1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

25 1,6K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Tác giả Phan Anh Hào, Phan Đình Thìn, Võ Thị Dung, Cao Thùy Giang
Chuyên ngành Kinh tế
Thể loại Tiểu luận
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 224 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như chúng ta đã biết tăng trưởng và phát triển kinh tế là cơ sở vật chất cho tiến bộ xã hội và ngược lại

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Nh chúng ta đã biết tăng trởng và phát triển kinh tế là cơ sở vật chấtcho tiến bộ xã hội và ngợc lại, tiến bộ xã hội thúc đẩy tăng trởng và pháttriển kinh tế Đối với Việt Nam hiện nay tăng trởng và phát triển kinh tế cótầm quan trọng hàng đầu không chỉ do điểm xuất phát của nớc ta còn thấpphải phát triển nhanh để chống nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế ,để sớm đ-

a nớc ta ra khỏi tình trạng kém phát triển , mà còn là tiền đề để thực hiệnnhững mục tiêu kinh tế xã hội khác nh chống lạm phát , giảm thất nghiệp ,phát triển giáo dục ,y tế ,văn hoá xã hội, xoá đói giảm nghèo …Nhng songsong với tăng trởng phát triển kinh tế là vấn đề bảo vệ môi trờng Bảo vệmôi trờng hiện nay đang là một nhiệm vụ phức tạp, cấp bách , đa ngành,liên vùng, liên quan đến tất cả mọi ngời, mọi đối tợng, mọi tầng lớp trongxã hội trong đó tầng lớp tri thức trẻ đặc biệt là những sinh viên Kinh tếchúng ta cần: nghiên cứu tìm hiểu kỹ mối quan hệ giữa tăng trởng phát triểnkinh tế và bảo vệ môi trờng ;từ đó đề ra những giải pháp và cách thức đểgiải quyết một cách tốt nhất việc phát triển kinh tế gắn liền với chống ônhiễm môi trờng Những thập niên gần đây loài người ngày càng ý thức rừràng hơn về ảnh hưởng của môi trường tới cuộc sống và quan tâm nhiềuhơn tới sự phát triển bền vững Ô nhiễm môi trường ngày nay không còn bóhẹp trong phạm vi từng quốc gia mà nó lan tới các quốc gia lân cận, ảnhhưởng tới môi trường khu vực và toàn cầu, gây ra những hiện tượng thờitiết bất thường, mang lại nhiều thảm hoạ và dẫn đến những thiệt hại vôcùng to lớn cho con người Phạm vi giải quyết các vấn đề về môi trường vìvậy cũng không còn bó hẹp trong phạm vi từng quốc gia mà đòi hỏi phải có

sự liên kết, phối hợp hành động của nhiều quốc gia, khu vực và toàn cầu

Đề tài “Mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi ờng ” sẽ giúp mọi ngời hiểu rõ hơn, đặt nhiều sự quan tâm hơn đến một vấn

tr-đề quan trọng có tính toàn cầu nh vậy

Tuy nhiên do những hạn chế khách quan và chủ quan nên đề tàinày không tránh khỏi những điểm cần sửa đổi và bổ sung, vì vậy rất mong

đợc sự đóng góp ý kiến,phê bình của thầy giáo cũng nh của các bạn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

Nhóm sinh viên thực hiện

Phan Anh Hào Phan Đỡnh Thỡn

Vừ Thị Dung Cao Thuỳ Giang

PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Trang 2

CHƯƠNG I: PHÁT TRIỂN KINH TẾ CẦN GẮN LIỀN VỚI

BẢO VỆ MễI TRƯỜNG

I TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

1, Tăng trởng kinh tế

Quan điểm về tăng trởng kinh tế: là sự tăng lên về số lợng và chất ợng, tốc độ và quy mô ,sản lợng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định.Thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia thờng đợc đánh giá theonhững chỉ tiêu nh: sự tăng lên về số lợng, chất lợng lực lợng sản xuất, giảmbớt tỷ trọng đói nghèo, mức thu nhập của dân c tăng lên, phúc lợi xã hội vàchất lợng cuộc sống của cộng đồng đợc cải thiện, giảm tỷ lệ thất nghiệp, ổn

l-định an ninh quốc phòng và chế độ chính trị, xã hội, nâng cao vị trí của đấtnớc trên trờng quốc tế Do đó tăng trởng kinh tế nhanh là mục tiêu chiến l-

ợc của các quốc gia trên thế giới nói chung cũng nh Việt Nam nói riêngnhng sẽ là không đúng nếu theo đuổi tăng trởng kinh tế bằng mọi giá, kể cảviệc phá huỷ môi trờng Thực tế cho thấy không phải sự tăng trởng nàocũng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội nh mong muốn , đôi khi quá trìnhtăng trởng mang tính hai mặt, chẳng hạn tăng trởng kinh tế quá mức có thểdẫn đến tình trạng nền kinh tế nóng, khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăngcao,thất nghiệp, tệ nạn xã hội, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngàycàng sâu sắc và quan trọng hơn là do bằng mọi cách để theo đuổi mục đíchtăng trởng kinh tế nhanh một số quốc gia đã khai thác và sử dụng khônghợp lí nguồn tài nguyên, gây sự hao hụt lãng phí lớn và ô nhiễm môi trờngngày càng gia tăng Vì vậy đòi hỏi mỗi quốc gia trong từng thời kì nhất

định phải tìm ra những biện pháp có hiệu quả, đảm bảo tăng trởng kinh tếbền vững, giải quyết tốt vấn đề tiến bộ xã hội gắn với bảo vệ môi trờng sinhthái

2, Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là sự tăng trởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiệncơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lợng cuộc sống và đảm bảo côngbằng xã hội Phát triển kinh tế có nội dung và ý nghĩa toàn diện, là mục tiêu

và ớc vọng của các dân tộc trong mọi thời đại Phát triển kinh tế bao hàmtrong nó mối quan hệ biện chứng giữa tăng trởng kinh tế, tiến bộ xã hội vàbảo vệ môi trờng Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiệnmôi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trườngthiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học Chủ động phòng tránh và hạn chế tácđộng xấu của thiên tai, của sự biến động khí hậu bất lợi và tiếp tục giảiquyết hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường Bảo vệ và cải tạo môitrường là trách nhiệm của toàn xã hội, tăng cường quản lý nhà nước đi đôivới nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân Chủ động gắn kết yêucầu cải thiện môi trường trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và

dự án phát triển kinh tế - xã hội, coi yêu cầu về môi trường là một tiêu chíquan trọng đánh giá các giải pháp phát triển

Trang 3

II MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MễI TRƯỜNG

1, Tác động của phát triển kinh tế đến môi trờng

a) Tác động tích cực

Nhà nớc ngày càng nhận thức rõ hơn đợc tầm quan trọng của việc bảo

vệ môi trờng, bảo vệ môi trờng sinh thái cũng chính là bảo vệ cuộc sốngcủa mỗi con ngời, sẽ là không đúng nếu nh phát triển kinh tế đi kèm vớiphá hủy môi trờng sinh thái, làm ảnh hởng đến chất lợng cuộc sống của mỗingời dân Vì vậy Nhà nớc đã tăng cờng các biện pháp, chính sách đểkhuyến khích ngời dân, các doanh nghiệp, đoàn thể cùng các tổ chức chínhtrị xã hội nâng cao ý thức bảo vệ môi trờng Kinh tế ngày càng phát triển,ngân sách nhà nớc ngày càng tăng lên, chi phí đầu t cho các dự án, các môhình nhằm cải thiện môi trờng sống của con ngời cũng nh môi trờng thiênnhiên ngày càng cao ý thức ngời dân giờ đây cũng đợc nâng cao hơn, nhờ

sự tuyên truyền giáo dục của Đảng và Chính phủ, họ tích cực, tự giác thamgia vào các hoạt động, phong trào bảo vệ môi trờng do các tổ chức đoàn thểcũng nh tại địa phơng phát động, tổ chức Các doanh nghiệp Nhà nớc và cácdoanh nghiệp t nhân giờ đây đều đã chú trọng hơn đến vấn đề bảo vệ môitrờng, đã tăng kinh phí cho việc xử lí chất thải độc hại do các xí nghiệp, nhàmáy của mình khi tiến hành sản xuất đã thải ra môi trờng bên ngoài

Kinh tế ngày càng phát triển tạo tiền đề cơ sở vật chất kĩ thuật, khoahọc cho công tác nghiên cứu và ứng dụng thành tựu của công nghệ vàotrong lĩnh vực bảo vệ môi trờng Chúng ta đã nghiên cứu thành công và ứngdụng rộng rãi rất nhiều các phát minh khoa học vào trong sản xuất và trong

đời sống con ngời việc ứng dụng những công nghệ tiên tiến này đã đem lạihiệu quả không nhỏ trong việc cải thiện tình hình ô nhiễm môi trờng hiệnnay Nớc ta có khoảng 80%dân số sống bằng nghề nông, công nghiệp tậptrung chủ yếu vào các lĩnh vực chế biến nông sản( xay xát lúa, sản xuất mía

đờng, chế biến cà phê, hạt điều…), lâm sản( chế biến gỗ, mây, tre…) Hàngnăm có hàng chục triệu tấn phế liệu, phụ liệu nông nghiệp và công nghiệpchế biến( rơm, rạ, bã mía, lõi ngô…)đợc tạo ra Vì vậy đã có rất nhiều côngnghệ đợc nghiên cứu và ứng dụng nhằm xử lí tái sử dụng phế phẩm, phụphẩm nông nghiệp và xử lí chất thải chăn nuôi ,chất thải từ quá trình chếbiến nh: sử dụng vỏ trấu, bã mía…làm dăm ván ép; lên men rơm, bã mía…làm thức ăn gia súc; bùn bã làm phân hữu cơ; ứng dụng mô hình Biogas, xử

lí phân gia súc, chất thải; tái sử dụng vỏ tôm để sản xuất keo kitin… Tại cáckhu công nghiệp, đã có 18/76 khu công nghiệp, khu chế xuất áp dụng côngnghệ xử lí nớc thải tập trung Tại các cơ sở sản xuất quy mô lớn( nằm ngoàikhu công nghiệp )sản xuất sạch hơn ngày càng đợc các nhà quản lí môi tr-ờng và các doanh nghiệp quan tâm nh một công cụ hữu hiệu nhằm giảmthiểu ô nhiễm môi trờng

Từ những dấu hiệu trên chúng ta đã thấy đợc những tác động to lớncủa phát triển kinh tế đến môi trờng, vì vậy cần tích cực đầu t vào phát triểnkinh tế hơn để phát huy mạnh hơn nữa những thành tựu của một nền kinh tếphát triển

Trang 4

b) Tác động tiêu cực

Song song với những tác động tích cực của phát triển kinh tế đến môitrờng thì bên cạnh đó lại xuất hiện một vấn đề mới, đó là do sự phát triểnnhanh dẫn đến mức ồ ạt ở một số địa bàn trên phạm vi cả nớc , không có sựcân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng nên ngoài những thànhtựu mà nền kinh tế phát triển đã đạt đợc thì đó là tình trạng môi trờng ngàycàng bị hủy hoại, bị xuống cấp nghiêm trọng Đây là một bài toán khó đãlàm đau đầu các nhà kinh tế của chúng ta từ bao lâu nay, một bài toán mà

đã đợc đặt ra từ rất lâu nhng vẫn cha có lời giải đáp

* Tình trạng ô nhiễm môi trờng tại các đô thị:

Tính đến năm 2003 nớc ta có 656 đô thị, trong đó có 5 thành phố lớn

do Trung ơng quản lí, 81 thành phố, thị xã cấp tỉnh và hơn 570 thị trấn cấphuyện với tổng dân số 20 triệu ngời( chiếm 25%dân số toàn quốc ) Kinh tếphát triển ngày càng nhanh kèm theo đó là quá trình công nghiệp hóa hiện

đại hóa đất nớc, vì vậy đô thị hóa đồng thời cũng diễn ra nhanh chóng, sẽgia tăng lợng chất thải vào môi trờng bao gồm có khí thải giao thông, nớcthải và rác thải sinh hoạt Vấn đề ô nhiễm do bụi và tiếng ồn tại hầu hết các

đô thị đang là vấn đề cấp bách Tại các đô thị lớn( Hà Nội, TP Hồ Chí Minh)đã có những khu vực bị ụ nhiễm do khí CO, chất hữu cơ bay hơi VOC.Nguyên nhân chính là do gia tăng quá mức lợng ô tô và xe máy do chất l-ợng đờng sá yếu kém và do tỷ lệ xe cũ cao (số lượng xe có 10-20 năm sửdụng chiếm 73%) Tính đến tháng 6/2003, Việt Nam có khoảng 600.430 ôtô,10.410.000 xe máy Tại Hà Nội và TP HCM, trong 2 năm 2000-2001, số

ô tô tăng 35,5%, số xe máy tăng 61,5%/năm ) Ngoài ra, trong thời gianqua đã có một số công ty nước ngoài (Nga, Mỹ ) đến thử nghiệm côngnghệ giảm thiểu ô nhiễm do khí thải giao thông tại TP HCM Cho đến naychưa có công nghệ nào được triển khai vào thực tế

Vấn đề thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại tất cả các đụ thị chưađược triển khai Giai đoạn tiếp theo nước thải sinh hoạt tại Hà Nội và TP.HCM sẽ được bơm về một số hụ̀ tự nhiờn hoặc khu vực đất trũng để xử lýbằng phương pháp sinh học Tại các đụ thị khác, vấn đề quy hoạch hệthống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt đã được phờ duyệt, nhưng chưađược triển khai do thiếu nguụ̀n kinh phí Hiện nay, cụng nghệ xử lý nướcthải sinh hoạt và nước ao hụ̀, kờnh rạch ụ nhiễm tại các đụ thị mới đượctriển khai ở quy mụ Pilot

Thực hiện Chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chínhphủ về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải rắn ở các đụ thị vàkhu cụng nghiệp, các địa phương đã tiến hành quy hoạch hệ thống bãi chụnlấp chất thải rắn sinh hoạt Hiện nay đã có 32 đụ thị có quy hoạch xõy dựngbãi chụn lấp rác hợp vệ sinh, trong đó có 13 đụ thị đang xõy dựng Cáccụng nghệ áp dụng là chụn lấp hợp vệ sinh và sản xuất phõn compost Tuynhiờn, cho đến nay rất ít địa phương có được khu xử lý rác đạt tiờu chuõ̉n

vệ sinh

*Tỡnh trạng ụ nhiễm mụi trường tại khu cụng nghiệp:

Trang 5

Trong những năm gần đây tốc độ hình thành và phát triển các khucông nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) tại Việt Nam xảy ra rất nhanh.Tính đến tháng đầu năm 2003 đã có 76 KCN, KCX được thành lập vớitổng diện tích 15.216 ha, trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm 53% về sốkhu công nghiệp và 65.5% về diện tích đất; Duyên hải miền Trung tươngứng là 18% và 13%; đồng bằng sông Hồng là 18% và 14%; Trung du, miềnnúi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 10,5% và7,5% Ngoài những lợi ích kinh tế xã hội, sự phát triển các KCN, KCXsinh ra một khối lượng lớn nước thải, khí thải, chất thải rắn gây tác độngnghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe nhân dân trong khu vùc Nhìnchung việc xử lý nước thải trong các KCN chưa được coi trọng, ngay cảcác KCN có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng việc vận hành cũng chưatốt, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng

* T×nh tr¹ng « nhiÔm môi trường tại các cơ sở sản xuất

Tại cơ sở sản xuất có quy mô lớn (nằm ngoài khu công nghiệp):

+ C«ng nghÖ xö lÝ khÝ th¶i

Các nguồn gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam chủ yếu phát sinh từ

các nhà máy nhiệt điện, xi măng, phân bón, hóa chất, tôn mạ kẽm Trongthời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý bụi, khíthải được thiết kế chế tạo tại Việt Nam hay nhập từ nước ngoài nhưng thực

tế hoạt động cho thấy các hệ thống xử lý khí thải đạt hiệu quả chưa cao dotrình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng thiết bị, trình độ công nhân vận hành,ý thức bảo vệ môi trêng cña chñ doanh nghiÖp chưa cao

+ C«ng nghÖ xö lÝ níc th¶i

Nguồn gốc phát sinh nước thải chủ yếu tại Việt Nam là chế biến thựcphẩm, dệt nhuộm, giấy, chế biến mủ cao su, xi mạ Trong thời gian qua đãcó nhiều doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý nước thải thải được thiết

kế chế tạo tại Việt Nam hay nhập từ nước ngoài

Thực tế hoạt động cho thấy, trừ một số hệ thống xử lý tại doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hầu hết các hệ thống xử lý nước thải đạthiệu quả chưa cao do trình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng thiết bị, trình độcông nhân vận hành, ý thức bảo vệ môi trường của chủ doanh nghiệp chưa cao

+ C«ng nghÖ xö lÝ chÊt th¶i r¾n vµ chÊt th¶i nguy hiÓm

Chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại phát sinh từ các nhà máysản xuất linh kiện điện tử, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, pin ắc-quy, cặn

vệ sinh bồn dầu và tàu dầu Ngoài các dự án xây dựng các khu liên hợpxử lý tập trung chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, trong thời gianqua đã có một số công ty đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn

Tại các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ:

Trang 6

Theo số liệu thống kê tính đến 30-6-1998 nước ta có 562.357 cơ sởsản xuất công nghiệp, trong đó có 569 doanh nghiệp nhà nước trung ương,1.252 doanh nghiệp nhà nước địa phương, 559.706 doanh nghiệp ngoàiquốc doanh, 830 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài Trong số các cơ sở sảnxuất công nghiệp có gần 98% là cơ sở cá thể có quy mô vừa và nhỏ Theothống kê chưa đầy đủ, vốn kinh doanh của các DNV&N chiếm khoảng20% tổng số vốn kinh doanh của mọi thành phần kinh tế trong cả nước,chiếm 24-25 % về GDP và 25 -26 % về lực lượng lao động cả nước(khoảng 8 triệu người).

Đặc trưng của loại hình sản xuất này là phân tán rải rác trong các khudân cư đô thị, nông thôn; công nghệ thủ công hoặc bán thủ công, máy mócthiết bị lạc hậu, mặt bằng hẹp, vốn đầu tư ít Vì vậy, nhiều cơ sở sản xuấtquy mô nhỏ đã gây ô nhiễm cho các khu vực dân cư xung quanh

Kết quả điều tra, khảo sát tại một lĩnh vực sản xuất quy mô vừa vànhỏ gây ô nhiễm điển hình (chế biến tinh bột khoai mì, giết mổ gia súc, chếbiến thủy sản, chế biến chè, sản xuất tơ tằm, chế biến mủ cao su, dệtnhuộm…) tại các địa phương ở Việt Nam (Thừa Thiên-Huế, Quảng Ngãi,Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai, TP HCM…) cho thấy tình hình ô nhiễm

do nước thải, khí thải, mùi hôi, chất thải rắn tại phần lớn các DNV&N làrất nghiêm trọng

* T×nh tr¹ng « nhiÔm môi trường tại các bệnh viện, trung tâm y tế :

Hiện nay tại Việt Nam có hàng ngàn bệnh viện cấp Trung ương, cấptỉnh, cấp huyện đang hoạt động Trong tương lai số bệnh viện sẽ gia tăng.Theo số liệu thống kê năm 1996, ngành y tế có 12.556 cơ sở khám chữabệnh với 172.642 giường bệnh, trong đó có 815 bệnh viện tuyến huyện trởlên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xửlý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Cho đến nay, có khoảng 50 lòđốt rác y tế (nhập ngoại và chế tạo trong nước) đã được lắp đặt và hoạtđộng tại Việt Nam Tuyệt đại đa số các bệnh viện còn lại chưa có biện phápthu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải y tế nói riêng Chất thải y

tế đã và đang gây tác động xấu tới sức khỏe của các cộng đồng dân cư sống

ở khu vực lân cận

Trong thời gian qua có một số cơ quan nghiên cứu chế tạo lò đốt rác y

tế và đã lắp đặt cho 1 số bệnh viện như : Bệnh viện lao tỉnh Tây Ninh,Trung tâm Y tế huyện Tân Châu, Trung tâm Y tế huyện Bến Cầu (TâyNinh), Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa, VĩnhLong, bệnh viện Hữu Nghị, Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp), Quảng Trị,Bình Dương, Đắc Lắc Một số bệnh viện (Bệnh viện 175, 7B, Đà Nẵng,Bình Dương, Vĩnh Long, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cẩm Phả,Đông Anh ) đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học

Trang 7

Trong thời gian qua Bộ Y tế đã nhập 25 lò đốt chất thải y tế ký hiệu Hoval(áo) và lắp đặt cho một số địa phương trong cả nước bao gồm Đồng Tháp,

An Giang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Đồng Nai, BàRịa-Vũng Tàu, Ặ TPHCM cũng đã nhập lò đốt rác y tế từ áo với công suất

7 tấn/ngày để thiêu hủy toàn bộ chất thải rắn y tế sinh ra từ các bệnh việncủa thành phố Tuy nhiên thì các cơ sở y tế của chúng ta còn cần phải cốgắng rất nhiều thì mới có thể đạt được kết quả như mong muốn

́$*Tình trạng ô nhiễm môi trường tại vùng nông thôn, làng nghề và các trang trại

+Tại các vùng nông thôn

Do bà con nông dân còn chưa nhận thức rõ được vấn đề, tầm quantrọng của việc bảo vệ môi trường sống cũng như môi trường sản xuất nêntrong khâu bảo vệ môi trường sinh thái còn rất nhiều thiếu sót, khuyết điểm

do đó mà môi trường ở khu vực nông thôn ngày càng bị ô nhiễm nặng nềhơn, môi trường ngày càng xuống cấp nghiêm trọng ảnh hưởng đến tiềmlực kimh tế và chất lượng cuộc sống của nông dân

+Tại các làng nghề

Theo thống kê tương đối đầy đủ, cả nước ta hiện có 1.450 làng nghề,trong đó có khoảng hơn 300 làng nghề truyền thống Một số ngành nghềđược phân bố như : Chạm khắc đá, đúc đồng, kim hoàn, gốm sứ, gạch ngói,nghề mộc, chạm trổ, khắc gỗ, tượng gỗ phủ sơn, dệt, thêu ren, sơn mài vàkhảm, đan lát mây tre, làm tranh, làm nón, làm chiếu, chế biến tinh bột, nấurượu, giò chả, làm giấy, rèn, ́dệt nhuộm, nhựa, nấu nhôm, chì

Một số vấn đề môi trường làng nghề như sau:

Nước thải từ các làng giấy, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm chảy tự

do ra kênh mương rồi đổ xuống sông làm ô nhiễm nguồn nước mặt - nguồnnước sinh hoạt của người dân Ô nhiễm không khí chủ yếu gây ra từ cáclàng nghề sản xuất thủy tinh, gốm sứ, vật liệu xây dựng, đúc nhôm, đồng,mộc, tái sinh nhựa Ô nhiễm đất gây ra do các loại hóa chất và kim loạinặng từ các làng nghề đúc (đồng, nhôm, chì, cơ kim khí), dệt nhuộm, xi

mạ

Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu triển khai công nghệnhằm hạn chế ô nhiễm do khí thải, nước thải, chất thải rắn Thử nghiệm môhình xử lý bụi, khí thải, nước thải đã được triển khai tại làng nghề dệt lụaVạn Phúc, tỉnh Hà Tây Tuy nhiên do còn hạn chế về nhiều mặt như côngnghệ, kinh nghiệm, kĩ thuật, nên việc ứng dụng đã chưa đạt được kết quảnhư mong đợi

+ Tại các trang trại:

Tại Việt Nam, trang trại đã xuất hiện từ lâu (Thời Lý và Trần từ thếkỷ XI-XIV) Sau đó được khôi phục từ năm 1986 cùng với chính sách đổi

Trang 8

mới kinh tế Hiện nay toàn quốc có hơn 100.000 trang trại được hình thành

và phát triển, thu hút hơn 10 triệu nông dân tham gia Theo thống kê, hầuhết các trang trại được thành lập sau năm 1992-1993 khi Đảng kêu gọinhân dân phát triển kinh tế nhiều thành phần Nói chung, một trang trại códiện tích trung bình khoảng 5-7 ha Một số có quy mô 100 ha, hãn hữu cótrang trại 500-1.000 ha Trang trại được thành lập tại tất cả các địa phươngtrong cả nước Tuy nhiên, số lớn trang trại tập trung ở miền Trung và vùngcao là những nơi có đất trống

Bên cạnh những tác động có lợi, quá trình hình thành và hoạt động củacác trang trại đã và đang gây ra những tác động có hại tới môi trường Một

số tác động là: Các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm có thể gây tácđộng do phân rác dẫn đến ô nhiễm không khí, nước mặt, nước ngầm, đất từđó gây ra các dịch bệnh cho người và vật nuôi Các trang trại nuôi trồngthủy sản có thể gây tác động do phá rừng ngập mặn làm ao nuôi tôm, cágây cạn kiệt tài nguyên sinh học, gây xói mòn bờ biển, gây ô nhiễm nguồnnước Các trang trại trồng cây công nghiệp và cây ăn trái có thể gây tácđộng xấu do sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, do xây dựng cáccông trình thủy lợi, tưới tiêu nước Quá trình thu hoạch, bảo quản, chế biếnsản phẩm thu hoạch được từ các trang trại sẽ gây tác động tới môi trường

do các loại chất thải

Cho đến nay hầu như rất ít công trình nghiên cứu liên quan đếncông nghệ bảo vệ môi trường tại các trang trại

* Tình tr¹ng ô nhiễm môi trường tại các khu du lịch, khu vui chơi giải trí

Nước ta có tiềm năng du lịch rất lớn bao gồm hệ thống các di tích lịchsử văn hóa, các khu bảo tồn thiên nhiên, các danh lam thắng cảnh, hệ thốngnhà nghỉ, Sân Golf phân bố khắp toàn quốc Trong thời gian qua lượng dukhách trong nước và quốc tế ngày càng nhiều Tuy nhiên, môi trường tạinhiều khu du lịch đang bị ô nhiễm và suy thoái quan trọng do nước thải vàrác thải

Hoạt động du lịch trên địa bàn toàn quốc năm 2002 thải ra khỏang32.273 tấn chất thải rắn và 4.817.000 m3 chất thải lỏng Ngoài ra, hoạt động

du lịch còn làm gia tăng mức độ suy thoái nước ngầm, gia tăng lượng khíthải, tác động tiêu cực tới tài nguyên sinh vật

Trong thời gian qua rất ít các công trình nghiên cứu liên quan đếncông nghệ môi trường phục vụ du lịch Trừ một số sân golf, vấn đề áp dụngcông nghệ xử lý nước thải, lò đốt rác chuyên dụng được quan tâm (sân golfThủ Đức, Đà Lạt, Sông Bé, Phan Thiết, Vũng Tàu ), còn các khu du lịchkhác chưa có biện pháp thu gom xử lý nước thải, thu gom xử lý rác thải

Trang 9

* Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản và các bến cảng

+ Tại các khu vực khai thác khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản của Việt Nam tương đối đa dạng, là quốc giacó tiềm năng khoáng sản cỡ trung bình trên thế giới Các loại khoáng sảnđang được khai thác là dầu khí (thềm lục địa phía Nam); than (QuảngNinh), Apatit (Lào Cai), Boxít (Lâm Đồng) .Ngoài ra còn nhiều loạikhoáng sản khác như quặng sắt, mangan, crôm, đồng, thiếc, vàng Hiệnnay ngành địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm mỏ của

60 loại khoáng sản khác nhau

Trong quá trình khai thác, tuyển, đập sàng, nghiền, chế biến, nấuluyện sinh ra bụi, ồn, khí thải, nước thải, chất thải rắn gây ô nhiễm môitrường Ngoài ra, quá trình khai thác còn gây phá vỡ chu kỳ thủy văn, làmmất đa dạng sinh học, tàn phá rừng, gây sa mạc hóa, phá hoại cảnh quanthiên nhiên Hiện nay, trình độ công nghệ môi trường tại các khu vựckhai thác còn thô sơ, lạc hậu gây lãng phí tài nguyên , gây ô nhiễm và sự cốmôi trường Tại các cơ sở chế biến, nung luyện quy mô lớn, việc áp dụngcông nghệ môi trường được quan tâm hơn, nhưng tại các cơ sở chế biếnquy mô nhỏ có giấy phép hay lén lút hoạt động (nấu thiếu, đồng, chì, kẽm,tách vàng, xay nghiền đá ) vấn đề bảo vệ môi trường hoàn toàn khôngđược quan tâm

Tại các khu vực khai thác dầu khí đã áp dụng các công nghệ, thiết bịnhằm hạn chế ô nhiễm dầu và phòng chống sự cố (chất phân tán dầu, giấythấm dầu, phao quây, máy hút dầu ) Công ty Liên doanh Vietsovpetrođang chuẩn bị đầu tư lò đốt chất thải rắn dầu khí công suất 3 tấn/h, theocông nghệ của Italia

Trong Chương trình KH-CN cấp nhà nước giai đoạn 1995-2000 ỎSửdụng hợp lý tài nguyên và Bảo vệ môi trườngÕ (KHCN-07) có 01 đề tàiliên quan đến công nghệ làm sạch khu vực khai thác than vùng Hạ Long-Quảng Ninh (KHCN-07-06) và 01 đề tài liên quan đến các biện pháp khắcphục và bảo vệ môi trường vùng mỏ sau giai đoạn khai thác tài nguyênkhoáng sản (KHCN-07-09)

+Tại các bến cảng:

Cùng với sự phát triển kinh tế, hệ thống cảng biển, cảng sông tại ViệtNam cũng được quy hoạch mở rộng, xây mới nhằm phục vụ tốt nhất chocác hoạt động kinh tế Theo Quyết định số 202/1999/QĐ-TTg ngày 12tháng 10 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch hệ thống cảngbiển trong cả nước đến năm 2010 cả nước có hàng trăm cảng, trong đó tậptrung tại các vùng kinh tế trọng điểm Theo quyết định này đến năm 2010,khu vực TP HCM, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ có 65 cảng biển tậptrung tại các sông Sài Gòn, Đồng Nai, Nhà Bè, Thị Vải, Lòng Tàu, Soài

Trang 10

Rạp, Đụ̀ng Tranh, khu vực biển Vũng Tàu Tụ̉ng năng lực bốc xếp đạt 35triệu tấn/năm

Sự phát triển hệ thống cảng biển sẽ sinh ra một khối lượng lớn chấtthải bao gụ̀m: Nước thải, rác thải sinh hoạt của cán bộ, cụng nhõn viờn,thủy thủ làm việc tại cảng Bụi, khí thải, nước thải, chất thải rắn sinh ra từcác kho hóa chất, vật tư, xăng dầu tại cảng Bụi sinh ra từ quá trình bốc xếphàng hóa tại cảng Nước thải, chất thải rắn từ các tàu đến cập bến tại cảng.Chất thải rắn sinh ra từ hoạt động sửa chữa tàu, vệ sinh tàu dầu Chất thảisinh ra do sự cố tràn dầu, cháy nụ̉

Hiện nay nhu cầu áp dụng cụng nghệ mụi trường đối với các cảng,trờn các tàu là rất lớn, nhưng có rất ít cụng trình nghiờn cứu phục vụ chođối tượng này

* Tỡnh trạng ụ nhiễm mụi trường trong khi đang xử lý tụ̀n lưu chṍt đụ̣c chiờ́n tranh:

Mặc dù chiến tranh đã qua 30 năm nhưng hậu quả chất độc dacam/dioxin đã và đang ảnh hưởng hết sức nặng nề lờn con người và mụitrường Việt Nam Trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã có nhiềubiện pháp nhằm hỗ trợ, cải thiện sức khoẻ cho nạn nhõn nhiễm chất độc dacam/dioxin và tiến hành nhiều nghiờn cứu khoa học, trong đó có cụng nghệxử lý chất độc da cam/dioxin còn tụ̀n lưu trong mụi trường, đặc biệt là mụitrường đất gần các sõn bay quõn sự, kho tàng và căn cứ quõn sự của Mỹ (ởđiểm nóng) (Ví dụ : Sõn bay Biờn Hoà, sõn bay Đà Nẵng, khu vực TõyNguyờn, ven biển miền Trung, khu vực Đụ̀ng bằng sụng Cửu Long ) TạiHội thảo khoa học Việt-Mỹ về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lờn sứckhoẻ con người và mụi trường được tụ̉ chức tại Hà Nội từ 3-6/3/2002 đã có

59 báo cáo của các chuyờn gia quốc tế và 37 báo cáo của các chuyờn giaViệt Nam trình bày Trong Biờn bản thoả thuận hợp tác khoa học Việt- Mỹcó nhấn mạnh Cần xõy dựng, thử nghiệm và ứng dụng các phương phápmới và hiệu quả để làm sạch mụi trường tại Việt Nam

Qua những biểu hiện xuống cấp trầm trọng của môi trờng, chúng

ta ngày càng thấy rõ hơn những tác động không mong muốn do phát triểnkinh tế không đi kèm với môi trờng mang lại cho môi trờng và cho cuộcsống của mỗi chúng ta, từ đó càng hiểu rõ hơn nữa về tầm quan trọng củaviệc bảo vệ môi trờng

2, Tỏc động của mụi trường đến phỏt triển kinh tế

Vì giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng có tính thống nhất biệnchứng nên chúng ta thấy rằng ngoài những tác động mà phát triển kinh tế

đem lại cho môi trờng thì môi trờng đơng nhiên cũng có những tác độngngợc trở lại đối với sự phát triển kinh tế

Gia nhập WTO, Việt nam sẽ còn có cơ hội giảm thiểu ụ nhiễm, cảithiện chất lượng mụi trường thụng qua việc áp dụng các nguyờn tắc pháp lý

Trang 11

của WTO để xây dựng và sử dụng hợp lý "hàng rào xanh" nhằm mục đíchbảo vệ các ngành sản xuất trong nước, đồng thời bảo vệ nguồn tài nguyên,bảo vệ môi trường.

Trong bản báo cáo Diễn biến Môi trường của Việt Nam được Ngânhàng Thế giới thông qua một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của môitrường và tài nguyên nước đóng vai trò chủ chốt trong phát triển kinh tế và

vì cuộc sống tốt đẹp hơn của hàng triệu người dân nghèo ở Việt Nam Báo cáo tập trung chủ yếu vào quản lý các loại môi trường và đặc biệt là nguồn

tài nguyên nước ở Việt Nam đồng thời kêu gọi hành động vượt qua nhữngrào cản về ý thức hệ và có các giải pháp tổng hợp với sự tham gia của tất cảnhững bên liên quan chủ chốt như chính phủ, các tổ chức xã hội, cộngđồng, khu vực tư nhân và các tổ chức hợp tác phát triển

“Môi trường và tài nguyên nước nằm ở trung tâm của mọi sự pháttriển Không thể xoá đói giảm nghèo nếu không đem được nguồn nướcsạch tới cho 40% dân số Việt Nam hiện đang chưa được tiếp cận với nướcsạch và 16% diện tích cây trồng không có hệ thống tưới tiêu”

Ông Klaus Rohland, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giớikhẳng định “Mối quan hệ mật thiết giữa môi trường đặc biệt là môi trườngnước đối với phát triển kinh tế là rất lớn” Ở Việt Nam, trong vòng bốnnăm qua đã chi phí ít nhất là 400 tỷ đồng cho các bệnh dịch lây lan liênquan đến việc dùng nước bị nhiễm bẩn Hàng năm những thiên tai như bãolớn, dông tố, lũ lụt hay khô hạn đã ảnh hưởng lớn đến người dân, đến cuộcsống, đất nông nghiệp, vật nuôi và cơ sở hạ tầng của họ Thiệt hại do thiêntai trong thời kỳ 1995-2002 ước tính lên tới 1,25 tỷ đô la Mỹ Cộng đồngcác nhà tài trợ cam kết hỗ trợ Việt Nam thoả mãn được nhu cầu cấp nước

và bảo tồn nguồn nước nhằm đạt được chất lượng tăng trưởng cao của đấtnước “Việt Nam có lịch sử lâu đời về quản lý nước nhưng đã đến lúcchúng ta cần đánh giá lại hiệu quả công tác quản lý các nguồn tài nguyênnước của chúng ta để tìm ra các giải pháp tối ưu, giảm thiểu các mặt yếukém và phát huy những mặt tích cực, hướng tới bảo vệ và phát triển bềnvững các nguồn tài nguyên nước”

Tập trung trình bày những khía cạnh khác nhau về các nguồn tàinguyên nước mặt, nước dưới đất và tài nguyên vùng biển ven bờ, bao gồmtiềm năng trữ lượng của các nguồn nước, việc sử dụng nước, đa dạng sinhhọc dưới nước, chất lượng nước, tính dễ tổn thương và chi phí kinh tế vàđược kết thúc bằng mục về quản lý các nguồn tài nguyên nước bao gồmkhung luật pháp, tổ chức thể chế, các khoản chi tiêu tài chính và công tácgiám sát Phần thứ hai mô tả chi tiết tổng quan tài nguyên nước trong bốicảnh phát triển kinh tế xã hội của tám tiểu vùng kinh tế Bản báo cáo nhấnmạnh sự cần thiết phải cải thiện ngành nước ở Việt Nam Công việc nàybao gồm củng cố các khuôn khổ chính sách và thể chế, mở rộng và đa dạng

Trang 12

hoá đầu tư, tăng cường tuân thủ và thực hiện, tăng thêm sự tham gia củacông chúng “Hành động vì quản lý và phát triển nguồn tài nguyên nướchiệu quả và hội nhập để đóng góp cho phát triển kinh tế xã hội bền vũnglâu dài về mặt môi trường là một trong những thách thức quan trọng nhất

của Việt Nam Có rất nhiều khả năng cho phát triển quan hệ đối tác giữa chính phủ, khu vực tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, các trường đại học

và các cơ quan nghiên cứu trong quản lý môi trường nước và với sự thamgia của những người sử dụng nước, những nhà lặp kế hoạch và các nhàhoạch định chính sách chủ chốt ở cấp trung ương và địa phương Để có mộtchương trình quản lý nguồn tài nguyên nước thống nhất, điều quan trọng làphải đảm bảo quyền tiếp cận tới nguồn nước cho những người dân nghèo

và những nhóm người dễ bị tổn thương khác và trao quyền cho họ để cải

thiện đời sống của mình” Những vấn đề mấu chốt cho ngành nước của

Việt Nam được nêu ra trong bản báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam

2003 là áp dụng một phương pháp quản lý tổng hợp các lưu vực sông,thích ứng tốt hơn và đầy đủ hơn với tính dễ bị tổn thương và nhạy cảm cóliên quan đến tài nguyên nước, phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn cácdịch vụ về tưới tiêu và cấp nước sinh hoạt, hạn chế ô nhiễm nước và các tácđộng về sức khoẻ đối với người nghèo Bản bảo cáo này chứng minh sựcần thiết phải có những nghiên cứu chính sách tốt trong quá trình ra quyếtđịnh và cần có cải thiện trong quản lý dữ liệu và chia sẻ thông tin giữa

những bên liên quan”.

Chủ động tham gia hơn nữa trong các hoạt động hợp tác với các nước

có chung sông trong khu vực, tăng cường quản lý thông tin, phân định rõcác chức năng quản lý với các chức năng dịch vụ trong ngành nước, phânquyền nhiều hơn cho các cơ quan quản lý nguồn tài nguyên nước, và tăngcường năng lực thể chế có thể sẽ tạo cho Việt Nam những công cụ quản lýcần thiết nhằm giải quyết vấn đề bình đẳng, hiệu quả và bền vững về mặtmôi trường trong quản lý các nguồn tài nguyên nước của Việt Nam.Ngoàimôi trường nước ra thì đất nước ta còn rất nhiều môi trường khác nữa nhưmôi trường đất, môi trường không khí, môi trường tài nguyên Tất cả cácmôi trường này đều có tác động sâu sắc đến nền kinh tế Nước ta có nguồntài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng nên rất thuận lợi cho phát triểnkinh tế, có rất nhiều khoảng sản được sử dụng làm nguyên nhiên liệu trongcác ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trong những năm gần đây, do những tác động mang tính toàn cầu,môi trường thế giới đang bị ảnh hưởng một cách tiêu cực đáng quan ngại

và một thực tế khách quan là những nước có nền kinh tế phát triển, thải rakhông khí nhiều chất thải vẫn chưa là những nước đi đầu trong việc cảithiện môi trường thế giới, một ví dụ điển hình là Mỹ

Ngày đăng: 12/04/2013, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w