1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông

122 492 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 828,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC VŨ THỊ ANH SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG TRÌNH

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ ANH

SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ THỊ ANH

SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

(BỘ MÔN LỊCH SỬ)

MÃ SỐ: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Đình Tùng

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng sau đại học, các thầy (cô) giáo tham gia giảng dạy lớp Cao học K8 bộ môn Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã trang bị cho tôi tri thức, những kinh nghiệm quý báu

và tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt sâu sắc tới PGS.TS Trịnh Đình Tùng người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, tới những người thân, bạn bè đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, cổ vũ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn./

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2014 Tác giả

Vũ Thị Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục đồ thị vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 12

1.1 Cơ sở lí luận 12

1.1.1 Quan niệm về tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 12

1.1.2 Các loại tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 13

1.1.3 Đặc điểm của kiến thức Lịch sử ở trường phổ thông 16

1.1.4 Vấn đề hứng thú học tập Lịch sử của học sinh ở trường THPT 19

1.1.5 Vai trò tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử 26

1.2 Cơ sở thực tiễn 30

1.2.1 Thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 30

1.2.2 Thực tiễn việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử ở phổ thông 32

1.2.3 Vấn đề thực tiễn hứng thú học tập Lịch sử của học sinh ở THPT 35

1.2.4 Những vấn đề cần phải giải quyết từ thực tiễn dạy Lịch sử ở trường phổ thông 38

Kết luận Chương 1 39

Trang 6

Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC ĐỂ GÂY HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 11-TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 40

2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam lớp 11 – THPT 40

2.1.1 Mục tiêu bộ môn Lịch sử Việt Nam lớp 11 từ 1858 đến 1918 ở trường Trung học phổ thông 40

2.1.2 Nội dung kiến thức cơ bản Lịch sử Việt Nam lớp 11 41

2.2 Nội dung tài liệu văn học cần sử dụng trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 (chương trình chuẩn) 43

2.2.1 Dựng lại thảm cảnh nước mất nhà tan, nhân dân li loạn từ khi thực dân Pháp xâm lược 43

2.2.2 Thể hiện sâu sắc chủ nghĩa yêu nước chống giặc ngoại xâm 44

2.2.3 Các tác phẩm phản ánh đời sống các giai tầng trong xã hội Việt Nam những năm 20 của thế kỷ XX 53

2.3 Những yêu cầu khi sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 (chương trình chuẩn) 54

2.3.1 Tài liệu văn học phải đảm bảo tính khoa học, tính tư tưởng 54

2.3.2 Sử dụng tài liệu văn học phải phát triển năng lực học tập của học sinh 54

2.3.3 Sử dụng tài liệu văn học phải phản ánh nội dung cơ bản của kiến thức Lịch sử 56

2.4 Các biện pháp và hình thức sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh 57

2.4.1 Trong dạy học nội khóa 57

2.4.2 Trong dạy học ngoại khóa 74

2.5 Thực nghiệm sư phạm 83

2.5.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 83

2.5.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 84

Trang 7

2.5.3 Phương pháp tiến hành thực nghiệm sư phạm 84

2.5.4 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 85

2.5.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 86

Kết luận Chương 2 88

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89

1 Kết luận 89

2 Khuyến nghị 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 96

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Số liệu khảo sát thực trạng sử dụng tài liệu văn học trong

dạy học Lịch sử của GV ở trường THPT 33 Bảng 1.2 Nhận định và mức độ về sử dụng tài liệu văn học trong dạy

học LS của GV ở trường THPT 33 Bảng 1.3 Số liệu khảo sát thực tiễn hứng thú học tập LS của học sinh

ở trường THPT 36 Bảng 1.4 Mức độ hứng thú học tập LS của học sinh ở trường THPT 36 Bảng 2.1 Bảng thống kê điểm số kết quả thực nghiệm 87

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Trang

Đồ thị 2.1: Tần số điểm của lớp TN và lớp ĐC 87

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục - đào tạo được xem là chiến lược lâu dài nhằm phát triển bền

vững và đem lại sự phồn thịnh cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Hoạt động giáo dục phải thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội (Trích điều

3 – Chương I – Luật giáo dục – đã được sửa đổi bổ sung năm 2010)

Ở nước ta, trong xu thế hội nhập quốc tế, khi cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ thì giáo dục và đào tạo luôn được xem là quốc sách hàng đầu, nhằm xây dựng nên những con người của một xã hội thông tin, mà trong đó kinh tế tri thức chiếm lĩnh xã hội Môn Lịch sử với đặc trưng của mình góp phần không nhỏ trong việc đáp ứng mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Dạy học LS ở trường phổ thông không chỉ trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về LS thế giới và LS dân tộc, mà qua đó còn giáo dục cho các em những tư tưởng, tình cảm đúng đắn, đồng thời giúp các em phát triển toàn diện Song, muốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ môn học, cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học LS theo tinh thần: phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng cho HS năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên

Trên thế giới, các nước đều coi môn LS là một trong những môn học cơ bản trong chương trình giáo dục phổ thông Nước ta trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, môn LS, trước hết là môn quốc

Trang 11

sử, càng giữ vai trò quan trọng trong trang bị kiến thức cơ sở, giáo dục các giá trị truyền thống, góp phần xác lập bản lĩnh con người để thế hệ trẻ cùng với nền tảng giáo dục phổ thông có thể bước vào đời, thực hiện trách nhiệm công

dân đối với xã hội

Nhưng thực tế hiện nay, giáo viên LS ở các trường phổ thông mới chỉ chú ý đến truyền thụ kiến thức trong sách giáo khoa cho HS sao cho đầy đủ nhất mà chưa quan tâm đến nhu cầu tìm hiểu, học tập LS của HS, nên chưa tạo được hứng thú học tập cho HS, dẫn đến việc HS không quan tâm học LS, tâm lý nhàm chán, đối phó trong học LS Nếu không sớm cải cách môn LS ở cấp học phổ thông, khắc phục tình trạng sa sút đến mức báo động như hiện nay thì sẽ tạo ra những hẫng hụt trong kiến thức về LS Việt Nam và thế giới,

để lại những hệ quả rất đáng lo ngại trong kế thừa các giá trị di sản LS và văn hóa dân tộc, trong gìn giữ bản sắc dân tộc, trong định hướng phát triển nhân cách, bản lĩnh con người Việt Nam, nhất là khi giao lưu và đối thoại với các nền văn minh, văn hóa trên thế giới

Yêu cầu và thực tế trên đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương pháp dạy học LS nhằm giúp HS hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của HS, giúp

HS tư duy và nắm được nội dung kiến thức trọng tâm đã học Và một trong những cách thức hữu hiệu giúp người GV có thể đổi mới phương pháp dạy học LS trong nhà trường chính là sử dụng đến kiến thức các môn học khác như Địa lí, Giáo dục Công dân, Văn học… hỗ trợ cho hoạt động dạy học bộ môn trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn

Vậy nên, để góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học nói

chung, dạy học LS nói riêng, chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 – Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm đề tài

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

Trang 12

2 Lịch sử vấn đề

Nâng cao hiệu quả dạy học là mục tiêu của nghiên cứu quá trình dạy học nói chung, dạy học LS nói riêng ở trường phổ thông và những biện pháp nâng cao chất lượng dạy học bộ môn LS đã được các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục lịch sử trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu và đề cập ở nhiều góc độ khác nhau Dưới đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan đến

đề tài của chúng tôi

2.1 Tài liệu nước ngoài

* Tài liệu tâm lý học – giáo dục học

Tác giả I.A Ilinna trong cuốn “Giáo dục học”, tập 2 nhấn mạnh đến vai trò của việc lĩnh hội toàn diện kiến thức và đề ra một số phương pháp giúp

HS nắm vững kiến thức như sử dụng phương pháp làm việc với SGK, luyện tập, ôn tập…

N.V.SaVin trong cuốn “Giáo dục học”, tập 1 đề cập nội dung dạy học và hình thức tổ chức dạy học Tác giả cho rằng việc tổ chức các hoạt động học tập dưới sự điều khiển, hướng dẫn, tổng kết, đánh giá của GV có tác dụng phát huy tính tích cực, sự sáng tạo của HS trong việc lĩnh hội toàn diện tri thức

M.A Đanilốp và M.N Xcatkin trong cuốn “Lí luận dạy học của nhà trường phổ thông” đã đề cập đến bài học, cấu trúc bài học và một số biện pháp hình thành những kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí nhớ học sinh, nếu làm tốt những kĩ năng đó bài học sẽ đạt được hiệu quả tốt

I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh

như thế nào?” đã khẳng định vai trò của “Vấn đề sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập trong dạy học lịch sử là bổ ích đáng học hỏi” [18, tr.37] Tác giả cũng đã chỉ rõ: “Việc giáo viên có khả năng tìm được mối liên hệ giữa các vấn đề mà các nhà bác học đã nghiên cứu với điều mà các em đã học ở nhà trường thuộc môn học nào đó cũng gây cho học sinh niềm hứng thú đặc biệt đối với việc học tập tài liệu mới… Tài liệu học tập tự nó đã chứa đựng nhiều

Trang 13

yếu tố kích thích, động viên tính ham hiểu biết và tính tích cực tư duy của học sinh” [18, tr 88]

* Tài liệu giáo dục lịch sử

A.A Vaghin – nhà nghiên cứu phương pháp dạy học của Liên Xô trước đây – trong giáo trình “Phương pháp giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông”

đã chỉ rõ vai trò, ý nghĩa, phương pháp sử dụng các nguồn tài liệu LS trong

giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông Tác giả viết: “Tài liệu kiến thức lịch sử chiếm một vị trí quan trọng trong khóa trình lịch sử ở trường phổ thông Việc lĩnh hội tài liệu ấy là điều kiện cần thiết…Dựa vào tài liệu đó, trước hết chúng ta phải nêu rõ cho học sinh thấy những quy luật khách quan cơ bản của việc phát triển lịch sử” [46, tr.19]

I.Ia.Lecne, nhà giáo dục Liên Xô trong cuốn “Phát triển tư duy của học sinh trong dạy học lịch sử” đã đi sâu vào biện pháp phát triển tư duy học sinh trong quá trình học tập LS Theo tác giả, thông qua đó việc phát triển tư duy, kích thích năng lực sáng tạo, tính tích cực nhận thức của học sinh là biện pháp quan trọng để tổ chức dạy học LS Do đó sẽ nâng cao được chất lượng của một giờ học lịch sử nói riêng và quá trình dạy học LS nói chung

Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” của nhóm tác giả Robert J.Marano, Debra J.Pickering, Janne E.Pollock đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng cho quá trình tổ chức dạy học như: việc khích lệ học tập, học tập theo nhóm, lập mục tiêu, gợi ý câu hỏi… Các tác giả khẳng định: dù biện pháp nào đi chăng nữa thì việc quan trọng nhất là GV phải nuôi dưỡng hoạt động học tập đích thực cho người học, kích thích HS tích cực, chủ động tham gia vào quá trình lĩnh hội tri thức

Đặc biệt, N.G Đairi – Tiến sĩ giáo dục Liên Xô trước đây – trong cuốn

“Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?” đã nói: “thầy giáo bắt buộc phải biết

rõ những thành tựu của khoa học lịch sử và của các khoa học giáo dục… phải biết tất cả những hiện tượng quan trọng nhất của đời sống chính trị xã hội và

Trang 14

văn hóa” [11, tr.10] Ông cho rằng để có một giờ học đạt hiệu quả GV bắt

buộc phải biết rõ những thành tựu khoa học LS và các khoa học giáo dục, những vấn đề mà khoa học đang giải quyết, phải biết tất cả những hiện tượng quan trọng nhất của đời sống chính trị xã hội và văn hóa… GV phải biết không ngừng và có hệ thống tất cả mọi nguồn tư liệu muôn hình muôn vẻ: tác phẩm kinh điển, văn kiện của Đảng và Nhà nước, sách chuyên khảo, sách giáo khoa, sách báo tạp chí, tác phẩm hội họa, những cuộc tham quan Từ đó Tiến sĩ nêu lên 14 yêu cầu của một giờ học Lịch sử như: xác định được tính đúng, ý nghĩa của giờ học, có phương tiện dạy học cần thiết, ngôn ngữ chính xác của thầy giáo… Trong đó, tác giả đã khẳng định vai trò tầm quan trọng

của nguồn tài liệu tham khảo để một giờ học LS có “kết quả thiết thực” Tác giả đề nghị giáo viên phải “Vận dụng những nguồn tri thức…vận dụng các nguồn tài liệu muôn hình muôn vẻ…lựa chọn khéo léo, nhằm mục đích làm cho giờ học đem lại sự phong phú về kiến thức, tình cảm, tư duy… vì nó nâng hứng thú đối với môn lịch sử, nó mở rộng kiến thức và điều chủ yếu là nó nâng sự hiểu biết về quá khứ đến một trình độ mới” [11, tr 25] Từ việc nhấn

mạnh vai trò của tài liệu tham khảo, N.G Đairi đã đề xuất phương pháp sử dụng các loại tài liệu tham khảo trong một giờ học cụ thể Và điều này được thể hiện rõ trong sơ đồ dạy học của Đairi

2.2 Tài liệu trong nước

Các nhà khoa học, tâm lí học, giáo dục học, sử học và những nghiên cứu về phương pháp dạy học lịch sử cũng đề cập tới vấn đề nâng cao hiệu quả dạy học ở nhiều khía cạnh khác nhau trong các sách

* Tài liệu tâm lý học – giáo dục học

Nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thăng trong tác phẩm “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm” đề cập khá cụ thể về đặc điểm cơ thể, hoạt động học tập, sự phát triển trí tuệ của lứa tuổi HS THPT

Trang 15

Tác giả Đức Minh trong cuốn “Một số vấn đề tâm lý học sư phạm và lứa tuổi học sinh Việt Nam” đã phân tích khá rõ đặc điểm lứa tuổi HS từ nhi đồng đến cấp III Tác giả phân tích những vấn đề về tâm lý sư phạm của HS cấp III, một số vấn đề về tâm lý học và năng lực của giáo viên Trong đó tác giả cũng đề cập tới sự hình thành và phát triển năng lực tư duy lí luận độc lập, sáng tạo ở học sinh cấp III thể hiện ở: vốn tri thức, năng lực tư duy, lựa chọn phương pháp giải quyết vấn đề một cách logic, nhanh gọn, sáng tạo, ý thức tự học, khả năng tự kiểm tra… Những điều này đều có ảnh hưởng tích cực đến việc nâng cao hiệu quả dạy học ở trường phổ thông

Thái Duy Tuyên trong cuốn: “Những vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” cho rằng việc sử dụng các tư liệu dạy học là vô cùng cần thiết Nó có tác dụng nâng cao hiệu quả bài học, làm phong phú vốn kiến thức cho HS

Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học” - tập 1 đã phân tích và nêu lên cách sử dụng, yêu cầu sử dụng nguồn tài liệu đó như sau: Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học phản ánh bản chất biện chứng của khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau Các ông đã phân tích rõ ý nghĩa của các nguồn tài liệu ngoài SGK và nêu lên cách sử dụng, yêu cầu sử dụng những tài

liệu đó trong dạy học và các bộ môn ở trường phổ thông

* Tài liệu giáo dục lịch sử

Trước hết phải kể đến giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (chủ biên, xuất bản trong các năm 1992, 2001,

2002) Giáo trình cho rằng: “Hiệu quả dạy học lịch sử được xác định không chỉ bằng việc hình thành kiến thức, kết quả giáo dục mà còn bằng việc phát triển tư duy, kĩ năng của học sinh” Ngoài ra, tác giả cũng đã khẳng định vị

trí, ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu tham khảo cũng như cách phân loại và một vài gợi ý về phương pháp sử dụng cho GV khi tiến hành bài học

Trang 16

Trong cuốn “Sơ thảo các phương pháp dạy học lịch sử phổ thông cấp

II, III” của tác giả Lê Khắc Nhãn, Hoàng Triều, Hoàng Trọng Hanh đề cập đến hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử, trong đó các ông đặc biệt chú

ý đến việc lĩnh hội kiến thức: lĩnh hội tri thức lịch sử của học sinh phải đảm bảo ba mặt giáo dục, giáo dưỡng, phát triển

Tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng (chủ biên) trong cuốn “Một

số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử” đã giới thiệu bốn chuyên đề, trong đó có một số bài viết trình bày phương pháp sử dụng tài liệu dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

Cuốn “Hệ thống phương pháp dạy học lịch sử ở các trường phổ thông

cơ sở” của tác giả Trịnh Đình Tùng (chủ biên) xuất bản năm 2005 đã trình

bày: “Các tác phẩm văn học có vị trí, vai trò to lớn trong việc dạy học lịch sử

ở trường phổ thông nói chung…,các tác phẩm văn học bằng hình tượng cụ thể, có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm người đọc, trình bày những nét đặc trưng, điển hình của đời sống xã hội Giữa văn học và khoa học nói chung, Sử học nói riêng có mối quan hệ khăng khít… Sử dụng các tác phẩm văn học sẽ có tác dụng làm cho bài giảng lịch sử thêm sinh động, hấp dẫn, nâng cao hứng thú học tập của học sinh” [45, tr.123] các biện pháp sử dụng

tài liệu văn học trong dạy học LS ở trường phổ thông

Trong giáo trình “Phương pháp dạy học lịch sử” (tập 2), tác giả Trịnh

Trang 17

cuộc trao đổi, thảo luận dưới nhiều hình thức khác nhau; đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học

Ngoài ra, trong các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu giáo dục, nghiên cứu lịch sử, các bài tham gia hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử các nhà phương pháp dạy học lịch sử cũng đã ít nhiều đề cập đến một số biện pháp nâng cao hiệu quả trong dạy học lịch sử như:

PGS TS Trịnh Đình Tùng “Mấy biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục qua một bài học lịch sử” Tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 5/1998

Phan Ngọc Liên, Nguyễn Thị Côi “Những vấn đề trong dạy học lịch sử

ở trường phổ thông hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, tháng 4/1991

PGS TS Trịnh Đình Tùng “Để nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo dục, số 155/2007, tr 23-24

Hoàng Đình Chiến “Về việc sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học lịch sử ở PTTH hiện nay”, Nghiên cứu lịch sử số 3, 1998

Qua các bài viết trên, mỗi tác giả đi sâu vào những vấn đề khác nhau của phương pháp dạy học lịch sử, song đều có liên quan đến phương pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử nói chung và việc gây hứng thú trong dạy học lịch sử nói riêng

Ngoài ra, chúng tôi còn tiếp cận và tham khảo các luận án, luận văn ít nhiều đề cập đến phương pháp sử dụng tài liệu tham khảo trong dạy học LS ở trường phổ thông như: “Sử dụng kiến thức liên môn để gây hứng thú học tập lịch sử Việt Nam từ năm 1930 đến năm 1945 ở trường THPT (chương trình chuẩn)” của Nguyễn Thị Nhung – Luận văn Thạc sĩ, ĐH Giáo Dục “Tạo hứng thú học tập cho học sinh qua các hình thức tổ chức tự học môn Lịch sử lớp 10 trường THPT chuyên Lam Sơn, Thanh Hóa” của Phan Thị Hà – Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

Những công trình nghiên cứu trên, đặc biệt là những công trình của các nhà giáo dục lịch sử là những gợi mở quý giá về mặt lí luận giúp chúng tôi tìm hướng giải quyết các nhiệm vụ của luận văn

Trang 18

Tuy nhiên, những công trình này mới trình bày khái quát về các phương pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông, các biện pháp sử dụng tài liệu nói chung mà chưa có công trình nào đề cập sâu đến phương pháp

sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú học tập cho HS trong dạy học Lịch sử

Việt Nam lớp 11 Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 – Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)” làm hướng nghiên cứu khoa học;

kết hợp với việc tham khảo, kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước để thực hiện nhiệm vụ của đề tài

3 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình sử dụng tài liệu văn học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 – THPT

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu việc sử dụng tài liệu văn học nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh THPT trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 (Chương trình chuẩn) từ năm 1858 đến năm 1918

Luận văn hướng đến sự lựa chọn những nguồn tài liệu văn học cần thiết

và đề xuất hướng sử dụng trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 11 từ năm 1858 đến năm 1918

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề sử dụng tài liệu tham khảo nói chung và tài liệu văn học nói riêng trong dạy học Lịch sử dân tộc

Trang 19

- Khảo sát, đánh giá tình hình thực tiễn việc sử dụng tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông để làm cơ sở giải quyết vấn đề

- Tìm hiểu chương trình, nội dung sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 (phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918) và tài liệu văn học thời kì này để xác định những nội dung văn học nào có thể và cần sử dụng trong dạy học

- Hệ thống hóa và đề xuất những biện pháp sư phạm có tính khả thi nhằm tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm qua bài dạy để từ đó rút ra những kết luận về tính khả thi của việc sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 – Trung học phổ thông (Chương trình chuẩn)

6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Để giải quyết những nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi dựa trên cơ sở:

- Lý luận CN Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục lịch

sử nói riêng

- Lý luận về tâm lí học, giáo dục học, phương pháp dạy học lịch sử của các nhà giáo dục, giáo dục lịch sử

6.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết: Tâm lí giáo dục học, giáo dục Lịch sử, chương trình sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 (Chương trình chuẩn), tài liệu văn học liên quan

- Nghiên cứu thực tiễn:

+ Điều tra việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

+ Thực nghiệm: Soạn - giảng theo dự kiến theo những gì mà luận văn đưa ra để kiểm tra giả thuyết và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh kết quả thực nghiệm để rút

ra kết luận sư phạm

Trang 20

+ Phương pháp thống kê toán học, xử lí số liệu giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

7 Giả thuyết khoa học

Nếu giáo viên vận dụng các biện pháp sử dụng tài liệu văn học mà luận văn đưa ra sẽ góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử ở lớp 11 trường THPT (Chương trình chuẩn)

8 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài

- Nêu lên thực trạng của việc dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay

- Xác định được những tài liệu văn học để sử dụng trong dạy học Lịch

sử Việt Nam lớp 11

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn được cấu trúc thành 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tài liệu văn học

để gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông

Chương 2: Các biện pháp sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 11 Trung học phổ thông Thực nghiệm sư phạm

Trang 21

- Các tác phẩm văn học dân gian;

- Các tác phẩm văn học xuất hiện vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử

và phản ánh sự kiện ấy bằng hình tượng văn học;

- Tiểu thuyết lịch sử, truyện thơ lịch sử, kịch lịch sử;

- Kí sự, hồi kí của các nhân vật lịch sử, nhân chứng lịch sử

1.1.1.2 Mối quan hệ giữa kiến thức văn học với kiến thức lịch sử

Chúng ta đều biết Sử học và Văn học đều có chung đối tượng nghiên cứu là con người, những vấn đề xã hội… Văn học ngợi ca vẻ đẹp của non sông, đất nước, ngợi ca con người mang những phẩm chất tốt đẹp, cao quí cũng như

đả kích, lên án cái xấu thì LS cũng ghi nhận công lao của những con người ấy đồng thời phán xét nghiêm minh những người có tội với dân với nước

Người ta thường nói đến tình trạng “văn sử bất phân” trong văn chương thời xưa, có nghĩa là thời ấy người ta chưa phân biệt rạch ròi văn kinh sử, chính luận, triết luận, báo cáo, hịch… với văn chương như một phạm trù nghệ thuật Thời ấy không phải chưa hình thành các thể văn khác nhau nhưng giữa

Trang 22

chúng chưa có sự phân biệt rành mạch Chẳng hạn Sử kí của Tư Mã Thiên, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi… đều

có tính văn chương, có thể xem như thuộc phạm trù nghệ thuật ngôn từ, thể hiện tư duy tình cảm thẩm mĩ với những hình tượng sinh động (bên cạnh yếu

tố chính luận, triết luận) Ngày nay, những Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến hay Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bản nhật lệnh của

đại tướng Võ Nguyên Giáp hay Văn Tiến Dũng, những bài diễn văn của đồng chí Lê Duẩn hay Trường Chinh có thể là những tác phẩm chính luận xuất sắc, nhưng không nên coi là những áng văn chương nghệ thuật

Người viết văn thời trung đại hiểu văn theo một nghĩa rất rộng bao gồm mọi văn bản ngôn từ, trong đó được coi là cao giá nhất, là văn học thuật (chính luận, triết học, sử học, đạo đức học…) Đấy là văn của các bậc thánh hiền đạo cao đức trọng

Bất cứ một nền văn học nào cũng không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh kinh tế của xã hội mà nó còn phục vụ cho một đường lối chính trị, kinh tế nhất định Khi nghiên cứu một tác phẩm, một tác giả, một trào lưu văn học đều phải nghiên cứu hoàn cảnh LS xã hội mà trong đó đã phát sinh và phát triển thì ta mới hiểu đúng về bản chất của xã hội

Kiến thức văn học không chỉ là tài liệu minh họa cho kiến thức LS, làm cho bài học LS thêm sinh động mà nó còn có tác dụng giáo dưỡng, giáo dục, phát triển, góp phần nâng cao chất lượng dạy học LS

Văn học phản ánh hiện thực đời sống Văn học là tấm gương lớn phản ánh cuộc đời Với những tác phẩm phản ánh trung thực hiện thực khách quan

có tác động rất lớn trong việc mở rộng và nâng cao nhận thức của con người về

xã hội, về con người Do đó tài liệu tham khảo có giá trị đối với dạy học LS

1.1.2 Các loại tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 1.1.2.1 Các tác phẩm văn học dân gian

Văn học dân gian là những sáng tác truyền miệng của các tầng lớp dân chúng, phát sinh từ thời công xã nguyên thủy, phát triển qua các thời kỳ LS đến nay

Trang 23

Văn học dân gian ra đời sớm và rất phong phú, nhiều thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, hò vè… Đây là những tài liệu có giá trị phản ánh những nội dung, sự kiện quan trọng trong LS dân tộc Nếu gạt bỏ những yếu tố thần bí, hoang đường, chúng ta có thể tìm được những yếu tố hiện thực của LS trong văn học dân gian Và qua những câu chuyện cổ tích, thần thoại, hay những áng ca dao, hò vè mà HS được học ở những giờ văn học

sẽ là những tài liệu chân thực giúp các em tạo biểu tượng trong giờ học LS

Ví dụ trong truyện Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thủy Tinh sau khi lược bỏ

những yếu tố thần bí, chúng ta sẽ thấy phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân

ta trong buổi bình minh của LS: vừa dựng nước và vừa giữ nước

Các loại hình văn học dân gian không chỉ góp phần minh họa những sự kiện LS mà còn làm cho bài giảng thêm sinh động, tạo được không khí gần gũi với bối cảnh LS sự kiện đang học Nó phản ánh những hiểu biết về các sự kiện LS

Ví dụ, câu:

“Một nhà sinh đặng ba vua Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài”

Phản ánh tình trạng rối ren của triều đình Huế sau khi Tự Đức chết, ba vua này là Đồng Khánh (sống), Kiến Phúc (chết), Hàm Nghi (chạy ra Sơn Phòng) đều là con của Kiến Thái Vương – em vua Tự Đức Họ là anh em ruột cùng một nhà (cần phân tích rõ từ “thua” thuộc quan điểm của giai cấp nào)

Như vậy, sử dụng tài liệu văn học dân gian, GV có thể tiến hành có kết quả việc giáo dục tư tưởng, đạo đức nói chung, giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng cho HS

1.1.2.2 Các tác phẩm xuất hiện vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử và phản ánh sự kiện ấy bằng hình tượng văn học

Những tác phẩm này ra đời đồng thời với sự kiện LS nên nó sẽ phản ánh hiện thực xã hội lúc bấy giờ một cách chân thực, cụ thể và sinh động GV

Trang 24

sử dụng những tài liệu này sẽ giúp HS dễ dàng tái hiện lại bức tranh quá khứ

mà các em đang học Như V.I Lênin nói về tác phẩm của Tônxtôi là “chiếc gương của cách mạng Nga”

Nói chung, những tác phẩm này ra đời là tấm gương phản ánh đời sống

xã hội, nên khi miêu tả về đời sống xã hội, bối cảnh LS của một sự kiện, một nhân vật, GV có thể sử dụng đoạn tương ứng

Ví dụ, trong dạy học khóa trình LS thế giới trung đại, cận đại có thể sử

dụng một số đoạn trong tác phẩm văn học nổi tiếng, như Hội chợ phù hoa của Tháckơrê; Những người khốn khổ của Víchto Huygô; Vỡ mộng của Bandăc… Trong Vỡ mộng, tác giả sử dụng hình tượng văn học để làm sống lại xã hội tư

sản thế kỉ XIX, trong đó đồng tiền tác oai tác quái, chi phối mọi hoạt động, mọi quan hệ của con người với nhau…

Hay trong khóa trình LS dân tộc, nhất là phần LS đầu thế kỉ XX, giáo

viên có thể sử dụng nhiều tác phẩm văn học có giá trị Tắt đèn của Ngô Tất

Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan… đã miêu tả cuộc sống khổ

cực của người nông dân, có tinh thần đấu tranh chống áp bức thống trị, song

do không có đường lối đấu tranh đúng, nên bị bế tắc

1.1.2.3 Tiểu thuyết lịch sử, truyện lịch sử, kịch lịch sử

Đây là thể loại có vai trò không nhỏ trong việc dạy học LS, vì những tiểu thuyết, truyện lịch sử, kịch lịch sử lấy chủ đề là những sự kiện trong khóa trình LS, giúp HS khôi phục lại bối cảnh LS, hình ảnh các sự kiện, nhân vật của quá khứ Song cần lựa chọn và xác định những tiểu thuyết lịch sử nào đáp ứng những yêu cầu của dạy học LS, tránh những loại tiểu thuyết bịa đặt, ảnh hưởng xấu đến nhận thức LS của HS

Trong thể loại văn học này, LS trở thành một nguồn cảm hứng cho tự

do sáng tác văn chương Nhưng giá trị thẩm mỹ của tác phẩm không nằm ở chân lý LS mà nằm ở chân lý nghệ thuật Tuy nhiên, chân lý nghệ thuật lại chịu sự ràng buộc của chân lý LS Vì vậy, đây là tài liệu tham khảo vô cùng quan trọng trong dạy học LS ở trường phổ thông

Trang 25

Với LS dân tộc có thể khai thác tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái hay tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư, kịch Vũ Như Tô… Những tác phẩm này ra đời vào thời kỳ diễn ra những sự kiện LS đó nên

vừa là tác phẩm văn học, vừa là những tư liệu LS sống động đảm bảo tính chân xác của LS qua lăng kính văn học

1.1.2.4 Kí sự, hồi kí của các nhân vật lịch sử, nhân chứng lịch sử

Kí sự, hồi kí là những tác phẩm của các nhân vật hoặc nhân chứng LS Những người viết hồi kí lịch sử là những người sống trong cuộc, nên những tác phẩm của họ là những tác phẩm của những người trong cuộc, chịu trách nhiệm chính về những diễn biến của chiến tranh Vì vậy, cách viết rất chân thực, diễn tả lại những sự kiện, hành động rất tỉ mỉ của quân và dân trong thời

kỳ chiến tranh Qua đó HS cảm nhận, thấy được, hình dung ra những ngày tháng gian khó, hiểm nguy nhưng oanh liệt của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ

đại của dân tộc Ví dụ: Tác phẩm Đường tới Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp, Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít…

Tài liệu tham khảo trong dạy học LS rất phong phú, đa dạng Để nâng cao hiệu quả dạy học, GV cần có những phương pháp sưu tầm, lựa chọn và khai thác có hiệu quả để giúp HS lĩnh hội hơn nữa kiến thức của khóa trình lịch sử ở trường phổ thông

1.1.3 Đặc điểm của kiến thức Lịch sử ở trường phổ thông

Kiến thức LS khác với kiến thức của các môn học khác Kiến thức LS

có những đặc điểm nổi bật, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”

1.1.3.1 Kiến thức lịch sử mang tính quá khứ

Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người và

xã hội hình thành đến nay Tất cả những sự kiện và hiện tượng LS được chúng ta nhắc đến đều là những chuyện vừa xảy ra, nó mang tính quá khứ Đây là điều khác biệt giữa hiện tượng LS với những hiện tượng tự nhiên Bởi

Trang 26

vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được LS quá khứ và chỉ nhận được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu lưu lại, hoặc giả, dựa vào các hiện tượng LS tương tự của cái mới, của các dân tộc khác để phân tích, suy nghĩ những vấn đề LS chúng ta đang nghiên cứu; dùng các loại tài liệu này để tham khảo chứ không thể thay thế hiện tượng LS khách quan mà chúng ta nghiên cứu Và như vậy, trong việc giảng dạy LS có những khó khăn nhất định, song xét từ góc độ khác, nó cũng mang lại cho việc giảng dạy LS những

ưu điểm mà các bộ môn khác không thể có được, chẳng hạn nó rất có ích trong việc chúng ta bồi dưỡng và phát triển trí tưởng tượng của học sinh

1.1.3.2 Kiến thức lịch sử mang tính không lặp lại

Kiến thức LS nhìn chung mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian Mỗi sự kiện, hiện tượng LS chỉ xảy ra trong một thời gian và không gian nhất định Điều này đòi hỏi các GV khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó phải khắc sâu những đặc điểm của sự kiện, hiện tượng cụ thể để HS không bị nhầm lẫn giữa sự kiện này với sự kiện khác

Trang 27

1.1.3.4 Kiến thức lịch sử mang tính hệ thống (tính logic lịch sử)

Khoa học lịch sử vừa bao gồm các sự kiện hiện tượng về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, vừa bao gồm cả nội dung của kiến trúc thượng tầng, tình hình sản xuất cả quan hệ sản xuất… Nội dung tri thức LS như vậy rất phong phú, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội loài người, bao gồm cả chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, v.v…Sách giáo khoa LS ở trường phổ thông tuy giản lược song cũng phải bao quát được các mặt đó Những nội dung tri thức LS đó lại có mối liên hệ nội tại chằng chịt, phức tạp Điều này đòi hỏi giáo viên phải luôn luôn chú ý đến mối quan

hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề LS, cũng như mối quan hệ ngang, nội tại giữa các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa để cung cấp cho học sinh những tri thức LS khoa học mang tính hệ thống và hoàn chỉnh

1.1.3.5 Tính thống nhất giữa “sử” và “luận”

Sử học là một ngành của khoa học xã hội Nó xuất hiện từ rất sớm Từ trước đến nay, nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên thế giới đã xuất hiện nhiều sử gia nổi tiếng Họ đã ghi chép lại nhiều sự kiện LS và hiện tượng LS mà họ cho rằng có ý nghĩa quan trọng, nhằm để lại cho hậu thế những trước tác lịch sử quý báu Họ đã tích lũy được những tư liệu LS phong phú và cũng trình bày những quan điểm tư tưởng về sử học và phương pháp giải quyết những vấn đề LS Những ghi chép về quá trình phát triển xã hội loài người từ những góc độ khác nhau đó đều là những nội dung quan trọng của di sản văn hóa nhân loại Thế nhưng, lý luận LS cũng như quan điểm LS trước khi có chủ nghĩa Mác, về cơ bản đều xuất phát từ lập trường bảo vệ lợi ích của giai cấp bóc lột Phải tới C Mác và Ph Enghen, khoa học LS mới trở thành một khoa học chân chính

Vì vậy, việc nghiên cứu, dạy học Lịch sử cần dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa Mác Mọi giải thích, bình luận đều phải xuất phát từ sự kiện LS

cụ thể chính xác, đáng tin cậy và không có sự kiện, hiện tượng nào không được giải thích làm sáng tỏ bản chất của sự kiện hiện tượng đó

Trang 28

1.1.4 Vấn đề hứng thú học tập Lịch sử của học sinh ở trường THPT

1.1.4.1 Quan niệm về hứng thú

Hứng thú là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học và trong đời sống xã hội con người Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hứng thú là sự ham thích, cảm thấy có hứng thú, hào hứng” [47, tr 457]

Trong tâm lý học, có nhiều quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào

đó vừa có ý nghĩa trong cuộc sống, vừa có khả năng mang lại cho nó một khoái cảm Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo làm tăng sức làm việc

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú và tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy học nói chung và dạy học LS nói riêng Chúng ta có thể điểm qua các công trình như sau:

A.A Liublinxkaia định nghĩa: “Hứng thú là thái độ nhận thức của con người đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh vực nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn” [28, tr 28]

A.G Côvaliôp trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” tập I đưa khái niệm:

“Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó” [8, tr 228]

Còn Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học

sinh như thế nào”, tập II đã chỉ ra: “Hứng thú là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính hấp dẫn” [18, tr.28]

G.I.Sukia trong cuốn “Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục” tập I đã đưa ra nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu về hứng thú như sau:

- S I Buile đã viết: “Hứng thú là một kết cấu bao gồm nhiều nhu cầu”

Hứng thú biểu hiện ra như là khuynh hướng lựa chọn của con người, của chú

ý, ý định con người (X.L Rubinxtêin) [40, tr 6]

Trang 29

- Hứng thú là biểu hiện của tính tích cực hoạt động trí óc và tình cảm (X.L Rubinxtêin) [40, tr.6]

- Hứng thú là động lực của những cảm xúc khác nhau (D.Phrêiet) [40, tr.6]

- Hứng thú đó là sự kết hợp độc đáo các quá trình tình cảm – ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao (L.A Đôđôn) [40, tr.6]

- Hứng thú là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tượng, ý thức được

ý nghĩa và sự hấp dẫn của đối tượng gây ra (A.G Kôvalep)

- Hứng thú là thái độ nhận thức tích cực của con người đối với thế giới (N.G Môrôrôp) [40, tr.6]

G.I Sukina cho rằng hứng thú biểu hiện ra trước chúng ta như là:

Xu hướng lựa chọn các quá trình tâm lí con người nhằm vào các đối tượng và hiện tượng của thế giới xung quanh

Xu thế nguyện vọng, nhu cầu của cá nhân muốn hiểu được một lĩnh vực, hiện tượng cụ thể, một hoạt động xác định mang lại sự thỏa mãn cho cá nhân

Nguồn kích thích mạnh mẽ tới tính tích cực cá nhân do ảnh hưởng của nguồn kích thích này mà tất cả các quá trình tâm lí diễn ra khẩn trương, căng thẳng, còn hoạt động trở nên say mê và đem lại hiệu quả

Và cuối cùng là thái độ lựa chọn đặc biệt (không thờ ơ, bàng quan mà tràn đầy những ý định tích cực, một cảm xúc trong sáng, ý chí tập trung) đối với ngoại giới, đối với các đối tượng, hiện tượng, quá trình

Theo L.X Xlôvâytrich trong cuốn “Từ hứng thú đến tài năng” cũng

đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về hứng thú: “Các năng khiếu khác nhau của con người giống như các phím của một chiếc đàn ống, còn hứng thú là ngón tay của nhạc công Hứng thú tạo nên giai điệu!” [48, tr.71]

Theo Phạm Minh Hạc trong cuốn “Tâm lý học”, tập I: Khi ta có hứng

thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức, ta tìm hiểu rõ ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta còn xuất hiện một cảm

Trang 30

tính đặc biệt với nó Do đó, hứng thú lôi cuốn, hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó, tạo ra tâm lý khát khao, tiếp cận và đi sâu vào nó Muốn cho một hứng thú tồn tại phải có hai điểm: cái gây ra hứng thú phải đem cá nhân ý thức, hiểu rõ ý nghĩa của nó đối với đời sống riêng của mình và cái đó phải gây ra ở cá nhân một cảm tính đặc biệt

Từ những quan niệm trên, chúng ta thấy hứng thú là một trạng thái phức tạp phản ánh nhiều giai đoạn đơn lẻ tới tổ hợp nhiều quá trình tâm lý của con người như nhu cầu, cảm xúc… Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống, vừa có khả năng mang lại cho nó một khoái cảm Hứng thú làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động sáng tạo tăng sức làm việc

Hứng thú luôn có khuynh hướng, đối tượng nhất định Hứng thú thật muôn màu muôn vẻ cũng như hoạt động đa dạng của con người Căn cứ vào

nội dung và chiều hướng, hứng thú có thể chia thành nhiều loại: “Hứng thú vật chất, chính trị, xã hội, lao động, nghề nghiệp, nhận thức, thẩm mỹ, thể thao…” [8, tr.230]

Trong các loại hứng thú trên, hứng thú nhận thức là một loại hứng thú đặc biệt và có một vị trí quan trọng của con người

“Hứng thú nhận thức là sự định hướng có lựa chọn của cá nhân vào sự vật, hiện tượng thực tế xung quanh Sự định hướng đó được đặc trưng bởi sự vươn lên thường trực tới nhận thức, tới các kiến thức mới ngày càng đầy đủ

và sâu sắc hơn Hứng thú nhận thức có liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt động nhận thức Hứng thú có thể rất rộng, tràn lan, phân tán nhằm thu lượm thông tin nói chung hoặc nhận biết các mặt mới của đối tượng hoặc đi sâu vào một lĩnh vực nhận thức nhất định, vào cơ sở lý luận của nó, vào những mối quan hệ và quy luật quan trọng của nó” [40, tr.11]

Xlôvâytrich trong cuốn “Từ hứng thú đến tài năng” có đề cập: “Hứng thú giống như một chú gà con sắp nở Nó phải từ bên trong mổ thủng vỏ

Trang 31

trứng ngăn cách nó với thế giới để thò mỏ ra ngoài trở thành một chú gà thực

sự, tìm mồi và lớn dần thành một sinh vật to nặng…Giống như chú gà con, hứng thú có thể tự mổ vỏ chui ra, nhưng thường thường nó yếu ớt tới mức không đủ sức phá vỡ vỏ nên bị ngạt trong đó Cần có một người hay một vật nào đó gõ cửa đón nó, từ bên ngoài mổ thủng vỏ bọc, giúp nó thò mỏ ra ngoài

để thở, và cái chính là thò mỏ ra ở một điểm nhất định trên vỏ trứng Hứng thú nảy sinh ảnh hưởng dưới các nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài – khi các nguyên nhân đó gặp nhau” [48, tr.78]

Như vậy, hứng thú là một trạng thái phức tạp phản ánh những giai đoạn

từ đơn lẻ đến tổ hợp nhiều quá trình tâm lý của con người Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong cuộc sống, lại vừa có khả năng mang lại cho nó một khoái cảm

1.1.4.2 Quan niệm về hứng thú học tập

Hứng thú học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của HS đối với môn học,

có ý nghĩa với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm cho học sinh trong quá trình học tập Hứng thú học tập được hình thành, duy trì và củng cố

ở HS rồi dần dần sẽ trở thành yếu tố bản chất ở bên trong của HS Điều đó sẽ thúc đẩy quá trình tự tìm tòi, sáng tạo của các em trong bất cứ môn học nào

Do đó, hứng thú học tập có ảnh hưởng đến phản ứng của trí tuệ và tình cảm của học sinh đối với các hiện tượng xung quanh Từ đó các em sẽ thỏa mãn, vui thích tìm hiểu những điều mới Để gây hứng thú học tập cho HS cần phải

có sự tác động đến nhận thức của các em, làm kích thích và duy trì thái độ học tập, giúp các em có ý muốn đi sâu tìm hiểu khoa học

Để hình thành hứng thú học tập cho HS còn phải phụ thuộc rất nhiều yếu tố trong quá trình dạy học Bản thân nội dung học tập cũng là nguồn quan trọng để phát huy hứng thú học tập cho HS Như vậy, hứng thú học tập của

HS được nảy sinh và phát triển dưới sự chỉ đạo của GV, có sự kết hợp hoạt động của tập thể và sự cố gắng của chính bản thân từng HS

Trang 32

Theo hai nhà nghiên cứu người Nga A.K Marcôva và V.V Kepkin hứng thú học tập và hứng thú nhận thức có những dấu hiệu khác nhau Tuy nhiên việc tách rời giữa hứng thú học tập và hứng thú nhận thức là chưa thỏa đáng

Từ khái niệm hứng thú ta rút ra định nghĩa hứng thú học tập: Hứng thú học tập chính là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đối tượng của hoạt động học tập,vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiết thực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân Hay nói cách khác: Hứng thú học tập là loại hứng thú gắn với môn học trong nhà trường, nó là thái độ đặc biệt của học sinh với môn học mà học sinh thấy có ý nghĩa và có khả năng đem lại khoái cảm học tập của bộ môn

Hứng thú học tập không xuất hiện một cách ngẫu nhiên mà nó được hình thành và diễn ra trong suốt quá trình dạy của GV và học của HS GV phải là người khơi dậy được hứng thú cho HS bằng nội dung bài học và vận dụng phương pháp phù hợp tạo ra hứng thú học tập cho HS

1.1.4.3 Quan niệm về hứng thú học tập lịch sử

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong quá trình phát triển của mình đã xây dựng nên một nền văn hóa riêng phong phú và đa dạng Tri thức LS là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc và văn minh nhân loại Để gìn giữ, duy trì

và phát huy hàng ngàn năm LS đó, ngay từ buổi đầu dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã nhận thấy sự cần thiết phải giáo dục cho các thế hệ những hiểu biết, những kinh nghiệm LS để phục vụ cho hoạt động thực tiễn Từ rất sớm, giáo dục LS đã được tiến hành thông qua những bài dân ca, những câu chuyện

cổ tích, những truyền thuyết LS…Đến thời phong kiến giáo dục LS được coi

là “ôn cố nhi tri tân” Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục phổ thông phải đào tạo những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do đó, bất cứ môn học nào ở trường phổ thông cũng đều phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ, trong đó có môn LS

Trang 33

Tri thức LS giúp chúng ta hiểu biết toàn bộ sự phát triển về mọi mặt của xã hội loài người, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, khắc phục những thiếu sót, sai lầm để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đối tượng nghiên cứu của LS là quá trình phát triển của xã hội loài người, nó mang tính quá khứ, tính cụ thể, không lặp lại và tính thống nhất giữa sử và luận Nó tồn tại một cách khách quan, không lặp lại, không thể tái hiện nguyên xi như nó

đã xảy ra, độc lập với ý muốn của con người Học LS, HS không thể “trực quan sinh động” được các sự kiện, cũng không thể tái hiện được trong phòng thí nghiệm, mà học sinh chỉ có thể học qua sách vở, qua các tài liệu thành văn

và các tài liệu hiện vật như di tích lịch sử, cổ vật Vì vậy, khi giảng dạy LS,

GV không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức LS cơ bản mà trên cơ sở sự kiện, hiện tượng LS hình thành cho học sinh biểu tượng LS, nêu khái niệm, quy luật và rút ra bài học LS cùng ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng đó Do

đó, nhiệm vụ của của bộ môn LS cũng như nhiệm vụ của GV lịch sử trước tiên là phải cung cấp, khắc sâu cho HS những kiến thức LS cơ bản, cần thiết

về LS thế giới và LS dân tộc, những sự kiện, những tri thức về quy luật xã hội, những kinh nghiệm của cuộc sống và bài học LS Từ đó giáo dục đạo đức, niềm tin lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho HS Đồng thời bồi dưỡng các kĩ năng, tư duy hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong xã hội nhằm góp phần phát triển toàn diện cho HS Đây là cơ sở để giúp HS hiểu được quá khứ, vận dụng trong hiện tại và đoán định tương lai

Xuất phát từ đặc điểm cũng như mục tiêu của bộ môn LS ở trường phổ thông, đặt ra một yêu cầu là phải dạy và học tốt môn LS Muốn học tốt môn

LS trước hết nhiệm vụ của người GV là phải kích thích được hứng thú học tập

LS cho HS trong quá trình dạy học ở trường phổ thông Để gây hứng thú học tập LS cho HS, trong quá trình giảng dạy, GV phải lôi cuốn các em vào bài

học Nhà tâm lý học V.G Ivannôp đã khẳng định: “vai trò quyết định để hứng thú nảy sinh là mối quan hệ thầy - trò”

Trang 34

Erôphlêep cho rằng: Tri thức LS là một trong những bộ phận quan trọng nhất của nền văn hóa chung của nhân loại và nếu thiếu bộ phận quan trọng này thì không thể coi việc giáo dục con người đã hoàn thành đầy đủ Sức mạnh của tri thức LS không chỉ giới hạn ở việc giúp HS có biểu tượng đầy đủ, chính xác về một quá khứ mà các em sống, không trực tiếp quan sát

mà còn làm cho người học có ý thức xã hội, suy nghĩ cảm thụ những gì đã xảy ra để có trách nhiệm với hiện tại và tương lai Hứng thú học tập LS của

HS còn được biểu hiện trước hết ở sự tập trung, chú ý của HS vào đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu, biểu hiện ở tính tích cực tư duy của HS Đồng thời, hứng thú học tập LS còn được biểu hiện ở việc hình thành động cơ học tập của HS

Hứng thú đóng một vai trò quan trọng trong học tập cũng như trong các hoạt động của con người Khẳng định vai trò quan trọng của hứng thú, nhà duy

vật Pháp, K Henvêtuyt đã viết: “Có việc gì ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú” [48, tr.70] Hứng thú không chỉ giúp học sinh học tập một cách

tích cực, thu được kết quả học tập tốt sẽ trở thành động lực để tiếp tục duy trì

và phát triển hứng thú Trong quá trình nhận thức của con người, hứng thú đóng vai trò là động lực mạnh nhất thúc đẩy hoạt động học của học sinh Khi

đã có hứng thú thì con người hướng toàn bộ quá trình nhận thức vào đối tượng

khiến cho quá trình đó nhạy bén và sâu sắc hơn “Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, hứng thú sâu sắc tạo ra nhu cầu gay gắt của cá nhân, cá nhân cần thấy phải hành động để thỏa mãn hứng thú” [50, tr 21]

Trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt thông dụng” của tác giả Nguyễn Như

Ý chủ biên có đưa ra khái niệm như sau: “Hứng thú học tập lịch sử là một thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử

cụ thể” [49, tr.16]

Như vậy, hứng thú học tập có vai trò quan trọng trong cuộc sống, trong học tập nói chung và học tập môn lịch sử nói riêng Nhưng tạo hứng thú học

Trang 35

tập lịch sử như thế nào lại không phải là chuyện dễ dàng, nhưng sẽ không quá khó khăn đối với những GV tâm huyết với nghề Bên cạnh đó HS cũng phải

có nhu cầu, tính ham hiểu biết, sự nỗ lực học tập mới có thể hình thành tư duy một cách bền vững Để học tốt các môn học nói chung và môn lịch sử nói riêng, HS cần có tình cảm với môn học, có nhu cầu học tập Khi đã hứng thú với môn học, các em sẽ tích cực và say mê nghiên cứu để lĩnh hội kiến thức

Và khi đã đạt được những thành công trong học tập, các em thấy mình được thỏa mãn, và thấy có hứng thú để học Như vậy, hứng thú sẽ quyết định thành công và ngược lại, thành công sẽ là động lực để tạo hứng thú

Qua đó chúng ta càng thấy được sự cần thiết phải bồi dưỡng hứng thú học tập LS cho HS Đây cũng là mục đích cần đạt của giáo viên trong giảng dạy Bài học đạt được hiệu quả hay không nhờ vào tính tích cực, chủ động nhận thức của HS và muốn phát huy điều đó thì phải gây được hứng thú học tập cho các em

1.1.5 Vai trò tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học Lịch sử

Lịch sử quá khứ bao trùm nhiều mặt của đời sống xã hội, vì vậy khi nghiên cứu và dạy học LS cần phải sử dụng nhiều loại tài liệu khác nhau, phải chọn lựa những tài liệu sự kiện cần thiết cho việc phân tích, khái quát Đó là những tài liệu tương đối chính xác và cùng một loại

Mỗi loại tài liệu có những vị trí và vai trò nhất định đối với bài học Tài liệu văn học cũng như vậy, nó góp phần vào việc cung cấp kiến thức LS cho

HS, giúp HS hiểu sâu kiến thức cơ bản Qua đó góp phần phát triển kĩ năng,

tư duy độc lập, sáng tạo, bồi dưỡng đạo đức, tư tưởng, óc thẩm mỹ, lòng yêu quý, gắn bó và nghĩa vụ của các em đối với quê hương đất nước

1.1.5.1 Về mặt kiến thức

Bồi dưỡng nhận thức: Tài liệu văn học có ý nghĩa lớn đối với HS về mặt bồi dưỡng kiến thức Cụ thể hóa kiến thức LS trong sách giáo khoa bằng

Trang 36

những kiến thức LS tiêu biểu và những bước phát triển chủ yếu, những chuyển biến quan trọng của LS dân tộc (1858 - 1918) Các em biết về LS dân tộc không chỉ thông qua một kênh học là sách giáo khoa LS chỉ cung cấp những kiến thức cô đọng, ổn định, chính xác, được khoa học lịch sử xác nhận

Mà qua tài liệu văn học, sẽ giúp các em có cái nhìn đa chiều, phong phú, nhiều màu sắc “văn chương” hơn Từ đây, các em sẽ thấy kiến thức LS không khô khan, cộc lốc, mà rất mềm mại nhưng sâu sắc, chính xác, nhiều chiều

Kiến thức LS là những kiến thức thuộc về quá khứ, nó không tái diễn lại lần hai để HS có thể quan sát, tri giác được Vì vậy yêu cầu đặt ra cho GV

là phải tạo được biểu tượng chân thực, chính xác để kích thích hứng thú học tập của HS Vì vậy, sử dụng tài liệu văn học cần phải bám sát nội dung bài học, khôi phục được hình ảnh quá khứ, từ đó hình thành cho các em biểu tượng chân thực, giúp HS nhớ lâu, hiểu sâu sự kiện liên quan đến bài học LS với đầy đủ góc độ, khía cạnh khác nhau

Ví dụ khi dạy bài 19: Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỉ X – XV (lớp 10), giảng về phong trào đấu tranh chống quân xâm lược

Minh và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giáo viên không thể không nhắc tới tác

phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi với những áng thơ hào hùng diễn tả

sức mạnh như vũ bão của quân ta:

“Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông Cơn gió to trút sạch lá khô

Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ”

Hay khi dạy bài 23: Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỉ XVIII (lớp 10), GV giúp HS phục dựng lại

hình ảnh thảm hại của quân tướng nhà Thanh bằng những đoạn văn miêu tả

sinh động trong tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái:

“Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết

Trang 37

Tên thái thú Điền Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thây nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại”

1.1.5.2 Về mặt thái độ tình cảm

Trong đời sống xã hội hiện nay, việc giáo dục thế hệ trẻ thông qua giáo dục LS không chỉ có tác dụng về trí lực mà cả về tư tưởng, đạo đức, thẩm mĩ Dạy học LS không chỉ cung cấp tài liệu, sự kiện mà thông qua sự hiểu biết LS

để dạy người Sử dụng tài liệu văn học ngoài việc giúp HS có biểu tượng chính xác, sinh động về sự kiện, hiện tượng để hiểu cụ thể sâu sắc bản chất của chúng thì nó còn khơi dậy cho các em những trạng thái cảm xúc Điều này tạo cơ sở giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức một cách đúng đắn cho các em

Thông qua các tài liệu văn học, GV định hướng lập trường tư tưởng chính trị cho HS để các em nhận thức được chính nghĩa, phi nghĩa Khi giảng phần

phong trào Đồng Khởi (1959 - 1960) ở lớp 12, GV nói về chính sách “Tố cộng”,

“Diệt cộng” của Mĩ – Diệm, đặc biệt là đạo luật phát xít 10/59 nhằm khủng bố

công khai cách mạng miền Nam bằng những hành động dã man GV có thể dẫn

ra một đoạn trong bài Lá thư Bến Tre của nhà thơ Tố Hữu:

“Biết không anh? Giồng Keo, Giồng Trôm Thảm lắm anh à! lũ ác ôn

Giết cả trăm người trong một sáng Máu tươi lênh láng đổ đường thôn

Có những ông già, nó khảo tra Chẳng khai, nó chém giữa sân nhà

Có chị gần sinh, không chịu nhục Lấy vồ nó đập, vọt thai ra!”

Sử dụng tài liệu văn học còn có khả năng giáo dục thẩm mĩ cho HS, phát triển tình cảm của con người, tạo nên sự lớn mạnh, phong phú về tâm hồn của con người, tổ chức điều khiển hành vi ứng xử của con người theo tiêu

Trang 38

chuẩn cái đẹp Trong khóa trình dạy học lịch sử 12 giai đoạn chống thực dân Pháp 1951 – 1953, GV giới thiệu những tấm gương Cù Chính Lan, La Văn Cầu, Nguyễn Quốc Trị, Nguyễn Thị Chiên, Trần Đại Nghĩa đã có công lao trong kháng chiến chống thực dân Pháp nhằm giáo dục lòng yêu nước cho học sinh với những tấm gương không chỉ trong chiến đấu mà cả trong lao động sản xuất

Sử dụng tài liệu văn học theo hướng phát huy tính tích cực của HS giúp các em làm việc với nhiều nguồn tài liệu Khi các em làm việc nhiều với nguồn tài liệu sẽ rèn luyện được tính cần cù, hăng say nghiên cứu Hạn chế thói ỷ lại, trông chờ, thụ động và rèn luyện tính chủ động làm việc trong mọi hoàn cảnh Qua những tấm gương anh hùng trong chiến đấu, trong lao động không ngại khó khăn gian khổ ở những trang sách sẽ góp phần giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, biết tôn trọng thành quả lao động mà cha ông đi trước đã để lại Có ý thức trong hành động và công tác xã hội của mình

1.1.5.3 Về kĩ năng

- Năng lực nhận thức: Phát triển các thao tác tư duy cho HS như quan sát, tri giác, vận động trí tưởng tượng, nhận xét, đánh giá khách quan, tư duy lô-gíc, tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, tìm ra qui luật, rút ta bài học LS Nhận thức LS đúng là một yếu tố quan trọng để hành động có hiệu quả trong

hiện tại Ph Enghen đã nói: “Lịch sử bắt đầu từ đâu thì quá trình tư duy cũng bắt đầu từ đấy” [29, tr.304] Vì vậy, khi học LS, HS không chỉ dừng ở việc

ghi nhớ sự kiện, mà điều quan trọng là trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ bản của chương trình, sách giáo khoa, hiểu được bản chất của sự kiện, quá trình lịch sử, rút ra quy luật, bài học, kinh nghiệm của quá khứ với hiện tại

- Kĩ năng phân tích, phán đoán, so sánh, đối chiếu để hiểu được bản chất của vấn đề lịch sử một cách sâu sắc Ví dụ khi học lịch sử lớp 11, bài 23:

Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914), mục 1 và 2, GV cung cấp một số tài liệu văn

Trang 39

học và yêu cầu HS về nhà tìm hiểu trước những tác phẩm: Xuất dương lưu biệt, Hải ngoại huyết thư, Tỉnh quốc hồn ca I để rút ra kết luận về phong trào

yêu nước theo khuynh hướng mới của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh

- Giúp HS nhận thức đúng đắn tri thức LS, bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm vững qui luật và sự vận động của LS, có cái nhìn biện chứng về các vấn đề LS quá khứ, hiện tại, tương lai Ngoài ra sử dụng tài liệu văn học còn giúp HS tạo được thói quen đọc sách, đánh dấu và ghi nhớ tài liệu, kĩ năng diễn đạt, lối hành văn… kĩ năng này hình thành lòng say mê, thói quen

tự học, phát triển ngôn ngữ trong giao tiếp cho HS

Như vậy, tài liệu văn học là một nguồn cung cấp kiến thức, là phương tiện cần thiết đối với GV và HS trong dạy học lịch sử Cùng với sách giáo khoa, tài liệu văn học góp phần không nhỏ vào việc tiếp thu kiến thức LS, giáo dục và phát triển HS

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

Khi loài người tiến những bước lớn về khoa học – kĩ thuật để bước sang một tương lai rực rỡ thì không hề mất đi nhu cầu và hứng thú hiểu biết

về quá khứ Hơn 60 năm trước (tháng 2/1941) khi về nước trực tiếp lãnh đạo

cách mạng Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã viết quyển Lịch sử nước ta để vận

động, giáo dục quần chúng đấu tranh Mở đầu sách, Người khẳng định:

“Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”

Phải biết “tường” (hiểu cặn kẽ) LS quá khứ, phục vụ cho cuộc đấu

tranh cách mạng hiện nay là nguyên tắc phương pháp luận sử học “biết xưa để hiểu nay”, là nguyên tắc sư phạm trong dạy học LS

Trong hơn nửa thế kỉ qua, kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, việc giáo dục LS ở trường phổ thông đã được thực hiện đúng đắn, sáng tạo những nguyên tắc phương pháp luận sử học và phương pháp dạy học mácxit –

Trang 40

lêninnit Do đó đã góp phần đào tạo thế hệ trẻ làm nên những chiến công lẫy lừng trong lao động, chiến đấu…

Tuy nhiên, những yếu kém của giáo dục, đặc biệt trong những năm gần đây, cũng bộc lộ khá rõ trong dạy học LS ở trường phổ thông Biểu hiện nổi bật của việc giảm sút chất lượng bộ môn là tình trạng coi thường, nhớ nhầm

sự kiện, không hiểu LS, không vận dụng bài học, kinh nghiệm quá khứ vào rèn luyện đạo đức, phẩm chất, quan điểm tư tưởng Nguyên nhân tình trạng này có nhiều: quan niệm không đúng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ môn LS trong đào tạo thế hệ trẻ; tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đến giáo dục; những thiếu sót trong công tác đào tạo, bồi dưỡng GV trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tư tưởng… Một trong nhiều nguyên nhân chủ yếu đó là sự lạc hậu, bảo thủ về phương pháp dạy học LS

Hiện nay ở các trường phổ thông có một suy nghĩ chung của HS là coi

LS là môn học phụ Chính bởi suy nghĩ này qui định lối học, phương pháp học môn LS của các em Các em chưa xác định được động cơ học tập, học như thế nào? Học cho ai? Học để làm gì? Vì thế, các em chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của người HS HS chưa xác định nội dung của bài học, tiếp thu bài một cách máy móc, học chỉ mang tính đối phó, học vẹt, học để lấy điểm xong là thôi

Bản chất môn LS có tính giáo dục đạo đức rất lớn, nhưng dường như sau mỗi giờ học các em không rút ra bài học LS cho bản thân mình Đáp lại thái độ thờ ơ học tập của HS, thì bản thân các thầy cô cũng chưa nhiệt huyết, say mê với nghề Có một thực trạng hiện nay diễn ra theo các chiều hướng sau đây:

Một là, nếu GV không có người dự, không phải đợt thi, hay hội giảng

thì giáo viên dạy theo kiểu tùy hứng, nội dung nào thuộc sở trường thế mạnh của mình thì giáo viên phô diễn kiến thức, tư liệu, phim ảnh, máy chiếu… mua vui cho HS không đi vào kiến thức cơ bản, kiến thức trọng tâm, đặc biệt

là chuẩn kiến thức, chuẩn kĩ năng và hướng thái độ

Ngày đăng: 17/09/2015, 07:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Số liệu khảo sát thực trạng sử dụng tài liệu văn học trong - Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.1. Số liệu khảo sát thực trạng sử dụng tài liệu văn học trong (Trang 42)
Bảng 1.3. Số liệu khảo sát thực tiễn hứng thú học tập LS của - Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.3. Số liệu khảo sát thực tiễn hứng thú học tập LS của (Trang 45)
Bảng 1.4. Mức độ hứng thú học tập LS của học sinh ở trường THPT - Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 1.4. Mức độ hứng thú học tập LS của học sinh ở trường THPT (Trang 45)
Bảng 2.1. Bảng thống kê điểm số kết quả thực nghiệm - Sử dụng tài liệu văn học để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử việt nam lớp 11 trung học phổ thông
Bảng 2.1. Bảng thống kê điểm số kết quả thực nghiệm (Trang 96)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w