nói: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xóa nạn mù chữ...”Trong thời kỳ đổi mới, thực hi
Trang 1CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC CỘNG ĐỒNG TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CHO CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ
Trang 2- Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Giáo dục là một hoạt động mang tính xã hội cao, có liênquan trực tiếp đến mỗi người và lợi ích của mọi người trong
xã hội Vì vậy, huy động mọi nguồn lực có thể của xã hội cho
sự phát triển giáo dục luôn được xem là sách lược phát triểncủa nhiều quốc gia trên thế giới Mặc dù bản chất của giáodục ở các nước có khác nhau nhưng tất cả đều cho thấy xã hộihóa sự giáo dục là cách làm phổ biến
Huy động cộng đồng để phát triển giáo dục đã xuất hiện
từ khá sớm trong lịch sử giáo dục Không chỉ ở Việt Nam mà
ở mọi quốc gia khác trên thế giới, giáo dục luôn tự gắn liền nóvới sự phát triển cộng đồng với mục đích cộng đồng và nângcao chất lượng cuộc sống Cũng chính bởi sự gắn kết này, cáclực lượng cộng đồng cùng với những nguồn lực vật chất vàtinh thần của riêng mình đã luôn đồng hành cùng sự phát triểngiáo dục
Trải qua các giai đoạn lịch sử, việc chăm lo vật chất,khích lệ cổ vũ người học, tôn vinh người Thầy trong xã hội vànhững trò giỏi thành đạt đã trở thành truyền thống, đạo lý tốtđẹp của Dân tộc Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
Trang 3nói: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, không phân biệt già, trẻ, trai, gái, cứ là người Việt Nam thì phải tham gia học tập, tham gia xóa nạn mù chữ ”
Trong thời kỳ đổi mới, thực hiện sự nghiệp Công nghiệphóa - Hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, sự nghiệpgiáo dục được Đảng, Nhà nước ta coi là quốc sách hàng đầu,khẳng định giáo dục là động lực, là nguồn lực để thúc đẩy
kinh tế văn hóa xã hội phát triển với phương châm: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn dân”
- Trên thế giới
Theo các mục đích khác nhau, nhiều quốc gia trong khuvực và trên thế giới đều đặt ra vấn đề phải huy động nguồnlực của xã hội cho giáo dục Trong các văn bản giáo dục củacác nước như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức, các chiến lược phát triển GD đến năm 2020 của nhiều nướctrên thế giới đều coi trọng phương thức huy động cộng đồng
Đối với các nước thuộc khu vực Đông Nam Á và khốiASEAN cũng đang tích cực đẩy nhanh quá trình phát triển
GD bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng để tạo ra đượcđộng lực thúc đẩy nhanh, hầu hết các nước đều tận dụng và
Trang 4phát huy sức mạnh của cộng đồng trong việc tham gia pháttriển giáo dục.
Bắt đầu khoảng 30 năm cuối của thế kỷ XX, đặc biệtnhững năm đầu thế kỷ XXI, đa số các nước phát triển đã nhậnthức rõ hơn vai trò, sứ mệnh của giáo dục, xác định giáo dục
là nền tảng của mọi sự phát triển xã hội như Phần Lan, Anh,Đức, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Đài Loan, Singapore,Hàn Quốc, Rất nhiều chương trình cải cách giáo dục đượcthực hiện, nhằm đổi mới toàn diện nền giáo dục đất nước, tạo
ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng với yêu cầu pháttriển và sự thay đổi nhanh chóng trong xu hướng toàn cầu hóatri thức Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút
và tăng cường sự tham gia của các LLXH, gia đình, các tổchức trong và ngoài nước cùng với nhà nước tham gia vào
GD nói chung và giáo dục THPT nói riêng
Việc huy động các LLXH, các tổ chức cùng với nhànước tham gia vào giáo dục và XHHGD đã đem lại nhiềuthành công cho quá trình đẩy mạnh cải cách giáo dục Có thểkhái quát như sau: Phát huy vai trò của các đoàn thể cộngđồng địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục ở cáckhu vực Mở rộng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và
Trang 5cộng đồng, cụ thể: tăng cường vai trò của gia đình trong giáodục và tăng cường sự nghiệp giáo dục cộng đồng.
Các tài liệu, công trình tiêu biểu đã đề cập đến vai tròquan trọng của các LLXH trong việc tham gia vào sự nghiệpphát triển nhà trường, cũng như quản lí một cách có hiệu quả
sự tham gia nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
và kết quả học tập của học sinh như Tài liệu hướng dẫn sựtham gia hiệu quả của CMHS, gia đình và cộng đồng ở cáctrường Bắc Carolina [27], Tangri, S và Moles với cuốn sách
“Cha mẹ và cộng đồng” [25], Tác giả Walberg, H J và cộng
sự với “Nhà trường dựa vào gia đình và cho kết quả” [26, tr 509-514], Comer J trong nghiên cứu “Sự tham gia của cha
mẹ học sinh trong các trường học” [20], Laura Brannelly và Joan Sullivan - Owomoyela trong cuốn sách “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột” [20], tác giả Anne Henderson và Karen
Mapp đã nghiên cứu hơn 50 công trình được công bố từ năm
1995 để biên dịch cuốn sách: “Minh chứng mới về những tác động của nhà trường, gia đình và cộng đồng đến kết quả học tập của HS” [23], Berger với nghiên cứu “Cha mẹ là các đổi tác trong giáo dục: Gia đình và nhà trường cùng nhau tham
Trang 6gia” [19], Cotton Kathleen với cuốn sách “Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất” [21] hay luận
án của Cynthia V.Crites “Sự tham gia của CMHS và cộng đồng: một nghiên cứu điển hình” [22] Nhìn chung, các tác
giả đã chỉ ra rằng việc giáo dục học sinh, sự phát triển của nhàtrường không chỉ phụ thuộc riêng vào nhà trường mà còn phụthuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ từ các thành phần, các lực lượng
xã hội đặc biệt là cha mẹ học sinh
- Ở Việt Nam
Xã hội hoá công tác giáo dục là chủ trương xuyên suốtcủa Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua Theo quanđiểm của Đảng, giáo dục là sự nghiệp của toàn xã hội, huyđộng các nguồn lực cộng đồng thực hiện xã hội hoá giáo dụcđược xem là nguyên lý cơ bản để phát triển giáo dục Khôngchỉ trong lĩnh vực giáo dục, huy động cộng đồng còn đượcxem là truyền thống Việt Nam trong mọi lĩnh vực xã hội,
trong suốt chiều dài lịch sử Tư tưởng:"lấy dân làm gốc" đã
được kết tinh truyền thống và lưu thành bản sắc độc đáo của
dân tộc Việt Nam "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong." (Hồ Chí Minh)
Trang 7Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trungương khoá VIII đã khẳng định “xã hội hoá là một trong nhữngquan điểm để hoạch định hệ thống các chính sách xã hội”.Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xã hội hoá giáo dục đãđược thể chế hoá bằng pháp luật thể hiện ở Luật Giáo dục là
cơ sở pháp lý để tiến hành thực hiện Trong Luật Giáo dục số38/2005/QH11, ngày 14 tháng 6 năm 2005 của Quốc hội, tại
Điều 12 ghi rõ: “Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục , khuyến khích vận động và tạo điều kiện để tổ chức cá nhân tham gia phát triển
sự nghiệp giáo dục” [14] Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại điều 13 quy định: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển”
và “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức,
cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục” [15].
Ngày 18/4/2005 Chính Phủ đề ra “Nghị quyết 05/2005/ NQ-CP về Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế,
Trang 8văn hóa và thể dục thể thao” [5] để đẩy mạnh hơn nữa quá
trình xã hội hoá Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục thực chất là để xây dựngkhẳng chiến lược của Đảng trong quá trình đầu tư, phát triểnGiáo dục và Đào tạo
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 coiviệc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt đượcmục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nhà nước tăngđầu tư, đồng thời đẩy mạnh XHH, huy động toàn xã hội chăm
lo phát triển giáo dục [9]
Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đưa ra quanđiểm chỉ đạo phát triển GD là quốc sách hàng đầu, là sựnghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đồng thời cũng
quy định “trách nhiệm tham gia, đóng góp nguồn lực của các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và gia đình tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã học tập” [17].
Không chỉ được thể hiện các văn bản pháp quy của nhànước, việc huy động các cuồn lực cộng đồng để phát triểngiáo dục còn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học
Trang 9và các đơn vị nghiên cứu về giáo dục Nhiều hội thảo tậptrung bàn về các vấn đề lý luận và các quan điểm mới về sựphối hợp của các tổ chức xã hội trong XHHGD Một số hộithảo đi sâu vào phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiệnthành công sự phối hợp các lực lượng trong công tácXHHGD.
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham giacủa CMHS vào giáo dục của các tác giả khác đã tổng hợpnhững quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò và nhiệm vụcủa gia đình, sự phối hợp của Nhà trường - Gia đình - Xã hộitrong sự nghiệp GD học sinh:
Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI” GS Viện sĩ Phạm Minh Hạc khẳng định “sự nghiệp GD của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các LLXH cùng tham gia vào sự nghiệp GD nước nhà, tạo nên một xã hội học tập”
[11]
Võ Tấn Quang, trong cuốn “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” đã nhẩn mạnh tầm quan trọng của quần chúng trong công tác GD, theo tác giả: “XXH trong
Trang 10công tác GD là phải phát động phong trào quần chúng làm
GD, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp GD&ĐT, hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ” [16].
Vấn đề huy động cộng đồng để đầu tư cho giáo dục thựcchất là vấn đề tăng cường Xã hội hoá giáo dục, vấn đề này đãđược nhiều sách báo đề cập, ở nước ta đã có một số nhà khoahọc, nhà quản lý giáo dục nghiên cứu Tuy nhiên, vấn đề huyđộng cộng đồng trong việc xây dựng cơ sở vật chất còn ở mứckhiêm tốn Do đó, cần thiết phải xem xét huy động cộng đồng
từ góc độ khoa học để làm rõ mối liên quan giữa huy độngcộng đồng và Xã hội hoá sự nghiệp giáo dục, các biện pháphuy động cộng đồng nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quảcủa các biện pháp trong quá trình tham gia xây dựng và pháttriển giáo dục
Mỗi địa phương đều có những đặc thù riêng về địa lý,dân cư, kinh tế, văn hóa, xã hội Vì vậy, quá trình xã hội hóagiáo dục, hay huy động cộng đồng tham gia phát triển giáodục ở mỗi địa phương cũng mang tính chất đặc thù Đã cómột số nghiên cứu về huy động cộng đồng tham gia xây dựng
cơ sở vật chất trường học ở nhiều địa địa phương khác nhau.Tuy nhiên, chưa hề có nghiên cứu nào tập trung vào việc huy
Trang 11động các nguồn lực cộng đồng trong xây dựng cơ sở vật chấtcho trường phổ thông dân tộc bán trú – một mô hình giáo dụcđặc thù của các huyện miền núi, nơi có nhiều dân tộc sinhsống Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi hứa hẹn mang lạinhiều phát hiện mới trong công tác xã hội hóa giáo dục.
- Trường Phổ thông dân tộc bán trú và công tác xây dựng cơ sở vật chất cho các trường Phổ thông dân tộc bán trú
- Khái niệm trường Phổ thông dân tộc bán trú
Việc thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú(PTDTBT) là một trong những quyết sách rất có ý nghĩa đểnuôi dưỡng ước mơ tri thức cho con em đồng bào dân tộc ítngười đang sống tại các huyện miền núi và vùng sâu Đồngthời sẽ giúp cho các địa phương khắc phục tình trạng nghỉ học
để giữ vững phổ cập và nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội bền vữngtrong thời kỳ mới
Ngày 31/8/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hànhThông tư 24/2010/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tổ chức vàhoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú Quy chế này
Trang 12quy định về tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dântộc bán trú bao gồm: thành lập trường PTDTBT; xét duyệthọc sinh bán trú; tổ chức hoạt động giáo dục trong trườngPTDTBT; nhiệm vụ của hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên vàhọc sinh bán trú; khen thưởng và xử lý vi phạm.
Theo đó, trường phổ thông dân tộc bán trú là một trongnhững nội dung trọng tâm và được quy định tại Khoản 1 Điều
2 Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộcbán trú ban hành kèm theo Thông tư 24/2010/TT-BGDĐT
Cụ thể như sau:
“Trường PTDTBT là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường PTDTBT có số lượng học sinh bán trú theo quy định” [2].
Cũng theo quy định này, “học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp
có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần,
do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày” [2].
Trang 13- Chức năng, nhiệm vụ của trường Phổ thông dân tộc bán trú
Trường phổ phổ thông dân tộc bán trú cũng có nhữngchức năng và nhiệm vụ của trường THPT được quy định tạiĐiều 3 của Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học
phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học ban hành
kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo bao gồm:
“- Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục phổ thông dành cho cấp THCS và cấp THPT do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công khai mục tiêu, nội dung các hoạt động giáo dục, nguồn lực và tài chính, kết quả đánh giá chất lượng giáo dục.
- Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên theo quy định của pháp luật.
- Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh; vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục
và Đào tạo
Trang 14- Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi được phân công.
- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục.
- Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của Nhà nước
- Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội.
- Thực hiện các hoạt động về kiểm định chất lượng giáo dục.
- Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật” [3].
Ngoài ra, với đặc thù là trường dành riêng cho con emdân tộc thiểu số ở những vùng kinh tế đặc biệt khó khăn,Trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) còn thực hiệncác nhiệm vụ sau:
“- Tổ chức xét duyệt học sinh bán trú.
Trang 15- Tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù phù hợp.
- Tổ chức nuôi dưỡng và chăm sóc học sinh bán trú.
- Thực hiện chế độ chính sách theo quy định tại Điều 6 của Quy chế này.
- Thực hiện xã hội hóa để phục vụ các hoạt động giáo dục của trường PTDTBT” [2].
Như vậy, dù là trường chuyên biệt, do nhà nước thànhlập, nhưng trường PTDTBT, bên cạnh nhiệm vụ quản lý và sửdụng các nguồn lực của nhà nước cho hoạt động giáo dục,cũng có chức năng huy động cộng đồng, thực hiện xã hội hóa
để phục vụ các hoạt động giáo dục của nhà trường
- Cơ sở vật chất của trường phổ thông dân tộc bán trú
Theo khoản 2 Điều 7 của Thông tư 24/2010/TT-BGDĐTđược bổ sung, sửa đổi tại khoản 5 Điều 1 của Thông tư số30/2015/TT-BGDĐT, khi muốn thành lập một trường phổ
thông dân tộc án trú cần “xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và nội dung giáo dục; đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, địa điểm dự kiến xây dựng trường, tổ chức bộ máy, nguồn lực và tài chính; phương hướng xây dựng và phát triển
Trang 16nhà trường Trong phương hướng xây dựng và phát triển nhà trường cần bảo đảm ổn định các tỷ lệ sau:
a) Tỷ lệ học sinh là người dân tộc thiểu số: Có ít nhất 50% trong tổng số học sinh của toàn trường là người dân tộc thiểu số.
Trang 17trường phổ thông dân tộc bán trú đạt hiệu quả, trường vầnđảm bảo các điều kiện:
“- Có đất đai, trường sở, cơ sở vật chất, thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục của trường PTDTBT được quy định tại Điều 5 của Quy chế này.
- Địa điểm xây dựng trường bảo đảm môi trường giáo dục, an toàn và thuận lợi cho người học, người dạy và nhân viên phục vụ.
- Có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy, học tập theo quy định phù hợp với mỗi cấp học tương ứng” [2].
- Xây dựng cơ sở vật chất trường phổ thông dân tộc bán trú
Cơ sở vật chất, thiết bị đồ dùng dạy học là điều kiện cơbản cho các hoạt động của nhà trường Yêu cầu về cơ sở vậtchất đối với trường phổ thông dân tộc bán trú được quy định
cụ thể trong Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung họcphổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, Quy chế tổchức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú và
Thông tư Số: 30/2015/TT-BGDĐT về việc sửa đổi, bổ sung
Trang 18một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổthông dân tộc bán trú kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02 tháng 8 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo Cụ thể, Trường PTDTBT có đất đai, cơ sở vậtchất, thiết bị theo quy định hiện hành tại Điều lệ trường phổthông, ngoài ra còn có:
“- Cơ sở vật chất đảm bảo cho việc tổ chức dạy học 2 buổi/ngày.
- Các công trình phục vụ cho quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng học sinh bán trú: Phòng trực nội trú, nhà ở nội trú; nhà bếp, nhà ăn, nhà tắm; công trình vệ sinh, nước sạch và các trang thiết bị kèm theo công trình.
- Các dụng cụ, thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc, thể dục thể thao, vui chơi, giải trí cho học sinh bán trú” [4].
Nhằm trang bị đầy đủ cơ sở vật chất phục vụ cho hoạtđộng dạy học và giáo dục của trường phổ thông dân tộc bántrú, các cấp, các ngành cần nêu cao vai trò, trách nhiệm, tiếptục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc có hiệu quả cácNghị quyết của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào
Trang 19tạo Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11năm 2013 Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương
khóa XI về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”
và các định hướng về “xây dựng trường phổ thông dân tộcbán trú” đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất [10] Thựchiện nghiêm túc việc quy hoạch và xây dựng các nhà trườngđảm bảo quy mô hợp lý; huy động và sử dụng hợp lý, có hiệuquả nguồn lực để phát triển giáo dục, gắn phát triển giáo dụcvới phát triển kinh tế - xã hội Cụ thể là:
-Tập trung hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường lớpcác cấp học, ngành học hợp lý giữa các địa bàn đáp ứng yêucầu, nhiệm vụ phát triển giáo dục trong tình hình mới Ổnđịnh quy mô, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện chủtrương xây dựng các trường phổ thông dân tộc bán trú đạtchuẩn theo quy định Chủ động bố trí kinh phí từ ngân sáchđịa phương kết hợp kinh phí hỗ trợ từ các chương trình mụctiêu, ngân sách cấp trên, kinh phí huy động từ các tổ chức, cánhân; vốn đóng góp tự nguyện của cán bộ, giáo viên, nhânviên trong ngành và nhân dân để xây dựng cơ sở vật chất,mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục của trườngphổ thông dân tộc bán trú
Trang 20- Tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về xây dựng cơ
sở vật chất trường học, nâng cao năng lực, chủ động thammưu cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền; chủ động phối hợpvới các cơ quan chức năng, các đoàn thể trong việc thực hiệnđầu tư xây dựng trường phổ thông dân tộc bán trú, để cáccông trình xây dựng thực hiện đúng quy trình, thủ tục, tiến độ
và chất lượng
Thực hiện đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho giáo dục
và đào tạo, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao tính
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục Thực hiệntốt việc quản lý và sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị trường học;
tu bổ, sửa chữa kịp thời trường lớp; giữ gìn vệ sinh môitrường, xây dựng trường học xanh – sạch – đẹp
- Phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân, Ban Đạidiện cha, mẹ học sinh, hội Khuyến học, hội Cựu giáo chức,phụ huynh học sinh, kết hợp kiểm tra, giám sát việc thựchiện các quy định, quy chế về quản lý tài chính, tài sản và xâydựng trường phổ thông dân tộc bán trú
Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa giáo dục, tận dụng các
cơ hội nếu có để tìm nguồn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất
Trang 21cho các trường phổ thông dân tộc bán trú Kết quả xây dựng
cơ sở vật chất cho trường phổ thông dân tộc bán trú trên địabàn huyện là kết quả của quá trình phấn đấu lâu dài dưới sựquan tâm chỉ đạo chặt chẽ của lãnh đạo Huyện ủy, HĐND,UBND huyện, sự đồng tình ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.Cho nên công tác xây dựng cơ sở vật chất cho trường phổthông dân tộc bán trú của huyện cần sự nỗ lực phát huy hơnđối với ngành giáo dục và sự chung tay giúp đỡ của toàn xãhội
Các địa phương đã có những phương án trong việc mởrộng diện tích trường học; quan tâm chăm lo xây dựng cơ sởvật chất trường học, hiến đất làm trường học, huy động mọinguồn lực kinh tế, sự quan tâm đầu tư của các doanhnghiệp, Vì vậy các hoạt động giáo dục có sự thay đổi tíchcực
Các tiêu chí về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho nhàtrường, đó là:
+ Trường có đủ số phòng học 2 buổi/ngày, có hộitrường, nhà công vụ, nhà ăn, phòng ở nội trú cho học sinh ở
Trang 22nội trú, sân tập thể dục, các phòng chức năng, phòng học bộmôn, phòng hoạt động đội, phòng truyền thống,…
+ Các thiết bị dạy học đồng bộ và hiện đại đáp ứng nhucầu cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi, đổi mới phương phápdạy học, kiểm tra đánh giá của giáo viên và việc học tập củahọc sinh; công nghệ thông tin, truyền thông và internet đượctrang bị đầy đủ; đã xây dựng được hệ thống thông tin điện tửliên kết giữa các trường học và Phòng Giáo dục
+ Phát triển hệ thống thư viện, đầu tư mua sách, tài liệutham khảo, cập nhật thông tin về giáo dục; xây dựng thư việncâu hỏi, bài tập, xây dựng ngân hàng đề kiểm tra, đề thi họcsinh giỏi các cấp,…
+ Nhà trường đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bịdạy học, chất lượng hai mặt giáo dục (hạnh kiểm và học lực)ngang tầm với các trường học trong và ngoài tỉnh Tiếp tụchuy động các nguồn lực đầu tư vào giáo dục để xây dựng cơ
sở vật chất nhà trường theo hướng đạt chuẩn
- Cộng đồng và huy động các nguồn lực cộng đồng trong phát triển giáo dục
Trang 23- Khái niệm cộng đồng
Theo Unesco, cộng đồng là một tập hợp người có cùngchung một lợi ích, cùng làm việc vì một lợi ích chung nào đó
và cùng sinh sống trong một khu vực xác định
Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chungnhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống vàtương tác giữa cái này với các khác” Trong khái niệm này,điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thểsống”, có sự “tương tác” của các thành viên Tuy nhiên, cácnhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này”với “cái khác” là cái gì, con gì Đó có thể là các loại thực vật,cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người –cộng đồng người
Cộng đồng người có tính đa dạng, tính phức tạp hơnnhiều so với các cộng đồng sinh vật khác Trong đời sống xãhội, khái niệm cộng đồng có nhiều tuyến nghĩa khác nhauđồng thời cộng đồng cũng là đối tượng nghiên cứu của nhiềungành khoa học khác nhau: xã hội học, dân tộc học, y học…
Khi nói tới cộng đồng người, người ta thường quy vàonhững “nhóm xã hội” có cùng một hay nhiều đặc điểm chung
Trang 24nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viêntrong cộng đồng.
Theo quan điểm Mác – Xít, cộng đồng là mối quan hệqua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồnghóa lợi ích giống nhau của các thành viên về các điều kiện tồntại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng đó,bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt độngkhác của họ, sự gần gũi các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng,
hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ
về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm Mác – Xít làquan niệm rất rộng, có tính khái quát cao, mang đặc thù củakinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm ngườitrong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”,
là “lợi ích chung”, là “tư tưởng”, “tín ngưỡng” “giá trị”
chung…Thực chất đó là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thứchệ
Xuất phát từ tiếng La tinh, “cộng đồng” – communis có
nghĩa là “chung/công cộng/được chia sẻ với mọi người hoặc