1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf

25 815 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Thuật Vận Chuyển Cá
Trường học Trường Đại Học Thủy Sản
Chuyên ngành Kỹ Thuật Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Tài liệu
Thành phố Hải Phòng
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.

Trang 1

_ I- KỸ THUẬT VẬN CHUYỂN CÁ

2.1 Kỹ thuật vận chuyển hở

— Phương pháp vận chuyển hở được áp dụng khi vận chuyển cá có kích cỡ

> 3cm và vận chuyển với số lượng lớn Phương tiện thường dùng là ôtô với dụng

cụ vận chuyển là lồ Lồ được làm bằng tre, nứa hoặc bằng sắt Mắt lồ có kích thước 15 x 20cm Lồ có dạng là khối lập phương, khối hộp chữ nhật hoặc khối trụ với thể tích Khoảng Im’ Cót tre hoặc nứa được lót ở đáy và xung quanh lô, tiếp đến là tải nylon hoặc bạt và trong cùng là túi nylon hoặc túi bạt đảm bảo giữ được nước không rò rỉ ra ngoài

— Lấy nước vào lồ, lượng nước chiếm 1/2 - 2/3 thể tích của lồ (nên cho thêm muối ăn với lượng 1 — 2gr/10 lít nước, để cá sống trong môi trường đẳng trương trong suốt thời gian vận chuyển) _

Trang 2

lượng ít nên sử dụng túi nylon đường kính 0,5 — 0,6m va chiéu dai 1,2 — 1,4m (túi nhỏ) Khi vận chuyển cá giống với số lượng lớn, ngoài việc sử dụng túi nhỏ người ta cũng có thể sử dụng lồ tương tự vận chuyển hở (túi lớn) Do vậy có thể gọi tắt là vận chuyển kín túi nhỏ và vận chuyển kín túi lớn

— Kỹ thuật vận chuyển kín túi nhỏ:

Phương pháp vận chuyển này có thể áp dụng vận chuyển cá bột, cá hương

và cá giống với số lượng ít cũng như số lượng lớn

— Mật độ cá trong túi:

Cá bột: Tối đa 2 vạn con/lít, tương đương 60 vạn con/túi

Cá hương < 2,5cm: 150 — 200 con/lít, tương đương 2 — 3kg/túi

Cá giống cấp I < 6cm: 20 — 45 con/lít, tương đương 3 ~ 4kg/túi

Cá giống cấp II < 12cm: 5 — 8 con/lít, tương đương 4 — 5kg/túi

~ Thao tác kỹ thuật đóng túi:

Buộc chặt một đầu túi nylon Kiểm tra túi để “ác định: Túi đã được lồng vào trong bao tải đứa Đồ 20 — 30 lít vào túi tuỳ thuộc số lượng cá cần vận chuyển

Sau khi chuyển đủ cá vào

túi, đưa vòi sục oxy sát đáy

tới, bơm nhẹ 1—2 phút Ép

phần túi còn lại sát mặt nước

để đẩy hết không khí ra khỏi

túi (xem hình 5.2) Xoay túi

vài ba vòng, nắm chặt và tiếp

tục bơm oxy đến khi túi đủ

căng, Kéo vời bơm ra khỏi túi,

xoay túi vài ba vòng Sử dụng

đây cao su nhỏ buộc chặt túi

nylon trước và buộc chặt bao

tải đứa sau Khi buộc bao tải

đứa phải xoay sao cho bao tải

sát chặt vào túi nylon [nhằm chịu áp lực suốt quá trình vận chuyển là bao tải

dứa (bao ngoài)]

— Những điểm cần lưu ý:

+ Khi bơm oxy vào túi có cá phải bơm từ từ, không được để khí vào quá mạnh + Cá đóng xong, chưa vận chuyển ngay nên để nằm ngang không để đứng, thỉnh thoảng lắc nhẹ

+ Trên các phương tiện vận chuyển, túi cá cũng nên để ngang là tốt nhất; tuy nhiên, cũng có thể để túi cá nghiêng 45°

+ Khi vận chuyển cá bằng phương pháp này cần có bình oxy dự phòng Kiểm tra cá thường xuyên để xử lý những khi cần thiết như túi bị xẹp, lọt oxy, mất nudc,

+ Sau 8 — 10 giờ bổ sung oxy Sau 16 giờ phải thay nước và sau 24 giờ phải cho cá nghỉ trong giai hoặc bể vài ba tiếng Hết thời gian nghỉ đóng túi lại

đi tiếp

Hình 5.2 Thao tác đóng túi cá

102

Trang 3

2.3 Kỹ thuật vận chuyển kín túi lớn

— Vận chuyển kín túi lớn được sử dụng để vận chuyển cá với kích cỡ 2 3cm với số lượng lớn Phương tiện vận chuyển thường là ôtô Dụng cụ để vận chuyển

là lồ (tương tự như lô sử dụng vận chuyển hở)

+ Khi vận chuyển cá bằng phương pháp này cần có bình oxy dự phòng Kiểm tra cá thường xuyên để xử lý những khi cân thiết như túi bị xẹp oxy,

mất nước,

Sau 8— 10 giờ bổ sung oxy Sau 16 giờ phải thay nước và sau 24 giờ phải cho cá nghỉ trong giai hoặc bể vài ba tiếng Hết thời gian nghỉ, đóng túi lại,

đi tiếp

Trang 4

Chương 6

MỘT SỐ HÌNH THỨC

NUOI THUY SAN NUGC NGOT

!- NHỮNG YEU CAU KỸ THUẬT KHI NUÔI CÁ THỊT TRONG AO NƯỚC TĨNH

1.1 Điều kiện ao nuôi và chuẩn bị ao

Điều kiện ao nuôi là cơ sở đầu tiên để quyết định thực hiện các biện pháp

kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất nuôi, khi điểu kiện ao chưa phù hợp thì cần phải cải tạo trước khi nuôi, cụ thể cần chú ý các nội dung sau:

1.1.1 Diện tích

Diện tích ao lớn, nhỏ đều có ảnh hưởng đến kết quả nuôi cá Thực tế nuôi

cá ở nước ta cho thấy: Ao có diện tích 100 — 200m7 đến 1 — 20ha, nuôi tích cực đều đạt năng suất 4 — 5T/ha trở lên (không kể những ao nhỏ, nuôi đơn một số loài như cá trê) Đối với những ao lớn, điều kiện lý, hoá học của môi trường ổn định, khoảng "không gian" cá sống rộng, nguồn thức ăn tự nhiên đổi đào nên cá lớn nhanh Trái lại, ở những ao nhỏ, điêu kiện lý, hoá học của môi trường biến động lớn, không có lợi cho sinh trưởng của cá Mặt khác khi mặt nước lớn, nhờ sóng gió làm nước xáo trộn trong ao, oxy tầng mặt được chuyển xuống tầng sâu, muối dinh đưỡng ở tầng đáy được đưa lên trên cung cấp cho tảo phù du, làm giảm sự sai khác giữa nước tầng mặt và tâng đáy Ngược lại, nếu ao lớn quá, lượng cá giống thả nhiều, tổng nhu cầu thức ăn cần nhiều, thu hoạch phức tạp hơn ao nhỏ Vì vậy, khi xác định diện tích ao nuôi cần căn cứ vào các điều kiện cụ thể mà quyết định cho phù hợp Để đảm bảo các điều kiện thuận lợi cho

cá sống và đễ quản lý môi trường, ao nên có diện tích từ 0,6 — 0,7ha, ao nhỏ cũng nên có diện tích trên 200m’, các ao có diện tích nhỏ hơn chỉ nên nuôi cá

rô phi hoặc cá trê là những loài ít chịu ảnh hưởng của diện tích Ao nên hình chữ nhật để tiết kiệm lưới kéo, đễ xây dựng

1.1.2 Độ sâu và độ bùn

Ao nuôi cá, ngoài điện tích còn cần phải chú ý đến độ sâu của ao và độ bùn đáy ao; tiêu chuẩn độ sâu và bùn đáy đòi hỏi nghiêm ngặt hơn điện tích Nhiều nghiên cứu chỉ ra: Độ sâu của ao không nên quá 3m vì ở độ sâu đó oxy thường

bị thiếu, sinh vật đáy không phát triển, cá cũng không phân bố đến đó; ngược lại, ao nông, lượng nước ít, không có nhiều sinh vật thức ăn Độ sâu của ao nên

từ 1,2m đến 2,5m

Áo sâu trong phạm vị thích hợp, sinh vật làm thức ăn nhiều, khối nước lớn,

số cá thả sẽ nhiều hơn, điều kiện lý, hoá của nước ổn định hơn (chú ý: độ sâu còn quan hệ với diện tích, nếu ao nhỏ thì độ sâu cũng giảm, ao lớn độ sâu tăng hơn vì sự xáo trộn của nước dễ đàng hơn)

104

Trang 5

Độ sâu của ao còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của địa hình nơi xây dựng, vào chất đáy, vì nhiều khi đào xuống sâu, gặp đất chua phèn, nhất là vùng ven biển, nhiều khi khó làm được ao sâu, tuy vậy cũng không được làm ao

vi khuẩn, phân bón xuống ao, thức ăn thừa và chất thải của vật nuôi phân huỷ thành các vật chất vô cơ làm “thức ăn" cho tảo, nhưng do lớp bùn ít nên chất hữu cơ và vô cơ dự trữ không nhiều, tảo và sinh vật đáy không phát triển mạnh Ngược lại, ao nhiều bùn quá, khối lượng sinh vật sống trong đó quá lớn, khi chúng hô hấp, sẽ lấy đi nhiều O; hoà tan Vi sinh vat sống trong lớp bùn sâu, chủ yếu là bọn ky khí, nên sản phẩm phân huỷ sẽ là khí độc hại (CH,, H;S) Bởi vậy, lớp bùn này chỉ giữ trong khoảng 15 — 20cm là vừa Áo lâu năm, lớp bùn đấy nhiều, cần phải nạo vét giảm bớt độ bùn, tăng độ sâu cho ao Khi bùn nhiều, muối đỉnh đưỡng tích tụ ở đó không höà tan được vào nước ao vì bị ngăn cách, mặt khác chất hữu cơ ở đáy ao đo ở sâu bị phân huỷ yếm khí tạo nên các khí độc như metan (CH,); sulfuahydro (H;S) thải vào nước, gây độc cho cá (làm cho cá bị bệnh máu nâu) Ngược lại, nếu đáy ao tro hoặc đáy cát thì phải cần bón thêm nhiều phân hữu cơ tạo lớp bùn đáy thích hợp, nhằm tạo ra lớp bùn đệm ngăn cách với tầng đáy trợ (thường là đất sét, chua), tạo điều kiện để vi khuẩn điều hoà muối đỉnh dưỡng cho ao

1.1.4 Bờ ao

Bờ phải cao hơn mực nước ao cao nhất từ 0,5m trở lên nhằm đảm bảo mưa

to không bị ngập, cá sẽ đi mất; tuỳ theo chất đất mà quyết định độ dốc của bờ, Trong vùng đất chua, bờ cũng phải được cải tạo như đấy ao hoặc phủ đất thịt lên trên lớp đất chua, nếu không chú ý điểm này cá có thể bị chết sau mỗi trận mưa, nhất là mưa đầu mùa, khi nước mưa chảy xuống ao mang theo lượng phèn hoà tan từ đất bờ Bờ ao đất chua cũng cần phải dùng vôi cải tạo như đối với ao Trên bờ không trồng cây to che cớm ao, ao phải quang đăng, sao cho được chiếu sáng nhiều nhất, tạo điều kiện cho tảo phù du phát triển Người ta đã tính được: 1 cây cổ thụ to trên bờ, che bóng một góc ao, làm giảm sản lượng cá trong ao đến 10kg/năm

Trang 6

1.1.5 Nguôn nước và chất nước

Ao nuôi cá nước tĩnh phải có nguồn nước chủ động để bổ sung, thay nước kịp thời khi cần thiết, điều chỉnh mức nước ao theo yêu cầu kỹ thuật, dam bao nước trong ao không bị cạn, nguồn nước cấp cho ao phải sạch, không nhiễm bẩn, độ pH không thấp quá (thường phải trên 6,5 đến 8,5)

Căn cứ vào đặc điểm sinh trưởng của cá theo giai đoạn, thời gian, tập quán nuôi, đặc điểm khí hậu thời tiết, ở miền Bắc thường thu hoạch cá vào cuối năm

am lịch (khoảng tháng 12 - 2 DL) bằng cách tát cạn ao, thu hoạch cá đạt thương phẩm Sau khi thu hoạch ao, cần khẩn trương tẩy dọn ao chuẩn bị cho chu kỳ nuôi mới, thời gian có thể xê dịch I - 2 tháng, mục đích là chuẩn bị tốt môi trường cho cá sinh sống, thời gian tẩy dọn ao nên làm gọn trong 20 ~ 30 ngày Các nội dung cần làm gồm:

~ Tu sửa lại bờ, chống rò rỉ, gây mất nước, lấp các hang hốc để các sinh vật hại cá (rắn, ếch, rái cá, ) không có nơi trú ẩn

~— Vét bớt bùn đáy ao (nếu ao có nhiều bùn), nếu ao không vét được bùn thì nhất thiết phải phơi ao cho khô đáy để thoát hết khí độc có trong lớp bùn ao, làm cho đáy ao thông thoáng, thuận lợi cho vi sinh vật có lợi và sinh vat day phát triển, cá có nhiên thức ăn và không bị ảnh hưởng xấu của môi trường, ao được phơi làm giảm lượng sắt hoà tan trong nước gây hại cho cá

~— Tẩy vôi: Lượng vôi bột thường dùng từ 8 - 10kg/100m ao, nếu ao chua hoặc ao năm trước cá có bị bệnh thì phải dùng lượng vôi cao hơn (15 - 20kg/100m?), rải vôi cho cả phần đáy ao, xung quanh ao (phân dâng nước), nếu đất chua phải rải cả phần bờ ao

~ Bón lót bằng phân chuồng ủ; có điều kiện nên cày bừa đáy ao để làm thông thoáng đáy, tăng oxy, loại thải khí độc như CHỊ, H;S, diệt cá tạp, các sinh vật hại cá, loại trừ các mầm bệnh, phơi ao (7 ~ 10 ngày, khi đáy ao "nẻ chân , chim") Ao ở vùng chua phèn thì không được phơi lâu vì chua phèn từ đầy bị đẩy lên (nhất là các ao vùng ven biển) Tháo nước vào ao gây màu nước, thả cá thử nước { lấy một cái xô/chậu cho một ít nước (3 — 5l), rồi thả vài con cá giống, theo dõi phân ứng của cá với nước trước khi thả toàn bộ cá giống để tránh rủi ro nếu nước ao có vấn đề ö nhiễm]

1.2 Chọn giống nuôi phù hợp với tập quán của địa phương và

khả năng đầu tư của người nuôi

1.2.1 Lựa chọn giống cá nuôi

Lựa chọn giống nuôi trong ao; không nên theo "phong trào”, mà cần phải dựa vào các điều kiện và tập quán của địa phương và khả năng của người nuôi,

cụ thể cần căn cứ vào:

+ Điều kiện tự nhiên của từng vùng như khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng, nguồn nước:

Nếu ao-nghèo đỉnh đưỡng, có nước chảy, nên nuôi cá trim cổ làm chính

Ao giàu dinh dưỡng, diện tích nhỏ, không có nước lưu thông thì nuôi cá trê, cá lóc (khi nuôi loài cá ăn thịt phải chú ý đến nguồn thức ăn có thể có để cung cấp

Trang 7

SAN.B-cho cá — thức ăn giàu chất đạm) hoặc nuôi đơn cá rô phi Ao rộng, có nhiều màu nuôi các loài cá mè trôi, nơi có nhiều cỏ nên nuôi trắm cỏ,

+ Điều kiện kinh tế, kỹ thuật:

Cần xem xét có đủ vốn để đầu tư nuôi cao sản hay không (vốn để mua cá giống, thức ăn) Muốn nuôi thâm canh, ngoài vốn đầu tư, phải có đủ trình độ quản lý, chăm sóc Nguồn cá giống có gặp khó khăn gì? (giống, loài, kích thước) Địa phương có tập quán nuôi và thị trường ưa thích loài cá nào? Nguồn thức ăn của địa phương phù hợp cho nuôi loài cá nào? Thị trường tiêu

thụ ra sao?

1.2.2 Thời vụ thả cá giống

Cá giống thường được thả vào 2 vụ chính: Vụ xuân: Thả vào tháng 2 — 3, là

cá giống lưu từ năm trước Vụ thu: Thả vào tháng 7 — 8 sau khi đã thu hoạch tỉa

cá lớn, cá giống lúc này thường là cá đẻ trong năm, gọi là thả bù Cá thả vào vụ xuân được nuôi trong mùa hè, nhiệt độ cao, thức ăn phát triển mạnh, cá lớn nhanh nên thường cho sản lượng chính, vì vậy cần thả sớm (tháng 3 — 5 đương lịch (DL)) và đủ số lượng, cố gắng thả cá giống trong vòng I tuần Cá thả vào

vụ thu; nếu là giống lớn thì cuối năm có thể thu hoạch, nếu cá giống nhỏ thường phải lưu lại nuôi năm sau mới đạt cá thương phẩm, cá giống thả bù vụ thu không nên thả rô phi (nếu là ao nuôi ghép) Tháng 4 — 5 DL là thời kỳ các sinh vật lớn nhanh, có khi chỉ 1 tháng cá lớn gấp đôi (vẻ khối lượng), bởi vậy cần tận dụng thời điểm này Mùa vụ thả cá thường được quy đình vào tháng 3 - 4 Cá

có khả năng "sinh trưởng bù”; nghĩa là nếu vì lý do thiếu thức ăn, cá bị còi Sau khi cung cấp đủ thức ăn, chúng lớn rất nhanh, bù lại quãng thời gian không lớn

do thiếu ăn Bởi vậy, nếu dùng cá giống "lưu" (tức là cá giống của năm trước),

cá sẽ e6 cơ hội lớn nhanh hơn cá giống trong-năm

1.3 Cơ sở khoa học của các biện pháp kỹ thuật liên hoàn nuôi

cá ao nước tĩnh

1.3.1 Sâu ao cao bờ

Nhìn chung diện tích ao thường bị giới hạn, không phải lúc nào cũng có thể xây dựng ao có điện tích hợp lý, vì vậy muốn có được thể tích nước đảm bảo, cân phải đào ao sâu hợp lý tuỳ theo điều kiện cụ thể để phù hợp cho sinh trưởng của cá Đáy ao là nơi diễn ra các quá trình sinh học phức tạp, phong phú gồm các vi sinh vật yếm khí, háo khí; hoạt động của hệ sinh vật này phụ thuộc vào mức độ, thành phần các muối dinh dưỡng có trong đáy ao, các sinh vật đáy Nếu

ao sâu quá; đáy ao không nhận được ánh sáng, các sinh vật đầy kém phát triển,

hệ sinh vật nghèo, thức ăn cho cá sẽ ít hoặc không có, mặt khác ở đưới sâu oxy

hoà tan thấp (vì thiếu tảo), các vi sinh vật yếm khí hoạt động mạnh hơn loại háo khí sẽ sinh ra nhiều khí độc (CH,) hoặc không phân huỷ các chất hữu cơ thành muối đỉnh đưỡng cho táo phát triển Ở độ sâu hợp lý, vào mùa nóng, khi nhiệt

độ tầng mặt lên cao, cá chuyển xuống tầng sâu Ngược lại, vào mùa lạnh, nước

ở tầng sâu ấm hơn, thuận lợi cho nuôi ghép nhiều loài Bờ ao, với mục đích giữ

Trang 8

cá, cần lưu ý và thường xuyên kiểm tra, nhất là vào mùa mưa Đặc biệt đối với những ao nuôi loài cá có khả năng chạy trốn giỏi như cá quả, cá trê, rô đồng phải có tường bao hay chăng lưới chắn để chúng không đi mất Ao sâu từ

1,5m ~ 2,5m; bờ cao hơn mực nước cao nhất 0,5m được cho là vừa (ao có độ

sâu dưới Im năng suất thấp)

Bang 6.2 Quan hệ giữa độ sâu và năng suất cá

Độ sâu nước ao | sg ry Cơ cấu đàn cá nuôi thịt (%) | Năng suất

(m) me | Tram | Troi | Chép | Rô phi (tha)

độ định thả ổn định; mặt khác cá giống lớn sức sinh trưởng cao (sinh trưởng tuyệt đối — khối lượng tăng được trong khoảng thời gian nuôi), thời gian nuôi có thể rút ngắn

“Thường thả cá giống vào mùa xuân (tháng 3 4), khi nhiệt độ đã tăng, thức

ăn phong phú, cá lớn nhanh Vì vậy, nếu thả cá giống muộn sẽ lỡ mất thời cơ thuận lợi cho cá lớn Cỡ cá thích hợp nhất nên thả loại 30 — 50gr/con, riêng cá trắm cỏ nên thả loại trên 100gr vì lúc này cá mới hoàn toàn dùng thức ăn (cỏ, lá xanh) như cá trưởng thành

Cá giống lưu từ năm trước do nuôi với mật độ dày, nuôi qua mùa đông cá lớn chậm, khi đưa vào ao nuôi cá thịt, lúc này mật độ thưa, thức ăn đầy đủ nên lớn nhanh gọi là "sinh trưởng bù", cá thả vào tháng 3 — 4 đến tháng 8 — 9 đã thu hoạch, có thể đạt thương phẩm (1kg trở lên) Khi nuôi cá thịt phải thả cá giống lớn Việc chuẩn bị cá giống lớn thường gặp khó khăn Bởi vậy, ngay từ khi bắt đầu thả cá giống đợt đầu, đã phải nghĩ ngay đến nguồn cá giống cho các đợt sau Có một kinh nghiệm: Cá giống đợt đầu được mua từ cuối năm, khi các cơ

sở thu cá thịt, số cá nhỏ, chưa đạt tiêu chuẩn cá thịt được bán như cá giống Nên mua "cá giống vụ thu" để tận dụng được tháng 5 là tháng cá có tốc độ sinh trưởng cao nhất trong năm Sau các đợt đánh tỉa, thả bù bằng "cá giống vụ xuân” đã được chuẩn bị (nuôi trong ao khác, nhỏ hơn)

108

Trang 9

Bảng 6.3 Quan hệ giữa khả năng tăng trọng và khối lượng cá

ở các giai đoạn phát triển trong cùng điều kiện nuôi

Trong ao nuôi cá, khi tổng mật độ cá tới 1,5kg/m° là chúng đã có hiện tượng ngạt, do chất thải của chúng gây ô nhiễm nguồn nước

Cá thả trong ao phải đảm bảo 2 yếu tố cơ bản: Hàm lượng oxy hoà tan đủ cho cá hô hấp và thức ăn đủ cho cá sinh trưởng Cá chỉ lớn khi khẩu phần thức

ăn được cung cấp đủ lớn hơn khẩu phần duy trì cho các hoạt động sống (trao đổi chất cơ bản) Nếu nuôi cá thâm canh, sử dụng thức ăn nhân tạo, thì yếu tố oxy hoà tan được xem là yếu tố quyết định (cho nên cần có quạt nước hay sục kh, còn nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến thì yếu tố thức ăn cần phải được cân nhắc kỹ hơn

Trang 10

"Thông thường, khi nuội cá theo công nghệ bán thâm canh, chỉ nên thả 1 — 2 con/m ao (tuỳ theo mức độ chăm sóc và kích thước loài cá khi thu hoạch) Riêng đối với cá chép, do thức ăn chủ yếu là động vật đáy nên thả !con/15m? — 20m’ dién tích đáy ao mới đảm bảo được đủ thức ăn Khi thả cá chép với mật độ cao (từ 3 — 5 con/lm?), cần phải làm tăng oxy bằng máy quạt nước, sục khí, thay nude va đặc biệt là phải bổ sung thức ăn chế biến có đây đủ các thành phần đỉnh dưỡng Mật độ hợp lý khi thu hoạch cá sẽ đạt thương phẩm Thả giống dày, khi thu hoạch cá còn nhỏ; thả mật độ thưa, khi thu hoạch đạt cá kích thước lớn nhưng sản lượng không cao Mật độ hợp lý sẽ có lợi cả về sản lượng và kích

thước cá khi thu hoạch, đảm bảo được kế hoạch đã định

Với cá mè hoa, khi mật độ dưới mức 450 — 600kg/ha, tăng trọng cá thể của

cá có thể đạt 0,4 — 0,6kg/tháng; khi mật độ đạt 450 — 600kg/ha, tăng trọng cá thể chỉ đạt 0,03 — 0,3kg/tháng

1.3.4 Tỷ lệ hợp Lý (tỷ lệ ghép các loài cá nuôi)

Đối với nuôi quảng canh hoặc quảng canh cải tiến, do cá sử dụng thức ăn

tự nhiên là chính, nên phải nuôi ghép nhiều loài cá khác nhau để tận dụng được hết các loại thức ăn tự nhiên có trong vực nước ở các tầng nước khác nhau và giữ cho nước sạch: cá mè ăn sinh vật phù du ở tầng trên; rô phi, trắm cỏ sống ở tầng giữa; trôi, chép sống ở tầng đáy,

Khi nuôi ghép các loài, cần phải xác định tỷ lệ hợp lý: Nếu đùng phân bón cho ao là chính, thì nguồn thức ăn chủ yếu sẽ là tảo phù du; vì vậy muốn năng suất cao thì phải thả các loài cá ăn tảo là chính như cá mè trắng Ngoài cá mè,

cá rô phi, trôi Ấn cũng dùng thức ăn là sinh vật phù du Một số loài tảo (như tảo lam) không phải là thức ăn tốt cho cá, đôi khi còn gây độc; nhưng khi nó ở dạng phân huỷ (hoặc bán phân huỷ) thì không còn độc tố nữa, cá có thể sử đụng trực tiếp làm thức ăn

Có nhiều cách tính tỷ lệ các loài cá nuôi ghép, dưới đây giới thiệu một số công thức nuôi ghép đã áp dụng, cho hiệu quả tốt Tỷ lệ ghép tham khảo ở các bảng 6.5, 6.6, 6.8

Trang 11

Nuôi loài cá ăn tảo là chính (mè trắng), cũng không nên thả quá 60% Với

cá chép, do thức ăn mang tính đặc biệt (sinh vật đáy) nên cũng không quá 5% Với cá trắm cổ, khi nuôi ghép, nếu chỉ lợi dụng thức ăn có sắn trong ao thì thả

nửa Mrigan và nửa Rohu (trôi Ấn),

Ghi chủ: Cá mè gồm mè trắng 85%, mè hoa 15%; Trôi gồm:

Bảng 6.7 Quan hệ giữa mật độ thả cá giống và năng suất cá thịt

khi nuôi đơn, cho ăn đẩy đủ và xử lý môi trường

Trang 12

Bang 6.9 Năng suất cá nuôi bằng phân lợn và bò ủ hoai

13.5 Cho ăn đầy đả

— "Cá một ngày không ăn hai ngày không lớn" Khi nuôi cá quảng canh, thức ăn hoàn toàn dựa vào tự nhiên; khi nuôi bán thâm canh hoặc thâm canh, thức ăn phải được cung cấp thường xuyên từ 2 nguồn: Bón phân tạo thức ăn tự nhiên và cho cá ăn thức ăn nhân tạo cung cấp hằng ngày Phải căn cứ vào các yếu tố: Loài cá, cỡ cá, tình trạng cá và thời tiết khí hậu, đặc biệt là chỉ tiêu năng suất Có 2 công nghệ nuôi cá theo hình thức nuôi ghép với cùng một nguyên tắc: Công nghệ nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến:

+ Dùng phân bón để tạo thức ăn tự nhiên là chính kết hợp với cho ăn thêm thức ăn (nhân tạo) bổ sung Theo công nghệ này, năng suất cá nuôi thường đạt

3 — 5T/ha/năm, không quá 10T/ha/năm

+ Cách thứ hai, làm ngược lại: Cho ăn thức ăn chế biến là chính kết hợp bổ sung thức ăn tự nhiên thông qua bón phân Với cách này, năng suất cao hơn, thường từ 7 — IOT/ha/năm, không quá 15T/ha/năm; nhưng phải xem xét khả năng cung cấp lượng thức ăn chế biến có đủ đảm bảo hay không? (hay là: Có đủ khả năng đầu tư không?) Nếu không đủ điều kiện thì không nên nuôi theo công nghệ này

— Nếu nuôi cá trấm cỏ là chính (tỷ lệ cá trắm cỏ chiếm 40 — 50% số cá thả trong ao), chất thải của cá trắm cỏ là phân bón cho ao để nuôi các loại cá khác (lượng phân của 1 con cá trắm cỏ cỡ lkg có thể nuôi được 0,5kg cá khác - là

mè, trôi, rô phi); vì vậy việc bón phân cho ao chỉ áp dụng khi cá còn nhỏ hoặc nước ao kềm màu mỡ

Khi nuôi cá trắm cỏ, lượng cổ xanh (các loại cỏ trên cạn hay có nước) cho

cá ăn hằng ngày chiếm từ 30 — 40% khối lượng cá nuôi trong ao, với Tong nude

112

Ngày đăng: 24/09/2012, 11:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  5.1.  Vận  chuyển  cá  bằng  xe  ôtô  có  máy  sục  khí,  để  hở - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
nh 5.1. Vận chuyển cá bằng xe ôtô có máy sục khí, để hở (Trang 1)
Hình  5.2.  Thao  tác  đóng  túi  cá - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
nh 5.2. Thao tác đóng túi cá (Trang 2)
Bảng  6.1.  Quan  hệ  độ  sâu  và  oxy  hoà  tan - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.1. Quan hệ độ sâu và oxy hoà tan (Trang 5)
Bảng  6.3.  Quan  hệ  giữa  khả  năng  tăng  trọng  và  khối  lượng  cá - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.3. Quan hệ giữa khả năng tăng trọng và khối lượng cá (Trang 9)
Bảng  6.5.  Tỷ  lệ  (%)  nuôi  ghép  các  loài  cá  trong  ao - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.5. Tỷ lệ (%) nuôi ghép các loài cá trong ao (Trang 10)
Bảng  8.8.  Công  thức  nuôi  ghép  để  đạt  năng  suất  1T/ha  năm  (Theo  Phạm  Báu) - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 8.8. Công thức nuôi ghép để đạt năng suất 1T/ha năm (Theo Phạm Báu) (Trang 11)
Bảng  6.10.  Lượng  phân  bón  dùng  cho  ao  nuôi  cá  mè  là  chính  (tạ/ha/tuần) - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.10. Lượng phân bón dùng cho ao nuôi cá mè là chính (tạ/ha/tuần) (Trang 13)
Bảng  6.12.  Năng  suất  cá  nuôi  và  kỹ  thuật  (công  nghệ)  tương  ứng - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.12. Năng suất cá nuôi và kỹ thuật (công nghệ) tương ứng (Trang 20)
Bảng  6.13.  Tỷ  lệ  cho  ăn  bằng  thức  ăn  &#34;tinh&#34;  thay  đổi  theo  thời  gian - Tài liệu kỹ thuật nuôi trồng thủy sản - phan 5.pdf
ng 6.13. Tỷ lệ cho ăn bằng thức ăn &#34;tinh&#34; thay đổi theo thời gian (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w