1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC CẤP

24 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC CẤP

Trang 1

VIỆN ĐIỆN

-o0o

ĐỀ TÀI: TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC CẤP

Giáo viên hướng dẫn: Ths Đinh Thị Lan Anh

Họ và tên MSSV Lớp

Phạm Trung Hiếu 20131437 KT ĐK&TĐH-04 K58

Lê Văn Công 20130450 KT ĐK&TĐH-04 K58 Nguyễn Duy Đăng 20130894 KT ĐK&TĐH-04 K58

Hà Nội tháng 12/2014

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Nước là nhu cầu tất yếu của mọi sinh vật Hàng ngày trung bình mỗi người cần từ 3-10 lít đáp ứng cho nhu cầu ăn uống và sinh hoạt hằng ngày Trong sinh hoạt nước cấp dùng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ăn uống, vệ sinh, các họat động giải trí,… và các họat động công cộng như cứu hỏa, phun nước, tưới đường… Còn trong công nghiệp, nước cấp được dùng cho quá trình làm lạnh, sản xuất thực phẩm như đồ hộp, nước giải khát, rượu… Hầu như mọi ngành công nghiệp đều sử dụng nước cấp như là một nguồn nguyên liệu không gì thay thế được trong sản xuất

Nước cấp là nước sau khi được xử lý tại cở sở xử lý nước đi qua các trạm cung cấp nước và từ các trạm này nước sẽ được cung cấp cho người tiêu dùng

Có nhiều nguyên nhân nước cấp bị nhiễm Fe nhưng nguyên nhân chủ yếu là do trong nước ngầm có một lượng iôn Fe hoàn tan lớn và ko được sử lý triệt để nên có một lượng Fe còn trong nước sau xử lý hoặc có thể một lượng iôn Fe hòa tan vào nước do các đường ống vận chuyển nước

Ngày nay với sự phát triển của công nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số nguồn nước càng ngày bị ô nhiễm và cạn kiệt …Vì thế con người cần phải biết cách xử lý các nguồn nước cấp đề đáp ứng cả về chất lượng lẫn số lượng cho sinh hoạt hằng ngày và sản xuất công nghiệp

Hưởng ứng phong trào thi đua “Học tập và Nghiên cứu khoa học” đang một ngày được triển khai sâu rộng trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, chúng em- nhóm 3 sinh viên Công, Hiếu, Đăng lớp KT ĐK & TĐH 4 K58 được học tập môn học “ Nhập môn kỹ thuật ngành điện” và được giao tìm hiểu về đề tài: “Tìm hiểu về hệ thống xử lý nước cấp của một Xí nghiệp bất kỳ” Cùng với sự hướng dẫn của Ths Đinh Thị Lan Anh, chúng em đã hoàn thành bài Tiểu luận

Bài tiểu luận với nội dung tìm hiểu về hệ thống xử lý nước cấp của công ty Thúy Đạt được viết bởi sự hiểu biết chưa thực sự nhiều, tìm tòi các thông tin liên quan trên mạng internet và các tài liệu sách, báo nên không thể tránh khỏi được nhầm lẫn,sai sót Rất mong được sự đóng góp tích cực từ cô cùng các bạn

Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ NƯỚC CẤP HIỆN NAY 4

I Tổng quan về nguồn nước: 4

1 Vai trò của nguồn nước đối với đời sống con người: 4

2 Tài nguyên nước trong tự nhiên: 4

II Giới thiệu về nước ngầm: 5

1 Khái quát chung: 6

2 Các thành phần có trong nước ngầm: 7

3 Hiện trạng ở Việt Nam .10

PHẦN II: TÌM HIỂU HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC CẤP TỪ NGUỒN NƯỚC NGẦM CỦA CÔNG TY THÚY ĐẠT 14

I Tìm hiểu công ty Thúy Đạt 14

II Tìm hiểu về nguồn Nước Ngầm 14

1 Nước ngầm: 14

2 Đặc tính chung của nước ngầm: 14

3 Ưu và nhược điểm khi sừ dụng nước ngầm 15

III Hệ Thống Xử Lý Nước Ngầm: 15

1 Hệ thống máy bơm: 16

2 Cyclon trộn 17

3 Tháp oxi hóa 17

4 Bể phản ứng 18

5 Bể lắng lamen .18

6 Bể trung gian 19

7 Bồn lọc áp lực .19

8 Bể chứa nước sạch 19

9 Bơm định lượng Clo 20

10 Xử lý bùn 21

IV Kết quả 22

PHẦN III: TỔNG KẾT – ĐÁNH GIÁ 23

Trang 4

PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ XỬ LÝ NƯỚC CẤP HIỆN

NAY

I Tổng quan về nguồn nước:

1 Vai trò của nguồn nước đối với đời sống con người:

- Nước không thể thiếu đối với cuộc sống của con người và nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành sự sống trên Trái Đất Nước tham gia tích cực vào phản ứng lý, hóa học, sự hình thành và tích lũy chất hữu cơ, là dung môi của rất nhiều chất

và đóngvai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể con người

- Trong các khu đô thị và nông thôn, nước sạch dùng để phục vụ cho dân sinh Trong công nghiệp, nông nghiệp…nước được dùng cho nhiều mục đích khác nhau nhằm tạo

ra các sản phẩm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân

2 Tài nguyên nước trong tự nhiên:

- Tổng lượng nước trên trái đất có khoảng 1.390.000.000km3, trong đó 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt nhưng gần hơn 2/3 lượng nước này tồn tại ở dạng sông băng và các mũ băng ở các cực Phần còn lại không đóng băng được tìm thấy chủ yếu ở dưới dạng nước ngầm, và chỉ một tỷ lệ nhỏ tồn tạitrên mặt đất

và trong không khí

Nước trong các lục địa khoảng 8.600.000 km3, trong đó:

 Các sông 40.000 km3

 Các hồ nước ngọt 90.000 km3

 Các hồ nước mặn và biển nội địa 105.000 km3

 Tổng cộng nước mặn trong lục địa 235.000 km3

Độ ẩm của đất:

 Nước dưới độ sâu đến 800m:4.000.000 km3

 Nước dưới đất ở độ sâu lớn hơn 800m:4.300.000 km3

 Tổng cộng lượng nước ngầm: 8.300.000 km3

Băng ở các cực của trái đất khoảng: 29.000.000 km3

Lượng nước trong các đại dương khoảng:1.350.000.000 km3

Trang 5

Từ những con số trên cho thấy lượng nước dùng cho sinh hoạt và sản xuất chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ so với lượng nước có trong tự nhiên Tuy vậy trên thế giới có rất nhiều vùng thiếu nước ngọt

- Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất

- Ở Việt Nam với lượng mưa trung bình năm khoảng 1960 mm phân bố tương đối đều, nước ta lại có mạng lưới sông ngòi dày đặc nên lưu lượngnước mặt rất phong phú (324km3/năm)

- Nước ngầm là nước xuất hiện ở tầng sâu dưới đất, thường từ 30-40,60-70 có khi 120-150 và cũng có khi tới 180m

- Nước ngầm được thẩm thấu từ trên xuống, hoặc cũng có thể từ nơi xa chảyvề Dòng nước ngầm xuất hiện trên một lớp đất hoặc đá hoàn toàn không thấm nước Qua các lớp đá sỏi đã bị hấp phụ hết các tạp chất nên chất lượngnước ngầm sạch,ổn định Nước ngầm có thể có những túi lớn nằm rải ráctrong lòng đất, cũng có thể chảy thành mạch Trữ lượng nước ngầm khá lớn và rất quan trọng cho cấp nước ở thành phố và nông thôn vùng phèn mặn… Nước ngầm được khai thác từ các tầng chứa nước dưới đất chất lượng nướcngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nươcngầm thấm qua Do vậy chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường cótính axit

và chứa ít chất khoáng Khi nước ngầm chảy qua địa tầng chứa đávôi thò nước thường

có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao Ngoàira đặc trưng chung của nước ngầm là:

 Độ đục thấp

 Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định

 Không có oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như: CO2,H2S…

 Chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là: sắt, mangan, canxi, magievà flo

 Không có sự hiện diện của vi sinh vật

Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, chỉ có khoảng 2/3 (60%) dân số Việt Nam được

sử dụng nước sạch theo tiêu chuản chất lượng nước của Liên Hiệp Quốc (Báo cáo diễn biến môi trường nước Việt Nam 2003)

II Giới thiệu về nước ngầm:

Trang 6

1 Khái quát chung:

- Nước ngầm là nước chảy trong mạch kín ở dưới đất, là các túi nước thông nhau hoặc là nước chảy sát với tầng đá mẹ, thường ở độ sâu từ 30-40m và cũng có khi sâu hơn,

có thể tới 180m Nước ngầm được hình thành là do nước được thấm từ trên xuống, hoặc

từ nơi xa chảy về Dòng nước ngầm xuất hiện trên một lớp đất hoặc đá hoàn toàn không thấm nước Qua các lớp cát sỏi đã bị hấp phụ hết các tạp chất nên lượng nước ngầm thường sạch và ổn định Nước ngầm có thể chia thành nước ngầm tầng mặt và nước ngầm tầng sâu Đặc điểm chung của nước ngầm là có khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp tạo thành các mạch nước ngầm theo địa hình

- Theo không gian phân bố, một lớp nước ngầm tầng sâu thường có ba vùng chức năng:

- Nước ngầm được khai thác từ các tầng chứa nước ngầm, chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào thành phần khoáng hóa và cấu trúc địa tầng mà nước thấm qua Do vậy nước chảy qua các địa tầng chứa cát và granit thường có tính axit và chứa ít chất khoáng Khi nước ngầm chảyqua địa tầng chứa đá vôi thì nước thường có độ cứng và độ kiềm hydrocacbonat khá cao

Các đặc trưng chung của nước ngầm:

 Độ đục thấp

 Nhiệt độ và thành phần hóa học tương đối ổn định

 Không chứa oxy nhưng có thể chứa nhiều khí như: CO2, H2S…

 Chứa nhiều khoáng chất hòa tan chủ yếu là: sắt, mangan, canxi,magie và flo

 Không có sự hiện diện của vi sinh vật

Ưu và nhược điểm khi sử dụng nước ngầm:

 Ưu điểm:

Trang 7

- Nước ngầm là tài nguyên thường xuyên, ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu như hạn hán

- Chất lượng nước tương đối ổn định, ít bị biến động theo mùa như nước mặt

- Chù động hơn trong vấn đề cấp nước cho các vùng hẻo lánh, dân cư thưa, nhất là trong hoàn cảnh hiện nay bởi vì nước ngầm có thể khai thác với nhiều công suất khác nhau

- Để khai thác nước ngầm có thể sử dụng các thiết bị điện như bơm li tâm, máy nén khí, bơm nhúng chìm hoặc các thiết bị không cần điện như các loại bơm tay

Ngoài ra nước ngầm còn được khai thác tập trung tại các nhà máy nước ngầm, các

xí nghiệp, hoặc khai thác phân tán tại các hộ dân cư Đây là ưu điểm nổi bật của nước ngầm trong vấn đề cấp nước nông thôn

- Giá thành xử lí nước ngầm nhìn chung rẻ hơn so với nước mặt

 Nhược điểm:

- Một số nguồn nước ngầm ở tầng sâu được hình thành từ hàng trăm năm, hàng nghìn năm và ngày nay nhận được rất ít sự bổ cập từ nước mưa Và tầng nước này nói chung không thể tái tạo hoặc khả năng tái tạo rất hạn chế Do vậy trong tương lai cần phải tìm nguồn nước khác thay thế khi các tầng nước này bị cạn kiệt

- Việc khai thác nước ngầm với qui mô và nhịp điệu quá cao cũng sẽ làm cho hàm lượng muối trong nước tăng lên từ đó dẫn đến việc tăng chi phí cho việc xử lý nước trước khi đưa vào sử dụng

- Khai thác nước ngầm với nhịp điệu cao sẽ làm cho mực nước ngầm hạ thấp xuống, một mặt làm cho quá trình nhiễm mặn tăng lên, mặt khác làm cho nền đất bị võng xuống gây hư hại các công trình xây dựng

- Một trong các nguyên nhân gây hiện tượng lún sụt đất

- Khai thác nước ngầm một cách bừa bãi cũng dễ dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm

2 Các thành phần có trong nước ngầm:

- Chất lượng nước ngầm nói chung là tốt, ít có trường hợp bị nhiễm bẩn hữu cơ,

ở nhiều vùng có thể sử dụng trực tiếp không cần làm sạch Tuy nhiên, nước ngầm thường

có tổng khoáng hóa cao, nhiều khi chứa các chất khí hòa tan, có nhiều chất sắt và mangan Hàm lượng sắt dao động từ vàimg/l đến hàng chục mg/l Ở nhiều vùng có nguồn bị nhiễm mặn hoặc có độ cứng cao

Trang 8

- Một loại nước ngầm tồn tại trong đất ( phạm vi từ 1m đến 15m) thực chất là nước mặt, thường được gọi là nước ngầm “ mạch nông” Chất lượng nước ngầm mạch nông ở nhiều vùng khá tốt, nhưng nhiều vùng cũng chỉ khá hơn nước mặt một chút vì

bị ảnh hưởng trực tiếp của nước mặt bị ô nhiễm và thời tiết Tuy nhiên, hiện nay ở nhiều vùng dân cư nông thôn không chỉ dựa vào loại nguồn nước này để phục vụ cho các nhu cầu đời sống hàng ngày Nước dưới đất nhìn chung là nguồn nước tốt, thuận lợi khi khai thác sử dụngcho các mục đích sinh hoạt, ăn uống

- Chất lượng nước ngầm phụ thuộc vào nguồn gốc của nước ngầm, cấu trúcđịa tầng của khu vực và chiều sâu địa tầng nơi khai thác nước Ở các khuvực được bảo vệ tốt, ít có nguồn thải gây nhiễm bẩn, nước ngầm nói chungđược bảo vệ về mặt vệ sinh và chất lượng khá ổn định

a Các ion có thể có trong nước ngầm:

- Ion canxi Ca²+

Trong qui trình xử lý sắt trong nước ngầm, điều quan trọng là biết được điềukiện

để chuyển sắt hóa trị II thành sắt hóa trị III và hyđroxit sắt (II) và hyđroxit sắt (III) được tạo thành từ trạng thái hòa tan sang cặn lắng.Với hàm lượng sắt cao hơn 0.5 mg/l, nước

có mùi tanh khó chịu, làm vàng quần áo khi giặt, làm hỏng sản phẩm của các ngành dệt may, giấy, phim ảnh, đồ hộp Trên dàn làm nguội, trong các bể chứa, sắt hóa trị II bị oxy hóa sắt hóa trị III, tạo thành bông cặn, các cặn sắt kết tủa có thể làm tắc hoặc giảm khả năng vận chuyển của các ống dẫn nước Đặc biệt là có thể gây nổ nếu nước đó dùng làm nước cấp cho các nồi hơi Một số ngành công nghiệp cóyêu cầu nghiêm ngặt đối với hàm lượng sắt như dệt, giấy, sản xuất phimảnh… Nước có chứa ion sắt, khi trị số

pH < 7.5 là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn sắt phát triển trong các đường ống dẫn, tạo ra cặn lắng gồ ghề bám vào thànhống làm giảm khả năng vận chuyển và tăng sức cản thủy lực của ống

Trang 9

- Ion mangan:

Mangan thường tồn tại song song với sắt ở dạng ion hóa trị II trong nướcngầm và dạng keo hữu cơ trong nước mặt Do vậy việc khử mangan thườngđược tiến hành đồng thời với khử sắt

Khi nước ngầm tiếp xúc với không khí trong nước xuất hiện cặn hyđroxit sắtsớm hơn vì sắt dễ bị oxy hóa hơn mangan và phản ứng oxy hóa sắt bằng oxy hòa tan trong nước xảy ra ở trị số pH thấp hơn so với mangan Để oxy hóamangan trị số pH cần thiết

>9.5 Cặn mangan hóa trị cao là chất xúc tác rất tốt trong quá trình oxy hóa khử mangan cũng như khử sắt Cặn hyđroxitmangan hóa trị IV Mn(OH)4 có màu hung đen Trong thực tế cặn và chất lắng đọng trong đường ống, trên các công trình làdo các hợp chất sắt và mangan tạo nên, vì vậy tùy thuộc vào tỉ số của chúng, cặn có thể có màu từ hung

đỏ đến màu nâu đen Quá trình oxy hóa diễn ra ngay với các chất dễ oxy hóa, do vậy,

để oxy hóa hàm lượng mangan xuốngđến 0.2mg/l, pH của nước phải có giá trị xấp xỉ bằng 9.Kết quả thực nghiệm cho thấy khi pH < 8 và không có chất xúc tác thì quátrình oxy hóa mangan (II) thành (IV) diễn ra rất chậm, độ pH tối ưu thường trong khoảng từ 8.5 đến 9.5.Với hàm lượng tương đối thấp, ít khi vượt quá 5mg/l Tuy nhiên, với hàmlượng mangan trong nước lớn hơn 0.1mg/l sẽ gây nhiều nguy hại trong việc sử dụng giống như trong trường hợp nước chứa sắt với hàm lượng cao

b Các chất khí hòa tan trong nước ngầm:

- O 2 hòa tan:

Tồn tại rất ít trong nước ngầm Tùy thuộc vào nồng độ của khí oxy trong nước ngầm,

có thể chia nước ngầm thành 2 nhóm chính sau:

 Nước yếm khí: trong quá trình lọc qua các tầng đất đá, oxy bị tiêu thụ, khi lượng oxy bị tiêu thụ hết, các chất hòa tan như Fe2+, Mn2+ sẽ tạo thành nhanh hơn

NH Hơn nữa, cũng xảy ra quá trìnhkhử sau:

 Nước dư lượng oxy hòa tan: trong nước có oxy sẽ không có các chất khử như

NH4+, H2S , CH4

Đó chính là nước ngầm mạch nông Thường khi nước có dư lượng oxy sẽ có chất lượng tốt Tuy nhiên,nước ngầm mạch nông phụ thuộc nhiều vào nguồn nước mặt, nếu nước mặt bị ô nhiễm thì nó cũng sẽ bị ảnh hưởng

- H 2 S:

Trang 10

Hyđrosunfua được tạo thành trong điều kiện yếm khí từ các hợp chấthumic với sự tham gia của vi khuẩn

- Metan CH 4 và khí CO 2 :

Được tạo thành trong điều kiện yếm khí từ các hợp chất humic với sự tham gia của

vi khuẩn

Kết luận: Nồng độ các tạp chất chứa trong nước ngầm phụ thuộc váo các vị trí địa

lí của các nguồn nước, thành phần các tầng đất đá trong khu vực,độ hòa tan của các hợp chất trong nước, sự có mặt của các chất dễ bị phân hủy bằng sinh hóa trong chất đó Nước ngầm cũng có thể bịnhiễm bẩn do các tác động của con người như phân bón, chất thải hóa học, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, hóa chất bảo vệ thực vật Các nguồn nước thường chứa hàm lượng lớn các chất bẩn hữu cơ NH4+, PO43-cũng như các vi sinh vật gây bệnh Xử lý nước nhiễm bẩn là công việc khá khó khăn để đạt được các chỉ tiêu chất lượng nước sinh hoạt Do vậy các khu vực khai thác nước ngầm cấp cho sinh hoạt và công nghiệp cần phải được bảo vệ cẩn thận, tránh bị nhiễm bẩn nguồn nước Để bảo vệ nguồn nước ngầm cần khoanh vùng khu vực bảo vệvà quản lý, bố trí các nguồn thải

ở khu vực xung quanh Tóm lại, trong nước ngầm có chứa các cation chủ yếu là Na+,

Ca2+, Mg2+, Fe2+ , Mn2+ , NH4+ và các anion HCO3-, SO42-, Cl- Trong đó các ion Ca2+,

Mg2+ chỉ tồn tại trong nước ngầm khi nước này chảy qua tầng đá vôi Các ion Na+, Cl-,

SO42- có trong nước ngầm trong các khu vực gần bờ biển, nước bị nhiễm mặn Ngoài

ra, trong nước ngầm có thể có nhiều nitrat do phân bón hóa học của người dân sử dụng quá liều lượng cho phép Thông thường thì nước ngầm chỉ có các ion Fe2+, Mn2+, khí

CO2, còn các ion khác đều nằm trong giới hạn cho phép của TCVN đối với nước cấp cho sinh hoạt

3 Hiện trạng ở Việt Nam

Ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt không còn là một hiện tượng mới lạ trong cộng đồng Nguyên nhân rất nhiều, song chung quy là do quy luật phát triển của xã hội cộng với lối sống thiếu ý thức của con người

Những kênh rạch, vệ đường đầy rác, nước thải, những hành vi lấn chiếm dòng,

bờ kênh rạch, sông hồ làm nơi sinh sống; hàng loạt các công trình khai thác nước trái phép… đang làm “chết dần” nguồn nước sống, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người

Trang 11

Trên thế giới hiện cứ 3 người thì có một người sống trong tình trạng thiếu nước Chính vì vậy, cần có sự thay đổi mạnh mẽ về cách thức quản lý nguồn nước đang ngày càng khan hiếm khi mà dân số thế giới dự kiến sẽ tăng thêm 2 – 3 tỷ người vào năm

2050 Việt Nam chúng ta cũng không nằm ngoài nguy cơ đó Do đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nên nhu cầu sử dụng nước cho phát triển kinh tế, phục vụ dân sinh ngày càng lớn khiến tình trạng ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước diễn ra phổ biến và nghiêm trọng

Theo nhận xét của GS.TS Ngô Đình Tuấn, Trường Đạo học thủy lợi: Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước chưa hợp lý và thiếu bền vững đã và đang gây suy giảm tài nguyên nước, trong khi hiệu quả sử dụng nước còn thấp, tình trạng lãng phí trong

sử dụng nước còn phổ biến trong phạm vi cả nước Chẳng hạn như nước được dùng cho sản xuất nông nghiệp nhiều nhất ở đồng bằng sông Cửu Long và lưu vực sông Hồng, chiếm tới 70% lượng nước sử dụng Tuy vậy diện tích thực tưới thấp hơn nhiều

so với diện tích thiết kế (chỉ đạt 68% tổng diện tích được tưới), chứng tỏ hiệu quả

sử dụng nước cho nông nghiệp chưa cao

Nước còn được sử dụng nhiều cho công nghiệp Theo một nghiên cứu gần đây, nhóm sông có tỷ lệ dùng nước cho công nghiệp cao nhất là lưu vực sông Hồng – Thái Bình, chiếm gần ½ tổng lượng nước sử dụng cho ngành công nghiệp cả nước Trong

đó 25% sử dụng nước công nghiệp diễn ra ở lưu vực sông Đồng Nai; 7% ở nhóm sông Đông Nam Bộ và 10% ở lưu vực Cửu Long Đặc biệt, tỷ lệ sử dụng nước dưới đất cho công nghiệp rất lớn, riêng Thành phố Hồ Chí Minh có đến 57% doanh nghiệp sử dụng nước dưới đất

Dự báo đến năm 2015, khối lượng nước sử dụng trong công nghiệp sẽ tăng gấp đôi so với năm 2006, mức độ tăng sẽ chủ yếu diễn ra ở lưu vực sông vốn đã là một cơ sở công nghiệp lớn là các lưu vực sông Hồng – Thái Bình, Đồng Nai, nhóm sông Đông Nam Bộ, Cửu Long và Vu Gia – Thu Bồn

– Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang, việc tài nguyên nước hiện đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm, cạn kiệt là do tác động của biến đổi khí hậu, chặt phá rừng bừa bãi khiến nguồn nước mặt trên các lưu vực sông, suối đang dần cạn kiệt và suy thoái cao Theo ông Phan Xuân Dũng Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội, nhiều năm trước, khi khảo sát ở Tây Nguyên,

Trang 12

chỉ cần khoan 15-20 mét đất đã chạm nguồn nước; nhưng đến nay, muốn tìm nước phải đưa mũi khoan xuống sâu 150-200 mét

a Tình hình cấp nước đô thị ở nước ta còn nhiều bất cập:

 Tỷ lệ cấp nước còn rất thấp, trung bình đạt 45% tổng dân số đô thị được cấp nước, trong đó đô thị loại I và loại II đạt tỷ lệ 67%, các đô thị loại IV và loại V chỉ đạt 10-15%

Tỷ lệ thất thu cao không chỉ chứng tỏ sự yếu kém về mặt năng lực quản lý (cả tài chính và kỹ thuật) mà nó còn thể hiện kết quả của quá trình đầu tư không đồng bộ giữa việc tăng công suất với công tác phát triển mạng lưới đường ống Bộ Xây dựng đã đề ra chỉ tiêu đến năm 2005: Đối với các đô thị có hệ thống cấp nước cũ tỷ lệ thất thoát thất thu dưới 40%, các đô thị có hệ thống cấp nước mới là nhỏ hơn 30%

 Chất lượng nước tại nhiều nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn quy định, tình trạng nguồn nước ngầm, nước mặt bị ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân Theo số liệu thống kê, tổng công suất khai thác hiện nay là 2,9 triệu m3/ngđ (trong

đó 66% là nước mặt, 34% là nước ngầm) Công tác khảo sát và quản lý nguồn nước nói chung do Bộ Tài nguyên - Môi trường và địa phương quản lý Việc chất lượng nguồn nước có những biến động trong quá trình khai thác do nhiều nghuyên nhân:

 Công nghệ xử lý nước tại một số nhà máy nước chưa đồng bộ và hoàn chỉnh Một số dự án công nghệ do tư vấn nước ngoài thiết kế chưa phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

 Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do tác động của con người đang diễn ra ngày càng trầm trọng Tình hình xả nước thải không qua xử lý ra sông hồ nơi cũng là nguồn cung cấp nước không được kiểm soát Tại nhiều địa phương hàng ngàn, hàng vạn lỗ khoan mạch nông đang là nguồn gây ô nhiễm cho tầng chứa nước đang khai thác

 Công tác quản lý khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm chưa được các cấp, các ngành quan tâm thích đáng Tư duy “Nước trời cho” đã dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, tác động xấu đến chất lượng nguồn nước mặt và nước ngầm

Như vậy, một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý tài nguyên nước

là quản lý lưu vực sông để điều hoà, phân bổ nguồn nước, phối hợp điều tiết nguồn nước trên sông sử dụng tổng hợp đa mục tiêu, đáp ứng yêu cầu phòng chống lũ, cấp nước cho hạ du và các mục đích khác Cần có sự quy định cụ thể các nội dung về quản

lý lưu vực sông, phân loại lưu vực sông, tổ chức bộ máy quản lý, điều phối hoạt động

Ngày đăng: 26/07/2015, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w