1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo đề tài Future contract (thanh toán quốc tế)

74 399 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 5,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

báo cáo đề tài Future contract (thanh toán quốc tế)

Trang 2

Thị Trường Giao Sau

1)Lịch sử thị trường giao sau 2

2)Tên gọi 5

Hợp đồng giao sau 1) Khái niệm 6

2) Đặc điểm 7

3) Mục đích 16

4) hoạt động thanh toán bù trừ 23

5) Mối liên hệ giữa thị trường giao sau và thị trường khác 31

6) Các chủ thể tham gia 33

7) Lệnh giao dịch 36

8) Phí và thuế giao dịch 38

CME Group I)Thị trường CME 1) Lịch sử hình thành 42

2) Đặc điểm A Hàng hóa 44

B Floor Trading

C Electronic trading C.1 Tổng quan 48

C.2 Phiên giao dịch 48

C.3 Lịch trình mua bán 48

C.4 Các loại lệnh và thời lượng 49

Trang 3

D Clearing

D.1 clearing là gì ? 59

D.2 Tầm quan trọng của đối tác trung tâm

D.3 Clearing house 60

D.4 Vai trò 60

Thị trường TRUNG QUỐC Tình hình chung thị trường giao sau VIỆT NAM 1) Sơ lược 65

2) Nguyên nhân 65

3) Giải pháp 65

*Thị trường giao sau cà phê 67

Trang 4

THỊ TRƯỜNG GIAO SAU:

1 Lịch sử thị trường giao sau:

Thị trường giao sau có thể được xem như đã xuất hiện từ thời trung cổ tại Châu Âu Nguyên thủy nó được phát triển để đáp ứng yêu cầu của các giới nông dân và thương buôn Hãy xem xét tình hình của nông dân vào tháng 4 của một nămnhất định, trong khi họ sẽ thu hoạch ngũ cốc vào tháng 6, sẽ thấy có sự không ổn định về giá ngũ cốc đối với nông dân Trong những năm khan hiếm giá ngũ cốc có thể rất cao- nhất là khi nông dân không vội vã bán ra Mặt khác, trong những năm bội thu giá ngũ cốc có xu hướng rẻ mạt Nông dân và gia đình họ rõ ràng là chịu ảnh hưởng rất lớn đối với những rủi ro này

Hãy xem tiếp đến giới thương buôn, những người luôn có nhu cầu về ngũ cốc Thương gia cũng bị tác động bởi những rủi ro về giá Trong những năm bội thu giá cả có thể thuận lợi; còn những năm khan hiếm có thể gây ra giá cắt cổ Do vậy, việc nông dân và các thương gia gặp nhau vào tháng 4 (hoặc thậm chí sớm hơn) để thỏa thuận về giá ngũ cốc sẽ được người nông dân sản xuất ra vào tháng 6

là một việc làm rất có ý nghĩa Nói khác đi, điều đó có nghĩa là họ đã thương lượng loại hợp đồng giao sau Hợp đồng cung cấp cách thức mà mỗi bên có thể loại trừ rủi ro do giá cả ngũ cốc không ổn định trong tương lai

Chúng ta có thể hỏi điều gì sẽ xảy ra đối với những yêu cầu về ngũ cốc củathương gia trong thời gian còn lại của năm Một khi vụ thu hoạch đã qua, ngũ cốcphải được dự trữ đến vụ mùa tới Trong khi thực hiện dự trữ, thương gia khôngphải chịu bất cứ rủi ro nào về giá nhưng phải chịu chi phí bảo quản Nếu nông dânhoặc một số người khác dự trữ ngũ cốc thì cả thương gia và nhà dự trữ đều phảiđương đầu với rủi ro tương ứng trên giá giao sau của ngũ cốc, và một lần nữa chothấy rõ vai trò của hợp đồng giao sau

Tuy nhiên, TTGS đầu tiên trên thế giới ra đời tại thành phố Chicago (Hoa Kỳ) Vào thập niên 40 thế kỷ XIX, Chicago đã trở thành một trung tâm thương mạilớn của Hoa Kỳ Cũng trong thời gian đó, máy gặt McCormick đã được phát minh,giúp cho năng suất sản xuất lúa mì tại Mỹ tăng lên rất nhanh chóng Do đó, những người nông dân trồng lúa mì từ khắp nơi đều quy tụ về Chicago để bán sản phẩm của họ Dần dần, hoạt động này trở nên sôi nổi đến mức hầu như không đủ nhà khochứa lúa mì của nông dân Ngoài ra, sự tồn tại những phương pháp nghèo nàn trong việc cân và phân loại hàng hóa đã đẩy người nông dân vào tình thế phải chịu

sự định đoạt của các thương nhân

Trang 5

Tình hình có vẻ khả quan hơn, khi vào năm 1848, một trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được thành lập Ở đó, người nông dân và các thương nhân có thể mua bán trao ngay tiền mặt và lúa mì theo tiêu chuẩn về sốlượng và chất lượng do CBOT qui định Nhưng các giao dịch ở CBOT bấy giờ chỉ dừng lại ở hình thức của một chợ nông sản vì hình thức mua bán chỉ là nhận hàng – trao tiền đủ, sau đó thì quan hệ các bên chấm dứt Trong vòng vài năm, một kiểu hợp đồng mới xuất hiện dưới hình thức là các bên cùng thỏa thuận mua bán với nhau một số lượng lúa mì đã được tiêu chuẩn hóa vào một thời điểm trong tương lai Nhờ đó, người nông dân biết mình sẽ nhận được bao nhiêu cho vụ mùa của mình, còn thương nhân thì biết được khoản lợi nhuận dự kiến Hai bên ký kết với nhau một hợp đồng và trao một số tiền đặt cọc trước gọi là “tiền bảo đảm” Quan

hệ mua bán này là hình thức của hợp đồng kỳ hạn (forward contract) Nhưng không dừng lại ở đó, quan hệ mua bán ngày càng phát triển và trở nên phổ biến đến nỗi ngân hàng cho phép sử dụng loại hợp đồng này làm vật cầm cố trong các khoản vay Và rồi, người ta bắt đầu mua đi bán lại trao tay chính loại hợp đồng nàytrước ngày nó được thanh lý Nếu thương nhân không muốn mua lúa mì thì họ có thể bán lại cho người khác cần nó hoặc người nông dân không muốn giao hàng thì

họ có thể chuyển nghĩa vụ của mình cho người nông dân khác Giá cả hợp đồng lên xuống dựa vào diễn biến của thị trường lúa mì Nếu thời tiết xấu xảy đến, thì người bán lại hợp đồng đó sẽ thu được nhiều lãi vì nguồn cung hàng đang thấp đi nên giá hợp đồng sẽ tăng; nếu vụ mùa thu được nhiều hơn sự mong đợi thì người bán hợp đồng sẽ mất giá vì người ta có thể trực tiếp mua lúa mì trên thị trường tự

do Cứ như thế, các quy định cho loại hợp đồng này ngày càng chặt chẽ và người

ta quên dần việc mua bán hợp đồng kỳ hạn lúa mì mà chuyển sang lập các hợp đồng giao sau (HĐGS) lúa mì Vì chi phí cho việc giao dịch loại hợp đồng mới nàythấp hơn rất nhiều và người ta có thể dùng nó để bảo hộ giá cả cho chính hàng hóa của họ Từ đó trở đi, những người nông dân có thể bán lúa mì của mình bằng cả 3 cách: trên thị trường giao ngay, trên thị trường kỳ hạn (forward) hoặc tham gia vàoTTGS (futures)

Lịch sử phát triển của TTGS không dừng lại ở đó Đến năm 1874, The

Chicago Produce Exchange được thành lập và đổi tên thành Chicago Mercantile Exchange (CME), giao dịch thêm một số loại nông sản khác và trở thành TTGS lớn nhất Hoa Kỳ

Năm 1972, CME thành lập thêm The International Monetary Market (IMM)

để thực hiện các loại giao dịch HĐGS về ngoại tệ Sau đó, xuất hiện thêm các loại HĐGS tài chính khác như HĐGS tỉ lệ lãi suất (Interest rates), HĐGS về chỉ số chứng khoán…

Trang 6

Ngày nay, TTGS đã vượt xa khỏi giới hạn của hợp đồng nông sản ban đầu,

nó trở thành công cụ tài chính để bảo vệ các loại hàng hóa truyền thống và cũng là một trong những công cụ đầu tư hữu hiệu nhất trong ngành tài chính TTGS hiện nay hoạt động liên tục thông qua hệ thống Globex nối liền 12 trung tâm tài chính lớn trên thế giới Sự thay đổi giá cả của các loại hàng hóa chuyển biến từng giây một và gây ảnh hưởng không chỉ đến nền kinh tế của một quốc gia mà cả khu vực

và toàn thế giới

* Các thị trường tiêu biểu:

1 The Chicago board of Trade

The Chicago board of Trade (CBOT) được thành lập năm 1848 để đưa nông

dân và thương gia lại với nhau Nhiệm vụ đầu tiên của nó là tiêu chuẩn hóa sốlượng và chất lượng của ngũ cốc được trao đổi Trong vòng vài năm một kiểu hợpđồng giao sau đầu tiên được đưa ra, các nhà đầu cơ chú ý ngay lập tức và tìm cáchtrao đổi hợp đồng để có giải pháp hấp dẫn cho hoạt động kinh doanh ngũ cốc Hiệnnay CBOT đưa ra hợp đồng giao sau cho nhiều loại tài sản khác nhau, bao gồm:bắp, yến, đậu nành (kể cả bột đậu nành và dầu đậu nành), bột mì, trái phiếu khobạc trung và dài hạn

2 The Chicago Mercantile Exchange

Năm 1874 The Chicago Produce Exchange được thành lập, cung cấp thị

trường cho bơ, trứng, gia cầm và những sản phẩm nông nghiệp khác Năm 1898các nhà bán lẻ trứng và bơ rút lui khỏi thị trường Năm 1919 thị trường này đổi tênthành Chicago Mercantile Exchange (CME) và được tổ chức lại cho giao dịch giaosau Từ đó, CME trở thành thị trường giao sau của nhiều loại hàng hóa, bao gồm

cả thịt heo, gia cầm sống, đến năm 1982 nó còn giới thiệu hợp đồng giao sau đốivới chỉ số chứng khoán của Standard & Poor’s (S&P) 500

Thị trường tiền tệ quốc tế (IMM) được hình thành như là một chi nhánh của CME vào năm 1972 để giao dịch giao sau về ngoại tệ Hiện nay giao dịch giao sau

về tiền tệ trên thị trường IMM bao gồm: Euro, Bảng Anh, Dollar Canada, Yen Nhật, Franc Thụy Sỹ, Dollar Úc, Dollar Newzealand… Thị trường IMM cũng giao dịch hợp đồng giao sau về Onemonth LIBOR, hợp đồng trái phiếu kho bạc ngắn hạn, hợp đồng giao sau về đồng Euro,dollar

Ngày 9/7/2007, CBOT đã được sáp nhập vào CME Vụ sáp nhập này tạo thành 1 sàn giao dịch hàng hóa kỳ hạn lớn nhất thế giới tại thành phố Chicago của Mỹ

CME Group tạo ra 1 thị trường có tính thanh khoản cao hơn, đem lại nhiều lợi ích cho nhà đầu tư

Trang 7

3 Thị trường giao dịch khác

Trên thế giới hiện có nhiều thị trường khác cũng tiến hành giao dịch hợp đồng giao sau Tiêu biểu trong số đó là Bolsa de Mercadorias Futuros (BM&F) ở Sao Paulo, The London International Financial Futures Exchange (LIFFE), The Swiss Option and Financial Futures Exchange (SOFFEX), The Tokyo

International Financial Futures Exchange (TIFFE) , The singapore International Monetary Exchange (SIMEX), và The Sydney Futures Exchange (SFE) Hầu hết hợp đồng trao đổi ở các thị trường khác nhau trên thế giới có thể phân loại ra là hợp đồng future về hàng hóa hoặc hợp đồng giao sau về tài chính(giao dịch các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu) Không nghi ngờ gì nữa thị trường giao sau là một trong những công cụ cải tiến tài chính thành công nhất

2 Tên gọi:

Thuật ngữ HĐGS xuất phát từ thuật ngữ Commodities Futures Contract (Hợpđồng mua bán hàng hóa giao sau) Người ta gọi tên cho loại thị trường này là Commodities Futures Market hoặc Futures Market Dần dần, trong các tài liệu chỉ

sử dụng thuật ngữ Futures để chỉ loại thị trường hoặc loại hợp đồng này Điểm lưu

ý là Futures luôn có “s” ở cuối từ Trong một số tài liệu ở trong nước có lẽ do sai sót in ấn hay nhầm lẫn đã sử dụng là Future, như vậy là sai so với thuật ngữ quốc

tế Hiện nay, các tài liệu trong nước có rất nhiều cách gọi cho loại hợp đồng này,

cụ thể như : hợp đồng Future, hợp đồng Futures, hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao sau… và khi gọi tên thị trường này thì cũng nhiều tên gọi khác nhau tương tự

Việc có nhiều cách gọi khác nhau cùng để chỉ một thuật ngữ là một điều bìnhthường, đặc biệt là trong các thuật ngữ kinh tế Nhưng trong lãnh vực pháp lý đòi hỏi phải có một thuật ngữ chung, sử dụng thống nhất, giúp cho việc tiếp nhận thông tin nhanh chóng từ người sử dụng thuật ngữ đến người tiếp nhận, tránh tình trạng hiểu sai

Theo pháp luật Việt Nam qui định thì chỉ sử dụng thuật ngữ có phiên âm nước ngoài khi chưa có thuật ngữ thay thế hoặc chưa được Việt hóa Vì vậy các văn bản pháp lý sẽ chỉ sử dụng các thuật ngữ tiếng Việt Thuật ngữ “hợp đồng tương lai” chẳng qua là do dịch từ Future, nhưng như đã nói, thuật ngữ quốc tế sử dụng là Futures Các nước nói tiếng Pháp thì sử dụng thuật ngữ “le contrat à terme” để chỉ “futures contract”; “le contrat à terme ferme” để chỉ cho “forward contract” Khi dịch các thuật ngữ trên sang tiếng Việt, do không có sự thống nhất nên dẫn đến có hai cách gọi là “hợp đồng kỳ hạn” và “hợp đồng giao sau” cho cả hai loại hợp đồng này; không có sự tách bạch cụ thể, đâu là “hợp đồng giao sau”, đâu là “hợp đồng kỳ hạn” Hiện nay, các nhà kinh doanh thì gọi “hợp đồng kỳ

Trang 8

hạn” để chỉ cho cả hợp đồng futures và hợp đồng forward Còn các nhà nghiên cứu, các sách, giáo trình tài chính thì sử dụng thuật ngữ “hợp đồng kỳ hạn” cho loại Forward contract ; “hợp đồng giao sau” cho thuật ngữ Futures contrat Mặt khác, trong các đề tài nghiên cứu, văn bản của Viện Thương mại, Bộ Thương mại trình Chính phủ cũng sử dụng thuật ngữ “thị trường giao sau”, “hợp đồng giao sau” để chỉ cho loại quan hệ này, nên chúng tôi cũng lựa chọn thuật ngữ này trong

đề tài nghiên cứu của mình

B HỢP ĐỒNG GIAO SAU

1 Khái niệm.

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về HĐGS Các giáo trình tài chính thường định nghĩa như sau: HĐGS là một cam kết pháp lý có tính ràng buộc, được lập thông qua Sở giao dịch, để mua hoặc bán một lượng hàng hóa hoặc các công

cụ tài chính nhất định ở một giá xác định tại một thời điểm đã được định trước trong tương lai; hợp đồng đó có thể được thanh toán bù trừ trước ngày đáo hạn hợpđồng

Hoặc trong bài viết của các nhà khoa học Thái Lan khi nghiên cứu xây dựng TTGS ở Thái Lan thì có định nghĩa sau:“HĐGS là một cam kết của hai bên, giữa bên mua và bên bán, để giao dịch hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai, về một loại hàng hóa đặc biệt hoặc các loại dịch vụ ở một giá được định trước Giá cả được xác định thông qua một tiến trình niêm yết và đấu giá tuân theo những luật lệcủa một Sở giao dịch có tổ chức.”

Dựa vào các định nghĩa trên, có một định nghĩa chung như sau:

“HĐGS là một cam kết pháp lý của các bên về việc mua hoặc bán một lượng hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai thông qua Sở giao dịch và các cơ quan trung gian ở một giá được định trước.”

Sự cam kết pháp lý về một hành vi trong tương lai này có thể được các bên hủy bỏ một cách hợp pháp khi lập một HĐGS khác ngược lại vị thế mà mình đã

có Cũng vì lý do đó mà ta có thể chia HĐGS thành hai loại :

- HĐGS được thanh lý sau khi giao hàng Đây là loại hợp đồng tồn tại một sựgiao hàng thực sự theo như thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng Trong trường hợp này, về bản chất thì HĐGS tương tự như hợp đồng kỳ hạn (forward)

- HĐGS được thanh lý trước ngày giao hàng ghi trong hợp đồng Đây là loại hợp đồng không có sự giao hàng trên thực tế xảy ra, các bên chấm dứt sự ràng buộc của mình đối với phía bên kia bằng nghiệp vụ thanh toán bù trừ, nghĩa là các bên mua hoặc bán lại chính loại hàng hóa đó ngược với vị thế mà mình đã có (vị thế mua hoặc bán trước đây) Đây là dạng phổ biến, nhờ đó mà tồn tại TTGS

Trang 9

2 Đặc điểm:

HĐGS có nhiều đặc điểm riêng biệt, không có ở các hợp đồng khác Dựa vàođịnh nghĩa và thực tiễn, HĐGS có thể được chia thành các đặc điểm chính sau:

- Các điều khoản trong HĐGS được tiêu chuẩn hóa

- HĐGS là một hợp đồng song vụ, cam kết thực hiện nghĩa vụ trong tương lai

- HĐGS được lập tại SGD qua các cơ quan trung gian

- HĐGS phải có tiền bảo chứng và đa số các HĐGS đều được thanh lý trước thời hạn

a

Các điều khoản trong HĐGS được tiêu chuẩn hóa

Trong TTGS, các hoạt động mua bán được thực hiện liên tục với trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bảo đảm an toàn cao Do đó, các điều khoản trong hợp đồng được tiêu chuẩn hóa một cách tối đa, giúp cho việc ký kết hợp đồng nhanh chóng, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý Các điều khoản được tiêu chuẩn hóa trongTTGS là: tên hàng, chất lượng, độ lớn hợp đồng, số lượng giao dịch, thời gian giaohàng, địa điểm giao hàng, cách yết giá, mức giá biến động tối thiểu, tháng giao dịch,giờ giao dịch,giới hạn giá hàng ngày,ngày giao dịch cuối cùng, phương thức thanh toán

Tài sản :

Tên hàng phải là chính hàng hóa được phép giao dịch trên SGD đó Hàng hóa đó có thể là một loại hàng hóa thông thường hoặc cũng có thể là các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, chỉ số… Mỗi SGD chỉ giao dịch một số loại hàng hóa nhất định Do đó, người tham gia thị trường chỉ được phép giao dịch các hàng hóa cho phép trong SGD đó Trong trường hợp người nông dân muốn bảo vệ cho hàng hóa của mình nhưng hàng hóa đó không được mua bán trên SGD thì họ có thể bán bằng một HĐGS của loại hàng hóa tương tự Ví dụ như người nông dân thu hoạch Bắp hạt vàng loại 4, trong khi đó, SGD chỉ cho phép giao dịch loại 1 và loại 2, thì người nông dân có thể thực hiện các HĐGS thanh toán bù trừ đối với Bắp loại 2 để bảo hộ cho giá Bắp loại 4 của mình

Chất lượng hàng hóa cũng được tiêu chuẩn hóa Hàng hóa được phân thành các mức chất lượng khác nhau nhưng thông thường thì SGD chỉ cho phép giao dịch một vài mức chất lượng nhất định

Độ lớn :

- Là độ lớn giá trị tài sản được giao dịch trong một hợp đồng Độ lớn mỗiHĐGS về mỗi loại hàng hóa đều được thống nhất và hầu như được thống nhất trêntoàn thế giới giúp cho việc mua bán giữa các TTGS trên thế giới dễ dàng hơn.Chẳng hạn như một hợp đồng vàng có khối lượng là 100 ounces, hợp đồng dầu thô

là 1000 barrels, hợp đồng Yen Nhật là 12.500.000 ¥, hợp đồng cà phê arabica là37.500 pounds (tại NYMEX), hợp đồng cà phê robusta là 5 tấn (tại LIFFE),… việc

Trang 10

qui định độ lớn mỗi hợp đồng sao cho không quá lớn để những nhà bảo hộ nhỏcũng có khả năng tham gia, không quá nhỏ vì khoản được bảo hộ hoặc đầu cơ sẽkhông bù đắp được chi phí huê hồng hay các chi phí khác.

Thỏa thuận chuyển giao :

- Địa điểm giao hàng trong HĐGS do thị trường trao đổi ấn định Việc giaohàng này xảy ra khi các bên mong muốn thi hành hợp đồng Khi địa điểm giaohàng được chọn, giá cả mà người bán nhận được điều chỉnh theo địa điểm giaohàng

Thời điểm giao hàng : (thời điểm đáo hạn hợp đồng)

- Hợp đồng giao sau thường chỉ rõ tháng giao hàng Đối với nhiều hợp đồngthời gian giao hàng là trọn tháng

- Tháng giao hàng thay đổi theo từng hợp đồng và được thị trường giao dịchchọn lựa để đáp ứng nhu cầu của những thành viên tham gia thị trường

- *VD: hợp đồng future về tiền tệ ở thị trường IMM có tháng giao hàng là3,6,9 và 12; hợp đồng future về bắp trên thị trường CBOT có tháng giao hàng là3,5,7,9 và 12…

- Tại một thời điểm bất kỳ, hợp đồng sẽ được thực hiện trong tháng giao hànggần nhất và một số tháng giao hàng tiếp sau đó

- Thị trường sẽ nêu rõ khi nào thì bắt đầu tháng giao hàng và ngày cuối cùngphải thực hiện giao dịch đối với một hợp đồng cụ thể.Thông thường việc giao dịch

sẽ kết thúc cách vài ngày trước ngày giao hàng cuối cùng Vậy thời điểm giao hàng

là điều kiện xác định để nhằm phân biệt đối tượng được giao dịch trong HĐGS, ví

dụ như: HĐGS cà phê tháng 3 năm 2005 khác với HĐGS cà phê tháng 5 năm2005…

Yết giá:

- Giá giao sau được niêm yết một cách thuận tiện và dễ hiểu nhất

- Vd: giá future về dầu thô ở thị trường NYMEX được niêm yết bằng đơn vịdollar/thùng (với 2 số lẻ); giá future về trái phiếu và hứa phiếu kho bạc đượcCBOT niêm yết bằng đơn vị dollar và 1/32 dollar

- Mức dịch chuyển giá tối thiểu được ấn định luôn trong phương thức niêmyết giá của từng loại giao dịch

- Vd: mức dịch chuyển giá tối thiểu sẽ là 0,01$/thùng đối với giao dịch future

về dầu thô và 1/32 dollar đ/v giao dịch future về trái phiếu và hứa phiếu kho bạc

Giới hạn dịch chuyển giá hàng ngày:

- Nếu giá giảm xuống một khoản bằng giới hạn giá hàng ngày, hợp đồngđược gọi là đạt giới hạn dưới (limit down)

Trang 11

- Nếu giá tăng lên một khoản bằng với giới hạn, thì hợp đồng được gọi là giớihạn trên (limit up)

- Giới hạn dịch chuyển (limit move) là sự dịch chuyển theo cả 2 hướng tươngđương với giới hạn giá hàng ngày

- Việc giao dịch trong ngày được ngừng lại khi hợp đồng đạt đến giới hạntrên hoặc giới hạn dưới

- Một số trường hợp cá biệt, thị trường có quyền tham gia và thay đổi giớihạn

- Mục đích của giới hạn giá hàng ngày là để ngăn ngừa sự dịch chuyển quárộng do sự đầu cơ

- Khi giới hạn giá ở mức cân bằng sẽ tốt cho việc kiểm soát thị trường giaosau

Giới hạn mức đầu tư:

- Giới hạn mức đầu tư là số lượng hợp đồng tối đa mà nhà đầu cơ có thể nắmgiữ Mục đích của giới hạn là ngăn các nhà đầu cơ không được đầu cơ quá mứclàm ảnh hưởng đến thị trường

- Vd: tại CME, giao dịch future về gỗ có giới hạn là 1.000 hợp đồng và trongmột tháng giao hàng bất kỳ không được thực hiện quá 300 hợp đồng

Trang 13

Bảng giá trị thị trường công bố trên báo chí

Nhiều bản tin giá thị trường trong tương lai được nhiều tờ báo cung cấp Bảng công bố giá thi trường tương lai của the wall street journal được công bố ở mục tiền và đầu tư Bảng 2.2 cung cấp giá trị tương lai của các hàng hóa trong tờ báo the wall street journal ngày thứ 6 16 /3/2001 Bảng giá trị thi trường đề cập đến việc mua bán vào ngày trước đó tức là thứ 5 15/3/2001

Hàng hóa của hợp đồng giau sau ,thị trường mà hợp đồng giau sau được mua bán ,kích thước hợp đồng ,và việc định giá được ghi trên đâu mỗi mục trong bảng 2.2 hàng hóa đầu tiên là bắp được mua bán trên thị trường chigaco board trade và kích thước hợp đồng là 5000 và được định giá là cent/ giạ Tháng mà các hợp đồng mua bán được thể hiện ở cột đầu tiên Hợp dồng mua bán ngô có kì hạn thanh toán vào tháng 3 5 7 9 12 năm 2001 và tháng 3 5 7 12 nam 2002 ,và được mua bán vào 15/3 /2001

Giá

3 số đầu tiên của mỗi dòng là giá mở cửa ,giá cao nhất và thấp nhất được xác định bởi việc mua bán diễn ra trong ngày giá mở cửa là giá tiêu biểu cho giá của những hợp đồng được mua bán ngay khi thị trường mở cửa hợp đồng mua bánngô kì hạn thanh toán thang 5 2001 và hợp đồng được mua bán vào 15/3/2001 có giá mở cửa là 217 và trong 1 ngày giao dich ,giá đươc mua và bán trong khoảng

210 và 217

Giá khớp lệnh

Số thứ 4 trong mỗi dòng là giá thanh toán đó là mức giá trung bình mà hợp đồng được mua bán ngay lập tức khi thi trường mở cửa đến khi thị trường kết thúc.số thứ 5 là mức chênh lêch giá giữa ngày giao dich hôm này và ngày hôm qua.trong hợp đồng giau sau của ngô kì hạn thanh toán tháng 5 2001 ,15/3/2001 giá khớp lệnh là 210 và giảm 7 cents /giạ so với ngày 14/3/2001.giá khớp lệnh rất quan trọng vì nó được dùng để xác định lời và lỗ hàng ngày và số dư yêu

cầu trong hợp đồng giau sau ngô kì hạn thanh toán tháng 5/2001 ,nhà đầu tư với vithế mua sẽ xác định số dư tài khoản của họ sẽ giảm 350 $ vào ngày 15/3 so với ngày 14/3.đồng thoi nhà đầu tư ở vị thế bán sẽ có số dư tài khoản tăng lên 350 $ giữa 2 ngày giao dịch

Lifetime highs and lows

Số thứ 6 và 7 là giá cao nhất và thấp nhất trong viêc mua bán hợp đồng giausau trong kì hạn thanh toán của chúng hợp đông giau sau ngô tháng 5/2001 mua

Trang 14

bán hơn 1nam8 từ 15/3/2001 trong suốt thời gian này ,giá cao nhất và thấp nhất là

282 và 206 cents

Open interest and volume of trading

Cột cuối cùng trong bang 2.2 thể hiện lợi nhuận mở của mỗi hợp đông giau sau đó là tổng số hợp đồng chưa thưc hiện lợi nhuận mở là tổng số lợi nhuân của

vị thế mua tương đương với vi thế bán.bởi vấn đề biên soạn tài liệu ,thông tin về lợi nhuận mở thì là thông tin của ngày giao dịch trước đó so với thông tin về giá.chính vi thế ,trên tờ the wall street journal’s ngày 16/3/2001,lợi nhuận mở đượcxác định cho viec kết thúc giao dich ngày 14/3.trong hợp đồng giau sau ngô tháng3/2001,lợi nhuận mở là 186.29

Tại cuối mội mục của bang 2.2 thể hiện ước tính khôi lượng của việc mua bán hợp đồng ở tất cả kì hạn thanh toán vào 15/3/2001,và khối lượng thực tế của viêc mua bán hợp đồng vào ngày 14/3/2001.đồng thời nó cũng thể hiện tổng lợi nhuận mở của tất cả các hợp đồng ngày 14/3/2001 và sự thay đổi lợi nhuận mở của ngày giao dich trước đó đối với tất cả hợp đồng giau sau về ngô ,thì khối lượng ước tính là 103,000 hợp đồng vào ngày 15/3/2001 và kích thước thực tế ngày 14/3/2001 là 60,060 hợp đồng.lợi nhuận mở cho tất cả các hợp đồng giau sau ngô là 431,377 ngày 14/3/2001 tăng 1845 so với ngày giau dịch trước đó

Đôi khi ,khối lượng giao dịch trong 1 ngày thì lớn hơn lợi nhuận mở vào cuối ngày giao dịch.nó thể hiện một khối lượng lớn của ngày giao dịch

- Đặc điểm trên cũng là một dấu hiệu giúp phân biệt HĐGS với một loại hợpđồng phái sinh khác là hợp đồng quyền chọn (Option) Trong hợp đồng quyềnchọn thì chỉ bên mua quyền được mua (buy call) hoặc mua quyền được bán (buyput) mới có quyền, bên còn lại (sell call – sell put) không có quyền mà phải thựchiện nghĩa vụ mà mình cam kết với bên kia

- Như vậy, cả hai bên trong quan hệ HĐGS đều bị ràng buộc bởi nhữngquyền và nghĩa vụ nhất định Và để đảm bảo cho các HĐGS được thi hành nênSGD đã qui định các biện pháp bảo đảm đối với cả bên mua lẫn bên bán bằng việc

ký quỹ hoặc các giấy tờ chứng minh khác

Trang 15

HĐGS được lập tại SGD qua trung gian CQTL

- Ở trong TTCK, các loại chứng khoán có thể được mua bán trên SGD hoặc ởthị trường tự do nhưng trong TTGS thì các HĐGS chỉ được lập trên SGD Việcmua bán qua SGD trong TTGS làm cho các nhà đầu tư không cần quan tâm đếnđối tác của mình Chỉ cần các bên tuân thủ quy định pháp luật khi ký kết thì quyền

và nghĩa vụ các bên sẽ được bảo đảm Bởi vì, việc giám sát đảm bảo thực hiện hợpđồng của tất cả các thành viên tham gia trong TTGS đã có CQTL đảm nhiệm.Trong trường hợp nhà đầu tư thực hiện giao dịch thanh toán bù trừ thì CQTL sẽcân đối, bù trừ vào tài khoản của các nhà đầu tư; còn trong trường hợp các bênmuốn được thi hành hợp đồng thì CQTL sẽ là cầu nối, yêu cầu bên bán và bên muagiao nhận hàng tại kho hoặc nơi do CQTL chỉ định

- Ngoài CQTL ra thì còn có nhiều bên khác làm trung gian giúp cho việc giaokết HĐGS Đó là các công ty thanh lý thành viên, các Công ty giao sau, các quỹđầu tư,… làm trung gian giữa nhà đầu tư với CQTL Các bên này có nhiệm vụgiúp CQTL xác định tư cách tham gia TTGS của các nhà đầu tư, giúp họ giao dịchbằng cách nhận lệnh của họ và đem đấu giá trên sàn

d

HĐGS phải có tiền bảo chứng và đa số các HĐGS đều được thanh lý trước thời hạn

- Tiền bảo chứng là biện pháp bảo đảm thi hành hợp đồng, bắt buộc đối với

cả bên bán và bên mua Thay vì phải bỏ ra một khoản tiền lớn để đặt cọc hoặc mộtlượng tiền bằng với giá trị hàng hóa (thế chấp) để bảo đảm cho việc mua bán thìSGD chỉ quy định một mức bảo chứng rất thấp, tùy vào loại hàng hóa Tiền bảochứng thấp trong HĐGS cũng như trong hợp đồng quyền chọn là một trong nhữngnguyên nhân làm cho chúng trở thành những công cụ đòn bẩy tài chính mạnh nhấtngày nay Chính vì tiền bảo chứng thấp nên ai cũng có thể tham gia thị trường với

tư cách là nhà đầu cơ Những nhà đầu cơ luôn kỳ vọng vào việc kiếm lời đã trởthành nhân vật chủ yếu trong TTGS, TTGS hoạt động sôi nổi và trôi chảy là nhờ

họ Và vì thế, những người có hàng hóa cần được bảo hộ lại được lợi, họ có thể dễdàng lập một HĐGS bất cứ lúc nào vì lúc nào cũng có người mua bán Nhờ vậy màTTGS có tính thanh khoản cao

- Cuối cùng là một đặc điểm hết sức độc đáo của HĐGS mà các dạng hợpđồng khác không có được, đó là thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn Trong cáchợp đồng thông thường, khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước ngày giao hàngđồng nghĩa với việc thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc thoả thuận chuyểnnghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi sự ràng buộc vềnghĩa vụ với nhau Nhưng trong HĐGS thì các bên có thể thanh lý hợp đồng trướcngày đáo hạn một cách dễ dàng mà không cần phải thông qua một sự thoả thuận

Trang 16

nào bằng cách thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ là lập một hợp đồng ngược lại

vị thế mà mình đã có Cứ như thế, các bên có thể mua đi bán lại nhiều lần một loạihàng hóa vào một tháng giao hàng nhất định trong tương lai Đến ngày giao hàng,nếu các bên không muốn giao hàng thực sự thì CQTL sẽ thanh toán bù trừ các loạihợp đồng đó và nghĩa vụ giao hàng cũng như nhận hàng của họ được chuyển giaocho người khác

- Ví dụ như vào tháng 2 một người (A) đã bán một hợp đồng vàng tháng 5với giá 387 USD/ounce nhưng đếng tháng 4 thì hợp đồng vàng tháng 5 chỉ còn ởgiá 380 USD/ ounce thì người (A) đó có thể lập một hợp đồng ngược lại với vị thế

mà mình đã có bằng cách mua lại hợp đồng vàng tháng 5 với giá 380 USD/ ounce(vào thời điểm tháng 4 thì giá cả của hợp đồng cho tháng 5 hoàn toàn có thể khôngphải là 380 hoặc 387 USD/ounce) Khoảng chênh lệch giá giữa giá bán và giá mua

7 USD là khoản lời mà người (A) đó kiếm được từ việc thiết lập quan hệ hợp đồngnày dù họ không cần có một sự trao đổi hàng hóa thực sự Trong đó, hành vi bánmột hợp đồng vàng tháng 5 sẽ làm phát sinh cho người đó nghĩa vụ giao hàng(vàng) vào tháng 5 Khi người đó thực hiện hành vi mua lại hợp đồng vàng tháng 5

có nghĩa là người (A) đó đã mua cùng một lượng hàng mà mình đã bán trước đây;phía đối tác bên kia (B) sẽ có nghĩa vụ giao hàng (vàng) cho người đó vào tháng 5.Như vậy, tới hạn giao hàng vào tháng 5, người (A) đó sẽ không phải thực hiệnnghĩa vụ giao hàng nữa CQTL hiểu là người (A) đó sẽ dùng hàng (vàng) của phíađối tác bên kia (B) để thi hành nghĩa vụ của mình (A) Lúc này, nghĩa vụ củangười (A) đó được xem như đã chuyển cho phía đối tác kia (B) Nói như thế, xem

ra hợp đồng mua lại hợp đồng vàng tháng 5 là một hợp đồng chuyển nghĩa vụ chomột người thứ ba Nhưng cũng có ý kiến ngược lại cho rằng ở đây không có mộthợp đồng chuyển nghĩa vụ cụ thể nào giữa hai bên Cụ thể là các bên khi lậpHĐGS thì chỉ quan tâm đến việc đối tượng trong hợp đồng là (hàng hóa) vàng,không phải đối tượng là nghĩa vụ giao hàng

- Có ý kiến cho rằng đây không phải là hợp đồng chuyển nghĩa vụ cụ thể giữahai bên trong hợp đồng mà chỉ là một nghiệp vụ thanh toán bù trừ của CQTL vàongày đáo hạn hợp đồng Hệ quả của hành vi thanh toán bù trừ của CQTL dẫn đếnchuyển nghĩa vụ giữa các bên trong HĐGS Việc chấm dứt nghĩa vụ này do có sựhoà nhập giữa người có nghĩa vụ và người có quyền; người đang có nghĩa vụ lạitrở thành người có quyền đối với chính nghĩa vụ đó

3 Mục đích sử dụng hợp đồng giao sau.

- Một điểm nữa giúp cho HĐGS khác với các loại hợp đồng thông thườnghiện nay là ở mục đích thực hiện hợp đồng Mọi người tham gia vào quan hệHĐGS không phải chỉ vì mục đích trao đổi hàng hóa mà vì hai mục đích sau :

Trang 17

- Sử dụng HĐGS để chuyển rủi ro về giá và nguồn hàng mà mình đang nắm giữ hoặc sẽ nắm giữ (phòng ngừa rủi ro tỷ giá).

- Rủi ro là một thuộc tính gắn liền với hoạt động kinh doanh; có thể chiathành rủi ro có thể dự đoán được và rủi ro không thể dự đoán được Những rủi rokhông thể dự đoán được như thiên tai, hoả hoạn, thiếu nguồn cung ứng, tiêu thụ,tranh chấp về pháp lý… thì có thể được hạn chế bằng các quy định chặt chẽ tronghợp đồng (các trường hợp bất khả kháng, quyền và nghĩa vụ của các bên…) Bêncạnh đó, có những rủi ro mà các chủ thể hoạt động kinh doanh có thể dự đoántrước được hoặc không thể ngăn chặn được như rủi ro về tài chính, thị trường,pháp luật, chính trị, trong quản trị kinh doanh…; các rủi ro tiềm ẩn này đặt nhữngngười sản xuất, người kinh doanh luôn phải đối mặt với thua lỗ Điều đáng lo ngại

là các rủi ro này tồn tại mặc nhiên trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh nên họkhông thể lập các hợp đồng bảo hiểm để bảo vệ rủi ro cho một đối tượng cụ thểhoặc trong một thời gian cụ thể nào Nói như thế không có nghĩa là người ta khôngcòn cách nào để hạn chế những rủi ro tiềm ẩn của thị trường Các thành phần trongthị trường có thể dùng các loại phái sinh như Hợp đồng quyền chọn (Option) hoặcHợp đồng giao sau (Futures) để ngăn ngừa các rủi ro có thể làm ảnh hưởng đến lợinhuận của họ

- Trong đề tài này, chúng tôi bàn đến mục đích bảo vệ trong HĐGS Khingười bảo hộ là người sản xuất hay người tiêu thụ ký kết một HĐGS tại một mứcgiá nhất định, giao hàng vào một thời điểm xác định trước trong tương lai thì đồngnghĩa với việc các bên chấp nhận giới hạn mức lời cũng như mức thua lỗ của mìnhtrong mức giá đó Dù thị trường có thay đổi giá như thế nào thì họ cũng được đảmbảo một khoản lợi nhuận dự kiến tại mức giá thoả thuận trong HĐGS Như vậy, họ

đã chuyển rủi ro về giá cả hàng hóa trên thị trường qua cho các thành phần đầu cơkhác trên thị trường bằng HĐGS Thông thường thì người ta coi HĐGS là mộtcông cụ bảo vệ rủi ro cho họ Do đó, khi cần bán hoặc cần mua một lượng hànghóa thì họ thiết lập hai loại hợp đồng : (1) hợp đồng mua bán hàng hóa thôngthường và (2) HĐGS để bảo vệ lợi nhuận của mình trước những tác nhân có thểlàm thua lỗ từ lúc lập hợp đồng bảo hộ cho đến ngày giao hàng (như: giá hàng hóatăng, tỷ giá hối đoái giảm…)

Bảo hộ bằng vị thế bán (Short Hedges)

- Bảo hộ bằng vị thế bán trên hợp đồng future thích hợp khi người bảo hộ đã

sở hữu tài sản và đang chờ bán vào một thời điểm trong tương lai

- Ví dụ: bảo hộ bằng vị thế bán có thể được nông dân sử dụng khi họ sẵnsàng bán sản phẩm vào mùa thu hoạch trong hai tháng nữa Bảo hộ bằng vị thếbán cũng có thể được sử dụng khi hiện tại chưa có quyền sở hữu tài sản nhưng sẽ

có trong tương lai Ví dụ, một nhà xuất khẩu người Mỹ biết chắc sẽ nhận được

Trang 18

mark Đức trong 3 tháng tới, ông ta còn nhận ra rằng mình sẽ có lợi nếu đồng Marktăng giá và sẽ bị lỗ nếu đồng Mark giảm giá so với đồng USD Vị thế future ngắnhạn đưa đến lỗ khi đồng Mark tăng giá và lời khi đồng mark giảm giá Như vậy,bảo hộ bằng vị thế ngắn hạn trên hợp đồng future sẽ bù đắp rủi ro cho nhà xuấtkhẩu.

Minh họa chi tiết về bảo hộ vị thế ngắn hạn trong tình huống đặc biệt như sau: Giả định hôm nay l5/5, công ty X vừa mới thương lượng một hợp đồng bán 1 triệu thùng dầu Giá cả thoả thuận là giá thị trường vào ngày 15/8 Do đó, công ty

X ở vào tình thế sẽ có lợi 10.000$ khi giá thị trường tăng 1 cent trong 3 tháng tới

và sẽ mất 1 số tiền tương ứng khi giá dầu giảm đi 1 cent trong thời kỳ này Giả sử rằng, giá dầu là 19$/thùng vào ngày 15/5 và giá dầu trên thị trường future NYMEX tháng 8 là 18,75$/thùng Mỗi hợp đồng future trên thị trường NYMEX là 1.000 thùng dâù, công ty có thể bảo hộ rủi ro về giá bằng cách bán 1.000 hợp đồng future tháng 8 về dầu Nếu công ty đóng trạng thái vào ngày 15/8, tác động của chiến lược được chốt ở mức giá đóng cửa là 18,75$/thùng.

Giả sử rằng giá giao ngay trên thị trường vào ngày 15/8 là 17,50$/thùng Công ty nhận được 17,50 triệu $ tiền bán dầu theo hợp đồng Vì tháng 8 là tháng chuyển giao hợp đồng future, giá future ngày 15/8 sẽ rất gần với mức giá giao ngay 17,5$ cùng ngày đó Công ty có khoản lời là:

18,75 – 17,50$ = 1,25 $/thùng Hoặc là 1,25 triệu $ từ việc bảo hộ bằng vị thế future ngắn hạn Tổng số tiền mà công ty nhận được là 18,75 triệu $.

Nếu giá dầu vào ngày 15/8 là 19,5$/thùng Công ty nhận 19,5$, và bị lỗ khoảng 19,5 – 18,7 = 0,75 $/thùng với vị thế ngắn hạn trên hợp đồng future

Công ty đảm bảo rằng họ sẽ nhận được giá 18,75 $/thùng

Ví dụ 1: Giá dầu vào 15/8 là 17,50 $/thùng

Công ty nhận 17,50 $/thùng theo hợp đồng bán hàng

Công ty lời 1,25$/thùng từ hợp đồng future.

Ví dụ 2: Giá dầu vào 15/8 là 19,50 $/thùng

Trang 19

Công ty nhận 19,50 $/thùng theo hợp đồng bán hàng

Công ty lỗ 0,75 4/thùng từ hợp đồng future.

Bảo hộ bằng vị thế mua (Long hedges)

- Bảo hộ bằng cách mua hợp đồng future được gọi là bảo hộ bằng vị thế mua.Bảo hộ bằng vị thế dài mua thích hợp khi công ty biết chắc là sẽ mua một tài sảnnào đó trong tương lai và muốn chốt mức giá vào thời điểm hiện tại

- Giả sử hôm nay là ngày 15/01 Một nhà chế tác đồng hồ biết sẽ phải mua100.000 Kg đồng vào tháng 5 để đáp ứng một đơn đặt hàng Giá đồng giao ngay là

140 cents/kg Nhà sản xuất có thể ngừa rủi ro bằng cách mua 4 hợp đồng futuretrên thị trường COMEX và đóng vào ngày 15/5, mỗi hợp đồng có khối lượng25.000 kg đồng Chiến lược bảo hộ được chốt ở mức giá là 120 cents/kg đồng

Ví dụ này được tóm tắt như sau: Giả sử giá đồng ngày 15/5 là 125 cents/kg Tháng 5 là tháng chuyển giao, nên giá future gần với giá giao ngay Vì vậy nhà sản xuất thu được trên hợp đồng future một khoản:

- Chú ý, công ty làm như vậy tốt hơn là mua đồng vào ngày 15/01 trên thịtrường giao ngay Tuy nhiên, đối với những công ty không có nhu cầu đồng vàongày 15/5 thì những thu nhập từ cơ hội thuận lợi này sẽ không có giá trị

- Bảo hộ bằng vị thế dài hạn có thể được sử dụng để bù đắp trạng thái ngắnhạn đang tồn tại Một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu và đang đương đầu với nhữngrủi ro liên quan đến tình hình chứng khoán có thể hạn chế rủi ro bằng cách muahợp đồng future

Rủi ro cơ bản (basic risk)

- Nhà kinh doanh đã sử dụng hợp đồng future để chuyển hoá hầu hết các rủi

ro phát sinh trên giá trị tài sản của họ trong tương lai Trên thực tế thì không hoàntoàn như vậy vì bảo hộ thường không hoàn toàn thuận lợi như vậy vì một số lý dosau đây:

Tài sản được định giá để bảo hộ có thể không chính xác như là tàisản cơ sở trên hợp đồng future

Trang 20

Nhà bảo hộ có thể không đảm bảo chính xác ngày mà tài sản đượcbán hoặc mua.

Nhà bảo hộ có thể yêu cầu đóng trạng thái hợp đồng future trướchạn

Những vấn đề này được gọi là những rủi ro cơ bản Mức cơ bản trong tìnhhuống bảo hộ được tính như sau:

Mức cơ bản = Giá giao ngay của tài sản bảo hộ - Giá future của hợp đồng

Basic = Spot price – future price

bt = St – Ft

Ký hiệu được sử dụng có ý nghĩa như sau:

bt : Mức cơ bản ở thời điểm t

St : Giá giao ngay ở thời điểm t

Ft : Giá future ở thời điểm t

Khi giá giao ngay tăng cao hơn giá giao sau, mức cơ bản tăng được gọi là

sự tăng cường của mức cơ bản (strengthening of the basic) Khi giá giao ngay thấphơn giá giao sau, mức cơ bản giảm được gọi là sự yếu kém của mức cơ bản(weakening of the basic)

Khi basic âm, giá giao ngay thấp hơn giá giao sau thì người bán hàng trên thịtrường giao ngay có thể bán giao sau Việc khan hiếm những người bán trên thịtrường giao ngay làm cho giá giao ngay tăng lên Đồng thời lúc này do áp lực bántrên thị trường giao sau tăng lên làm cho giá giao sau giảm đi, giá giao ngay và giágiao sau cuối cùng rồi cũng hội tụ về với nhau

Khi basic dương, giá giao ngay quá cao so với giá giao sau, người muagiao ngay có thể mua giao sau Người mua nhận sản phẩm với giá giao sau thấp vàsau đó có thể bán chúng lại trên thị trường giao ngay với giá cao hơn, làm tăng giágiao sau, làm giảm giá giao ngay cho đến khi chúng đạt đến mức cân bằng

Trang 21

Khi hợp đồng giao sau có thời hạn trễ hơn ngày đáo hạn của bảo hộ, chiếnlược chuyển bảo hộ về trước được áp dụng Khi hợp đồng giao sau đầu tiên gầnngày đáo hạn, nó sẽ được đóng trạng thái và nhà bảo hộ sẽ mở hợp đồng future thứhai với tháng giao hàng trễ hơn Khi hợp đồng thứ hai gần ngày đáo hạn, nó cũngđược đóng lại và hợp đồng thứ ba sẽ được mở, cứ tiếp tục như thế…Chuyển bảo

hộ về trước sẽ hoạt động tốt nếu có mối tương quan chặt chẽ giữa sự thay đổi giágiao ngay và giá giao sau

Giả định bảo hộ rủi ro được tiến hành ở thời điểm t1 và đóng trạng thái ở thờiđiểm t2 Ví dụ, xem xét trường hợp giá giao ngay và giá future ở thời điểm banđầu là 2,5$ và 2,2$ ; còn ở thời điểm đóng trạng thái là 2,00$ và 1,9$ Nghĩa làS1= 2,5$ , F1= 2,2$ ; S2= 2,00$ và F2= 1,9$ Từ định nghĩa, ta có :

b1 = S1 – F1 = 0,3

b2 = S2 – F2 = 0,1

Trong tình huống đầu tiên, nhà kinh doanh biết rằng tài sản sẽ bán được ở thời điểm t2 và bán hợp đồng giao sau ở thời điểm t1.Giá cả của tài sản là S2 và lợi nhuận của hợp đồng giao sau là F1 – F2 Vì vậy, giá hiệu quả (effective price) của tài sản bảo hộ rủi ro là :

S2 + F1 – F2 = F1 + b2

Trong ví dụ của chúng ta thì giá hiệu quả = 2,2$ + 0,1$ = 2,3$ Giá trị F1 được biết ở thời điểm t1 nếu b2 cũng biết được ở cùng thời điểm, bảo hộ sẽ mang lại kết quả tốt Rủi ro bảo hộ tương ứng với b2 gọi là rủi ro cơ bản.

Tình huống tiếp theo, khi công ty biết rằng họ sẽ mua tài sản ở thời điểm t2

và bán khống ở thời điểm t1 Giá được trả cho tài sản là S2và lỗ trên bảo hộ là F1 – F2 Giá hiệu quả của bảo hộ này là :

S2 + F1 – F2 = F1 + b2

Trang 22

Biểu thị này cũng tương tự như tình huống trên và bằng 2,3$ Giá trị F1 được biết ở thời điểm t1 và b2 biểu thị cho rủi ro cơ bản.

Đối với tài sản đầu tư tiền tệ, chỉ số chứng khoán, vàng và bạc, rủi ro cơ bản

có xu hướng thấp hơn so với hàng tiêu dùng Lý do là nghiệp vụ kinh doanh chênhlệch giá đưa đến mối liên hệ rõ ràng giữa giá giao ngay và giá giao sau của tài sảnđầu tư Rủi ro cơ bản của tài sản đầu tư tăng chủ yêú là từ sự không ổn định của lãisuất không rủi ro trong tương lai

Sử dụng HĐGS như một công cụ đầu tư tài chính để kiếm lời.

Bên cạnh mục đích bảo vệ thì HĐGS có thể được dùng như một phương cách đầu cơ Kinh tế ngày càng phát triển làm cho lượng tiền nhàn rỗi trong dân chúng ngày càng tăng lên nhanh chóng Lượng tiền nhàn rỗi này có thể được gởi vào ngân hàng, đem đi đầu tư hoặc tham gia vào TTCK Nhưng từ khi có TTGS, các nhà đầu tư đã lập các HĐGS như một phương cách đòn bẩy tài chính hữu hiệu

để thu được lợi nhuận cao Những người đầu tư thay vì tham gia vào TTCK để mong chờ kiếm lời từ sự thay đổi giá của các loại chứng khoán thì tham gia vào TTGS để kiếm lời từ sự thay đổi giá của các loại hàng hóa trên TTGS Rủi ro mà các nhà đầu tư phải chịu trên TTGS cũng chính là phần thua lỗ mà người bảo hộ cóthể bảo vệ được

Các nhà đầu tư trên TTGS kinh doanh dựa vào hai mục đích đó Hai mục đích này cũng là căn cứ để phân loại chủ thể tham gia HĐGS: người bảo hộ và người đầu cơ

Đối với vai trò quản lý nhà nước

TTGS là một phong vũ biểu cho nền kinh tế trong tương lai và nó gần nhưchịu ảnh hưởng trực tiếp từ các diễn tiến giá cả hàng hóa trên thế giới trong tươnglai gần Do đó, TTGS trở thành một công cụ để nhà nước quản lý, quan sát sự biếnchuyển trên TTGS nhằm đưa ra các chiến lược quan trọng để điều tiết và phát triểnkinh tế Sau đây là một số lợi ích mà TTGS có thể mang lại đối với vai trò quản lýkinh tế của nhà nước:

- Đối với các loại hàng hóa thông thường, sự xuất hiện TTGS sẽ giúp chocác thành phần tham gia thị trường cũng như nhà nước nắm được quan hệ cungcầu và giá cả Sự giao dịch tập trung giúp cho diễn tiến giá trên thị trường phảnánh được quan hệ cung cầu, đặc biệt hơn ở chỗ là giá cả đó lại là giá cả dự kiếntrong tương lai gần Những người bảo vệ sẽ không lo bị ép giá và tự động điều tiếtviệc sản xuất của mình dựa trên quan hệ cung cầu trên thị trường Còn nhà nướcthì biết được quan hệ cung cầu và giá cả để định hướng sản xuất, thực hiện việcquản lý kinh tế vĩ mô của mình

Trang 23

- Việc tiêu chuẩn hóa trên TTGS là một dịp thuận tiện để nhà nước tiêuchuẩn hóa và thống nhất chất lượng hàng hóa phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế,đồng thời nâng cao quy mô sản xuất để tiến tới một nền sản xuất chuyên nghiệp,

có định hướng hơn, tránh sự sản xuất thiếu tập trung như hiện nay

- Còn trong lãnh vực tài chính thì thông qua TTGS mà nhà nước có cơ sởthực hiện chính sách tiền tệ của mình Sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất hoặc cácchỉ số chứng khoán trong tương lai gần được thể hiện trong TTGS, dựa vào nhữngchuyển biến dự kiến đó mà nhà nước kịp thời đưa ra những chính sách bảo vệ nềntài chính quốc gia

- Ngoài ra, việc ghi sổ, cập nhật các thành phần tham gia, các lãnh vực đượcmua bán, sự thay đổi giá cả, thông tin v.v…trên TTGS có ý nghĩa rất lớn trongviệc thống kê thương mại Dựa vào số liệu thống kê đó, nhà nước thực hiện việcquản lý kinh tế được hiệu quả hơn Và cùng với nguồn dữ liệu thống kê được trongquá khứ sẽ giúp cho nhà nước có cơ sở đưa ra được những dự đoán trong tươnglai, tránh rơi vào những tình huống xấu xảy đến bất ngờ

4 Hoạt động ký quỹ và trung tâm thanh toán bù trừ:

TRUNG TÂM THANH TOÁN BÙ TRỪ

Phòng thanh toán bù trừ của thị trường là bộ phận bổ sung trên thị trường và hoạt động như là bộ phận trung gian đối với những giao dịch giao sau Nhiệm vụ chủ yếu của phóng thanh toán là giữ cho tất cả các giao dịch được thực hiện trong ngày để tính toán vị thế của mỗi thành viên

Nhà đầu tư được yêu cầu giữ khoản ký quỹ với nhà môi giới, thành viên của phòng thanh toán bù trừ được yêu cầu giữ mức ký quỹ với phòng thanh toán bù trừ Mức này gọi là mức ký quỹ thanh toán

Khoản ký quỹ của thành viên của phòng thanh toán để điều chỉnh mức lời hoặc lỗ vào cuối mỗi ngày giao dịch theo cách tương tự như các nhà đầu tư Tuy nhiên, trong trường hợp của thành viên phòng thanh toán bù trừ, yêu cầu mức ký quỹ gốc mà không phải là quỹ duy trì Mỗi ngày số dư quỹ trên mỗi hợp đồng phảiđược duy trì một số bằng với mức ký quỹ ban đầu nhân với số hợp đồng hiện hành

Vì vậy phụ thuộc vào giao dịch trong ngày và sự dịch chuyển của giá, thành viên của phòng thanh toán bù trừ phải đóng thêm và khoản ký quỹ hoặc rút bớt quỹ vào cuối ngày

Để xác định khoản ký quỹ, phòng thanh toán bù trừ của thị trường tính

số hợp đồng đang thực hiện theo mức gộp hoặc mức ròng Mức gộp đơn giản là tính trên tổng những khách hàng đang ở vị thế mua và những khách hàng đang ở vị

Trang 24

thế ngắn hạn trên hợp đồng future Mức lời lỗ ròng cho phép bù trừ lẫn nhau Hầu hết trao đổi hiện hành tính trên mức ký quỹ ròng.

* VIỆC CHUYỄN NHƯỢNG

Rất ít hợp đồng future được giao hàng hầu hết đóng trạng thái sớm, tuy nhiêncũng có thể giao hàng được xác định bằng giá future

Thời gian giao hàng được thị trường trao đổi xác định và khác nhau qua từng hợp đồng quyết định khi nào chuyển giao được thực hiện bởi bên bán (ở trong tìnhtrạng ngắn hạn của hợp đồng) gọi là bên A khi bên A quyết định chuyển giao, nhàmôi giới của A phát hành thông báo giao hàng cho phòng thanh toán Thông báo này nêu bao nhiêu hợp đồng sẽ được chuyển giao và đối với hàng hóa nơi chuyển giao và chất lượng hàng hóa chuyển giao Sau đó thị trường trao đổi chọn nhà đối tác mua hàng chấp nhận chuyển giao

Giả sử rằng đối tác của nhà đầu tư A trong hợp đồng future khi thương lượng

ở sàn giao dịch là B Vấn đề cơ bản là không có lý do gì để mong đợi B sẽ chấp nhận thực hiện việc giao hàng nhà đầu tư B có thể đóng trạng thái của anh ta bằng cách ký hợp đồng bán future với C nhà đầu tư C có thể đóng trạng thái bằng việc ký hợp đồng mua future với D và tiếp tục luật lệ thông thường được thị trường trao đổi sử dụng là chuyển thông báo đến đối tác ở vị thế mua hiện tại đối tác ở vị thế mua phải chấp nhận chuyển giao Tuy nhiên, nếu thông báo được chuyển nhà đầu tư có ít thời gian thường là ½ giờ để chấp nhận thông báo từ họ.Đối với hàng hóa, chấp nhận chuyển giao có ý nghĩa là đồng ý nhận hàng và thanh toán tiền ngay Sau đó bên nhận chuyển giao chịu chi phí dự trữ hàng Trongtrường hợp gia súc sống, chi phí này bao gồm chi phí nuôi dưỡng và chăm sóc gia súc Với future về tài chính, chuyển giao thường được chuyển bằng điện trong tất

cả các hợp đồng, giá cả phải trả dựa trên giá thông báo trước ngày thông báo giao hàng Giá phải thích hợp, giá này điều chỉnh cho phù hợp với chất lượng hàng, địa điểm chuyển giao và toàn bộ thủ tục chuyển giao từ phát hành lệnh chuyển giao đến lúc giao hàng mất từ 2-3 ngày

Có 3 ngày thông báo cho một hợp đồng

Ngày thông báo đầu tiên: là ngày đầu tiên thông báo giao hàng được nộp cho phòng thanh toán bù trừ

Ngày thông báo cuối cùng: là ngày cuối cùng của thông báo

Ngày giao dịch cuối cùng: là vài ngày trước ngày thông báo cuối cùng

Để tránh ruỉ ro khi thực hiện chuyển giao nhà đầu tư ở vị thế mua sẽ đóng hợp đồng trước ngày thông báo đầu tiên

Ví dụ:

Giả sử rằng sở giao dịch cung cấp các hợp đồng vàng giao sau Trong các hợp đồng này thì số lượng và chất lượng vàng đã được xác định Các hợp đồng

Trang 25

vàng giao sau có các ngày giá trị khác nhau được giới thiệu và giao dịch Như vậy,một điểm quan trọng cần lưu ý là: sở giao dịch không xác định giá cả của hợp đồng giao sau, mà chúng được xác định bởi các lực lượng cung cầu trên thị trường.Giả sử hợp đồng vàng giao sau của sở giao dịch quy định số lượng là 1 ounce

và ngày giá trị là 1/4 Ngày 1/3, ông B1 đến sở giao dịch và ký hợp đồng mua 1 ounce vàng có ngày giá trị là 1/4 với giá là $610 Cũng ngày 1/3, một ông khác, ông S1 cũng đến sở giao dịch và sẵn sàng bán 1 ounce vàng có ngày giá trị là 1/4 với giá $610 Hai ông B1 và S1 đồng ý ký kết hợp đồng với nhau tại sở giao dịch theo nội dung:

Số lượng giao dịch: 1 ounce;

Ngày giá trị 1/4;

Giá giao dịch $610

Bước tiếp theo, nhà thanh toán bù trừ (Clearing House) tách hợp đồng giữa 2 ông B1 và S1 thành 2 hợp đồng Để thuận lợi trong việc phân tích chúng ta gọi là hợp đồng 1a và hợp đồng 1b

- Hợp đồng 1a: giữa B1 và nhà thanh toán bù trừ Trong hợp đồng này, B1

đồng ý thanh toán cho nhà thanh toán bù trừ $610 tại thời điểm 1/4 và nhà thanh toán bù trừ đồng ý giao 1 ounce vàng cho B1 cũng vào thời điểm 1/4 Nói cách khác, nhà thanh toán bù trừ đóng vai trò là người bán vàng tương lai cho B1

- Hợp đồng 1b: giữa S1 và nhà thanh toán bù trừ Trong hợp đồng này, nhà thanh toán bù trừ đồng ý thanh toán cho S1 số tiền là %610 tại thời điểm 1/4 và S1 đồng ý giao 1 ounce vàng cho nhà thanh toán bù trừ cũng vào thờiđiểm 1/4 Nói cách khác, nhà thanh toán bù trừ đóng vai trò là người mua vàng giao sau từ S1

Với phương thức thủ tục giao dịch như trên, các hợp đồng giao sau được ký kết trực tiếp giữa B1 và S1 đã không tồn tại Thật vậy, giữa B1 và S1 không cần thiết phải biết về nhau Thay vào đó, B1 chỉ quan tâm đến việc giao vàng của nhà thanh toán bù trừ và S1 chỉ quan tâm đến việc nhà thanh toán bù trừ thanh toán theo giá đã thỏa thuận Đến đây, cần chú ý rằng, nhà thanh toán bù trừ muốn làm được như vậy phải có lòng tin vào khả năng tài chính và sự trung thực của B1 và S1, bởi vì nhà thanh toán bù trừ đã tự nhận trạng thái rủi ro về mình Thật vậy, một mặt, nhà thanh toán bù trừ nợ S1 số tiền $610, nhưng đồng thời lại là chủ nợ của B1 cũng là $610; mặt khác, nhà thanh toán bù trừ nợ B1 số vàng là 1 ounce và

là chủ nợ của S1 số vàng cũng là 1 ounce Kết quả là: trạng thái ròng đối với USD

và vàng của nhà thanh toán bù trừ là bằng 0

Giả sử một vài phút sau khi B1 và S1 thỏa thuận giá vàng giao sau là $610, một người mua mới là B2 và một người bán mới là S2 gặp nhau tại sở giao dịch và

Trang 26

một giá vàng mới được thỏa thuận là $611 Nhà thanh toán bù trừ tiến hành các thủtục giao dịch giống như trường hợp B1 và S1, nghĩa là tạo ra 2 hợp đồng tương laiđộc lập, gọi là 2a và 2b Hợp đồng 2a là hợp đồng với B2, còn hợp đồng 2b là hợp đồng với S2 Trạng thái ròng bằng USD và vàng của nhà thanh toán bù trừ vẫn luôn luôn bằng 0.

Những người mua và người bán đến và gặp nhau hàng ngày tại sở giao dịch Giả sử, sau khi ngày 1/3 đóng cửa giao dịch, có 37 hợp đồng giao sau được mua vàbán, điều này có nghĩa là nhà thanh toán bù trừ của sở giao dịch Deakin có tới 74 hợp đồng giao sau, bao gồm: 37 hợp đồng bán và 37 hợp đồng mua, nhưng trạng thái ròng bằng vàng và USD của nhà thanh toán bù trừ vẫn luôn luôn bằng 0 Trong ngày giao dịch 1/3, giá cả luôn phản ánh mối quan hệ cung cầu và biến độngtrong khoảng từ $608 đến $615 và lúc đóng cửa là $614

Ngày này qua ngày khác số lượng hợp đồng mua bán tăng lên Giả sử rằng, ngày 8/3, B1 quan sát thấy giá vàng giao sau có ngày giá trị 1/4 là $620 Chúng ta nhớ lại rằng, ở hợp đồng 1a, B1 chỉ phải mua vàng với giá là $610/1ounce Vào thời điểm 8/3, những người bán vàng trong tương lai với giá cao hơn là $620 Do

đó, B1 tính toán và thấy rằng có lãi “trên giấy” từ hợp đồng 1a là $10 Với phươngthức giao dịch tương lai, B1 có thể chuyển số lãi trên giấy thành lãi thực tế tại ngàygiá trị 1/4 Cơ chế thực hiện như sau:

Ngày 8/3, B1 đến sở giao dịch tương lai với tư cách là người bán Ví dụ B1 trở thành người bán thứ 200 chẳng hạn, tức là trở thành người bán trong hợp đồng thứ 200 có ngày giá trị là 1/4 Trên sở giao dịch người mua B200 và người bán S200 gặp nhau và thỏa thuận giá giao dịch là $620 Nhà thanh toán bù trừ trở thànhngười bán cho B200 (hợp đồng 200a) và người mua đối với S200 (hợp đồng 200b) Do đó, tại ngày 8/3, trạng thái tài chính của nhà thanh toán bù trừ có thể biểu diễn như sau:

B1 nợ nhà thanh toán bù trừ số tiền là: $610 (hợp đồng 1a)

B1 (cũng là S200) là chủ nợ của số tiền là: $620 (hợp đồng 200b)

Nhà thanh toán bù trừ nợ B1 là: $10

Như vậy, B1 với tư cách là người mua trong hợp đồng 1a có thể thanh lý hợp đồng 1a trước hạn bằng cách tiến hành giao dịch một hợp đồng giao sau khác với

tư cách là người bán và kết quả là lãi (hay lỗ) có thể phát sinh

Phương thức và thủ tục thanh lý hợp đồng trước hạn này chỉ khả thi khi: cả 2 hợp đồng này là đồng nhất về số lượng và ngày giá trị; và cả 2 đối tác trong 2 hợp đồng cũng đồng nhất, đặc biệt là vị trí của nhà thanh toán bù trừ

5 điểm cần chú ý về thủ tục giao dịch trên sở giao dịch giao sau :

1 Bởi vì nhà thanh toán bù trừ trở thành 1 trong 2 đối tác trong mọi hợp đồng giao sau, do đó, cả người mua và người bán đều không cần biết về

Trang 27

độ tín nhiệm của nhau Ví dụ, B200 không cần biết ai là S200, bởi vì hợp đồng tương lai của B200 được ký kết với nhà thanh toán bù trừ, chứkhông phải với S200.

2 Tuy nhiên, S200 cần phải thông báo cho nhà thanh toán bù trừ rằng S200 chính là B1 Ngoài ra, về hình thức, thay vì thủ tục thanh lý hợp đồng như mô tả ở trên, thì B1 cũng cần nhận thức được rằng là mình đang có 2 hợp đồng giao sau còn hiệu lực: với vai trò là người mua trong hợp đồng 1a, và là người bán trong hợp đồng 200b Cả 2 hợp đồngnày vẫn còn hiệu lực cho đến hết ngày 1/4 mới được thanh lý

3 Mặc dù cả 2 hợp đồng có giá trị cho đến ngày 1/4, nhưng thực tế thì B1

đã không còn liên quan gì (trừ việc ngày 1/4 nhận lãi $10) kể từ khi tiến hành giao dịch thứ 2 vào ngày 8/3 Hơn nữa, sẽ là không có sự giao nhận vàng nào đối với B1 Đây là đặc trưng của thị trường giao sau Theo thống kê, chỉ có khoảng 2% các hợp đồng tương lai về hàng hóa

là duy trì đến ngày đáo hạn, 98% được thanh lý trước thời hạn

4 Những người với vai trò là người bán trong hợp đồng giao sau cũng có thể thanh lý hợp đồng trước hạn Ví dụ, B200 trong thực tế chính là người bán hợp đồng giao sau trước đó (ví dụ S57 chẳng hạn) muốn thanh lý trạng thái hợp đồng bán bằng trạng thái hợp đồng mua Trong trường hợp này, người mua hợp đồng giao sau có thể bán trước và mua sau Giao dịch kiểu bán trước mua sau như vậy được gọi là bán khống (short selling) và hoạt động bán khống có ý nghĩa quan trọng làm cho thịtrường giao sau trở nên uyển chuyển và linh hoạt

5 Hàng ngày, bộ phận thông tin tài chính của sở giao dịch cho đăng tải về

số lượng các hợp đồng giao sau đã được ký kết giao dịch trong ngày hôm trước và số lượng các hợp đồng giao sau đang còn hiệu lực tại thời điểm đóng cửa của ngày hôm trước

Chúng ta vừ mô tả vài net chinh về cơ chế hoạt động của thị trường giao sau Trong thực tế thì thủ tục giao dịch có phức tạp hơn, ví dụ những nhà kinh doanh thường chỉ được phép giao dịch thông qua môi giới Tuy nhiên những vấn đề tương tự như vậy không phải là những điểm chính và không làm thay đổi những nguyên lý trong hoạt động của thị trường giao sau

a Những yêu cầu về ký qũy (margin)

• Do sàn giao dịch ấn định

• Khách hàng phải đóng ký quỹ ban đầu khi mở trạng thái mới

• Được hoàn lại sau khi tất toán trạng thái

Trang 28

Nếu hai nhà đầu tư liên lạc trực tiếp với nhau và đồng ý trao đổi tài sản trong tương lai với một giá nhất định Rủi ro có thể xảy ra là nhà đầu tư có thể không cónguồn tài chính để thực hiện thỏa thuận Một trong những vai trò quan trọng của thị trường giao sau là tổ chức trao đổi để tránh rủi ro trên Do đó trong giao dịch cần có mức ký quỹ Mỗi sở giao dịch tương lai sẽ đưa ra những yêu cầu ký quỹ ban đầu (initial margin) tối thiểu để có thể giao dịch ở đó Khoản ký quỹ ban đầu

là khoản tiền phải gửi vào trong tài khoản giao dịch (hay còn gọi là tài khoản ký quỹ_margin account) khi muốn mở vị thế mới Khoản ký quỹ ban đầu này phụ thuộc vào mỗi sở giao dịch, mỗi loại hàng hóa,và giá tương lai của hàng hóa đó đang được giao dịch ở hiện tại và các dữ liệu trong quá khứ

Sau một thời gian giao dịch, nếu nếu tiền trong tài khoản giảm tới bằng hoặc dưới mức ký quỹ duy trì (maintenance margin) theo qui định (mức này tùy thuộc vào qui định của các sở giao dịch và loại hàng hóa giao dịch), thì phải chuyển thêm tiền vào tài khoản để đưa tiền trong tài khoản về mức ký quỹ ban đầu

Một nhà đầu tư không có khả năng chi trả vì tình hình kinh doanh không sinhlợi sẽ buộc ngưng giao dịch ở đây thay vì ngày càng dấn sâu vào lỗ chồng chất tại thời điểm hợp đồng đáo hạn

Ví dụ: Để giao dịch một hợp đồng tương lai dầu mỏ 100 thùng dầu bạn cần một số tiền ký quỹ ban đầu (initial margin) là $1000, mức ký quỹ duy trì

(maintenance margin) là $750, giả sử bạn ở thế bên mua của hợp đồng, sau đó ngày mai giá dầu tương lai thay đổi bất lợi cho bạn,tức giảm $2,7/thùng à bạn lỗ

$2,7*100 = $270 Lúc này tiền trong tài khoản của bạn còn $730, dưới mức $750,

để được tiếp tục tham gia giao dịch, bạn cần phải gửi vào tài khoản ký quỹ $270 đểtrở về mức ký quỹ ban đầu là $1000.Khoản tiền $270 để đáp ứng giấy gọi ký quỹ (margin call) được gọi là khoản bù đắp ký quỹ (variation margin) Một người giao dịch mà không thực hiện nhanh theo giấy gọi theo một khoản thời gian qui định sẽ

bị thanh lý hay chấm đứt vị trí bởi FCM (Futures commission merchant)

Lưu ý: Khi bạn nhận được giấy gọi ký quỹ thì bạn phải thực hiện nó, ngay cả

khi giá tương lai của ngày tiếp theo thay đổi theo hướng có lợi cho bạn Tức là, cũng với ví dụ trên, giả sử giá hợp đồng tương lai của dầu giảm $2,7/thùng vào ngày t Ngày t +1, bạn ở thế người mua sẽ nhận được một giấy gọi, lúc này sẽ không xét đến giá dầu tương lai của ngày t +1 Dù giá dầu tương lai có tăng trên

$0,2/thùng vào cuối ngày t, bạn vẫn phải gửi $270 vào tài khoản của mình

Các FCM thường đưa ra các mức yêu cầu ký quỹ ban đầu hoặc mức ký quỹ duy trì cao hơn mức mà các sở giao dịch tương lai qui định Các mức này cũng thường khác nhau tùy thuộc vào người tham gia giao dịch để phòng hộ hay để dầu

cơ hay để hưởng chênh lệch nhỏ Những người đầu cơ thường bị yêu cầu các mức

ký quỹ cao hơn 2 đối tượng kia để đảm bảo thanh toán cho các khoản lỗ lớn hơn

Trang 29

Khoản ký quỹ ban đầu ngoài tiền mặt (không được hưởng lãi suất), thì trái phiếu chính phủ hay thư tín dụng (được hưởng lãi suất) cũng được chấp nhận, nhưng các khoản bù đắp ký quỹ thì phải bằng tiền mặt

Khoản ký quỹ để giao dịch tương lai dùng để thanh toán các khoản lỗ trong giao dịch, chứ không phải để thanh toán hàng hóa, nó khác với khoản ký quỹ trongcác giao dịch trái phiếu, cổ phiếu dùng dể thanh toán cho việc mua bán các chứng khoán đó

Điều chỉnh theo thị trường (marking to market)

Điều chinh theo thị trường là quá trình công ty thanh toán bù trừ sẽ điều chỉnh tài khoản ký quỹ của bên mua và bên bán trong một hợp đồng giao sau

Ví dụ:

Ngày 05/06 khách hàng liên hệ với nhà môi giới mua hai Hợp đồng Future vàng tháng 12 Giả sử giá Future hiện tại là 400$/ounce, một hợp đồng là 100$, nhà đầu tư sẽ mua 200 ounces ở mức giá này Nhà môi giới sẽ yêu cầu nhà đầu tư đặt cọc vào tài khoản ký quỹ Số tiền phải đặt cọc ở thời điểm nhà đầu tư tham gia trên thị trường gọi là khoản ký quỹ ban đầu Chúng ta giả sử rằng 2.000$ cho mỗi hợp đồng, và như vậy là 4.000$ cho cả hai hợp đồng Vào cuối mỗi

ngày giao dịch, tài khoản ký quỹ được điều chỉnh phản ánh mức lời hay lỗ của nhà đầu tư Thực hiện này được gọi là định theo giá thị trường của khoản tiền

Gỉa sử vào cuối ngày 5/6 giá future giảm xuống còn 397$ Nhà đầu tư lỗ 600$ ( = 200 ounces x 3$) (nhà đầu tư mua với giá 400$ và bán với giá 397$) Lúcnày tiền ký quỹ giảm xuống 600$ còn 3.400$ Tương tự như vậy nếu giá vàng tháng 12 tăng lên 403$ vào cuối ngày giao dịch đầu tiên, tiền trong tài khoản ký quỹ lên đến 4.600$ Giao dịch được định theo giá thị trường vào giờ đóng cửa được thực hiện Giao dịch được định giá cho mỗi ngày tiếp sau đó

Lưu ý rằng định giá theo thị trường hiếm khi được thu xếp giữa nhà môi giới

và khách hàng Khi giá future giảm xuống tiền ký quỹ của nhà đầu tu bị giảm xuống 600$, người môi giới của nhà đầu tư phải chuyển 600$ vào tài khoản ký quỹcủa người mua Tương tự như vậy, khi giá future tăng, nhà môi giới phía đối tác phải chuyển 600$ vào tài khoản ký quỹ của nhà đầu tư

Nhà đấu tư có quyền rút phần dư so với mức ký quỹ ban đầu Để đảm bào rằng mức cân bằng trong tài khoản ký quỹ không bao giờ âm, theo đó mức giới hạn thấp hơn mức ký quỹ ban đầuu được xác lập Nếu tiền ký quỹ giảm thấp hơn tiền quỹ duy trì, nhà đầu tư sẽ nhận được lệnh gọi nộp tiền và mong đợi tiền ký quỹ sẽ đạt tới mức tài khoản ký quỹ ban đầu trong những ngày tới Tiến dư thừa kýquỹ gọi là khoản ký quỹ biến đổi Nếu nhà đầu tư không cung cấp khoản ký quỹ thay đổi này, nhà mối giới sẽ đóng trạng thái của hợp đồng bằng cách

Trang 30

bán hợp đồng Trong trường hợp nhà đầu tư cân nhắc sớm, sẽ bán 200 ounces vàngtháng 12.

Khoản ký quỹ ban đầu là 4.00$ và quỹ duy trì là 3.000$ cho cả

hai hợp dồng.Hop đồng được mua ngày 5/6 với giá 400$ và đóng cửa vào ngày 26/6 với giá 392,3$ Số liểu ở cột 2 thể hiện giá future vào ngày đóng cửa

ĐVT: $

Ngày Giá future Lời (lỗ)

hàng ngày

Tích lũy lời ( lỗ)

Tồn quỹ trên TK

Lệnh gọi nộp tiền

2 hợp đồngfuture với giá là 392,3$, lỗ lũy kế của nhà đầu tư là 1.540$ Giả định rằng các khoản dư thừa trong quỹ vào các ngày 16, 23, 24, 25 không rút ra

5 Mối quan hệ giữa thị trường giao sau và thị trường khác

a.

Liên kết thị trường giao ngay và thị trường giao sau:

Trang 31

Sự hội tụ giá giao sau và giá giao ngay:

Mối liên hệ giữa giá future và giá giao ngay khi đến gần tháng giao hàng

TH (a): trong thời hạn giao hàng, giá future ở trên mức giá giao ngay

Đây là cơ hội cho các nhà kinh doanh tiến hành giao dịch kiếm chênh lệch giá:+ Bán hợp đồng future

+ Mua tài sản

+ Thực hiện chuyển giao

Mức lợi nhuận = mức chênh lệch giá giao sau và giá giao ngay

Do các nhà kinh doanh khai thác cơ hội kiếm chênh lệch giá này, giá giao sau sẽgiảm

TH (b): giá future thấp hơn giá giao ngay

Các công ty quan tâm đến nhu cầu về tài sản sẽ tìm cách tham giamua hợp đồng giao sau trên thị trường và chờ thực hiện giao hàng Do đó, giá giaosau có xu hướng tăng

Kết quả là giá future sẽ tiến đến gần sát với giá giao ngay trong thời hạn giao hàng

Biểu đồ trên minh họa cho sự hội tụ của giá giao sau với giá giao ngay trong hợp đồng

Hình (a): giá giao sau ở trên giá giao ngay, giá ưu tiên cho tháng giao hàng.Hình (b): giá giao sau thấp hơn giá giao ngay nên ưu tiên tháng giao dịch

c.

So sánh hợp đồng giao sau và hợp đồng kỳ hạn:

Giống nhau:

Trang 32

- Đều có 3 thành phần tham gia thị trường: nhà bảo hộ, nhà đầu cơ, nhà kinhdoanh chênh lệch giá.: nhà bảo hộ, nhà đầu cơ, nhà kinh doanh chênh lệch giá.

-Tài sản cơ sở, thời gian đáo hạn trong tương lai, giá đáo hạn trong tươnglai được quy định tại thời điểm hiện tại.Cả hai đều là một trò chơi có tổng bằng 0,khoản lời của bên này chính là khoản lỗ của bên kia

Khác nhau :

 Nhà đảm bảo  Không  Cty thanh toán bù trừ giúp bảo hiểm

rủi ro của đối tác

TK của bên được.

 Yết giá  Các NH niêm yết giá mua và

giá bán với một mức độ chênh lệch giữa giá mua và giá bán

 Chênh lệch giá mua và giá bán được niêm yết ở Sàn giao dịch

Trang 33

6 Các chủ thể trên thị trường tương lai

a Những nhà đầu cơ (speculators):

Là những người chấp nhận rủi ro cao để tìm kiếm lợi nhuận cao từ sự giao động giá.Họ có thể giữ thế trường vị (long position) hay đoản vị (short position) hay cả hai vị thế cho cùng một hàng hóa (spread position).Có thể chia ra làm 2 loạinhà đầu cơ:

- Nhà đầu cơ vị thế (position traders): họ thường vào các vị thế và giữ chúng trong vài ngày, vài tuần, hay vài tháng.Họ thường sử dụng các phân tích kỹ thuật để dự đoán sự biến động giá và xu hướng giá cả trong tương lai, từ đó sẽ vào các vị thế thích hợp để tìm kiếm lợi nhuận Hoặc những nhà đầu cơ khác lại sử dụng các phân tích cơ bản để đưa ra nhận định về giá, họ thường sử dựa vào các

dữ liệu kinh tế vĩ mô để đưa ra các dự đoán về sự biến động giá

- Nhà đầu cơ ngày (day traders): chỉ đầu cơ dựa vào sự biến động giá chỉ trong một ngày giao dịch.Họ không bao giờ trở về nhà với một vị thế trong tay Giao dịch ngày thường tốn kém chi phí vì họ phải theo thông tin, biến động giá cả thường xuyên, và tốn các chi phí cho những giao dịch trong suốt một ngày, với mục đích kiếm được vài tick lợi nhuận trong một giao dịch

b Những người phòng hộ (Hedgers):

Là những người tham gia giao dịch tương lai để phòng ngừa các rủi ro do

sự biến động giá bất lợi cho họ Ví dụ, một công ty Việt Nam phải mua 100.000 thùng dầu với giá $60/thùng để bán qua Mỹ với giá kỳ vọng khoản $75/thùng, rủi

ro hiển hiện ở đây là trong suốt khoảng thời gian vận chuyển dầu qua Mỹ, giá dầu

ở Mỹ sẽ giảm xuống dưới $75/thùng sẽ làm giảm lợi nhuận, thậm chí là lỗ Khi đó,

để hạn chế tối đa rủi ro,công ty này có thể bán hợp đồng tương lai (vào thế đoản vị) dầu với cùng số lượng để phòng ngừa rủi ro.Nếu giá lúc giao hàng giảm,công

ty sẽ bị giảm lợi nhuận hay lỗ, nhưng sẽ được bù đắp bằng lợi nhuận ở hợp đồng tương lai dầu Đây là một ví dụ của phòng hộ đoản vị (short hedge)

Một ví dụ khác, một công ty ký hợp đồng bán nữ trang cho một nhà bán lẻ vào tháng 1, giao hàng vào tháng 9 Nhưng vào thời điểm hiện tại, công ty không

có vàng nguyên liệu trong kho, và cũng không có đủ tiền mặt để mua vàng vào lúc này,công ty dự tính rằng vào tháng 5 mới có thể đáp ứng được nguồn vàng nguyên liệu để bắt đầu sản xuất,nhưng lo ngại từ đây đến đó giá vàng sẽ tăng, làm đội giá sản phẩm đầu ra Để phòng ngừa cho điều này, công ty có thể mua mua những hợpđồng tương lai vàng để tránh rủi ro tăng giá vàng nguyên liệu Đây là một ví dụ của phòng hộ trường vị (long hedge)

Trang 34

c Những người đầu cơ hưởng chênh lệch (Arbitrageurs):

Là những người tìm kiếm lợi nhuận bằng cách xem xét một loại hàng hóa nào đó cùng những hàng hóa tương đương để bán hai giá khác nhau ở hai thị tườngkhác nhau.Họ là những người dựa vào mối quan hệ giữa giá giao ngay và giá tương lai, hay những biến động cung cầu nhất thời làm rối loạn giá để kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giữa giá giao ngay và giá tương lai

d Những đối tượng trên sàn giao dịch

Những người giao dịch trên các sàn giao dịch có thể được phân loại theo mục tiêu và chức năng:

- Những người giao dịch sàn (Floor traders) : là những thành viên giao dịch các hợp đồng tương lai ở các khu vực tương lai (futures pit) Những người giao dịch tài khoản riêng của anh ta gọi là một local, họ tạo ra tính thanh khoản cho thị trường vì họ hoạt động như những nhà đầu cơ (scalpers) giao dịch rất ngắn hạn.Họmuốn mua hợp đồng tương lai ở giá đã đặt (bid) và nhanh chóng bán lại ở một mức giá phù hợp (asked) Họ phải đăng ký với ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai(CFTC) để được hoạt động

- Những nhà môi giới sàn (floor brokers) : giúp thi hành lệnh cho các

bên ,ví dụ như các FCM (Futures commission merchant), hoạt động gần giống nhưcác công ty môi giới chứng khoán, bằng cách thu phí giao dịch (khoảng $1 hay $2 mợt hợp đồng).Họ cũng phải đăng ký với CFTC để được hoạt động

- Một chủ thể nữa là những người giao dịch sàn mà hoạt động như cả một local và một nhà mội giới, thường được gọi là dual trading Họ thường thực hiện mua 2 hợp đồng trong một khỏang thời gian ngắn ở 2 mức giá khác nhau, 1 cho khách hàng và 1 cho chính anh ta Điều này gây ra những tranh cải về “tình trạng tiến thoái lưỡng nan về đạo đức (ethical dilemma)”, nên để được phép hoạt

động,anh ta phải trải qua những thủ tục kiểm tra dài dòng và hệ thống kiểm soát nhằm hạn chế sự lạm dụng của anh ta

e Những đối tượng khác tham gia trên thị trường

- Những người cộng tác (Associated persons-APs): là những cá nhân làm việc cho FCM bằng cách nhận lệnh và chấp nhận lệnh Gần giống những người môi giới chứng khoán

- Các nhà tư vấn giao dịch hàng hóa (Commodity trading advisers-CTAs): phân tích thị trường tương lai, cung cấp thông tin, phát triển hệ thống giao dịch, đồng thời đưa ra các lời khuyên, tư vấn cho các nhà giao dịch

- Các nhà môi giới giới thiệu (Introducing brokers-IBs): Là những cá nhân trực tiếp kinh doanh với các FCM và các CTA, nhưng chính họ không phải là các

AP và các CTA Một IB thường chào mời và chuyển lệnh, khi một lệnh được nhận,nó được đưa vào một FCM để thi hành.Những IB khác thì góp các khoản quỹ

Trang 35

nhỏ thành một khoản lớn để có thể trở thành một CTA mà đòi hỏi khoản đầu tư tối thiểu lớn

- Các nhà huy động quỹ hàng hóa (Commodity pool operators-CPOs): Hoạt động như các quỹ tương hỗ trong thị trường chứng khoán, huy động vốn của các nhà đầu tư nhỏ và sử dụng để giao dịch tương lai

Các đối tượng này muốn tham gia thị trường tương lai cần phải đăng ký với CFTC

để được hoạt động

7 Các loại lệnh để giao dịch tương lai:

Tất cả các lệnh để giao dịch hợp đồng tương lai có những điểm chung sau:

- Là lệnh mua hay lệnh bán

- Tên của hàng hóa

- Năm và tháng giao hàng của hợp đồng

- Số lượng hợp đồng

- Nơi (sở) mà hợp đồng giao dịch (nếu nó được giao dịch trên các sở liên thông với nhau)

- Là lệnh giới hạn hay lệnh thị tường

- Là lệnh ngày (day order- là lệnh tự huỷ vào cuối ngày giao dịch nếu nó không được thực hiện) hay lệnh không tự hủy

Một số lệnh phổ biến thường gặp : Lệnh thị trường (Market order) : Là lệnh mua bán mà không có một mức giá rõ ràng được ấn định.Nếu một người đặt một lệnh thị trường để mua hoặc bán, người

đó sẽ vào một thế trường vị hay đoản vị ở mức giá đang có lợi thế ở khu vực giao dịch tương lai vào lúc đó.Khi nhận được một lệnh, một đại diện của FCM của người giao dịch sẽ đi dến khu vực mà hợp đồng tương lai đó được giao dịch và cố gắng đạt dược một mức giá tốt nhất có thể,dựa vào tình hình cung cầu trên thị trườn lúc đó.Có một rủi ro là trong một thị trường “nhanh”,giá giao dịch sẽ khá khác giá dược ấn định tới khách hàng bởi FCM chỉ sớm hơn một hoặc hai phút

- Lệnh giới hạn (Limit order) : Là lệnh mua bán ở một mức giá được ấn định

cụ thể,nhưng có rủi ro là đôi khi lệnh không được thi hành

- Lệnh Market-if-touched (MIT order) : gần giống như lệnh giới hạn,chỉ khác ở chỗ nó sẽ trở thành lệnh thị trường khi một giao dịch ở mức giá được ấn định đó xảy ra.Ví dụ,một lệnh mua MIT mặt hàng vàng với giá được định rõ là

$273,4/oz sẽ trở thành lệnh thị trường ngay khi một giao dịch ở mức giá đó được thực hiện.Người giao dịch có thể khớp ở mức giá đó, hoặc trên hoặc dưới mức giá đó.Trong thị trường đang giảm nhanh, những giao dịch tiếp theo sau khi đặt lệnh mua MIT thường là ở mức $275; $272,6; $270,8 Giao dịch nên được thực hiện ở bất kỳ mức giá nào tồn tại sau cái giao dịch ở mức giá $272,6.Trong trường hợp này thì nên là $270

Trang 36

- Lệnh Ngừng (Stop order): còn được gọi là lệnh cắt lỗ hay lenh ban tu dong (Stop-loss-orders), cũng được định rõ một mức giá Có hai loại là lệnh ngừng để mua và lệnh ngừng để bán.Lệnh ngừng để mua thường được đặt bởi người đang ở thế đoản vị một hợp đồng và muốn hạn chế khoản lỗ của anh ta khi giá bắt đầu tăng Vì vậy,lệnh ngừng để mua được đặt ở mức giá được ấn định trên mức giá tương lai hiện tại, và sẽ trở thành lệnh thị trường khi giá tương lai bằng hoặc lớn hơn giá được ấn định đó.Ngược lại,lệnh ngừng bán được dặt ở mức giá dưới giá tương lai hiện tại

Ví dụ: Một người mua lần đầu một hợp Trái phiếu chính phủ với giá

$100/trái phiếu Sau khi giao dịch được thực hiện, anh ta có thể đặt một lệnh ngừng để mua ở mức giá $105/trái phiếu nhằm hạn chế khoản lỗ của anh ta do lo

sợ giá tương lai của nó sẽ tăng ngược với mong đợi của anh ta là giá sẽ giảm Nếu

có một giao dịch được thực hiện ở mức giá là $105/trái phiếu, thì sau đó lệnh của anh ta sẽ trở thành lệnh thị trường mua, và anh ta sẽ phải bù đắp thế đoản vị của mình ở mức giá tiếp theo, bất cứ mức giá nào

Lưu ý: Khác với lệnh ngừng để mua, lệnh giới hạn mua sẽ định rõ một mức giá dưới giá hiện tại.Trong trường hợp này người giao dịch muốn bắt đầu thế trường vị ở một mức giá tương lai có lợi cho anh ta hơn.hoặc anh ta sẽ có được một khoản lãi trên thế đoản vị hiện tại nếu giá tương lai giảm xuống tới mức giá

mà anh ta đã đặt

- Lệnh giới hạn ngừng (Stop limit order): là lệnh sẽ trở thành lệnh giới hạn khi giá được định rõ (giá đặt) được đạt đến Vì vậy, trong ví dụ trên, nếu có một giao dịch xảy ra ở mức giá $105/trái phiếu, một lệnh giới hạn ngừng mua sẽ giúp người giao dịch chỉ phải bù đắp vị trí của mình ở mức $105/trái phiếu hay ở một mức tốt hơn (dưới $105/trái phiếu) Một lệnh giới hạn ngừng thậm chí có thể định

rõ một mức giá ngừng khác giá giới hạn Ví dụ,một người giao dịch có thể đặt mualại hợp đồng trái phiếu chính phủ với mức ngừng là $105/trái phiếu và mức giới hạn là $102/trái phiếu, nghĩa là,khi có một giao dịch ở mức giá $105, người giao dịch sẽ phải bù đắp thế đoản vị của anh ta,nhưng chỉ ở mức giá từ $102 đến $105 Điều này rất quan trọng vì khi sử dụng lệnh giới hạn ngừng sẽ có rủi ro là không thực hiện được giao dịch trong một vài điều kiện thị trường nhanh

Còn khá nhiều loại lệnh nữa mà có thể được đặt ở các sở hay các thị trường giao dịch khác Lưu ý rằng cần xem xét xem loại lệnh nào sẽ được chấp nhận ở sở giao dịch nào Ví dụ như lệnh MIT được chấp nhận ở CME nhưng không được chấp nhận ở CBOT Thường thì các FCM sẽ cung cấp một bảng tóm tắt các loại lệnh nào được chấp nhận ở các sở giao dịch khác nhau

Trang 37

8 Thuế và phí giao dịch

* Thuế (Taxes):

Mọi thông tin giao dịch trên thị trường tương lai (tất cả các vị thế trong các hợp đồng tương lai,lời hay lỗ ) của các tài khoản giao dịch đều được ghi nhận, kiểm soát, và kết sổ vào ngày giao dịch cuối cùng của năm (31 – 12) để tiện cho việc tính thuế Lưu ý rằng, theo luật, mã số thuế của một nhà đầu cơ có những qui định khác với mã số của những người phòng hộ.Thường các nhà đầu cơ phải chịu

bị đánh thuế với tỷ lệ cao hơn những đối tượng còn lại

* Phí giao dịch (Commissions):

Phí giao dịch chỉ được trả cho các FCM khi các giao dịch tương lai được bù đắp, hoặc trong ngày giao hàng hoặc lúc tái thanh toán tiền mặt lần cuối.Phí giao dịch trên một hợp đồng sẽ giảm khi nhiều hợp đồng hơn được giao dịch Các FCMthường tính một dịch vụ trọn gói là $100 dể giao dịch một hợp đồng Các giao dịchbình thường sau khi đã chiết khấu, giảm giá thường được các FCM tính từ $15 đến

$40 một hợp đồng khi vị trí kết thúc Đối với các nhà giao dịch lớn như các công

ty cổ phần, ngân hàng, hay những công ty giao dịch chuyên nghiệp thường được tính khoảng $10 một hợp đồng Còn những người giao dịch sàn thường chỉ phải trảkhá ít, khoảng $1,5 một hợp đồng

Giới thiệu về CME group

Là một thị trường dẫn đầu và đa dạng nhất các sản phẫm phái sinh ,CME group là nơi mà tất cả các nhà đầu tư trên thế giới tìm đến để quản lý rủi ro CME group trao đổi các sản phẩm tiểu chuẩn với phạm vi toàn cầu thông qua các loại tàisản có giá trị lớn ,bao gồm tương lai và quyền chọn trên lãi suất ,chỉ số chứng khoán , ngoại tệ, năng lượng, hàng hóa nông nghiệp, kim loại, thời tiết và bất độngsản.CME group liên kết người mua và người bán thông qua nền tảng đó là thương mại điên tử CME GLOBEX và cở sở hạ tầng ở Chicago và newyork Đồng thời CME GROUP hoạt động như CME clearing ,một trong những trung tâm thanh toán bù trừ trung tâm lớn nhất trên thế giới,cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ giữanhững hợp đồng mua bán trao đổi ,cũng như giao dịch các sản phẩm phái sinh thông qua CME CLEARPORT.Ngoài ra nó còn sở hữu chỉ số chứng khoán Dow Jones và chỉ số tài chính

Trụ sở chính nằm trong khu tài chính Chicago loop.công ty được hợp nhất bởi Chicago mercantile exchange và hội đồng thương mại Chicago năm

2007.ngày 17 tháng 8 năm 2008 nó đã tuyên bố mua lai NYMEX holdings inc – công ty mẹ của NEWYORK mercantile exchange and commodities exchange ,inc COMEX ,chính thức hoàn tất vào ngày 22 tháng 8 năm 2008 Sở giao dịch và ban chỉ huy hiện nay đang hoạt động như một thị trường mua bán hợp đông chỉ

định(DMC) của CME group Ngày 10 tháng 2 năm 2010 nó tuyên bố mua lại 90%

Ngày đăng: 31/07/2015, 00:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w