Sự gần gũi hiểu biết các dân tộc về văn hoá và các mặt khác khắc phục tình trạng biệt lập .” Thế nhng, trong chơng trình giáo dục bậc THPT, đặc biệt chơng trình Lịch sử khoá trình lớp 12
Trang 1SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO HÀ TĨNH
TRƯỜNG THPT NGHÈN
@&?
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM “Sử dụng tài liệu Văn học để dạy tốt Lịch sử dân tộc lớp 12 góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học môn Lịch sử ở trường THPT” Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Hoa Đơn vị: Tổ Lịch sử
N¨m häc:
Trang 2"Sử dụng tài liệu văn học để dạy tốt lịch sử
dân tộc lớp 12, góp phần nâng cao chất lợng dạy học ở
tr-ờng phổ thông"
I Đặt vấn đề
Trong nền giáo dục của các dân tộc nói chung, dân tộc Việt Nam xa và nay nói
riêng, môn Lịch sử chiếm một vị trí quan trọng Với mục đích đợc xác định “Truyền thụ cho học sinh ý nghĩa của quá khứ và sự tiếp tục trong hiện tại, d ẫn dắt học sinh hiểu vai trò con ngời trong cộng đồng và vai trò cộng đồng trong thế giới nói chung”
(UNESCO – 1963 tài liệu giảng dạy lịch sử) Từ lịch sử, ngời học biết rút ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho cuộc sống hiện tại
ở trờng THPT hiện nay, dạy học môn học Lịch sử nhằm giáo dục đạo đức,
chính trị t tởng, truyền thống và lòng tự hào dân tộc cho học sinh Đồng thời phát triển t duy và nhận thức toàn diện cho học sinh theo mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của Đảng
Ngày nay, trong thời kỳ khoa học – kỹ thuật rất sôi động này, các nhà sử học
dù có ý kiến khác nhau nhng đều công nhận bộ môn Lịch sử ở trờng phổ thông không những vẫn giữ nguyên mà còn tăng lên hơn vị trí, ý nghĩa của nó trong việc đào tạo
thế hệ trẻ Nhà sử học Xô viết Pasutô đã khẳng định rằng: Muốn đào tạo con ng“ ời phù hợp với thời đại, chúng ta cần phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lợng dạy học Lịch sử Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, sự hứng thú hấp dẫn ngày càng tăng đối với hiện tại không hề làm giảm bớt sự chú ý của chúng ta đối với việc dạy học Lịch sử Chính lịch sử là bằng chứng hiển nhiên về sự toàn thắng của công cuộc xây dựng, sáng tạo đối với sự tàn phá, chiến thắng của hoà bình đối với chiến tranh Sự gần gũi hiểu biết các dân tộc về văn hoá và các mặt khác khắc phục tình trạng biệt lập ”
Thế nhng, trong chơng trình giáo dục bậc THPT, đặc biệt chơng trình Lịch sử khoá trình lớp 12 trong chơng trình SGK mới đã cắt giảm từ 2 tiết/tuần xuống còn 1,5 tiết/tuần mà nội dung kiến thức không thay đổi vẫn yêu cầu phải đảm bảo mục tiêu giáo dục của bộ môn Đó là một khó khăn cho công tác soạn giảng của giáo viên và việc học tập của học sinh
Mặt khác, do đặc điểm của bộ môn Lịch sử khô khan, khó nhớ, khó học bởi những con số, ngày tháng và sự kiện đã diễn ra trong quá khứ không nhìn thấy đợc,
đòi hỏi khi giảng dạy giáo viên phải tái hiện lại bằng ngôn ngữ và hình ảnh làm sống lại những sự kiện đó Một khó khăn lớn nhất của môn Sử hiện nay là nhận thức của học sinh và gia đình về bản thân môn học xem là môn phụ không cần phải quan tâm mất thời gian cho sự lựa chọn nghề nghiệp Lên lớp 12, các em nặng gánh với lựa chọn cho tơng lai, phân luồng sớm Thực tế khối C giờng nh bị bỏ rơi, dần mai một làm cho việc dạy học Sử lại càng khó khăn hơn, hạn chế về mặt hiệu quả
Trong những năm qua, Đảng, Nhà nớc và Bộ Giáo dục đã hết sức quan tâm, môn
Sử thờng xuyên đợc đa vào là một trong những môn thi tốt nghiệp, có thể nói là hầu
nh liên tục Thế nhng nó vẫn bị coi là môn học đối phó, kết quả thi cử cha khả quan lắm vẫn là một nỗi lo, băn khoăn Lịch sử vẫn là môn học khó đối với t tởng của học sinh Vấn đề cơ bản vẫn cha làm đợc là xây dựng tình cảm, tình yêu Lịch sử đối với
những học sinh trên ghế nhà trờng trong các giờ học đối với môn học này T “ tởng không thông vác bi đông cũng nặng” Để giải quyết bài toán khó đó là một gánh nặng
cũng là trách nhiệm đặt lên vai ngời thầy giáo dạy Sử
Chính vì thế, trong quá trình giảng dạy để thực hiện tốt nhiệm vụ trồng ngời cho
Đảng, giáo viên dạy Sử cần tích cực tìm tòi những phơng pháp và phát huy tối đa việc phối hợp các phơng pháp một cách linh hoạt để thiết kế soạn và giảng dạy có hiệu quả, xây dựng tình cảm của học sinh đối với môn học và đa các em đến với
Trang 3những sự kiện lịch sử một cách tự nhiên, nhẹ nhàng Có nh thế mới hoàn thành nhiệm
vụ môn học…
Xuất phát từ thực tiễn nhận thức, trách nhiệm và thực tiễn nhiều năm giảng dạy tôi đã áp dụng phơng pháp này khá hiệu quả.Vì vậy tôi chọn đề tài:
“Sử dụng tài liệu văn học để dạy tốt Lịch sử dân tộc lớp 12 góp phần nâng cao chất lợng dạy học ở trờng phổ thông ”
II giải quyết vấn đề.
1 Cơ sở thực tiễn và khoa học của vấn đề.
- Đổi mới giáo dục là vấn đề toàn cầu trong thời đại ngày nay trớc tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ Để bắt kịp thời
đại, trong những năm qua ta đã và đang thực hiện sự nghiệp đổi mới giáo dục để bắt kịp thời đại, phát triển toàn diện đất nớc Đổi mới là toàn diện để nâng cao chất lợng
và hiệu quả dạy học, trong đó vấn đề phơng pháp dạy học là cực kỳ quan trọng, chìa khoá của mọi sự thành công, trong sự nghiệp giáo dục và tất nhiên việc đó không thể thoát ly khỏi vai trò của ngời thầy giáo
Lịch sử cũng nh những môn học khác trong hệ thống giáo dục phổ thông đều nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nớc Muốn có chất lợng và hiệu quả ngời thầy trớc hết phải có phơng pháp tốt và hữu hiệu để dẫn dắt học sinh đến với những mảng kiến thức thích hợp, tiếp nhận chân lý tự nhiên Tuy nhiên đổi mới phải tạo cơ sở sự kế thừa và phát triển của các phơng pháp truyền thống để làm cho hiệu quả và phải dựa trên những nguyên tắc cho phép của bộ môn Đặc biệt với môn Lịch sử gắn liền t tởng, tình cảm và giáo dục đạo đức truyền thống, một bộ môn nằm trong các bộ môn xã hội nó không thể biệt lập mà có những mối quan hệ với Văn, Giáo dục công dân, Địa lý Cho nên vấn
đề dạy học liên môn là một nguyên tắc quan trọng và cần thiết giáo viên phải thực hiện, kết hợp trong quá trình dạy – học mới có hiệu quả
Trong đó, mối liên hệ giữa lịch sử và các tác phẩm tài liệu Văn học rất gần gũi Trong Sử có Văn, trong Văn có Sử Trong lịch sử dân tộc cũng nh lịch sử thế giới từ
xa đến nay, các tác phẩm văn học có vai trò to lớn đối với việc giảng dạy Đây là một trong những tài liệu vô cùng quan trọng, không những thế còn góp phần sinh động, hứng thú và nhẹ nhàng cho môn học Lịch sử Trớc hết, văn học bằng hình tợng cụ thể
nh những bức tranh sinh động về lịch sử, có tác động mạnh mẽ đến t tởng, tình cảm của ngời đọc, ngời học Giữa văn học và khoa học nói chung, sử học nói riêng có môi liên hệ khăng khít Không ít tác phẩm văn học tự nó là một t liệu lịch sử Ví dụ: Hịch Tớng Sỹ văn (Trần Quốc Tuấn), Bài Cáo Bình Ngô (Nguyễn Trãi), Tuyên ngôn Độc lập (Hồ Chí Minh)… Các tác phẩm văn học (văn bản, bức th, tuyện ngắn, tiểu thuyết hay thơ ca, hồi kí ) góp phần quan trọng làm cho bài giảng Lịch sử thêm sinh động, hấp dẫn và tự nhiên hơn, dễ đi vào lòng ngời, tạo hứng thú và tình cảm cho học sinh với môn học
Trong chơng trình Lịch sử 12 THPT hiện hành (Lịch sử Việt Nam 1919 –
2000 ), nhất là lịch sử cách mạng và giải phóng dân tộc gắn liền với một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của nền văn học cách mạng Những chiến công Lịch sử hào hùng của dân tộc chính là mảnh đất màu mỡ ơm mầm những tác phẩm bất hủ Văn học gắn liền với Lịch sử, mỗi nhà văn, nhà thơ là một chiến sĩ hăng hái trên mặt trận văn hoá Nền văn học cách mạng đã tái hiện rõ nét hình ảnh lịch sử oanh liệt của dân tộc trong thế kỷ XX Việc dạy học liên môn Văn – Sử khá hiệu quả để khắc phục tình trạng khô khan Mặt khác, đối tợng thực hiện dạy học là những học sinh lớp 12 đã có khả năng liên hệ và nhận thức tốt, có tầm khái quát vấn đề và đã có vốn Văn học Trong
đó có một bộ phận dù là không nhiều những học sinh khối C có sự hiểu biết khá sâu
về phần văn học cách mạng Chính vì thế cho phép giáo viên thực hiện đợc và hiệu
Trang 4quả về phơng pháp dạy học này trong cả quá trình giảng dạy cả chính khóa và ngoại khóa
2 Những biện pháp cụ thể trong quá trình sử dụng tài liệu văn học để dạy tốt Lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT hiện hành.
a Yêu cầu khi thực hiện.
- Lịch sử Việt Nam trong chơng trình lớp 12 bắt đầu từ 1919 đến 2000 gồm các giai đoạn và đặc điểm cụ thể, thể hiện sự vận động của lịch sử dân tộc trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội và đặc biệt là lịch sử các cuộc kháng chiến, cách mạng giải phóng dân tộc dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Quá trình đó gắn liền với những giai đoạn phát triển của văn học cách mạng Để thực hiện tốt việc này, ngoài việc ngời thầy giáo nắm vững kiến thức Lịch sử, cần có vốn hiểu biết về Văn học Sự cần thiết ở đây là lựa chọn tài liệu văn học phù hợp để cho từng bài, từng phần, dùng bức tranh ngôn ngữ văn học tạo biểu tợng lịch sử góp phần làm hấp dẫn, sinh động giờ học Lịch sử Vận dụng Văn học phù hợp để xây dựng đợc tình cảm hứng thú và lôi cuốn đợc học sinh làm cho giờ học Lịch sử nhẹ nhàng mà hiệu quả, phát triển toàn diện nhận thức cho học sinh và giáo dục đạo đức t tởng, làm phong phú tâm hồn cho học sinh, để các em hiểu và nhớ về Lịch sử
- Lựa chọn sử dụng tài liệu Văn học trong dạy học Lịch sử ở trờng phổ thông cần phải đảm bảo tiêu chuẩn cơ bản sau:
+ có ý nghĩa về giáo dỡng - giáo dục Tài liệu sử dụng phải là một bức tranh sinh
động và có sự kiện, nhân vật lịch sử của thời đại đang học, phải miêu tả đúng bối cảnh của xã hội cụ thể, phải phục vụ đợc nội dung, yêu cầu của từng bài học, phù hợp trình độ và nhận thức của học sinh Phải lựa chọn nội dung, xác định kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học và dùng kiến thức Văn học để làm nổi bật việc tạo biểu tợng
đối với bộ môn
+ Trong quá trình thực hiện, giáo viên phải xây dựng cho học sinh thái độ tích cực chủ động trong học tập Cần giúp các em huy động những kiến thức văn học đã có
và tìm hiểu thêm để hiểu sâu sắc các sự kiện lịch sử, nh thế các em không những nhớ lịch sử mà còn củng cố đợc kiến thức văn học, biết vận dụng thông minh trong học tập
b Các biện pháp cụ thể:
Có nhiều cách để thực hiện phơng pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học
Lịch sử Tuỳ vào từng bài, từng chơng, từng vấn đề và giai đoạn lịch sử cụ thể đòi hỏi giáo viên phải nắm và đề ra mục đích, yêu cầu cần đạt trong quá trình tiến hành dạy học một cách cụ thể mà lựa chọn những phơng pháp phù hợp
Trong quá trình giảng dạy, để khai thác hiệu quả tài liệu văn học trong giảng dạy Lịch sử dân tộc tôi đã sử dụng các biện pháp sau:
Cách 1: Đa vào bài giảng một đoạn thơ, văn ngắn nhằm minh họa những sự
kiện đang học.
- Một điểm quan trọng trong dạy học Lịch sử là tạo biểu tợng, tái hiện lại lich sử để làm cho những sự kiện khô khan trở thành những hình ảnh sinh động, tác động thu hút trí tởng tợng t duy của học sinh, qua đó giúp học sinh ghi nhớ Trong khi đó những đoạn văn, thơ ngắn phù hợp nội dung kiến thức thực sự là những bức tranh về ngôn ngữ hết sức sinh động mà không có ngôn từ hay đồ dùng dạy học nào thay thế
đợc,sự mềm mại uyển chuyển của Văn học sẽ dễ dàng lôi cuốn và đi vào cảm xúc của học sinh hơn những sự kiện Lịch sử khô khan
- Trong quá trình giảng dạy Lịch sử, giáo viên thực hiện biện pháp này không quá khó mà lại có hiệu quả và ý nghĩa to lớn trong việc làm cho nội dung bài học phong phú, giờ học sinh động, khắc sâu kiến thức cơ bản và trọng tâm
Ví dụ 1: Dạy bài 12: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 – 1925
Phần II- Mục 3: Hoạt động của Nguyễn ái Quốc.
Giáo viên cần làm cho học sinh nắm đợc các mốc lịch sử quan trọng trong hoạt
động của Ngời và ý nghĩa của sự kiện đó Trong số những hoạt động từ 1919 – 1925
Trang 5cần khắc sâu sự kiện tháng 7 – 1920 đọc Bản sơ thảo Luận cơng của Lênin về " Vấn
đề dân tộc và thuộc địa" Nguyễn ái Quốc đã bắt gặp đợc con đờng cứu nớc đúng
đắn cho dân tộc, cái mà ngời đã tìm kiếm bao năm qua, mở ra con đờng giải phóng, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đờng lối của phong trào cách mạng Việt Nam Phút giây đọc đợc Luận cơng của Lênin đánh dấu sự thay đổi về chất trong t t-ởng cứu nớc của Nguyễn ái Quốc Sau này (năm 1960), Ngời kể lại cảm xúc của
mình khi đọc Luận cơng : " Luận cơng của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên nh đang nói trớc quần chúng đông đảo:
" Hỡi đồng bào bị đoạ đày, đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đ-ờng giải phóng chúng ta!
Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ 3" Khẳng định cho
dân tộc một con đờng đi đúng đắn - Cách mạng vô sản, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bế tắc về đờng lối Đây là công lao to lớn nhất đầu tiên của Nguyễn ái Quốc
đối với dân tộc Việt Nam Sẽ không có ngôn ngữ nào có thể sinh động hơn, cảm động hơn để diễn tả nỗi vui mừng của Ngời, khắc sâu sự kiện và làm rõ đợc ý nghĩa của nó
bằng những câu thơ của Chế Lan Viên trong tác phẩm " Ngời đi tìm hình của nớc".
"Luận cơng đến với Bác Hồ và Ngời đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin Bốn bức tờng im nghe Bác lật từng trang sách Tởng bên ngoài đất nớc đợi mong tin."
Nguyễn ái Quốc đã tìm thấy lập trờng của Liên Xô và Quốc tế Cộng sản hoàn toàn ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nớc thuộc địa phơng
Đông Ngời đã tìm thấy ở bản Luận cơng này vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc
địa Ngời vui mừng đến phát khóc lên vì tìm thấy con đờng cứu nớc giải phóng dân tộc
Ví dụ 2: Dạy bài 13: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1925 đến 1930.
Mục II : Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời:
Để giúp học sinh nắm đợc ý nghĩa lịch sử to lớn sự ra đời của Đảng đối với dân
tộc Việt Nam – là bớc ngoặt lịch sử vĩ đại, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam về sau.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - Đảng Mác Lênin đã thực hiện liên minh
công nông, có đờng lối đúng đắn, sáng tạo đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng bế tắc
về đờng lối, giai cấp lãnh đạo, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử Việt Nam - thời kỳ cách mạng dới sự lãnh đạo của Đảng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Để góp phần làm sinh động giờ học, ghi nhớ cho học sinh tránh sự nhàm chán khô khan có tính chính trị, giáo viên phác hoạ sinh động bằng hình ảnh của đoạn thơ sau,
trích : Ba mơi năm đời ta có Đảng (Tố Hữu).
- Trớc khi Đảng ra đời:
"Thở nô lệ, thân ta mất nớc Cảnh cơ hàn trời đất tối tăm Một đời đau suốt trăm năm Chim treo trên lửa, cá nằm dới dao Giặc cớp hết non cao biển rộng Cớp cả tên nòi giống tổ tiên Lỡi gơm cắt đất ngăn miền Núi sông một khúc ruột liền chia ba
-Đảng ra đời:
Đảng ta sinh ở trên đời
Một hòn máu đỏ nên Ngời hôm nay
Trang 6Đảng ta đó trăm tay nghìn mắt
Đảng ta đây xơng sắt da đồng
Đảng ta muôn vạn công nông
Đảng ta muôn vạn tấm lòng niềm tin
Đảng ta Mác - Lênin vĩ đại Lại hồi sinh trả lại cho ta Trời cao đất rộng bao la Bát cơm, tấm áo, hơng hoa hồn ngời"
Nh thế học sinh sẽ dễ dàng nắm đợc: Đảng ra đời là sự chuẩn bị đầu tiên, tất yếu quyết định mọi thắng lợi về sau cho cách mạng Việt Nam
Ví dụ 3: Dạy bài 14 Phong trào cách mạng 1930 – 1935
Mục II: Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh.
Để khắc sâu kiến thức trọng tâm và nhấn mạnh ý nghĩa của phong trào – cuộc tập dợt lần thứ nhất cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, giáo viên dùng
đoạn thơ sau để minh hoạ:
"Trống Xô viết Nghệ An vang động Bắc Trung Nam tràn sóng đấu tranh
Hầm than, xởng máy, lều gianh
Đứng lên tự cứu mà giành ấm no
Đứng lên cứu tự do độc lập
Đứng lên giành ruộng đất áo cơm!
Đứng lên thân cỏ, thân rơm Búa liềm không sợ súng gơm bạo tàn!
Máu có chảy xơng tan thịt nát
Bớ công nông! tiếng hát càng cao".
Hoặc: Khi nói về Xô viết Nghệ Tĩnh có thể đọc cho học sinh mấy câu thơ sau:
Kìa Bến Thủy đứng đầu dậy trớc
Nọ Thanh Chơng tiếp bớc đứng lên
Nam Đàn, Nghi lộc, Hng Nguyên
Anh sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi
Không có lẽ ta ngồi chịu chết
Phải cùng nhau cơng quyết một phen
Giáo viên hỏi? Kết hợp với kiến thức đã học và đoạn thơ trên, em có nhận xét
gì về quy mô, lực lợng, mục tiêu, kết quả và ý nghĩa của phong trào 1930 – 1931? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên có thể rút ra nhận xét: Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh, khẳng định trong thực tế quyền và năng lực lãnh đạo của Đảng Cố Tổng bí th Lê Duẩn nhận xét: "Thành quả lớn nhất của phong trào 1930 – 1931, thành quả mà cuộc khủng bố trắng tàn khốc của đế quốc và phong kiến sau đó đã không thể xoá nổi – là ở chỗ nó khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của giai cấp vô sản mà đại biểu là
Đảng ta, là ở chỗ nó đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp vô sản,
đồng thời đem lại cho đông đảo quần chúng công nông niềm tin vĩ đại ở sức mạnh của mình … đó là bớc thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ tiến trình phát triển về sau của cách mạng Trực tiếp mà nói, không có những trận chiến
đấu giai cấp rung trời chuyển đất những năm 1930 – 1931, trong đó công nông đã
"Vung ra nghị lực phi thờng" của mình thì không thể có cao trào những năm 1936 –
1939 (Dới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi).
Ví dụ4: Dạy bài 15: Phong trào dân chủ 1936 – 1939
Trang 7Để giúp học sinh rút ra nhận xét và khắc sâu phong trào cách mạng 1936
-1939 thực sự là một phong trào dân tộc dân chủ rộng lớn từ Bắc đến Nam, lôi cuốn
đông đảo các lực lợng tham gia với mục tiêu trớc mắt "Tự do, cơm áo, hoà bình" Trên cơ sở liên minh công nông Đảng đã tập hợp đợc đội quân chính trị đông đảo thông qua Mặt trận Dân chủ Đông Dơng Có ý nghĩa là cuộc tập dợt lần thứ hai cho thắng lợi cuộc Cách mạng tháng Tám Giáo viên có thể minh hoạ bằng đoạn thơ sau:
"áo nâu liền với áo xanh Nông thôn cùng với thị thành đứng lên
Đòi cơm áo, đòi quyền dân chủ.
Đờng càng đi đội ngũ càng đông.
Suối ngàn đã chảy thành sông!
Đố ai tát cạn đợc dòng nớc xuôi"
(Tố Hữu)
Ví dụ5: Dạy bài 16: Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa
tháng Tám (1939 – 1945) Nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời:
Mục 3 (II): Nguyễn ái Quốc về nớc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Hội nghị
Trung ơng 8 Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dơng:
Có sự kiện Bác Hồ về nớc sau 30 năm bôn ba (28/1/1941) đồng thời cũng là một mốc đánh dấu thời kỳ mới của lịch sử dân tộc gắn liền với Hội nghị Trung ơng Tám, quá trình chuẩn bị tích cực cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, đòi hỏi giáo viên phải khắc sâu cho học sinh
Chuyện tởng chừng đơn giản, thế nhng có những lúc ngay cả trong bài thi tốt nghiệp quốc gia có nhiều em nhầm lẫn đáng buồn "năm 1924 Nguyễn ái Quốc về n-ớc", có em lại viết năm 1944 mới về nớc Đó là một điều vô cùng đáng tiếc Chính vì thế để cho học sinh dễ nhớ hơn tránh bị nhầm lẫn giáo viên sử dụng đoạn thơ của Tố Hữu miêu tả về sự kiện này:
"Ôi sáng xuân nay Xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về … Im lặng Con chim hót Im lặng Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ… Im lặng Con chim hót Bác đã về đây, Tổ quốc ơi!
Nhớ thơng, hòn đất ấm hơi Ngời
Ba mơi năm ấy chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi"
Ví dụ6: Dạy bài 18: Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp xâm lợc 1946 – 1950.
Mục I: Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ:
Giáo viên cần phải giúp học sinh nắm đợc: Vì sao cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ ngày 19 tháng 12 năm 1946? Một mặt hớng dẫn học sinh nắm các sự kiện bội ớc và quyết tâm cớp nớc ta một lần nữa của Pháp, đồng thời
phân tích "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh để thấy đợc
khả năng đấu tranh ngoại giao hoà bình giữa ta và Pháp là không còn nữa Thực dân Pháp đã buộc ta phải cầm súng đứng lên để bảo vệ nền độc lập dân tộc Để góp phần khắc sâu cho học sinh và làm giờ học thêm sinh động giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ sau:
Hỡi quốc dân! Hỡi đồng bào !
“
Có gơm, có súng, có dao hãy dùng Quyết kháng chiến đến cùng cứu nớc!
Toàn dân trông phía trớc, tiến lên!
Nửa đêm vang tiếng lệnh truyền Phố giăng chiến lũy, đờng xuyên chiến hào
Trang 8Hồn nớc dựng thành cao muôn trợng Tay Đảng rèn lực lợng muôn dân Một dân tộc hai bàn tay trắng
Đồng tâm là chiến thắng thành công”
(Tố Hữu)
Mục III: Chiến dịch Việt Bắc Thu đông 1947 và đẩy mạnh kháng
chiến toàn dân toàn diện:
1 Chiến dịch Việt Bắc Thu đông 1947:
Đây là chiến dịch có vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tiến trình phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp Pháp thực hiện âm mu và
kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh với lực lợng lớn tấn công Việt Bắc Trung ơng
Đảng ra Chỉ thị "Phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp" (15/10/1947) Với quyết tâm đó cùng chiến thuật đúng đắn, ta đã làm nên thắng lợi
Việt Bắc phá tan kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, giữ vững căn cứ Việt Bắc
Ngoài lợc đồ, bài tờng thuật để giảng dạy, nhấn mạnh khắc sâu kiến thức cho học
sinh, giáo viên có thể trích dẫn một đoạn hồi ký của Hoàng Quốc Việt và bài thơ của
Hồ Chí Minh vào giảng dạy góp phần làm sinh động, gây hứng thú cho học sinh, nâng cao chất lợng
"Tổng T lệnh Pháp đợc tin rằng Hồ Chí Minh và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đóng ở Bắc Cạn Ngày 7/9/1947 chúng cho quân nhảy dù xuống Bắc Cạn
để "Chụp đợc trung tâm điểm của Hồ Chí Minh" cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt Chính phủ bù nhìn sẽ thành lập Nớc Pháp sẽ cai trị Việt Nam nh trớc".
Thế nhng khi địch nhảy dù xuống Bắc Cạn Bác còn ở Định Hoá Trong quá trình chiến dịch, Bác chuyển đến làng Vang (Vũ Nhai) rồi đến Khuôn Giáp Những ngày chiến dịch Bác ở bên cạnh Bộ Tổng T lệnh theo dõi sát tình hình các mặt trận, chỉ đạo kịp thời.
Trong lúc quân ta đang chiến đấu anh dũng ngoài mặt trận, một đoàn các cụ phụ lão, râu tóc bạc phơ đến yết kiến Bác, xin Bác cho thành lập đội "Bạch đầu quân" đánh giặc Có cụ cầm gậy múa trớc Bác với những động tác khoẻ, uyển chuyển, tỏ rỏ sức mạnh của mình Bác hoan nghênh các cụ và nói: Đời Trần có Hội nghị Diên Hồng, đời nay có các cụ, đời nào cũng có những cụ tóc bạc yêu nớc Nghĩa khí ấy do núi sông tụ lại Rồi Bác làm thơ ca ngợi
"Tuổi cao chí khí càng cao Múa gơm diệt giặc ào ào gió thu Sẵn sàng tiêu diệt quân thù Tiếng thơm Việt Bắc ngàn thu lẫy lừng"
2 Đẩy mạnh kháng chiến toàn dân toàn diện"
Sau thất bại Việt Bắc, Pháp chuyển từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh lâu dài, thực hiện lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" làm cho phong trào kháng chiến
của chúng ta khó khăn Trong những năm 1948 – 1949 ta thực hiện kháng chiến
toàn dân toàn diện đặc biệt là: Đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lng địch, biến
hậu phơng của địch thành tiền phơng của ta Các đơn vị bộ đội chủ lực phân tán thành
đại đội độc lập đi sâu vào vùng địch tạm chiếm tích cực hoạt động Để giúp học sinh
nắm đợc khái niệm"Chiến tranh du kích" và ý nghĩa của chủ trơng này Giáo viên có
thể minh hoạ bằng bài thơ của Bác viết năm 1948 về "Kinh nghiệm du kích Pháp"
" Bất kỳ trẻ hay già
Đàn ông hay đàn bà
Đều ra sức tham gia
Đánh du kích Không có súng ta dùng dao
Trang 9Ta dùng cuốc
Ta dùng cào
Ta lấy đòn gánh
Ta nhổ cọc rào
Đánh cho chúng nhào"
Và bài thơ : Chiến tranh du kích
"Du kích đánh bí mật Chúng có mắt nh mù Cắt dây thép quân thù Chúng có tai nh điếc
Đờng sá ta phá hết Chúng có chân nh què Lơng thực dấu sạch đi Chúng chết đói chết khát
Ta dùng lối đánh úp Cớp súng thù giết thù
Dù tàu bay tàu bò Cũng không làm gì đợc"
Hồ Chí Minh
Ví dụ7 : Dạy bài 21: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh chống đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954 – 1965)
Mục III: Miền Nam đấu tranh chống chế độ Mỹ – Diệm, giữ gìn và phát triển lực lợng cách mạng, tiến tới Đồng khởi (1954 – 1960).
Giáo viên cần khắc hoạ cho học sinh, nhấn mạnh về phong trào "Đồng khởi"-
đánh dấu bớc phát triển nhảy vọt của Cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lợng sang thế tiến công
Để giúp học sinh nắm đợc nguyên nhân của phong trào Đồng khởi là do chính sách tàn bạo của Mỹ – Diệm, Luật phát xít 10/59 làm cho nhân dân miền Nam hết sức căm phẫn, phong trào không thể đấu tranh bằng chính trị đợc nữa mà tất yếu phải vùng lên dùng bạo lực cách mạng Để tái hiện lại những chính sách tàn bạo đó không
có ngôn ngữ nào hiệu quả hơn đoạn trích sau:
"Biết không anh, Giồng Keo, Giồng Trôm
Thảm lắm anh à Lũ ác ôn Giết cả trăm ngời trong một sáng Máu tơi lênh láng đỏ đờng thôn.
Có những ông già nó khảo tra Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà
Có chị gần sinh không chịu nhục Lấy vồ nó đập, vọt thai ra.
Anh biết không? Long Mỹ, Hiệp Hng
Nó giết thanh niên ác quá chừng Hai sáu đầu trai bêu cọc sắt
Ba hôm mắt vẫn mở trừng trừng!
Có em nhỏ nghịch ra xem giặc
Nó bắt vô vờn trói gốc cau
Nó đốt, nó cời … Im lặng Con chim hót em nhỏ thét Má ơi! Nóng quá, cứu con mau!
Lá th Bến Tre – Tố Hữu
Trang 10Mục IV: Miền Bắc xây dựng bớc đầu cơ sở vật chất – kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội (1961 – 1965).
Đây là một nội dung kiến thức khô khan, giáo viên có thể khắc phục bằng việc sử dụng đoạn thơ của Tố Hữu ca ngợi về những thành tựu của miền Bắc trong thực hiện
kế hoạch kinh tế – xã hội năm năm (1961 – 1965) đã làm cho miền Bắc thay da
đổi thịt trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nớc, với chế độ chính trị u việt, với lực lợng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh
“ Năm năm mới bấy nhiêu ngày
Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều… Im lặng Con chim hót
Dân có ruộng dập dìu hợp tác
Lúa mợt đồng, ấm áp làng quê
Chiêm mùa, cờ đỏ ven đê
Sớm tra tiếng trống đi về trong thôn.
Màu áo mới nâu non nắng chói
Mái trờng tơi roi rói ngói son
Đã nghe nớc chảy lên non
Đã nghe đất chuyển thành con sông dài
Đã nghe gió ngày mai thổi lại
Đã nghe hồn thời đại bay cao
Núi rừng có điện thay sao
Nông thôn có máy làm trâu cho ngời”
Ba mơi năm đời ta có Đảng
Ví dụ8: Dạy bài 22: Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống Đế quốc
Mỹ xâm lợc Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973) Mục IV: Miền Bắc khội phục và phát triển kinh tế – xã hội, chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ hai của Mỹ và làm nghĩa vụ hậu phơng (1969 - 1973).
+ Từ cuối 1964 đầu 1965, ngoài việc Mỹ thực hiện Chiến lợc “Chiến tranh cục bộ”
ở miềm Nam chúng còn gây ra “Chiến tranh phá hoại ” ở miền Bắc Bom đạn Mỹ không chỉ ném xuống các mục tiêu về kinh tế, quân sự, giao thông mà dã man hơn chúng còn trút hàng vạn tấn bom xuống cả bệnh viên, các công trình văn hóa, kể cả nhà thờ, trờng học, giết chết hàng vạn ngời dân vô tội Tại Hà Tĩnh, Mỹ đã ném bom xuống trờng Phúc Trạch – Hơng Khê giết hại nhiều học sinh đang ở độ tuối ấu thơ, măng sữa Tác giả Nguyễn Lê đã vô cùng đau xót viết bài thơ Mẹ trong đó có những câu hết sức xúc động:
Tra về đến sau đồi
Gọi con nh mọi bận
Mà không nghe trả lời
Thì mẹ ơi đừng giận
* *
Qyển vở bài toán đố
Con làm còn dở dang
Bỏ quên bên cửa sổ
Mẹ đừng trách không ngoan!
Sân nhà đầy lá rụng
Mẹ đừng trách con lời
Thấy áo con đẫm máu
Đừng khóc con mẹ ơi!