩu sang Mỹ luôn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các nước ASEANnên khi kinh tế Mỹ giảm sút thì nền kinh tế của các nước này cũng bị suy thoái, trongkhi đó Trung Quốc vẫn giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục Vì vậy, cácnước Đông Nam Á không những cần điều chỉnh chính sách kinh tế mà còn cần tìmmột thị trường mới để không bị quá phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ Hiệp định Khuvực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính là giải pháp cho vấn đề trên Hơnnữa, ASEAN và Trung Quốc là những nước đang phát triển và đang ở những giaiđoạn phát triển kinh tế khác nhau nhưng đang cùng phải đối mặt với những cơ hội vàthách thức của xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá kinh tế một cách mạnh mẽ của thế

Trang 15

kỷ 21 này Các khu vực chính trên toàn cầu đều đã thiết lập các Khu vực mậu dịch tự

do như Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ, Liên minh Châu Âu Quan trọng hơn, Khuvực mậu dịch tự do đã trở thành phương thức hội nhập quốc tế song song với toàncầu hoá Vì vậy, các nước Đông Nam Á cũng cần có một giải pháp để đảm bảo lợiích khu vực cũng như tránh tác động của sự suy giảm kinh tế toàn cầu Do đó, việcthành lập một hiệp định mậu dịch tự do giữa hai bên và tăng cường quan hệ songphương lúc này là một quyết định sáng suốt của ASEAN và Trung Quốc trong quátrình theo đuổi những cơ hội phát triển mới

2.2 Những thỏa thuận đã đạt được của khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc( ACFTA )

Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN và Trung Quốc kíngày 4/ 11/ 2002 gồm tổng cộng 16 điều và 4 phụ lục kèm theo Nội dung chính củahiệp định được chia làm 3 phần: Phần 1 (từ điều 3 đến điều 6) đề cập đến thương mạihàng hoá, thương mại dịch vụ, đầu tư và chương trình thu hoạch sớm; Phần 2 (điều7) là về hợp tác kinh tế trên các lĩnh vực khác; Phần 3 (từ điều 8 đến điều 16) cũng làphần cuối cùng gồm các quy định về khung thời gian của các chương trình hợp tác,

về chế độ đãi ngộ MFN, các ngoại lệ chung, cơ chế giải quyết tranh chấp, kế hoạchđàm phán và một số điều khoản khác liên quan đến sự sửa đổi, hiệu lực … của Hiệpđịnh

2.2.1 Mục tiêu của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện giữa ASEAN

Trang 16

iii Khai thác các lĩnh vực mới và thiết lập các biện pháp thích hợp cho hợp táckinh tế chặt chẽ hơn giữa các bên;

iv Tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế có hiệu quả hơn của các nước thành viênmới của ASEAN và tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các bên

2.2.2 Các biện pháp hợp tác kinh tế

i Tích cực loại bỏ thuế và hàng rào phi thuế đối với hầu hết thương mại hàng hoá;

ii Tiến tới tự do hoá thương mại dịch vụ về cơ bản tất cả các lĩnh vực;

iii Thiết lập một cơ chế đầu tư cạnh tranh và cởi mở để tạo thuận lợi và thúc đẩyđầu tư trong khuôn khổ FTA;

iv Áp dụng các ứng xử đặc biệt, khác biệt và linh hoạt cho các nước thành viênmới của ASEAN;

v Áp dụng linh hoạt cho các bên trong đàm phán FTA đối với khu vực nhạy cảmcủa lĩnh vực hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, dựa trên nguyên tắc có đi có lại vàcùng có lợi;

vi Thiết lập các biện pháp tạo thuận lợi đầu tư và thương mại có hiệu quả, bao gồmnhưng không hạn chế việc đơn giản hoá thủ tục hải quan và các thoả thuận côngnhận lẫn nhau;

vii Mở rộng hợp tác kinh tế ra các lĩnh vực khác có thể đồng thuận được của cả haibên ASEAN và Trung Quốc, mà sẽ bổ sung vào việc làm sâu sắc thêm liên kếtđầu tư và thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc, hình thành nên các chươngtrình hành động để thực hiện các lĩnh vực hợp tác;

viii Thiết lập các cơ chế thích hợp nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả hiệp địnhnày

Ngày đăng: 16/04/2013, 21:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng : Các khu vực mậu dịch tự do lớn của 1 số nước - khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (CAFTA )
ng Các khu vực mậu dịch tự do lớn của 1 số nước (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w