1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu tập huấn: Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản

38 646 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh là gì?: Bệnh là biểu hiện trạng thái bất thường của cơ thể sinh vật với sự biến đổi xấu của môi trường xung quanh, cơ thể nào thích ứng thìtồn tại và ngược lại không thích ứng thì m

Trang 1

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế của ngànhthủy sản đang ngày càng phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả đángkhích lệ

Tuy nhiên, ở khá nhiều nơi do phát triển ồ ạt, tự phát thiếu quyhoạch, kỹ thuật nuôi còn hạn chế, tính cộng đồng chưa được đề cao đã dẫnđến tình trạng ô nhiễm môi trường và dịch bệnh trong vùng nuôi trồng thủysản, đã gây ra không ít tổn thất lớn tới nông, ngư dân trong nuôi trồng thủysản

Để góp phần và khắc phục tình trạng đó Trung tâm giới thiệu việclàm thanh niên phối hợp với Chi cục Nuôi trồng thủy sản Quảng Ninh biên

soạn cuốn tài liệu tập huấn “ Kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản”.

Nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnhtrong nuôi trồng thủy sản theo hình thức bán thâm canh, thâm canh củangười nuôi Chúng tôi hy vọng cuốn tài liệu này sẽ bổ ích cho người nuôitrồng thủy sản nâng cao kỹ thuật nuôi và hạn chế rủi ro do dịch bệnh gây ra

Tài liệu hướng dẫn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mongnhận được ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp cũng như bà con nông,ngư dân các địa phương để hoản thiện tốt hơn

Mọi đóng góp liên hệ: Trung tâm giới thiệu việc làm thanh

niên Quảng Ninh , SĐT: 0333 Đ/c: phường Hồng Hà – thành

phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh

Trân trọng cám ơn!

Trang 2

1.1 Định nghĩa và phân loại bệnh ở cá

a Bệnh là gì?: Bệnh là biểu hiện trạng thái bất thường của cơ thể sinh

vật với sự biến đổi xấu của môi trường xung quanh, cơ thể nào thích ứng thìtồn tại và ngược lại không thích ứng thì mắc bệnh và chết

Khi cá bị nhiễm bệnh thường có một số biểu hiện như: trạng thái hoạtđộng không bình thường (ví dụ: không giữ được thăng bằng, nổi đầu, dạt

bờ, kém ăn hay thậm chí bỏ ăn…), có sự thay đổi về màu sắc của 1 bộ phậnhay toàn bộ cơ thể Tình trạng nhiễm bệnh kéo dài trên cá gây rối loạn hoạtđộng sống của cá, phá hủy một hay nhiều cơ quan chức năng quan trọngnhư hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa… kết quả bệnh xảy ra nặng và cá nuôi sẽchết

Bệnh lý: là những phản ứng của cơ thể bằng sự thay đổi một phần hay

toàn bộ chức năng sinh lý bình thường của cơ thể sinh vật (thay đổi về hoạtđộng, màu sắc…), khi có tác nhân gây bệnh xâm nhập hay có sự thay đổiđột ngột của các yếu tố môi trường sống (nhiệt độ, pH….)

+Bệnh không truyền nhiễm: Là bệnh gây ra do yếu tố môi trường, dinhdưỡng, độc tố bệnh này không có tính lan truyền

- Căn cứ vào vị trí ký sinh và phạm vi gây tác hại của bệnh người tachia bệnh cá thành:

+Bệnh cảm nhiễm cục bộ: Tác nhân xâm nhập và gây hại chỉ ở một bộ

phận nhất định nào đó của cơ thể, không có khả năng xâm lấn và gây táchại đến các bộ phận, cơ quan khác trong cơ thể Bệnh xảy ra ở cơ quannào thì quá trình biến đổi bệnh lý chủ yếu xảy ra ở đó Ở thủy sảnthường gặp các bệnh như bệnh ngoài da, bệnh ở mang, bệnh đường ruột

Trang 3

c Những con đường lây truyền bệnh

- Mầm bệnh có thể lây từ bố mẹ sang con thông qua tinh trùng và

trứng (lây bệnh theo chiều dọc).

- Những còn đường lây bênh khác dưới đây là lây theo chiều ngang:

+ Tiếp xúc trực tiếp: Trong ao nuôi sự tiếp xúc trực tiếp giữa động vật

khỏe sang động vật mang mầm bệnh hoặc bị bệnh có thể sẽ làm cho conkhỏe bị nhiễm mầm bệnh và bệnh

+ Môi trường nước: Tác

nhân gây bệnh sinh học luôn tồn

tại trong môi trường nước ao và

chúng có thể xâm nhập vào cơ

thể động vật thủy sản Động vật

thủy sản mang mầm bệnh sống

bệnh sẽ có nguy cơ bị nhiễm

bệnh cao

+ Bùn đáy ao: Mầm bệnh

có sẵn trong đáy ao hoặc được

tích tụ trong quá trình nuôi sẽ

tấn công cá và gây bệnh khi gặp điều kiện phù hợp

+ Dụng cụ chăm sóc, đánh bắt và vận chuyển: Khi sử dụng những dụng

cụ này với động vật thủy sản bị bệnh thì mầm bệnh có thể dính vào các dụng

cụ đó, nếu sử dụng lại chúng mà không được khử trùng thì mầm bệnh sẽ lâylan sang những con khỏe hoặc sang môi trường nước

+ Di chuyển động vật thủy sản: Động vật thủy sản di cư hay vận

chuyển từ vùng này sang vùng khác sẽ mang mầm bệnh từ vùng có mầmbệnh sang vùng không có mầm bệnh, từ đó lây sang con khỏe mạnh

+ Các sinh vật: Những sinh vật có hại, những sinh vật mang mầm bệnh

trung gian cũng có thể mang mầm bệnh từ vùng này sang vùng khác, từ aonuôi có mầm bệnh sang ao nuôi không có mầm bệnh

Trang 4

1.3 Điều kiện để thủy sản bị bệnh

Quá trình hình thành bênh trên

cá liên quan đến các yếu tố: tác

nhân gây bệnh, môi trường sống và

- Môi trường sống: Là biểu

hiện của chất lượng nước, trong

đó quyết định bởi nhiều yếu tố

như nhiệt độ, oxy hoà tan, pH,

các khí CO , NH3 , H2S và các kim loại nặng, những yếu tố này thay đổi sẽgây bất lợi cho động vật thuỷ sản và tạo điều kiện thuận lợi để tăng tínhđộc của tác nhân gây bệnh

- Vật chủ: Cơ thể luôn luôn tồn tại khả năng đề kháng với tác nhân gây

bệnh, thể hiện ở hệ thống miễn dịch đặc hiệu ở cá Do vậy, tác nhân gâybệnh chỉ có thể gây bệnh khi nó át chế được khả năng đề kháng của cá

Vì vậy trong thực tế để hạn chế được sự bùng phát bệnh ở thủy sảnkhông những chỉ ngăn chặn sự xâm nhập của tác nhân lên thủy sản mà cònphải có các biện pháp quản lý môi trường nuôi tốt nhằm kìm hãm sự pháttriển của tác nhân và tăng cao sức khỏe vật nuôi

2 Các yếu tố môi trường

Các yếu tố thủy lý hóa trong môi trường nước ảnh hưởng trực tiếp hay

Trang 5

- Nếu nhiệt độ chênh lệch 50C có thể làm cho động vật thuỷ sản bị sốc

và chết, tốt nhất không để nhiệt độ chênh lệch quá 30C, biên độ dao độngnhiệt độ trong ngày không quá 50C Cần lưu ý những thời điểm thay đổi

thời tiết như giông bão, mưa rào đột ngột, gió mùa đông bắc tràn về, chúng thường là nguyên nhân làm cho nhiệt độ nước thay đổi đột ngột, dễ gây sốc cho thủy sản nuôi.

2.2 Độ pH

- Độ pH của nước ảnh

hưởng rất lớn đến đời sống

của động vật thủy sinh

Nhưng thay đổi pH đột ngột

cũng làm cho đối tượng thủy

sản bị sốc, nếu thay đổi pH

quá giới hạn thích nghi của

loài thì đối tượng thủy sản bị

chết

- Biên độ thay đổi pH

theo đơn vị thời gian ảnh

hưởng rất lớn đến tỷ lệ sống

của đối tượng thủy sản

Trang 6

sống trong nước nên hàm

lượng oxy hoà tan trong

nước rất cần thiết cho đời

sống của động vật thủy

sản Nhu cầu sử dụng oxy

của các đối tượng thủy sản

là khác nhau, nó phụ thuộc

vào giai đoạn phát triển,

trạng thái sinh lý và nhiệt

độ môi trường nước

- Do đó khi trong môi trường sống lượng oxy hòa tan đạt 3 mg/l hoặcthấp hơn là mối nguy hiểm cho đối tượng thủy sản Vì vậy ở các mô hìnhnuôi thâm canh, với mật độ đối tượng thủy sản thả cao thường xuyên có hệthống quạt nước để nhằm nâng cao hàm lượng oxy hòa tan trong ao

2.4 Độ trong của nước

- Độ trong của nước

hơn, nâng cao khả năng bắt

mồi, đồng thời hạn chế sự phát triển của rong

hiểm trực tiếp cho đối tượng thủy sản, nhưng gây mất cân bằng dinh dưỡng

3 Quản lý môi trường ao nuôi

Trang 7

ấn 3.1 Quản lý, hạn chế sự thay đổi nhiệt độ trong ao nuôi

- Trong ao nuôi cá những thời điểm thay đổi thời tiết như giông bão,mưa rào đột ngột, gió mùa đông bắc tràn về, chúng thường là nguyên nhânlàm cho nhiệt độ nước thay đổi đột ngột, dễ gây sốc cho đối tượng thủy sảnnuôi Hạn chế ảnh hưởng nhiệt độ ta cần làm như sau:

+ Gây màu nước ao nuôi phù hợp

+ Cần bổ sung Vitamin C vào thức ăn khi nhiệt độ biến đổi

+ Chủ động cấp và thay nước ao nuôi vào những ngày nắng nóng.+ Cần làm nơi trú ẩn cho đối tượng thủy sản khi nhiệt độ xuống thấpnhất về mùa đông

3.2 Quản lý pH

- Khắc phục tránh pH thấp

Trong ao nuôi pH thường giảm mạnh gây chết thường là do nguyênnhân oxy hóa của đất phèn, do đó để quản lý pH thấp trong vùng chịu ảnhhưởng của đất phèn cần chú ý một số vấn đề sau:

+ Ở vùng đất phèn không phơi đáy ao nứt nẻ

+ Tránh trường hợp đất phèn tiếp xức với không khí

+ Ao mới đào nên trao đổi nước nhiều, bón vôi (CaCO3hay Dolomite)

và bón phân

+ Thay nước, cấp nước mới khi pH giảm xuống thấp

Trong trường hợp pH giảm do CO2 sinh ra từ quá trình hô hấp của thủysinh vật hay phân hủy hữu cơ thường không gây chết Cần hạn chế sự tíchlũy vật chất hữu cơ từ phân bón và thức ăn thừa trong ao, nếu mật độ nuôicao cần áp dụng biện pháp sục khí để làm giảm CO2 và làm tăng hàm lượngoxy hòa tan

- Khắc phục khi pH cao

Để hạn chế pH tăng cao trong ao nuôi cần áp dụng một số biện pháptránh tích lũy dinh dưỡng trong ao để hạn chế sự phát triển quá mức củathực vật:

+ Cải tạo ao tốt ở đầu vụ nuôi

+ Không cho thức ăn quá thừa và bón phân quá nhiều

+ Áp dụng các biện pháp khống chế sự phát triển của thực vật

Khi độ pH của nước tăng cao (pH ≥9) có thể áp dụng biện pháp hóa

Trang 8

học là dùng phèn nhôm Al2(SO4)3.14H2O để hạ pH xuống 8,34 Liều dùng

là 1mg phèn có thể loại bỏ 1mg độ kiềm Carbonate

Ngoài phèn nhôm có thể dùng thạch cao (CaSO4.2H2O) và Canxi cũngđược dùng để điều hòa pH

3.3 Quản lý, khắc phục hiện tượng thiếu Oxy trong ao nuôi

nuôi ta cần chú ý các điểm sau:

- Ao nuôi cần thoáng khí, không trồng cây lớn quanh ao, bờ ao quangđãng

- Thay nước với nguồn nước có chất lượng đảm bảo

- Khi thấy hiện tượng xấu như đối tượng thủy sản nổi đầu hàng loạt và

hoạt động yếu thì tiến hành quạt và sục khí (hoặc có thể sử dụng thuốc

H2O2 và CaO2 dạng hạt) ngay và tiến hành thay nước ao nuôi 30 – 50%

lượng nước ao nuôi

3.4 Điều chỉnh độ trong ao nuôi phù hợp

- Khi độ trong nước ao nuôi cao

Trong ao nuôi khi độ trong ao nuôi ≥ 60 cm là lúc báo hiệu ao nuôinghèo thực vật phù du Cần phải tiến hành các biện pháp sau đâu:

+ Tiến hành thay, cấp nước vào ao nuôi

+ Bón phân vô cơ hay hữu cơ (ủ kỹ với men vi sinh)

+ Duy trì pH ao nuôi ở mực 7,5 – 8,5 ( bón vôi và Dolomit để duy trì

pH ao nuôi)

+ Sử dụng men vi sinh xử lý nước và đáy ao nuôi

- Khi độ trong nước ao nuôi thấp

Trong ao nuôi khi độ trong nước ao nuôi ≤ 20 cm là lúc báo hiệu aonuôi thực vật phù du phát triển quá sẽ dễ dẫn tới hiện tượng nở hoa và thiếuoxy ao nuôi vào buổi sáng sớm Cần phải tiến hành các biện pháp sau đây:+ Tiến hành thay 30 – 50 % lượng nước trong ao nuôi

+ Điều chỉnh lượng thức ăn tránh trường hợp cho thừa thức ăn

+ Sử dụng đường mật 3- 5kg/1000m3 dùng trong 5 ngày

+ Sử dụng men vi sinh

Trang 9

- Chọn địa điểm nuôi thuận lợi:

+ Môi trường nuôi phù hợp (chất lượng nước, chất đáy, )

+ Đảm bảo ít bị ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên tàn phá (bão gió, sói

+ Phòng bệnh tổng hợp cho cá: định kỳ dùng Vôi (loại Vôi được nung

từ đá vôi thường dùng để làm vật liệu xây dựng CaCO 3) căn cứ vào pH

hướng dẫn kỹ thuật vào thành phần thức ăn cho cá ăn

Chú ý: (1),(2) Tham khảo tài liệu Kỹ thuật nuôi Rô phi thương phẩm).

bị lồi, xuất huyết ở dưới da và

gốc vây, mang nhợt nhạt hay tụ

máu, xuất huyết trong các nội

quan, cá chết rải rác tới hàng

loạt

- Phân bố và lan truyền:

Bệnh thường xuất hiện chủ yếu

ở giai đoạn ở cá giống, ít gặp ở

cá trưởng thành và vào mùa

xuân và mùa thu, tốc độ lây lan

nhanh

Trang 10

- Biện pháp phòng bệnh:

+ Áp dụng biện pháp phòng bệnh tổng hợp.

+ Loại bỏ những con bố mẹ có dấu hiệu

+ Không bắt giống tại vùng dịch Mua giống đã được kiểm dịch

+ Bổ sung vitamin C vào thức ăn

+ Dùng vôi bột rắc xuống ao 10 ngày 1 lần

+ Loại bỏ ngay những con bị bệnh trong ao …

2.2 Bênh do Vi Khuẩn

a Bệnh viêm ruột

- Tác nhân gây bệnh: Vi khuẩn Aeromonas hydrophila, Gram âm.

- Dấu hiệu bệnh lý: Tương tự bệnh xuất huyết do cầu khuẩn

Streptococcus sp Bệnh tích điển hình ruột trương to, chứa đầy hơi

- Phân bố và lan truyền

bệnh: Thường gặp ở cá rô phi

nuôi thương phẩm và cá bố mẹ

nuôi sinh sản khi môi trường

nuôi bị ô nhiễm, đặc biệt là thức

ăn không đảm bảo chất lượng, tỷ

- Tác nhân gây bênh: Cầu

khuẩn Streptococcus sp, Gram

dương

- Dấu hiệu bệnh lý: Ðầu

tiên cá yếu bơi lờ đờ, kém ăn

hoặc bỏ ăn, hậu môn, gốc vây

chuyển màu đỏ; mắt, mang, cơ

quan nội tạng và cơ xuất

huyết; máu loãng; thận, gan, lá

lách mềm nhũn Cá bệnh nặng

Trang 11

bơi quay tròn không định hướng, mắt đục và lồi ra, bụng trương to.

- Phân bố và lan truyền bệnh: Bệnh gặp ở nhiều loài cá nước ngọt.

Khi nuôi cá rô phi năng suất cao trong hệ tuần hoàn khép kín, cá dễ phátbệnh Bệnh có thể lây cho người khi chế biến cá không vệ sinh an toàn

- Phòng trị bệnh: Bón vôi (CaO hoặc CaCO3 hoặc CaMg(CO3)2) tùy

Dùng Erythromyxin: trộn vào thức ăn từ 3- 7ngày, dùng 2- 5g/100kgcá/ngày Có thể phun xuống ao nồng độ 1-2 ppm, sau đó sang ngày thứ 2trộn vào thức ăn 4 g/100kg cá, từ ngày thứ 3-5 giảm còn một nửa ThuốcKN-04-12 cho ăn 4g/1kg cá/ngày và 3 - 6 ngày liên tục Vitamin C phòngbệnh xuất huyết, liều dùng thường xuyên 20 - 30mg/1kg cá /ngày, liên tục7-10 ngày

c Bệnh thối mang

- Tác nhân gây bệnh: Myxococcus piscicola là vi khuẩn gây bệnh thối

mang Đây là vi khuẩn hình sợi, hai đầu tròn dễ uốn cong, nó sinh trưởng

- Dấu hiệu bệnh lý: Cá bơi chậm trên mặt nước và tách đàn, bắt mồi

giảm hoặc không bắt mồi Da cá chuyển màu đen nhất là phần đầu Các tiamang bị rách và thối nát, có dính bùn, biểu bì trong lớp mang xung huyết

Bề mặt xương nắp mang bị tụ máu, phần giữa xương bị hoại tử và trongsuốt hoặc bị ăn mòn thành lỗ tròn

Hình 9: Cá trắm cỏ bị bệnh thối mang

Trang 12

- Phân bố và lan truyền bệnh: Bệnh gặp nhiều ở cá trắm cỏ, cá

chép, mè hoa Bệnh xuất hiện vào đầu mùa hè ở điều kiện nhiệt độ thích

gặp ở cá của nhiều nước trên thế giới

- Phòng và chữa bệnh: Bệnh thối mang thường cùng xuất hiện đồng

thời với bệnh viêm ruột nên có thể áp dụng các phương pháp phòng bệnh

và chữa bệnh như đối với bệnh viêm ruột

nigra, T.orientalis, Trichodinella

epizootica, Tripartiella bulbosa, T.

clavodonta.

- Dấu hiệu bệnh lý:

+ Khi mới mắc bệnh, trên

thân, vây cá có nhiều nhớt màu hơi trắng đục, ở dưới nước thấy rõ hơn sovới khi bắt cá lên cạn Da cá chuyển màu xám, cá cảm thấy ngứa ngáy,thường nổi từng đàn lên mặt nước Một số con tách đàn bơi quanh bờ ao + Khi bệnh nặng trùng bám dày đặc ở vây, mang, phá huỷ các tơ mangkhiến cá bị ngạt thở, những con bệnh nặng mang đầy nhớt và bạc trắng Cábơi lội mất phương hướng

+ Cuối cùng cá lật bụng mấy vòng, chìm xuống đáy ao và chết

- Phân bố và lan truyền bệnh: Trùng bánh xe gây bệnh chủ yếu ở giai

đoạn cá giống, là bệnh ký sinh đơn bào nguy hiểm nhất của giai đoạn này.Trùng bánh xe ít gây bệnh ở giai đoạn cá thịt Khi ương cá trong nhà, bệnhgây ảnh hưởng nghiêm trọng tỷ lệ chết cao 70-100% Bệnh thường phát vào

Trang 13

+ Dùng nước muối NaCl 2-3% tắm cho cá 5-15 phút.

+ Dùng CuSO4 nồng độ 3-5 ppm tắm cho cá 5-15 phút hoặc phun trực

- Dấu hiệu bệnh lý: Da,

mang, vây của cá bệnh có

nhiều trùng bám thành các hạt

lấm tấm rất nhỏ, màu hơi trắng

đục (đốm trắng), có thể thấy

rõ bằng mắt thường (người

nuôi cá còn gọi là bệnh vẩy

nhót Da, mang cá có nhiều

nhớt, màu sắc nhợt nhạt

Cá bệnh nổi đầu trên tầng mặt, bơi lờ đờ yếu ớt Lúc đầu cá tập trunggần bờ, nơi có cỏ rác, quẫy nhiều do ngứa ngáy Trùng bám nhiều ở mang,phá hoại biểu mô mang làm cá ngạt thở Khi cá yếu quá chỉ còn ngoi đầulên để thở, đuôi bất động cắm xuống nước

- Phân bố và lan truyền bệnh: Bệnh gặp ở nhiều loài cá nuôi Cá rô philưu qua đông ở miền Bắc hoặc nuôi trong nhà, thường bị bệnh trùng quảdưa làm cá chết hàng loạt Bệnh phát vào mùa xuân, mùa đông

- Phòng trị bệnh: Dùng formalin nồng độ 200- 250ppm (200-250

ml/m3) tắm trong 30- 60phút hoặc phun xuống ao với nồng độ 20-25

c Bệnh sán lá đơn chủ

- Tác nhân gây bệnh: sán lá đơn chủ Cichlidogyrus tilapiae, C

sclerosus, Gyrodactylus niloticus.

Trang 14

- Dấu hiệu bệnh lý: Cichlidogyrus, Gyrodactylus ký sinh trên da và

mang cá, làm cho mang và da cá tiết ra nhiều dịch nhờn ảnh hưởng đến hôhấp cá Tổ chức da và mang có sán ký sinh bị viêm loét tạo điều kiện cho vikhuẩn, nấm và một số sinh vật xâm nhập gây bệnh

- Phân bố và lan truyền bệnh: Cá có thể bị bệnh khi ương giống với

mật độ dày và có thể gây chết hàng loạt trong giai hoặc bể ương Bệnh phátvào mùa xuân, mùa thu

- Tác nhân gây bệnh: Rận cá Caligus sp

- Dấu hiệu bệnh lý: Rận cá thường ký sinh ở vây, mang cá rô phi, làm

cho da cá bị viêm loét tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng khácxâm nhập, vì vậy nên nó thường cùng lưu hành với bệnh đốm trắng, bệnhđốm đỏ, lở loét nên dẫn đến làm cá chết hàng loạt Cá bị rận Caligus sp kýsinh có cảm giác ngứa ngáy, vận động mạnh trên mặt nước, bơi lội cuồngdại, cường độ bắt mồi giảm

- Phân bố và lan truyền bệnh: Rận cá Caligus sp ký sinh ở nhiều loài

cá nuôi Cá rô phi nuôi mật độ dày Rận cá Caligus sp ký sinh đã gây chết

Trang 15

- Tác nhân gây bệnh: Loài

giun tròn Philometra sp là loài

ký sinh điển hình gây bệnh Cơ

thể giun thon dài, không màu Phần đầu nhỏ, sau to dần, đuôi gần hình tròn.Kích thước con đực con cái khác nhau, dài 5-6mm (đực), 6-8mm (cái).Quá trình phát triển phụ thuộc vào nhiệt độ và pH của môi trường, nhiệt

độ thấp phát triển chậm nhưng pH thích hợp từ trứng đến giun trưởng thànhchỉ trong 6- 7ngày

- Dấu hiệu bệnh lý và tác hại: Dấu hiệu bệnh lý không rõ ràng, khi

bị bệnh cá di chuyển chậm, da cá nhợt nhạt; do bóng hơi bị ảnh hưởng nênmất thăng bằng, cá bơi ngửa một thời gian rồi chúc đầu xuống; Giun tròn

ký sinh dưới vảy làm da cá viêm loét, vẩy bị rộp và rụng ra tạo điều kiệncho các vi khuẩn và nấm xâm nhập gây bệnh Tuy nhiên tác hại chủ yếu làlấy chất dinh dưỡng của cá làm cho cá chậm lớn

Hình14: Giun tròn Philomatra

Để phát hiện trùng ký sinh ở da có thể quan sát bằng mắt thường hoặckính lúp cầm tay Các bộ phận nội tạng quan sát trên bệnh phẩm bằng cáchgiải phẫu

- Phân bố của giun tròn: Giun tròn Philomatra ký sinh trên nhiều cá

nước ngọt nhưng chủ yếu ở cá rô, trê, quả, giun ký sinh trong ruột, dạ dàycủa cá, trên cá cái chúng còn ký sinh ở buồng trứng Giun tròn xuất hiệnrộng trên thế giới, xuất hiện ở Việt Nam trong các ao nuôi quanh năm

- Phòng và chữa bệnh.

+ Phòng bệnh: Dùng vôi tẩy ao Chuyển cá cần kiểm tra, nếu phát hiện

bệnh cần trị bệnh mới thả nuôi trong môi trường mới

+ Chữa bệnh: Nếu cá bị giun tròn ký sinh dưới da dùng nước muối 2%

Trang 16

- Tác nhân gây bệnh: Các loài thuộc giống Lernaea là tác nhân gây

bệnh, bao gồm L.polymorpha, L.cyrinacea, L.ctenopharyngodontis; hình

dạng giống như mỏ neo, cơ thể kéo dài, các đốt hợp lại thành ống hơi vặn,phần đầu kéo dài thành sừng giống mỏ neo (hình 14) Trùng mỏ neo nhỏnhư cái kim có chiều dài khoảng 5-6cm

Quá trình phát triển của trùng mỏ neo phụ thuộc vào một số yếu tố môi

mùa xuân nhiệt độ thấp đời sống của trùng mỏ neo kéo dài, do vậy nó cóthể ký sinh qua mùa đông vào xuân ấm áp sinh sản Con cái ký sinh vĩnhviễn ở cá đến khi chết

- Dấu hiệu bệnh lý: Khi cá mới bị mắc bệnh trùng mỏ neo có

biểu hiện bơi lội không bình thường, khả năng bắt mồi giảm dần Trùng

mỏ neo lấy chất dinh dưỡng nên cá gầy yếu dần Cá giống khi bị bệnh bơilội mất thăng bằng, dễ bị dị hình, cong queo Cá bị trùng mỏ neo ký sinhmột bên cơ thể sẽ mất trọng tâm, bơi nghiêng; nếu 2-3 trùng ký sinhcùng lúc trên cơ thể cá chỉ 2-3 ngày cá không bơi được sẽ chết Ký sinh

ở miệng làm cá không ăn được Khi ký sinh phần đầu của trùng cắm sâu

Hình 15: Trùng mỏ neo và cá mè mắc

bệnh.

Trang 17

- Lưu hành của bệnh: Trùng mỏ neo ký sinh trên vây, da và phần

lớn trong xoang miệng của hầu hết các loài cá nước ngọt nhưng nhiều là

cá mè, cá trắm cỏ, cá chép; ký sinh ở nhiều lứa tuổi khác nhau, lưu hànhrộng rãi trong các thuỷ vực của cả nước Trong các cơ sở nuôi trùng mỏ neo

ký sinh trên cá nuôi với tỷ lệ cao gây tổn thất cho sản xuất

- Phòng và chữa bệnh:

+ Phòng bệnh: Dùng nguồn nước sạch, không dùng nguồn cấp có

nước ao cá bị bệnh Dùng lá xoan bón lót trước khi thả cá với lượng

+ Chữa bệnh: sử dụng 1 trong các biện pháp sau đây:

Dùng thuốc tím KMnO4 nồng độ 10-12ppm tắm cá 1-2giờ ở nhiệt độ 20-300C

Thay 2/3 số lượng nước bằng nước sạch

2.4 Bệnh do quản lý và môi

trường

a Cá trương bụng do thức ăn

- Dấu hiệu bệnh lý: thường

xảy ra ở các ao, bè cho cá ăn thức

ăn tự chế không được nấu chín,

không đảm bảo chất lượng làm cá

không tiêu hoá được thức ăn, bụng

cá trương to, ruột chứa nhiều hơi

Cá bơi lờ đờ và chết rải rác

- Biện pháp khắc phục: là

kiểm tra chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh lại cho thích hợp.Nếu trường hợp nặng, thường xuyên có thể thay đổi thức ăn Trong thức ănnên bổ sung men tiêu hóa (các probiotic )

b Cá chết do mật độ dày

Hiện tượng này thường xảy ra ở các ao, bè nuôi thâm canh với mật độquá dày Cá chết không có dấu hiệu bệnh lý, chỉ nổi lờ đờ và chết hàng loạt

Trang 18

Chương III: BIỆN PHÁP PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH TRÊN TÔM

THẺ CHÂN TRẮNG

1 Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp cho tôm nuôi

Công tác phòng bệnh tổng hợp cho tôm cần thực hiện theo 3 hướng:+ Tiêu diệt và ngăn chặn sự xâm nhập, phát triển của mầm bệnh:

Trang 19

+ Xử lý nguồn nước trước khi đưa vào nuôi

+ Sử dụng đàn giống không mang mầm bệnh

+Sử dụng thức ăn không mang mầm bệnh

+ Sát trùng nơi cho ăn

+ Sát trùng dụng cụ sản xuất

+ Áp dụng mô hình nuôi ít thay nước, bán tuần hoàn, tuần hoàn.+ Ngăn chặn sự xâm nhập và tiêu diệt ký chủ trung gian, các sinh vậtmang mầm bệnh

+ Kìm hãm sự phát triển của tác nhân gây bệnh

+ Sát trùng nước tôm bị bệnh trước khi thải

+ Nâng cao sức đề kháng của tôm

+ Chọn một đàn giống khoẻ mạnh

+ Chọn mật độ nuôi thích hợp

+ Cho tôm ăn theo phương pháp “bốn định”

Quản lý môi trường ao nuôi thích hợp và ổn định: Đây là biện pháp phòngbệnh hữu hiệu nhất vì sự xuất hiện bệnh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môitrường

+ Thiết kế xây dựng trại, ao nuôi thủy sản phù hợp với công tác phòngbệnh

+ Áp dụng mô hình nuôi luân canh

+ Quản lý các yếu tố môi trường ổn định và thích hợp

- Ngoài các biểu hiện bệnh như tên gọi đứt râu, thối mang, đen mang,thối đuôi, đốm đen, còn kèm theo một số các dấu hiệu khác

Ngày đăng: 13/07/2017, 13:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w