ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤCĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤCĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤCĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤCĐỀ ÁN ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC
Trang 1MỤC LỤC
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐỀ ÁN 1
Phần thứ nhất: SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 3
Phần thứ hai: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM 4
I Những thành tựu, kết quả 4
II Những hạn chế, yếu kém 8
III Nguyên nhân của những thành tựu và những hạn chế, yếu kém 11
1 Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu, kết quả 11
2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém 12
Phần thứ ba: ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 13
I Bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo 13
1 Thuận lợi 14
2 Khó khăn và thách thức 14
II Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo 15
III Mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 16
1 Mục tiêu tổng quát 16
2 Mục tiêu cụ thể 16
IV Nhiệm vụ và giải pháp 18
1 Đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc tư duy giáo dục, tăng cường vai trò của Đảng và Nhà nước đối với quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo 18
2 Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục) theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học 18
3 Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm trung thực, khách quan, chính xác, theo yêu cầu phát triển năng lực, phẩm chất người học 20
4 Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập 20
5 Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đảm bảo dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục; coi trọng quản lý chất lượng 21
6 Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục - đào tạo 22
Trang 27 Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, tăng cường cơ sở vật chất, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục 24
8 Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý 25
9 Chủ động hội nhập để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo 26
Phần thứ tư: TỔ CHỨC THỰC HIỆN 27Phần thứ năm: NHỮNG VẤN ĐỀ XIN Ý KIẾN TRUNG ƯƠNG VÀ KIẾNNGHỊ 28Phần thứ sáu: CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Một số dữ liệu về hiện trạng giáo dục Việt Nam
Phụ lục 6: Đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinhđại học
Phụ lục 7: Kết quả dự thi Olympic, thi tay nghề quốc tế và khu vực của học sinhViệt Nam
Trang 3Thực hiện Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI,Ban cán sự đảng Chính phủ được giao chủ trì xây dựng Đề án "Đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" trìnhHội nghị Ban Chấp hành Trung ương 6 (khóa XI) Ban Chấp hành Trung ươngcho rằng đây là vấn đề lớn, hệ trọng và phức tạp, còn nhiều ý kiến khác nhau, do
đó cần tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, tạo sự thống nhất cao để ban hành nghịquyết vào một thời điểm thích hợp Tại Kết luận số 51-KL/TW ngày 29 tháng 10năm 2012, Ban Chấp hành Trung ương giao Ban Cán sự đảng Chính phủ chủ trì,phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh Đề án
để trình Ban Chấp hành Trung ương
QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ ĐỀ ÁN
Từ tháng 01/2013, Ban soạn thảo Đề án tiếp tục triển khai các hoạt độngnghiên cứu, hoàn thiện dự thảo Đề án trên tinh thần khoa học, cầu thị, tiếp thucác ý kiến góp ý của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Tuyên giáoTrung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Hội đồng Khoa học các cơ quanđảng Trung ương, Hội đồng quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tiếp thu ý kiến tại nhiều hội thảo khoa học với sự tham giacủa các cơ quan liên quan1, nhiều nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và các nhàkhoa học, trong đó có 2 cuộc hội thảo lớn (ngày 11-12/7 tại Hà Nội và ngày 16/7tại TP Hồ Chí Minh) Một số nội dung cơ bản của đề án được đăng tải trên cácphương tiện thông tin đại chúng để xin ý kiến rộng rãi của nhân dân Dự thảo Đề
án đã được gửi xin ý kiến góp ý của một số bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, Liên Hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, HộiKhuyến học Việt Nam, Hội Cựu giáo chức Việt Nam
Chính phủ, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã có nhiều phiên họp thảo luận,hoàn thiện Đề án Ngày … tháng năm 2013, Bộ Chính trị đã nghe và cho ýkiến về dự thảo Đề án Đến nay, dự thảo Đề án đã hoàn thành, xin kính trìnhBan Chấp hành Trung ương
So với Dự thảo Đề án trình Hội nghị Trung ương 6, Dự thảo lần này
đã chỉnh sửa, bổ sung và làm sáng tỏ nhiều nội dung:
Phần thực trạng:
Đề án đã cập nhật các thông tin, tư liệu cho đến hết năm 2012; xây dựng 7phụ lục minh chứng cho những nhận định, đánh giá; thể hiện sự thẳng thắn hơntrong đánh giá thực trạng, nguyên nhân, sự logic về nội dung giữa các phần của
Đề án
1 Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Trung ương Đảng, các trường Đại học,
Trang 4Về nội dung của đổi mới căn bản, toàn diện:
Đề án tập trung làm rõ việc khắc phục cơ bản các yếu kém kéo dài, đanggây bức xúc trong xã hội; tạo chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quảgiáo dục, phấn đấu để giáo dục trở thành nhân tố quyết định của sự phát triển bềnvững đất nước
Về mục tiêu tổng quát:
Đề án đã cụ thể rõ hơn: Đến năm 2030, giáo dục Việt Nam trở thành nềngiáo dục mở, chất lượng cao, đạt trình độ nền giáo dục tiên tiến trong khu vực vàhội nhập quốc tế
Quan niệm và các quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo được trình bày rõ hơn và được cụ thể hóa trong mục tiêu, các nhiệm
vụ và giải pháp
Trong mục tiêu đã nhấn mạnh:
- Xây dựng mô hình nhân cách con người Việt Nam vừa đáp ứng yêu cầu
xã hội, vừa phát triển cao nhất tiềm năng mỗi cá nhân
- Xây dựng hệ thống giáo dục “mở”, thực học, thực nghiệp, xây dựng xãhội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng
Về nhiệm vụ và giải pháp:
Nội dung giáo dục đổi mới theo hướng tinh giản, cơ bản, hiện đại, phù hợpvới thực tiễn Việt Nam, gắn lý thuyết với thực hành ứng dụng; chú trọng đổi mớigiáo dục đạo đức, giáo dục công dân, chủ nghĩa Mác – Lênin, ngoại ngữ và tin học
Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng khắc phục phươngthức truyền thụ áp đặt một chiều, xây dựng phương pháp dạy và học phát huytính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học theo phương châm “giảng ít, họcnhiều”; tăng cường các hoạt động xã hội của người học
Đổi mới phương thức kiểm tra, thi, đánh giá chất lượng giáo dục đảm bảotính trung thực, tin cậy; đánh giá kết quả hình thành năng lực, phẩm chất chứkhông dừng lại ở đánh giá mức độ lĩnh hội kiến thức của người học
Để thực hiện những đổi mới trên, Đề án xác định những giải pháp thenchốt là “đổi mới tư duy giáo dục”, “đổi mới quản lý giáo dục”, “phát triển độingũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”; trên cơ sở đổi mới tư duy, lấy “đổimới kiểm tra, thi và đánh giá kết quả giáo dục” làm giải pháp đột phá
Trang 5Kèm theo Đề án có 07 phụ lục: (1) Một số dữ liệu về hiện trạng giáo dụcViệt Nam; (2) Một số dữ liệu về dạy nghề; (3) Một số kết quả nổi bật của ngànhgiáo dục và đào tạo thực hiện Nghị quyết XI của Đảng; (4)Đề xuất hoàn thiện cơcấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam; (5) Đề xuất phương án thống nhấttích hợp và phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam; (6) Đổimới thi - công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học; (7)Kết quả dự thi Olympic, thi tay nghề quốc tế và khu vực của học sinh Việt Nam.
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1 Chăm lo cho sự nghiệp giáo dục là chủ trương nhất quán của Đảng từkhi thành lập nước đến nay Qua ba lần cải cách2 và đổi mới những năm gầnđây, về cơ bản, giáo dục (bao gồm cả đào tạo và dạy nghề, sau đây gọi chung làgiáo dục) Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, góp phần quan trọngvào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tuy nhiên trong quátrình phát triển, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có nhữngvấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, không đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Những đổi mới giáo dụctrong thời gian qua chưa đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giảipháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giaiđoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh
2 Yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt làyêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tếtheo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phảiđáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo rađội ngũ nhân lực chất lượng cao Nếu không đổi mới căn bản thì giáo dục sẽ làyếu tố cản trở sự phát triển của đất nước
3 Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự pháttriển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, khoa học giáo dục và tình thế cạnhtranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh chất lượng nguồnnhân lực, suy cho cùng là cạnh tranh về giáo dục, khoa học và công nghệ Xu thếchung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là tiến hành cải cách giáo dục
Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiệnHiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS), trong đó thừa nhận giáo dục làmột lĩnh vực dịch vụ khả mại (có điều kiện) Do đó, giáo dục không chỉ có chức
2 Từ khi giành được độc lập năm 1945 đến nay, nước ta đã ba lần tiến hành cải cách giáo dục vào năm 1950, năm
1956 và năm 1981.
Trang 6năng đào tạo và phúc lợi xã hội, mà còn có các chức năng kinh tế, kết nối xã hội,cạnh tranh quốc tế Để chủ động và tích cực hội nhập quốc tế về giáo dục cóhiệu quả, cần phát huy những giá trị của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc các giá trịnhân loại và các xu thế đổi mới giáo dục hiện nay trên thế giới
4 Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới
căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”.
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại,cần có sự thống nhất trong nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toànĐảng, toàn dân; huy động nhiều nguồn lực với sự phối hợp của nhiều cơ quan,ban ngành và các tổ chức xã hội Để cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
XI, cần xây dựng Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đápứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế "
Phần thứ hai THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VIỆT NAM
I Những thành tựu, kết quả
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, giáo dục đã góp phần chủ đạo trong việccung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đưa đấtnước vượt qua khủng hoảng kinh tế, thoát khỏi tình trạng nước nghèo Nhữngthành tựu, kết quả chính của giáo dục là:
1 Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kỹ năng nghề nghiệp của người lao động
Hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh và thống nhất; mạnglưới cơ sở giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo rộng khắp cả nước với 23,5
triệu người đi học; không còn “xã trắng” về giáo dục mầm non3 Hình thànhđược hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp (gồmtrung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề) phân bố hợp lý ở các địa phương, vùng
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXBGDVN: Trước năm 2002, toàn quốc
còn 222 xã chưa có cơ sở mầm non và 323 xã chỉ có 1 lớp mẫu giáo, đến nay mạng lưới các cơ sở giáo dục mầm
non đã được phát triển rộng khắp đến từng thôn, bản và không còn “xã trắng” nữa Số cơ sở giáo dục mầm non
liên tục tăng, từ 9528 ở năm học 2001 – 2002 lên 13172 ở năm học 2011 – 2012 Trường tiểu học có ở tất cả các
xã, phường và thị trấn; trường trung học cơ sở có ở tất cả các xã hoặc liên xã; trường THPT có ở tất cả các huyện Số cơ sở giáo dục liên tục tăng từ năm học 2001 – 2002 đến năm học 2011 – 2012: tiểu học từ 13936 lên
15337 trường; THCS từ 9362 lên 10797 trường; THPT từ 1967 lên 2661 trường.
Trang 7miền4 Các cơ sở đào tạo cao đẳng và đại học được thành lập ở hầu hết các địabàn đông dân cư, các vùng, các địa phương, kể cả ở vùng khó khăn5 Mạng lướigiáo dục thường xuyên những năm gần đây phát triển khá mạnh, đáp ứng cơ bảnnhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân6
Giáo dục mầm non thu hút hơn 90% trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo7, đangthực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi8 Hoàn thành mục tiêu phổcập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ vào năm 2000, đang thực hiện phổ cập giáodục tiểu học đúng độ tuổi9; tỷ lệ dân số biết chữ trong độ tuổi 15-19 đạt 96,5% ởnăm 2002 và 98,1% ở năm 200810 Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục trunghọc cơ sở vào năm 2010.Đang tiếp tục củng cố, nâng cao kết quả phổ cập giáodục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở và xoá mù chữ cho người lớn
Trong giai đoạn 2000 - 2010, tổng số nhân lực qua đào tạo ở tất cả các trình
độ đã tăng gấp 3,4 lần, từ 5,9 triệu người lên 20,1 triệu người; tỷ lệ lao động đãqua đào tạo tăng từ 16% lên 40% Đây chính là đội ngũ nhân lực đã đóng vai tròchủ yếu trong việc thực hiện thành công đường lối đổi mới của Đảng, đưa đấtnước ra khỏi nhóm các nước nghèo
2 Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối
với người dân tộc thiểu số11, trẻ em gái, nữ học sinh, sinh viên12, lao động nôngthôn, các đối tượng chính sách và các đối tượng bị thiệt thòi Hệ thống trườngphổ thông dân tộc nội trú và trường phổ thông dân tộc bán trú phát triển, gópphần nâng cao trình độ dân trí và tạo nguồn cán bộ là người dân tộc thiểu số của
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXBGDVN: có 295 trường trung cấp
chuyên nghiệp Theo Bộ Lao động – Thương bình và xã hội, tính đến tháng 12/2012 có: 155 trường cao đẳng nghề, 305 trường trung cấp nghề, 867 trung tâm dạy nghề và hơn 700 cơ sở giáo dục khác tham gia dạy nghề;
5 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXBGDVN: Số trường tăng từ 191 trường
năm 2001 lên 419 trường năm 2012 (trong đó có 215 trường cao đẳng, 204 trường đại học bao gồm cả Viện, Học viên và các trường thành viên của Đại học vùng, Đại học quốc gia).
6 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXBGDVN: Tính đến năm 2012, cả nước
có 712 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và cấp quận/huyện (tăng 1,44 lần so với năm 2001), có 10826 trung tâm học tập cộng đồng (tăng 86,61 lần so với năm 2001) và 1891 trung tâm Ngoại ngữ, tin học.
7 Tổng Cục Thống Kê, UNICEF, UNFPA (2011), Điều tra Đánh giá Các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ 2011: Năm
2011, tỷ lệ trẻ đi học mẫu giáo là 71,9% và tỷ lệ trẻ vào lớp 1 đã qua học mẫu giáo là 92,6%.
8 Hiện cả nước đã có 5 tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010-2015: Phú Thọ, Thái Bình, Cần Thơ, Bắc Ninh, Hải Dương và Hòa Bình.
9 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2012) Báo cáo tổng kết năm học 2011 – 2012: tính đến tháng 8/2012 có 59/63 tỉnh,
thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.
10 Tổng cục thống kê (2011): Khảo sát mức sống dân cư năm 2010.
11 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI: Tỷ lệ học sinh, sinh viên người dân tộc
thiểu số ở các cấp bậc học đều tăng: giáo dục phổ thông từ 13% lên 15,7% ở giai đoạn 2000 – 2012; trung cấp chuyên nghiệp từ 4,6% lên 5,5% ở giai đoạn 2000 – 2010; cao đẳng, đại học từ 0,3% lên 0,8% ở giai đoạn 2000 -
2007 Năm 2012, cân bằng giới về cơ bản đã đạt được, tỷ lệ học sinh nữ ở giáo dục phổ thông là 49,4%; ở đại học, cao đẳng là 49,6%.
12 Tổng Cục Thống Kê, UNICEF, UNFPA (2011), Điều tra Đánh giá Các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ 2011:
năm 2011 chỉ số bình đẳng giới ở tiểu học là 1,00 và ở trung học là 1,07; tỷ lệ học sinh nữ ở phổ thông là 49,4%
và ở cao đẳng, đại học là 49,6% vào năm 2012 Tỷ lệ biết chữ của nữ 15 tuổi trở lên tăng từ 89,3% năm 2002 lên 92% năm 2010; tỷ lệ biết chữ của phụ nữ là 96,4% ở năm 2011.
Trang 8các tỉnh13 Khoảng cách về cơ hội tiếp cận giáo dục phổ thông giữa các nhómdân tộc được thu hẹp14.
Chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học,… đã giúpnhiều học sinh, sinh viên thuộc diện chính sách, hộ nghèo, cận nghèo có cơ hộiđến trường, duy trì học tập15 Đối với nhóm hộ nghèo nhất, một số chỉ số về giáodục được cải thiện, như tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữ tăng, tỷ lệ dân số 15tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường giảm liên tục ở giai đoạn 2002-201016 Tỷ
lệ học sinh nông thôn tốt nghiệp trung học phổ thông, sơ cấp, trung cấp và caođẳng ngày càng tăng17
Tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đến trường tăng18, hầu hết các tỉnh, thành phốđều có lớp học hòa nhập cho trẻ em khuyết tật, tạo cơ hội học tập ở các lớp hòanhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt
3 Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non
giảm19 Năng lực ngoại ngữ và sử dụng công nghệ thông tin của thanh, thiếuniên những năm gần đây có chuyển biến tích cực Chất lượng giáo dục đỉnh cao
có bước phát triển mới Học sinh, sinh viên Việt Nam đạt kết quả, thứ hạng caotrong các cuộc thi khu vực và quốc tế20 Trình độ hiểu biết, năng lực tiếp cận trithức của học sinh, sinh viên được nâng cao Nhân lực nước ta đã làm chủ được
13 Năm học 2012-2013, cả nước có 3 trường phổ thông dân tộc nội trú trực thuộc Bộ GDĐT, 50 trường cấp tỉnh,
248 trường cấp huyện (tăng 65 trường so với năm học 2000 – 2001), và 569 trường phổ thông dân tộc bán trú (trong đó tiểu học là 157, THCS là 412).
14 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI: Năm học 2011 – 2012, duy trì 7 tiếng dân
tộc thiểu số (Khmer, Hoa, Chăm, Ê-đê, Jrai, Ba-na và Hmông) tại 21 tỉnh, với 688 trường, 4.767 lớp và 108.118 học sinh Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho cán bộ công chức công tác tại vùng dân tộc thiểu số với
243 lớp và 11.233 học viên ở năm học 2011 – 2012.
15 Tổng cục thống kê (2011): Khảo sát mức sống dân cư năm 2010: tỷ lệ học sinh được miễn giảm học phí hoặc các khoản đóng góp ở năm 2010 là 38,6%, tăng so với các năm trước Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục
Việt Nam đầu thế kỷ XXI, NXBGDVN: tính đến 31/12/2012, cả nước có hơn 3 triệu học sinh, sinh viên được vay
vốn, với tổng doanh số cho vay là 43326 tỷ đồng Hiện tại còn trên 2,3 triệu người đang vay và tổng dư nợ là
35802 tỷ đồng Tỷ lệ trả nợ đúng hạn trên 95%.
16 Tổng cục thống kê (2011), Khảo sát mức sống dân cư năm 2010: giai đoạn 2002 – 2008, tỷ lệ dân số từ 10 tuổi
trở lên biết chữ tăng từ 83,91% lên 84,7%; giai đoạn 2006 – 2010, tỷ lệ dân số 15 tuổi trở lên chưa bao giờ đến trường giảm từ 18% xuống 15,5%, đạt trình độ cao nhất là tốt nghiệp tiểu học giảm từ 27,1% xuống 26,8%, tốt nghiệp trung học cơ sở giảm từ 26,7% xuống 25%, còn tốt nghiệp trung học phổ thông tăng từ 6,5% lên 8,1%.
17 Tổng cục thống kê (2011), Khảo sát mức sống dân cư năm 2010: giai đoạn 2006 – 2010, tỉ lệ người đạt trình
độ cao nhất là tốt nghiệp trung học phổ thông tăng từ 10,5% lên 12,2%, sơ cấp nghề tăng từ 2,5% đến 2,6%, trung cấp nghề tăng từ 1,3% đến 1,6%, cao đẳng nghề không đổi là 0,2%.
18 Hiện nay, có khoảng hơn 1.320.000 trẻ em khuyết tật bao gồm: Khiếm thính (khoảng 15%), khiếm thị (khoảng 12%), chậm phát triển trí tuệ (khoảng 27%), bị tật ngôn ngữ (khoảng 19%), tật vận động (khoảng 20%), còn lại
là các loại khuyết tật khác Năm 2010, có khoảng 30% trẻ em khuyết tật được học tập ở loại hình giáo dục hòa nhập, bán hòa nhập hoặc chuyên biệt.
19 Báo cáo thống kê của Bộ GD&ĐT: Năm học 2010 – 2011, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân ở nhà trẻ là 5,8% (giảm 3,2% so với đầu năm học) và mẫu giáo là 6,2% (giảm 3,0% so với đầu năm học) Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở nhà trẻ là 5,6% và mẫu giáo là 5,7%.
20 Từ năm 2007 đến 2013, hầu hết học sinh tham dự Olypic quốc tế đều đoạt giải, đặc biệt ở hai năm 2011 và
2012 có 100% học sinh đoạt giải Tại Hội thi Khoa học và Kỹ thuật Quốc tế (Intel ISEF), năm 2012 đoạt giải nhất, năm 2013 đoạt 2 giải Tư.
Trang 9một số công nghệ hiện đại21 Chất lượng đào tạo một số ngành nghề được cảithiện, bước đầu đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động22.
4 Công tác quản lý giáo dục có bước chuyển biến tích cực Nhiều chính
sách, cơ chế phát triển giáo dục và đào tạo được ban hành Cơ chế tài chínhtrong giáo dục từng bước được đổi mới Phân cấp quản lý giáo dục và quyền tựchủ và chịu trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục được tăng cường Công tácthanh tra, kiểm tra được chú trọng hơn Cải cách hành chính được đẩy mạnh.Công khai, dân chủ đang là một tiền đề quan trọng đổi mới quản lý giáo dục.Bước đầu hình thành tổ chức chuyên trách về kiểm định chất lượng giáo dục23.Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong quản lý ngành
5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên 24 , từng bước đáp ứng yêu phát triển giáo dục;
khắc phục dần sự bất hợp lý về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục vàphát triển các cấp học, các ngành nghề đào tạo Tình trạng thiếu giáo viên ởvùng khó khăn, vùng xa, thiếu giáo viên một số môn học đặc thù đã được khắcphục một bước
6 Cơ sở vật chất - kỹ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm và từng bước hiện đại hóa Hoàn thành một số mục tiêu chủ yếu về kiên cố
hóa trường học và xây nhà công vụ cho giáo viên25; giảm số phòng học cấp 4; cơbản chấm dứt tình trạng phòng học ba ca Số trường học mầm non, phổ thông
21 Nhân lực nước ta làm chủ được một số công nghệ hiện đại như công nghệ tự động hoá, công nghệ đúc, công nghệ hàn, thiết kế và chế tạo các thiết bị siêu trường, siêu trọng, giàn khoan tự nâng 90m nước, thiết kế công nghệ số, công nghệ thông tin (Công nghệ điều khiển số máy tính hóa…), công nghệ dầu khí, chế biến thủy sản, lai tạo giống lúa và cây trồng (lúa lai hai dòng, Việt lai 50, lúa thuần hương cốm,…),
22 Sở Lao động, Thương bình và Xã hội TP Hồ Chí Minh khảo sát trên 10.000 học sinh, sinh viên tốt nghiệp giai đoạn 2009 - 2012: 80% đã tìm được việc làm; 20% còn lại tìm việc rất khó khăn hoặc không tìm được việc làm Theo Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội, trên 70% học sinh nghề tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi tốt nghiệp, ở một số nghề và một số cơ sở dạy nghề trên 90%; một số nghề tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới như nghề hàn đạt 6G, nghề công nghệ thông tin, điện tử, du lịch, dầu khí, viễn thông…
23 Đã thành lập: Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục năm 2003; 63 Phòng khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục các sở giáo dục và đào tạo, các trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng ở các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, trung tâm đảm bảo chất lượng ở 156 trường đại học, 145 trường cao đẳng năm 2012.
Từ năm 2008 đến nay đã đào tạo được 472 kiểm định viên chất lượng dạy nghề, 1.511 cán bộ tự kiểm định chất lượng dạy nghề, trong đó 33 kiểm định viên được đào tạo theo chương trình của Mỹ
24 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI: Từ 2001 - 2012, quy mô mẫu giáo tăng
1,6 lần, phổ thông tăng 1,2 lần (tiểu học 1,0, trung học cơ sở 1,3, trung học phổ thông 1,8 lần), trung cấp chuyên nghiệp 2 lần, đại học tăng 2,6 lần; từ 2006 đến 2012, giáo viên dạy nghề tăng 2,6 lần Tại năm học 2011 - 2012, tỷ
lệ giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên ở các cấp học là: nhà trẻ 91,13%; mẫu giáo 97,08%; tiểu học 99,63% (trên chuẩn 61,3%); trung học cơ sở 99,22% (trên chuẩn 46,2%); trung học phổ thông 99,6% (trên chuẩn 6,93%) Trong giai đoạn 2001 - 2012, giảng viên có trình độ sau đại học ngày càng được nâng cao, tỷ lệ giảng viên trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 5,7% lên 26,2%, cao đẳng tăng từ 4,9% lên 38,5% và đại học tăng từ 45,4% lên 60,5% Tại năm 2012, giảng viên cao đẳng nghề có trình độ từ đại học trở lên là 69,4%.
25 Kết quả của Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012 đáp ứng được 65,5% số phòng học kiên cố, 40,8% số phòng nhà công vụ
Trang 10đạt chuẩn quốc gia ngày càng nhiều26 Kinh phí đầu tư cho dạy nghề tăngmạnh27 Thiết bị giáo dục được bổ sung và hiện đại hơn Hầu hết các trường phổthông đều có thư viện và phòng bảo quản thiết bị28 Nhiều cơ sở đào tạo có thưviện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành được trang bị theo hướng hiện đại
7 Xã hội hóa giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng.
Nhận thức của Đảng, Nhà nước và toàn dân về giáo dục ngày càng sâusắc và toàn diện hơn
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn hẹp, hàng năm Nhà nước vẫn dành20% tổng chi ngân sách cho giáo dục29, tập trung ưu tiên đầu tư cho giáo dụcphổ cập, giáo dục vùng khó khăn và đối tượng chính sách
Huy động ngày càng nhiều sự quan tâm của các tổ chức chính trị - xã hội,các thành phần kinh tế và các chủ thể khác cho sự nghiệp phát triển giáo dục30.Loại hình cơ sở giáo dục, hình thức đào tạo được đa dạng hóa Giáo dục ngoàicông lập phát triển, đặc biệt là ở giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học31.Cùng với giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy ngày càng phát triển,tạo cơ hội học tập suốt đời, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân
Hợp tác quốc tế về giáo dục được triển khai ngày càng đa dạng trên cáclĩnh vực cử thanh niên du học; trao đổi nhà giáo và học sinh, sinh viên; liên kếtđào tạo với nước ngoài; áp dụng các mô hình và công nghệ giáo dục tiên tiếncủa thế giới; vay ưu đãi và viện trợ không hoàn lại phục vụ đổi mới giáo dục vàtăng cường cơ hội tiếp cận giáo dục, chủ yếu cho các vùng khó khăn
26 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ XXI: giai đoạn 2008 - 2012, với tổng số vốn
đầu tư 32.566,033 tỷ đồng, đã xây dựng được 93.144 phòng học kiên cố và 23.142 nhà công vụ giáo viên Ở giáo dục mầm non, tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 14,9% năm học 2001 – 2002 lên 51% năm học 2011 – 2012; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng từ 3,8% năm học 2004-2005 lên 21% (2.828 trường) năm học 2011–2012 Ở giáo dục phổ thông, tỷ lệ phòng học kiên cố tăng từ 52% năm 2006 lên 71% năm 2010, giảm số phòng học cấp 4
và cơ bản chấm dứt tình trạng phòng học ba ca Năm học 2011 – 2012, tỷ lệ trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia
là 46,68% (7.130 trường), trung học cơ sở là 25,31% (2.748 trường) và trung học phổ thông là 14,20% (378 trường), tăng lần lượt là 445, 439 và 86 trường so với năm học trước.
27 Giai đoạn 2006 – 2010: tập trung đầu tư cho 3 trường cao đẳng nghề tiếp cận trình độ dạy nghề tiến tiến trong khu vực, 59 trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề trọng điểm, 48 trường vùng khó khăn; hỗ trợ đầu tư cho 25 trường vùng dân tộc thiểu số và 246 trung tâm nghề.
28 Bằng nguồn vốn của Dự án Phát triển giáo dục trung học cơ sở II, các địa phương đã xây 819 phòng học, 180 phòng thư viện, 112 phòng thí nghiệm, 960 phòng ở nội trú, 867 nhà công vụ cho giáo viên Năm 2010 cả nước
có 24.746/27.541 (đạt 98,8%) trường có thư viện hoặc tủ sách giáo khoa dùng chung
29 Đầu tư của Nhà nước cho giáo dục tăng nhanh, từ 15,3% tổng chi ngân sách nhà nước năm 2001 lên 20% năm
2008 Từ năm 2010 đến nay, Nhà nước vẫn ưu tiên duy trì mức chi 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục Suất đầu tư trên đầu người tăng đáng kể, từ 210.000 đồng (14 USD)/người/năm năm 2000 lên 1.939.310 đồng (92 USD)/người/năm năm 2012.
30 Theo báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện xã hội hóa giáo dục của Bộ GDĐT.
31 Thống kê của Bộ GD&ĐT: Trong giai đoạn 2001 - 2012, tỷ lệ cơ sở đào tạo ngoài công lập trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 5,6% lên 32,9%, cao đẳng tăng từ 7,9% lên 13,0%, đại học tăng từ 12,2% lên 26,5% Ở năm học
2011 - 2012, tỷ lệ học sinh, sinh viên theo học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập là: tiểu học 0,6%, trung học
cơ sở 0,6%, trung học phổ thông 9,1%; trung cấp chuyên nghiệp 26,7%; cao đẳng 18,8% và đại học 13,1% Thống kê của Bộ Lao động – Thương bình và Xã hội, trong giai đoạn 2007 – 2012, tỷ lệ cơ sở dạy nghề ngoài công lập tăng: trung tâm dạy nghề từ 36,4% lên 37,6%, trường trung cấp nghề từ 14,4% lên 33,1%, trường cao đẳng nghề từ 11,3% lên 25,2%.
Trang 11II Những hạn chế, yếu kém
1 Chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Chất lượng giáo dục nhìn chung thấp, nhất là ở bậc đại học, sau đại học vàgiáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề; chưa thực sự đáp ứng yêu cầu sử dụng nhânlực và nhu cầu của người học; chưa theo kịp sự chuyển biến của đất nước trongthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế
Giáo dục và đào tạo còn nặng bệnh thành tích, nhiều cơ sở đánh giá kết quảgiáo dục thiếu thực chất Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chấtlượng, giữa dạy chữ với dạy người, dạy nghề Nhìn chung, chất lượng giáo dụckhông chính quy thấp so với giáo dục chính quy; giáo dục ngoài công lập thấp
so với giáo dục công lập; giáo dục vùng khó khăn thấp so với vùng kinh tế - xãhội phát triển
Giáo dục hướng nghiệp hiệu quả thấp Số đông học sinh, sinh viên thiếu
kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ và hoạt động xã hội; thiếutính chủ động sáng tạo, hạn chế về khả nǎng vận dụng kiến thức vào sản xuất vàđời sống; chưa thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thịtrường lao động Nhiều học sinh, sinh viên ra trường chưa tìm được việc làmhoặc phải làm việc không đúng chuyên ngành đào tạo32 Đặc biệt, đáng lo ngại làmột bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lýtưởng, sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bảnthân và đất nước
Trong các cơ sở giáo dục đại học, chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoahọc còn thấp
2 Nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và đánh giá còn lạc hậu, nhiều bất cập.
Nội dung giáo dục nặng về lý thuyết, có mặt xa rời thực tiễn, chưa chútrọng giáo dục đạo đức, ý thức và trách nhiệm công dân Chương trình giáo dụcphổ thông còn quá tải với học sinh Giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề và giáo dụcđại học chưa chú trọng giáo dục kỹ năng thực hành nghề nghiệp, kỹ năng sử dụngcông nghệ thông tin, năng lực ngoại ngữ và hoạt động xã hội của học sinh, sinhviên Phương pháp dạy và học chậm đổi mới, vẫn phổ biến lối dạy học truyền thụmột chiều, chưa thật sự phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, khả năng tựhọc của học sinh, sinh viên Các hoạt động giáo dục chủ yếu mới diễn ra trongkhuôn viên các nhà trường Phương pháp và hình thức kiểm tra, thi, đánh giá kếtquả giáo dục còn lạc hậu, phiến diện, chủ yếu mới dừng lại ở đánh giá mức độ
32 Theo Trung tâm Nghiên cứu và Phân tích chính sách thuộc trường Đại học KHXH-NV Đại học Quốc gia Hà Nội, 26,2% cử nhân được khảo sát chưa hoặc không tìm được việc làm (http: lib.hcmussh.edu.vn/? wca = newmng&wci=v_dat&wce =dtl&itm=1363232735) Theo báo cáo của Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh Hóa, tính đến 20/2/2013 toàn tỉnh có 24.956 học sinh, sinh viên đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm, trong đó trình độ trên đại học là 45, đại học là 5674, cao đẳng là 6845, trung cấp chuyên nghiệp là 6003, còn lại là cao đẳng nghề
và trung cấp nghề truong-that-nghiep-706580.htm)
Trang 12(http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/giat-minh-voi-con-so-gan-25000-sinh-vien-ra-lĩnh hội kiến thức của người học qua chấm điểm các bài thi, kiểm tra; không đồng
bộ và cản trở đổi mới phương pháp dạy học
3 Hệ thống giáo dục còn khép kín, cứng nhắc, thiếu tính liên thông giữa
các cấp học, trình độ đào tạo, các phương thức giáo dục, chưa tạo điều kiện cho việc xây dựng nền giáo dục mở Chưa gắn đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị trường lao động
Cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáodục chưa hợp lý, thiếu đồng bộ Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu trình độ vàngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục Công tác phânluồng và hướng nghiệp chưa đạt yêu cầu Chưa phối hợp chặt chẽ giáo dục nhàtrường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chưa có cơ chế phối trong quátrình đào tạo giữa nhà trường và các cơ sở sử dụng người lao động qua đào tạo
4 Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, là nguyên nhân của nhiều yếu kém khác, nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, gây bức xúc
xã hội
Quản lý hệ thống giáo dục còn phân tán, chồng chéo; phân công, phân cấpchưa hợp lý, chưa coi trọng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tính sáng tạo củacác cơ sở giáo dục
Hệ thống pháp luật, chính sách, cơ chế thiếu đồng bộ và chậm đổi mới,triển khai thực hiện thiếu thống nhất Ở các địa phương, ngành giáo dục chưađược chủ động quản lý nhân sự và tài chính để đáp ứng yêu cầu quản lý thực hiệnnhiệm vụ chuyên môn Công tác quản lý chất lượng giáo dục còn nhiều lúng túng.Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát giáo dục chưa thường xuyên, có nơi, có lúc bịbuông lỏng, hiệu lực thấp
Việc nâng cấp, thành lập nhiều cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghềnghiệp trong một thời gian ngắn là nguyên nhân chính của tình trạng không đápứng điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục và phá vỡ quy hoạch mạng lưới33
Một số hiện tượng tiêu cực như thiếu trung thực trong tuyển sinh, thi vàcấp bằng, lạm thu, dạy thêm vẫn tồn tại kéo dài, chậm được khắc phục, có việc còntrầm trọng hơn, gây bức xúc xã hội Tình trạng giáo dục bị thương mại hóa, chạytheo lợi ích cục bộ, bạo lực ở lứa tuổi học sinh đã gây ra nhiều lo ngại trong xãhội Thiếu giải pháp kịp thời, hiệu quả để quản lý các hoạt động đào tạo có yếu tốnước ngoài và quản lý lưu học sinh ở ngoài nước
5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều bất cập.
Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục vừa thừa, vừa thiếu cục bộ
về, yếu về năng lực; thiếu động lực tự học và đổi mới; chưa bắt kịp yêu cầu củađổi mới giáo dục
33 Theo kết quả thanh tra của Bộ Giáo dục và Đào tạo cuối năm 2012: Có 23/30 trường cao đẳng, đại học được thanh tra vi phạm các quy định bảo đảm chất lượng và tuyển sinh; có 161/1002 chuyên ngành, thuộc 50 cơ sở đào tạo thạc sĩ được thanh tra không đảm bảo điều kiện về số lượng giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ cùng ngành, chuyên ngành hoặc không tuyển được học viên trong 3 năm liên tiếp.
Trang 13Hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên còn phân tán Công tác đào tạo, bồidưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế Cáctrường sư phạm chưa đi đầu trong đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo, bồidưỡng Năng lực của nhiều nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa tươngxứng với bằng cấp, nhất là đối với những người được đào tạo theo hình thứckhông chính quy Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghềnghiệp vừa thiếu kinh nghiệm thực tế về nghề, vừa ít nghiên cứu khoa học34.Một bộ phận nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục thiếu tâm huyết, trách nhiệm,thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ảnh hưởng đến uy tín của ngành.
6 Chính sách, cơ chế tài chính và cơ sở vật chất giáo dục còn lạc hậu
Cơ chế phân bổ tài chính mang tính bình quân, dàn trải, ảnh hưởng đếnchất lượng và hiệu quả đầu tư, không khuyến khích được các cơ sở giáo dục nângcao chất lượng Hiệu quả sử dụng vốn vay trong một số dự án giáo dục còn cómặt hạn chế
Việc duy trì mức học phí thấp và cào bằng giữa các ngành học tồn tại nhiềunăm (từ năm 1998 đến 2010) và chưa có chế tài quy định trách nhiệm của doanhnghiệp sử dụng lao động qua đào tạo đóng góp đầu tư cho giáo dục đã làm hạnchế nguồn tài chính giáo dục
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở giáo dục còn thiếu và lạc hậu, chưađạt chuẩn quy định35 Vẫn còn tình trạng phòng học tạm ở giáo dục mầm non vàgiáo dục phổ thông, nhất là ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệtkhó khăn; thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạyhọc chưa đảm bảo về số lượng36, chủng loại và chất lượng so với yêu cầu nângcao chất lượng giáo dục, nhất là ở các cơ sở giáo dục đại học Thiếu quỹ đất dànhcho phát triển giáo dục Các cơ sở giáo dục nhìn chung chưa đáp ứng được yêucầu hội nhập quốc tế về cơ sở vật chất, kỹ thuật
III Nguyên nhân của những thành tựu và những hạn chế, yếu kém
1 Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu, kết quả
- Sự nghiệp giáo dục của nước ta đạt được những thành tựu, kết quả quantrọng là bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc, sự quan tâm và ưu tiênđầu tư của các gia đình, khuyến khích con em chăm chỉ học tập
34 Thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo: tỷ lệ giảng viên có trình độ sau đại học thấp, năm học 2011 - 2012, giảng viên đạt trình độ thạc sĩ, tiến sĩ ở: trung cấp chuyên nghiệp là 23,1% và 3,2%; cao đẳng là 35,9% và là 2,6%; đại học là 46,2% và 14,3% Trong các trường đại học, tỷ lệ giảng viên có chức danh khoa học phó giáo sư
là 3,4%, giáo sư là 0,5% Tính đến tháng 9/2012, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh có 787 bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học, trong đó có 188 bài báo đăng trên tạp chí quốc tế với 147 bài thuộc ISI (là các tạp chí khoa học có uy tín trên thế giới) Như vậy, tỷ lệ bài báo khoa học ISI trên mỗi giảng viên cơ hữu chỉ là 0,06% (theo http://www.baomoi.com/Qua-it-giang-vien-nghien-cuu-khoa-hoc/59/10091843.epi ).
35 Theo kế hoạch của Đề án Kiên cố hóa trường học, giai đoạn 2008 - 2012 mới đáp ứng được 65,5% số phòng học kiên cố, 40,8% số nhà công vụ, với nhu cầu vốn khoảng 24.560 tỷ đồng.
36 Nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất tại các địa phương cần số vốn khoảng 234.000 tỷ đồng: Số phòng học là 336.224; số phòng bộ môn, thiết bị là 64.580; phòng hiệu bộ là 74.120; phòng đa năng là 18.710; thư viện là 17.393; phòng y tế học đường là 18.322.
Trang 14- Ý thức ham học hỏi và tinh thần vượt khó của các thế hệ học sinh, sinhviên.
- Đảng và Nhà nước luôn quan tâm trực tiếp và thường xuyên đến sựnghiệp giáo dục, ban hành nhiều chủ trương chính sách ưu tiên phát triển giáodục phù hợp với từng giai đoạn Các đoàn thể, tổ chức xã hội, cá nhân tích cựcphối hợp chăm lo cho sự nghiệp giáo dục
- Ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng trong quản lý chỉ đạo và tổ chứcthực hiện nhiệm vụ, bước đầu đáp ứng những yêu cầu của sự nghiệp phát triểngiáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đại bộ phậnnhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tận tụy với nghề, hết lòng vì thế hệ trẻ, vì sựnghiệp giáo dục, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn hoànthành nhiệm vụ
- Sự ổn định về chính trị và những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi về môi trường và nguồn lực phát triển
giáo dục
2 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
- Chưa nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí của giáo dục Tư duy về giáodục chậm đổi mới, chưa theo kịp sự chuyển đổi của đất nước và xu thế phát triểntrên thế giới Chưa có những nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về pháttriển giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Thói quenbao cấp trong giáo dục còn nặng nề; Nguồn lực tài chính không đáp ứng điềukiện tối thiểu để đảm bảo chất lượng các hoạt động giáo dục Chưa nhận thứcđầy đủ về vai trò quyết định chất lượng giáo dục của đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục; Những nhận thức lệch lạc về giáo dục, bệnh hình thức, sínhbằng cấp và những tiêu cực xã hội đã để lại nhiều hậu quả khó khắc phục tronggiáo dục Chưa coi trọng đúng mức vai trò quan trọng của khoa học giáo dục
- Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy chưaquan tâm cụ thể hóa quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” trong thực tiễn
và chưa chịu trách nhiệm về tình trạng yếu kém của giáo dục
- Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành trung ương chưa thể chế hóa kịpthời, phù hợp các chủ trương, chính sách của Đảng về giáo dục Chưa có sự phốihợp tốt giữa các cơ quan nhà nước trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ pháttriển giáo dục Suất đầu tư trên mỗi người học chưa tương ứng với yêu cầu vềchất lượng, chưa phù hợp ngành nghề và trình độ đào tạo Nhiều mục tiêu pháttriển giáo dục được xác định trong khi không cân nhắc tính toán đầy đủ đến cácđiều kiện thực hiện Thiếu quy hoạch phát triển nhân lực của đất nước, của ngànhgiáo dục37 Không kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá các chính sách về giáo dục.Các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa thỏađáng
37 Công tác dự báo để làm quy hoạch giáo dục ở các cấp bậc học không thực hiện tốt dẫn đến sự phát triển không đồng bộ, giáo viên nơi thừa nơi thiếu, có bậc học phát triển mạnh về quy mô vượt quá khả năng của hệ thống
Trang 15- Công tác quản lý, chỉ đạo của ngành giáo dục còn nặng về điều hành, sựvụ; chưa chủ động tham mưu các chính sách, giải pháp đảm bảo các điều kiệnphát triển giáo dục; chưa coi trọng đúng mức công tác quản lý chất lượng, thanhtra, kiểm tra, giám sát; chưa kịp thời tổng kết, nhân rộng các điển hình tiên tiến,chưa tạo được động lực đổi mới từ trong ngành Ba nguyên lý giáo dục (học điđôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục kết hợp với lao động, sảnxuất; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội) chưađược quán triệt và thực hiện tốt38 Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu vàthực hiện đúng Chưa có cơ chế sàng lọc, bố trí những nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục không đạt chuẩn sang công tác khác.
IV Đánh giá chung
Trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, nguồn lực còn hạn hẹp,được sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, với những nỗlực của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, sự nghiệp giáo dục đã đạt nhữngthành tựu rất có ý nghĩa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiệngiáo dục toàn dân, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáodục đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa Các điều kiện đảm bảo và chấtlượng giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo có tiến bộ Hợp tác quốc tếđược mở rộng Lực lượng lao động qua đào tạo tăng khá nhanh Những thànhtựu trên và yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới cho phép và đòi hỏigiáo dục Việt Nam chuyển từ phát triển theo mục tiêu quy mô, số lượng là chínhsang mục tiêu coi trọng cả chất lượng, hiệu quả và quy mô, số lượng
Tuy nhiên, giáo dục vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, chưa được ưutiên nhất trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chưa là nhân tố quyếtđịnh của phát triển đất nước Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục đã được nêu từNghị quyết Trung ương 2 khóa VIII vẫn chậm được khắc phục, có mặt còn nặng
nề hơn Khoa học giáo dục còn lạc hậu Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội; chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về nhân lựccủa nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa tích cực chủđộng góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc Quản
lý giáo dục còn nhiều bất cập; kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế Thiếu dựbáo nhu cầu nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thiếu
dự báo nhu cầu học tập để làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển giáo dục
Phần thứ ba ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
I Bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
38 Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục kết hợp với lao động, sản xuất; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Trang 16Sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay đứngtrước các thuận lợi và khó khăn sau:
1 Thuận lợi
- Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong
10 năm qua, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu tái
cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quyhoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 - 2020 là những tiền đề cơ bản để thựchiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam
- Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triểngiáo dục và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tậndụng cơ hội đất nước trong giai đoạn "cơ cấu dân số vàng"
- Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin vàtruyền thông, kinh tế tri thức phát triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới căn bản, toàn diện vàđồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp vàhình thức tổ chức giáo dục), đổi mới quản lý giáo dục và xây dựng một nền giáodục tiên tiến, hiện đại đáp ứng nhu cầu của xã hội và cá nhân người học
- Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy môtoàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới,những mô hình giáo dục và quản lý giáo dục hiện đại và tranh thủ các nguồn lựcbên ngoài để phát triển giáo dục
Giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới: xây dựng xã hộihọc tập cùng với các điều kiện đảm bảo học tập suốt đời; đại chúng hóa, đa dạnghóa, toàn cầu hóa, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh tranh quốc tế về giáo dục…
2 Khó khăn và thách thức
- Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tếđòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong khi nguồn lực quốc gia vàkhả năng đầu tư cho giáo dục của phần đông gia đình còn hạn chế Chất lượngnguồn nhân lực còn thấp, đặt ra nhiệm vụ nặng nề và thách thức lớn đối với sựphát triển giáo dục và đào tạo
- Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đềugiữa các địa phương ngày càng rõ rệt sẽ có thể dẫn đến sự gia tăng thiếu bìnhđẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục và khoảng cách chất lượng giáo dục giữa cácđối tượng người học và các vùng miền
- Tư duy bao cấp, sức ỳ trong nhận thức, tác phong quan liêu trong hànhđộng về giáo dục của nhiều cấp, nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lýgiáo dục cũng như của người dân còn lớn, không theo kịp sự phát triển nhanhcủa kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ
- Khoảng cách phát triển về kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, giáodục và đào tạo giữa nước ta và các nước tiên tiến trong khu vực, trên thế giới có
xu hướng gia tăng Hội nhập quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường đang