1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Bả

111 392 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 5,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Vấn đề phong cách nghệ thuật của nhà văn Chương 2: Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Bản Chương 3: Đặc trƣng nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Bản.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LƯƠNG THỊ NGỌC MAI

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN BẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

LƯƠNG THỊ NGỌC MAI

PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN BẢN

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Mã số: 60 22 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện

HÀ NỘI, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn: PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện,

người đã hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này Thầy đã cung cấp tài liệu và truyền thụ cho tôi những kiến thức khoa học và phương pháp nghiên cứu khoa học Sự quan tâm, bồi dưỡng của thầy đã giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình hoàn thành luận văn cũng như trong quá trình học tập và nghiên cứu Đối với tôi, thầy luôn luôn là tấm gương sáng về tinh thần làm việc không mệt mỏi, sự nghiêm túc, lòng hăng say với khoa học, lòng nhiệt tình quan tâm, bồi dưỡng thế hệ trẻ

Nhân dịp này, cho phép tôi xin chân thành cảm ơn Ban Chủ Nhiệm Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Thư viện - Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2, Thư viện Quốc Gia, Thư viện Trường ĐHSP Hà Nội, Thư viện Trường

ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn…và các thầy, cô giáo đã tận tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học

Cho phép tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn quan tâm, chia sẻ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Hà Nội, tháng 6 năm 2013

Tác giả

Lương Thị Ngọc Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Trong quá trình nghiên cứu luận văn về đề tài: Phong cách Nghệ thuật

truyện ngắn Nguyễn Bản, tôi đã cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu đề tài để hoàn

thành luận văn Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành là do sự nỗ lực của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình và hiệu quả của

PGS TS Nguyễn Ngọc Thiện Đây là đề tài không trùng khít với các đề tài

khác và kết quả đạt được không trùng với kết quả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 6 năm 2013

Tác giả

Lương Thị Ngọc Mai

Trang 5

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU 01

1 Lí do chọn đề tài 01

2 Mục đích nghiên cứu 03

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 03

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 03

5 Phương pháp nghiên cứu 03

6 Giả thuyết khoa học 04

7 Cấu trúc của luận văn 04

B NỘI DUNG 05

CHƯƠNG 1: VẤN ĐỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN 05

1.1 Lý thuyết về phong cách nghệ thuật của nhà văn 05

1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật của nhà văn 05

1.1.2 11

1.2 12

1.2.1 12

1.2.1.1. 12

1.2.1.2. 14

1.2.2 17

CHƯƠNG 2 : CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN BẢN 21

2.1 Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo 21

2.1.1 Cảm hứng về cuộc đời 22

2.1.2 Cảm hứng về thân phận con người 26

2.1.2.1 Trong tình yêu, hôn nhân 26

Trang 6

2.1.2.2 Trong đời sống tính dục 28

2.1.2.3 Khát vọng nhân bản 34

2.2 Thế giới nhân vật 38

2.2.1 Nhân vật tư tưởng 38

2.2.2 Nhân vật bi kịch 42

2.2.3 Nhân vật tha hóa 48

CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN BẢN 52

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 52

3.1.1 Miêu tả chân dung 52

3.1.1.1 Cách đặt tên 52

3.1.1.2 Miêu tả ngoại hình 55

3.1.2 Miêu tả hành động 59

3.1.3 Miêu tả nội tâm 64

3.2 Ngôn ngữ và giọng điệu 70

3.2.1 Ngôn ngữ 70

3.2.1.1 Ngôn ngữ tác giả 70

3.2.1.2 Ngôn ngữ nhân vật 76

3.2.1.2.1 Ngôn ngữ đối thoại 76

3.2.1.2.2 Ngôn ngữ độc thoại nội tâm 79

3.2.2 Giọng điệu 83

3.2.2.1 Giọng điệu tâm tình, cảm thương 84

3.2.2.2 Giọng suy tư, chiêm nghiệm, đầy chất triết lí 86

3.3 Điểm nhìn nghệ thuật 88

3.3.1 Khái niệm điểm nhìn nghệ thuật 88

3.3.2 Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Bản 89

3.3.2.1 Điểm nhìn bên ngoài 89

Trang 7

3.3.2.2 Điểm nhìn bên trong 91

3.3.2.3. Điểm nhìn di động 94

C KẾT LUẬN 97

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 9

- Vũ Từ Trang cũng có bài viết về Nguyễn Bản và truyện ngắn của

ông ở báo Nghệ thuật mới, số 3 (04/04/2012)

thành tựu

, ch

,

Trang 10

độc đáo

nhất định Từ ,

Trang 11

Chương 1: Vấn đề phong cách nghệ thuật của nhà văn

Chương 2: Cảm hứng nghệ thuật và thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Bản

Chương 3: Đặc trƣng nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Bản

Trang 12

B NỘI DUNG CHƯƠNG I VẤN ĐỀ PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN

1.1 Lý thuyết về phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.1.1 Khái niệm phong cách nghệ thuật của nhà văn

Phong cách là một thuật ngữ được sử dụng trong nhiều ngành khoa học khác nhau, tùy theo tính chất của ngành khoa học đó Trong sáng tác nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách được sử dụng rộng rãi và ngày càng có ý thức Xung quanh thuật ngữ này, từ xưa đến nay đã tồn tại nhiều quan niệm, định nghĩa phong phú, đa dạng

Ở Liên Xô (cũ), trong công trình Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự

phát triển văn học, Viện sĩ M B Khrapchenko đã đưa ra nhiều cách hiểu khác

nhau về phong cách Theo ông thì các định nghĩa này xòe ra như một cái quạt

mà một phía thì thừa nhận phong cách là một phạm trù lịch sử - thẩm mĩ rộng lớn, bao quát nhất, nhưng phía khác lại coi phong cách như một đặc điểm của từng tác phẩm văn học riêng lẻ Chẳng hạn như quan niệm của nhà nghiên cứu

Đ Likhachev :“Phong cách nghệ thuật kết hợp trong bản thân nó sự thụ cảm chung về hiện thực vốn có ở nhà văn và phương pháp nghệ thuật được quy định bởi những nhiệm vụ mà nhà văn đặt ra cho mình Với ý nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể được áp dụng vào những loại nghệ thuật khác nhau và giữa chúng có thể có những sự tương ứng đồng đại” [36;130-131]

Trong khi đó, tại một cực khác của “cái quạt”, V Turbin đưa ra cách định nghĩa như sau về phong cách: “Phong cách – đó là ngôn từ được xét trong mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những khái niệm và những ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật”[36;131] Quan niệm này của V.Turbin thiên về

Trang 13

việc lý giải phong cách theo kiểu ngôn ngữ học, xem phong cách như một hiện tượng chủ yếu hoặc thậm chí hoàn toàn có tính chất ngôn ngữ

V.Jirmunxky lại phủ nhận sự hợp lí của việc quy phong cách vào những đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật Ông nhấn mạnh sự thống nhất của những

yếu tố nội dung và những yếu tố tạo hình thức của phong cách Ông nhận xét:

“Phong cách nghệ thuật của nhà văn là sự biểu hiện thế giới quan của anh ta, thế giới đó được thể hiện trong những hình tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ Bởi vậy không thể nghiên cứu phong cách nghệ thuật của nhà văn trong tính mục đích chức năng của nó mà tách rời nội dung tư tưởng – hình tượng của tác phẩm Đồng thời phong cách của tác phẩm văn học không phải là tu

từ học: đề tài, hình tượng, bố cục của tác phẩm văn học, nội dung nghệ thuật của nó (nội dung này được thể hiện bằng những phương tiện ngôn ngữ nhưng không giới hạn ở từ ngữ) cũng là những yếu tố quan trọng của phong cách,

và có thể khá quan trọng, bởi vì chúng xác định cả những nguyên tắc nghệ thuật của việc lựa chọn chất liệu từ ngữ, tức là tu từ học hiểu theo nghĩa hẹp của từ đó” [36;132]

Khác với cách hiểu như vậy về các hiện tượng phong cách, V.Đneprôv

nhận xét: “phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc

lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật”[36;133]

Từ những quan điểm khác nhau về phong cách của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học Nga, Khrapchenkô đã đưa ra quan niệm về phong cách của mình với một số phương diện mà chúng tôi xin tóm lược như sau:

Thứ nhất: Phong cách biểu hiện những đặc điểm của cá tính sáng tạo của nhà văn, sự hoàn chỉnh của nhận thức nhà văn về cuộc sống, của cách nhìn của nhà văn đối với thế giới Tất nhiên, cá nhân nhà văn vốn được thể hiện trong những đặc điểm rất đa dạng của các tác phẩm nghệ thuật của anh

ta, cũng bộc lộ cụ thể trong phong cách của nhà văn đó Song cá tính sáng

Trang 14

tạo hoàn toàn không loại trừ việc sử dụng những thủ pháp và những phương tiện khác nhau của sự thể hiện nghệ thuật cách nhìn nhận cuộc sống một cách hình tượng Những bằng chứng cho thấy rằng chính trong sáng tác của những nghệ sĩ có cá tính sâu đậm thường ta có thể quan sát thấy không phải chỉ một

mà có nhiều phong cách được biểu hiện rõ rệt [36;144-145] Mỗi nhà văn có tài đều đi tìm những biện pháp và phương tiện độc đáo để thể hiện những tư tưởng và hình tượng của mình, những biện pháp và những phương tiện cho phép nhà văn đó làm cho những tư tưởng và những hình tượng đó trở thành hấp dẫn, dễ lôi cuốn, gần gũi với công chúng độc giả Và điều đó cũng có nghĩa là nhà văn tạo ra được phong cách của mình Nếu như dùng một công thức vắn tắt thì phong cách cần phải được định nghĩa như thủ pháp biểu hiện cách khai thác hình tượng đối với cuộc sống, như thủ pháp thuyết phục và thu hút độc giả [36;152]

Thứ hai: Phong cách không chỉ được hình thành dưới tác động của đối tượng sáng tác, của tư liệu hiện thực mà còn tích cực tổ chức nên tư liệu đó Trong khi thể hiện những đặc tính của tư liệu, phong cách đồng thời cũng ảnh hưởng khá mạnh đến sự khai thác nó dưới hình thức thẩm mĩ Đặc điểm của người nghệ sĩ điêu luyện là biết sắp xếp tổ chức tư liệu, biết tách cái chủ yếu

ra khỏi cái ngẫu nhiên, biết khắc phục sự chống đối của tư liệu Cùng với tư tưởng chung, phong cách cũng có sứ mệnh kết hợp lại thành một chỉnh thể năng động những yếu tố không thuần nhất có trong tư liệu cuộc sống, trong đối tượng sáng tác [36;155]

Thứ ba: Phong cách được hiểu như cách biểu hiện sự khai thác hình tượng đối với hiện thực, như cách biểu hiện sự tác động tư tưởng – tình cảm, không thể đồng nhất với hình thức của tác phẩm, cũng hệt như phương pháp không thể đồng nhất với nội dung Trong sự xây dựng phong cách của tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện vẻ đặc thù của hình thức mà còn thể hiện

Trang 15

cả vẻ đặc thù của những mặt nhất định của nội dung Cái mà người ta thường gọi là hình thức – ngôn ngữ nghệ thuật, cốt truyện, bố cục, nhịp điệu… tất cả những cái đó trong ý nghĩa chung của chúng là thuộc về phong cách, nhưng ngoài cái đó ra, phong cách còn bao gồm cả những đặc điểm của sự thể hiện

tư tưởng, đề tài, của sự khắc họa các nhân vật, những yếu tố âm điệu của tác phẩm nghệ thuật Đặc trưng của phong cách không phải là bản thân những yếu tố riêng lẻ này hay những yếu tố riêng lẻ khác của hình thức và nội dung

mà là tính chất đặc biệt của sự “kết hợp” giữa chúng [36;166-167] Là một yếu tố cấu thành của tác phẩm nghệ thuật, của sáng tác của nhà văn nói chung, phong cách là một hệ thống phức tạp Trong hệ thống đó trước hết cần phải chú ý tới sự tổng hợp của những phương tiện giọng điệu Đề tài, tư tưởng, hình tượng chỉ được thể hiện trong một môi trường giọng điệu nhất định, trong phạm vi của một thái độ cảm xúc nhất định đối với đối với đối tượng sáng tác, đối với những mặt khác nhau của nó Hiệu suất cảm xúc của lối kể chuyện, của hành động kịch, của lời lẽ trữ tình trước hết thể hiện ở giọng điệu chủ yếu vốn là đặc trưng của tác phẩm văn học với tư cách là một thể thống nhất hoàn chỉnh [36;167]

Thứ 4: Tính xác định về chất của phong cách cá nhân biểu hiện rõ trong những thủ pháp và những phương thức kết cấu các tác phẩm văn học, trong cách cấu tạo chúng Cách cấu tạo – xét trên phương diện vai trò chức năng của nó trong hệ thống phong cách – có thể được xác định như là sự tổ chức không gian và thời gian trong văn tự sự và trong kịch một cách hợp lí và hữu hiệu nhất theo quan điểm của những nguyên tắc thẩm mỹ cơ bản mà nhà văn dùng làm kim chỉ nam Cũng như ở phạm vi âm điệu và ở việc khắc học tính cách, trong cách cấu tạo những tác phẩm văn học,những yếu tố nội dung được thể hiện gắn liền với những yếu tố biểu cảm [36;176]

Trang 16

Thứ 5: Với tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn ngữ nghệ thuật thực hiện một chức năng phức tạp, nó tạo ra hệ thống giọng điệu của tác phẩm văn học; không một thành tố nào của phong cách tồn tại ở bên ngoài hệ thống

đó Vừa phụ thuộc vào giọng điệu chủ yếu, vào hệ thống của những âm sắc, ngôn ngữ nghệ thuật vừa là phương tiện để khắc họa hình tượng [36;191-192]

Thứ 6: Phong cách của tác phẩm văn học, phong cách cá nhân của nhà văn có liên quan mật thiết với sự hoạt động của những cấu tạo thể loại, với sự phát triển của những khuynh hướng văn học [36;215] Những thể loại khác nhau trong sự vận động lịch sử của chúng có sự liên hệ qua lại với những nguyên tắc phong cách rất không giống nhau Sự phát triển những phong cách cá nhân thường giả định việc sử dụng những thể loại khác nhau Nhưng ngay trong những trường hợp đó, mối tương quan chung giữa các cấu trúc thể loại và những cấu tạo phong cách về cơ bản cũng vẫn là mối tương quan trong từng tác phẩm riêng biệt [36;217]

Còn ở Việt Nam, theo GS Nguyễn Đăng Mạnh thì “phong cách là một khái niệm phức tạp, rất khó tìm được một sự thống nhất”[46;8] Mặc dù vậy,

ông vẫn đưa ra quan niệm của mình như sau:

- Phong cách nghệ thuật là một khái niệm thuộc phạm trù thẩm mĩ Có nghĩa là, nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật sự sáng tạo ra được những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được xem là nhà văn có phong cách

- Phong cách là một chỉnh thể nghệ thuật, mỗi nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng Thế giới nghệ thuật ấy, dù phong phú, đa dạng thế nào, vẫn có tính thống nhất Cơ sở của tính thống nhất này là một nhãn quan riêng về thế giới và sâu xa hơn nữa là tư tưởng nghệ thuật riêng của nhà văn Chừng nào chưa nhận ra tính thống nhất ấy, thì chừng đó, chưa thể xem là đã nắm được phong cách của một nhà văn

Trang 17

Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của tác phẩm, của nhà văn từ nội dung đến hình thức Nhưng phong cách là một cái gì cụ thể, hữu hình, có thể và phải mô tả được Cho nên nói phong cách, dù có đề cập đến nội dung tư tưởng, cũng phải chỉ ra được nội dung ấy đã được hình thức hóa như thế nào

Phong cách một khi đã định hình thì thường có tính bền vững Vì tạo ra phong cách, ngoài thế giới quan còn rất nhiều nhân tố khác như truyền thống gia đình, hoàn cảnh sống, môi trường sống tự nhiên, môi trường văn hóa, thói

quen, suy nghĩ, cảm xúc, cái “tạng” (temperament) riêng của nhà văn Những

tác động ấy, những thói quen ấy không dễ gì thay đổi

Từ những quan niệm trên của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi đưa ra quan niệm về phong cách nghệ thuật của nhà văn như sau:

–ể

Trang 19

, ph

1931 trong một gia đình phong lưu làng Đình

Trang 20

Thời gian ông sống ở quê rấ

ại đi vào con đường sáng tác văn chương

Sau đó,

Trang 21

Là người thầy có tài, nhưng sau bao biến cố không may của cuộc đời cùng sự nhạy cảm mong manh của “người kỹ sư tâm hồn” đã khiến ông nghiệm ra nhiều điều Có lẽ cũng từ đấy ông thu mình trong nỗi cô đơn Ông chất chứa nỗi niềm về nhân tình thế thái Ông kiếm tìm tình yêu, kiếm tìm cái đẹp trong văn

- tự do trong sáng tác lao động nghệ thuật, tự do trong quan hệ xã hội, tự do trong đời sống gia đình riêng tư- tự do một cách nghiêm ngặt nhất, khắc nghiệt nhất

ẩm kể về kỉ niệm đáng nhớ

của nhân vật “tôi” cùng Hoàng về Hà Nội trong một chuyến tàu đêm cuối

năm Kỉ niệm đó gắn với sự xuất hiện của một đôi vợ chồng Đặc biệt, điều

làm “tôi” nhớ mãi đó chính là câu chuyện người chồng kể Qua câu chuyện,

“tôi” nhận ra niềm tin, sự vươn lên trong cuộc sống rất đáng trân trọng của

người vợ Trong một trận càn ở quê, chị bị bắt, bị làm nhục nhưng đã cố gắng

vươn lên Cuộc sống mới đã tạo điều kiện cho chị “chị đi lao động ở công trường đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn Con đường hoàn thành, với thành tích tốt”[6;335] Chị quên đi quá khứ, sống hết mình để đóng góp một phần nhỏ

bé của mình giúp đỡ mọi người Mặc dù người chồng đã biết mọi chuyện

trong quá khứ của chị, nhưng với anh “Quá khứ là quá khứ Hiện tại là hiện

Trang 22

tại Hiện tại chị là một con người đáng mến Chị chăm chỉ làm việc và chịu khó học, tính nết lại dịu dàng”[6;336], anh luôn yêu thương, trân trọng chị

Đó chính là giá trị mới của cuộc đời mà “tôi” nhận ra

: Bức tranh

màu huyết thạch (1993); Mùi tóc Thảo (1994); Truyện ngắn Nguyễn Bản

(1996); Nợ trần gian (2003); Những cánh hoa quỳ dại (2006); Đường phố

lòng tôi (2007); Mặt trời đồng xu (2007); Thời chuồn chuồn cắn rốn (2011)

: Giải thưởng cuộc thi truyện ngắn

hay 1991 – Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh (truyện ngắn Chuyến ly hương cuối đời); Giải thưởng trưng cầu độc giả của tạp chí Kiến thức ngày nay (truyện ngắn Bức tranh màu huyết thạch); Giải thưởng truyện ngắn 1991, báo Văn nghệ (truyện ngắn Ánh trăng); Giải thưởng truyện ngắn tạp chí sông Hương, 1993 – 1994 (truyện ngắn Tầm tã mưa ơi); Giải thưởng tạp chí Thế giới mới, 1993 – 1994(truyện ngắn Sông lấp); Giải thưởng truyện ngắn Văn nghệ Hà Bắc, 1995 (truyện ngắn Mèo con tội nghiệp); Tặng thưởng thi truyện

Trang 23

ngắn báo Văn nghệ , 1995 (truyện ngắn Nước mắt và nụ cười); Giải thưởng truyện ngắn báo Văn nghệ, 1998 – 2000 (truyện ngắn Cơn lũ)

trong 50 năm văn chương

Trang 27

? […]

Trang 28

CHƯƠNG 2 CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN BẢN

2.1 Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo

Theo Từ điển tiếng Việt thì cảm hứng là “trạng thái tâm lí có cảm xúc

và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả”[52;145]

Theo Từ điển thuật ngữ Văn học thì cảm hứng hay còn gọi là cảm hứng chủ đạo và được hiểu là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm”[51;44-45]

Như vậy, cảm hứng là trạng thái tâm lí đặc biệt của người nghệ sĩ khi sức chú ý tập trung cao độ để đánh giá sâu sắc và chân thực lịch sử đối với các vấn đề hiện thực khách quan được miêu tả Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố nội dung của tác phẩm Đây là mức căng thẳng cảm xúc mà nhờ đó nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm

Có lẽ, để viết được truyện ngắn hay thì không thể viết một cách có kế hoạch theo kiểu: trong tuần này, ta sẽ viết một truyện ngắn hay Bởi truyện ngắn là sự tích tụ những trải nghiệm lâu dài của người cầm bút (lâu dài ở đây

cũng có thể hiểu theo nghĩa “căng thẳng, tập trung”) Tuy nhiên, sự tích lũy

đó thường phải đầy căng đến độ “tức ứ lên”, vẫn không thể “bật” ra được

thành truyện ngắn (hay) nếu chưa có một cái cớ Và cái cớ ấy thường đến rất bất ngờ Không ai có thể nói trước cái cớ đó là cái gì, phải là cái gì? Có thể,

Trang 29

chẳng hạn, khi anh đọc một câu trong tác phẩm của ai đó, hay quá, khiến anh lập tức muốn viết…

Khi cái cớ đến thì, rất lạ, đột nhiên bao nhiêu kỉ niệm, bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu biến cố, con người, ẩn ức, niềm vui, hạnh phúc, nỗi buồn… tưởng đã bị chôn vùi mãi vào trong quên lãng, bỗng bừng bừng thức dậy, sôi

nổi lạ thường, cái này kết nối với cái kia, trở nên tự nó “logic” một cách kì lạ,

tự sắp xếp, tự điều chỉnh, tự “sáng tạo” ra thêm, tự cắt nghĩa, hình thành cả

một thế giới nghệ thuật Và lúc đó, nghệ sĩ không muốn viết cũng không được nữa Truyện ngắn cứ thế tuôn trào dưới ngòi bút nhà văn Ấy là giây phút thăng hoa! Ấy là cảm hứng sáng tạo trong nghệ thuật!

Và cảm hứng nghệ thuật chủ đạo là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn, nên khi tìm hiểu phong cách nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Bản chúng ta không thể bỏ qua yếu tố này Cảm hứng nghệ thuật chủ đạo trong truyện ngắn Nguyễn Bản là cảm hứng về cuộc đời

và cảm hứng về thân phận con người

2.1.1 Cảm hứng về cuộc đời

Sau năm 1975, con người Việt Nam phải đối mặt với một hiện thực mới, con người phải sống trong sự thiếu thốn triền miên của đời sống cơm áo thời hậu chiến Và lúc cơ chế quan liêu bao cấp được thay thế bởi cơ chế thị trường thì, cùng với sự thay da đổi thịt của đời sống vật chất, bộ mặt xã hội

thời mở cửa cũng kịp phô ra biết bao sự xô bồ Lời kêu gọi “nhìn thẳng sự thật, nói rõ sự thật” trong thời kì này vừa là một yêu cầu bức thiết của hiện

thực, đồng thời cũng là một nhu cầu tự thân, mang tính sống còn của nghệ sĩ

Trên thực tế, đến những năm 80 của thế kỉ XX, cảm hứng trong văn học đã chuyển từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng nhân sinh, thế sự Đặc biệt, văn chương từ sau năm 1986 được gọi là văn chương Đổi mới Người ta vẫn

Trang 30

nói về khả năng “áp sát cuộc sống”, khả năng “thấu thị đời sống – đó là năng

lượng được giải phóng của văn chương Đổi mới

Ai đã từng đọc truyện ngắn Nguyễn Bản thì chắc hẳn không thể không nhớ tới những lời văn mượt mà, câu văn chuẩn mực với lối viết giàu cảm xúc,

chú trọng biểu hiện cái tôi Khi viết, nhà văn chủ yếu “tìm vào nội tâm” nghĩa

là hướng tới việc thể hiện cảm xúc, tâm trạng của con người Ở mặt này, chúng ta có thể nhận ra sự gặp gỡ giữa Nguyễn Bản và Thạch Lam Và nếu như thế giới nghệ thuật của Thạch Lam có một không khí hết sức bình yên, dường như không có chút xao động nào của thế sự thì truyện của Nguyễn Bản không bao giờ tách rời những diễn biến phức tạp của thời cuộc Tất cả những biểu hiện của cuộc sống dù là những điều thông thường, nhỏ nhặt, cỏn con cũng đều khơi gợi cảm hứng sáng tác cho nhà văn

Trước hết, cuộc đời với bao cảnh đời nghèo nàn, túng quẫn đã đem lại

cho nhà văn bao nỗi xót xa Đó là cảnh nghèo của ông Tư trong Chuyến ly hương cuối đời Ông xoay đủ nghề để kiếm sống nhưng làm việc gì cũng đều

lỗ vốn trong khi giá cả leo thang vùn vụt, cuộc sống ngày một bấp bênh Một người có tấm lòng chân thật, hay nói đến tư cách và tự trọng như ông cuối cùng cũng phải vào Nam để làm cái việc mà ai cũng cho là mất nhân cách Có những con người nghèo đến mức phải lấy máu của mình ra để bán, lấy tiền,

rút máu ra ăn như một động cơ vĩnh cửu trong Quân tốt lụt

Chiến tranh đã qua đi, đã có độ lùi thời gian cần thiết để thấu suốt sự đời Chứng kiến cuộc đời trải ra trước mắt khiến Nguyễn Bản đã không ngần ngại đưa lên trang viết hiện thực của một thời mà ở đó những quan niệm cứng nhắc của một bộ phận đã làm ảnh hưởng đến nhiều cuộc đời Đó là cuộc đời đầy rẫy những bất công, oan sai Đã có một thời, chúng ta quen nhìn nhận, đánh giá con người phiến diện theo chủ nghĩa thành phần, theo lí lịch nên đã đẩy không ít cá nhân vào cảnh ngộ đau xót Những sai lầm trong cải cách

Trang 31

ruộng đất, những kết cục bi thảm bị quy địa chủ được Nguyễn Bản thể hiện rất xót xa

Trong bài viết “Ánh trăng và người ẩn trong ngõ nhỏ”, Vũ Từ Trang có nói đến hoàn cảnh riêng của Nguyễn Bản Bà ngoại của ông có sáu sào ruộng thuê cấy rẽ, có người cháu ruột là bộ đội Bà bị quy nhầm thành địa chủ Phẫn

vì oan ức, bà nhảy xuống ao tự tử, may mà có người kịp thời cứu thoát Câu

chuyện thương tâm này đã trở thành hồn cốt cho truyện ngắn Hành hương giữa hai bờ lau cháy Sự quy nhầm địa chủ khiến bà rơi vào bao nỗi bất hạnh Rồi đó còn là cuộc đời của Thông trong Chứng nghiệm Thông lỡ làng vì hồi

cải cách, gia đình bị quy oan ít lâu, học giỏi nhưng bị đánh liệt bài thi tuyển chọn đội tuyển toàn quốc vì lí do lạm dụng khi dẫn thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên – thứ thơ mà lúc đó người ta vốn đánh giá như những biểu tượng suy đồi Hai lớp mười của năm học ấy, gần một phần tư được chọn đi học nước ngoài, còn lại hầu hết được vào đại học trong nước, không phải thi cử gì, trừ

ra năm người, trong đó có Thông Thông chẳng những không được đi học đại học, đến bộ đội, thanh niên xung phong đều không đắt, vì vấn đề lí lịch gia

đình… Nhân vật người hàng xóm trong Sung xanh cũng vậy, anh ta cũng

đành treo cổ tự tử vì bị quy oan…

Bản thân nhà văn là một người có tài nhưng cuộc đời cũng lắm nỗi đa đoan Mỗi trang văn của ông như mỗi trang đời Ta nhận ra những long đong trong công việc, trong cuộc sống riêng tư của nhân vật mang bóng dáng cuộc đời nhà văn Đó là cuộc đời của bao nhiêu con người như cuộc đời của nhân

vật “anh” trong truyện ngắn Chiều ấy chim yểng hót Định kiến xã hội cản trở

con đường sống của anh Anh – một người có năng lực: có truyện được đăng, biết đọc và dịch được vài ngoại ngữ… Lẽ ra anh có thể tìm được công việc phù hợp với năng lực của mình Nhưng khi anh nói tốt nghiệp Đại học khóa đầu – khóa 56 thì cũng chính là lúc anh tự mình xóa đi những ấn tượng tốt

Trang 32

đẹp của Sơn – phụ trách biên ủy ở báo Tổ quốc – người đã phỏng vấn anh

Kết quả là anh không được nhận vào làm việc

Cuộc đời trong truyện ngắn Nguyễn Bản là cuộc đời với bất công

Những con người như anh Toại (Hành hương giữa hai bờ lau cháy) thẳng

thắn đấu tranh cho những phương án ăn chia công bằng, không đồng tình với việc chi những khoản chi bừa bãi và khách khứa tùm lum, rồi kiện cả tập đoàn tham ô nhưng rốt cục, anh thua, vì hầu hết các vụ bị lờ đi, bao che, xúy xóa

Và đau đớn nhất là những người anh kiện chẳng những không việc gì còn lên Chủ tịch, làm Bí thư…Còn anh thì bị khai trừ ra khỏi Đảng

Càng đọc truyện ngắn Nguyễn Bản, ta càng nhận ra thái độ bất bình của nhà văn trước những bất công trong xã hội và sự đồng cảm với những con người có nhân cách đáng trọng lại bị vùi dập không thương tiếc

Bên cạnh việc chỉ ra và phê phán những quan niệm cứng nhắc, ấu trĩ trong quá khứ thì cuộc đời mà ở đó có sự tha hóa và lối sống thực dụng của những con người sống vì đồng tiền, vì quyền lực, vì mưu lợi cá nhân có thể đổi trắng thay đen cũng khơi gợi cảm hứng sáng tác cho nhà văn Đó là những

nhân vật như hắn trong Những cánh hoa quỳ dại lợi dụng lúc Vi khó khăn để

tìm cách chiếm đoạt; nhân vật Dũng trong Chứng nghiệm đã lợi dụng chức

quyền, vu oan cho người khác để thỏa mãn dục vọng ích kỉ của bản thân Hay

trong truyện ngắn Sung xanh là gia đình nhà Sâm Gà – một nhà buôn gà đã

từng nhồi bánh đúc, nhồi đất sét cho gà ăn để lấy phần hơn, giờ đây đã trở

thành chủ vàng cỡ bự Rồi nhà Mi Lợn có chiếc cân “Quỷ khóc thần sầu”

mua một con lợn một tạ hơi của một gia đình công nhân mà mang về thịt ra lại được hơn một tạ móc hàm Thằng con nhà Mi Lợn, cái thằng gây dựng cơ

đồ bằng chiếc cân “thần sầu” – bây giờ vốn của nó lên tới bạc tỷ Đẻ bốn con

gái liền nay được đứa con trai, nó làm hẳn năm mươi mâm đầy tháng, mỗi

mâm bốn hộp “333” một bao ba số Bữa ăn nó tuyên bố, thừa sức bắt chước

Trang 33

giám đốc công ty M, người anh em kết nghĩa, thuê gái về, lột truồng ra, tưới bia lên đãi khách…

Những vấn đề này trong truyện ngắn Nguyễn Bản tuy chưa dữ dội tới mức biến người thân của mình thành con bài trong cuộc giành giật giữa các

phe cánh rồi đẩy họ đến cái chết tức tưởi như cái chết của bà Son (Mảnh đất

lắm người nhiều ma – Nguyễn Khắc Trường), cũng chưa tới mức phải bắt cha

chặt ngón tay để chứng tỏ mình không lấy tiền của con (Đồng đô la vĩ đại -

Lê Minh Khuê) hay gay góc đến mức khốc liệt như trong sáng tác Nguyễn Huy Thiệp nhưng nó đủ để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho những ai sống ích kỉ, nhỏ nhen mà quên đi tình người

2.1.2 Cảm hứng về thân phận con người

Có thể nói, tinh thần nhân văn, ý thức về cá nhân đã trở thành cảm hứng sáng tạo cho các văn nghệ sĩ Hiện lên trong văn học đổi mới là những con người với những uẩn khúc tâm lí, những bi kịch tâm hồn, những số phận trớ trêu Trên cơ sở cảm hứng chung đó, khi xây dựng thế giới nhân vật, mỗi nhà văn đều xuất phát từ cảm quan về thân phận con người của riêng mình Trong truyện ngắn Nguyễn Bản, cảm hứng về thân phận con người được thể hiện trong tình yêu, hôn nhân; trong đời sống tính dục và khát vọng nhân bản

2.1.2.1 Trong tình yêu, hôn nhân

Truyện ngắn Nguyễn Bản là truyện ngắn trữ tình.Truyện của ông như tiếng chuông buồn, tiếng này ngân chưa dứt, tiếng khác đã bồi theo Cái

“tiếng chuông buồn” ấy cất lên là để chia sẻ những nỗi đau buồn của kiếp

người Đó là những kí ức thời học sinh với những mối tình éo le và đầy chất mộng mơ Đó là những mối tình trong trắng không hề nhuốm mùi sắc dục,

giống như mối tình Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam hay Hồn bướm mơ

tiên của Khái Hưng vậy, tuy có ngang trái hơn, ngậm ngùi hơn và gắn với

những bộn bề của đời thực hơn

Trang 34

Cảm hứng trong tình yêu có hạnh phúc, có khổ đau nhưng phần lớn trong sáng tác Nguyễn Bản là sự mất mát, đổ vỡ, bất hạnh Đó là sự tan vỡ vừa đau xót, vừa tất yếu của những mối tình đầu…để lại cho người đọc nỗi niềm thương xót, bàng hoàng như chính mình đang trong cảnh ngộ Những cuộc chia tay ấy vì thế mà thấm đẫm nỗi buồn thân phận Mối tình giữa

Nguyên và Hạnh trong Những cơn bão cuối thu là mối tình trong sáng thuở

học trò, hai người mới chỉ dám cầm tay nhau Rồi chiến tranh, hoàn cảnh gia đình khiến họ lạc mất nhau Để rồi khi gặp nhau thì ai cũng có tổ ấm riêng

Họ muốn về bên nhau nhưng không thể Vì thế mà những cơn bão lòng trong

họ luôn dậy mãi không nguôi

Ta cũng bắt gặp những mối tình đẹp nhưng không đến được với nhau

trong nhiều truyện ngắn khác như Tầm tã mưa ơi, Sự thiêu đốt dịu dàng… Hay trong Những cánh hoa quỳ dại là thân phận đáng thương của Vi Vi yêu

hết mình nên luôn lo lắng, sợ hãi người yêu cô sẽ bỏ rơi cô Vi đã đồng ý ngủ với sếp của mình – người mà cô ghê tởm, đổi lại hắn sẽ trao cho cô ngôi nhà

để cô xây dựng tổ ấm với người yêu Cuối cùng, Vi không được hưởng hạnh phúc mà cảm thấy nhục nhã, ê chề, đau đớn, tởm lợm chính bản thân mình

“Tại sao, lúc nào, Vi hầu như đã quên đi những ấn tượng về mùi lông lá, pha lẫn mùi điền thanh hăng nồng, mà lại nhướn người lên, vít hắn xuống, cắn vào vai hắn, như đối với anh Trời ơi! Lúc nào Vi đã tuột khỏi ranh giới con người, không vượt qua được những khoái cảm nhục dục, biến thành con vật”

[6;280] Vi đổ gục xuống giường và nức nở, nghĩ đến thân phận mình như cánh hoa quỳ bị vò nát và tơi tả

Còn trong hôn nhân, thì đó là thân phận đáng thương của người phụ nữ

tên Thành bị phụ tình trong Chuồn chuồn đi đón cơn mưa Rồi còn biết bao

nồi buồn trong hôn nhân như nỗi buồn của người chồng nhạy cảm, tinh tế lại

sống với người vợ vô tâm trong truyện ngắn Chiếc vòng cỏ; là cảnh sống cô

Trang 35

đơn của người đàn ông có vợ nhưng vợ hắn đòi ly thân với hắn vì hắn nghèo,

vì vợ hắn không thích thơ trong truyện ngắn Nửa đời thơ Ở truyện ngắn Sông lấp là nghịch cảnh giữa việc một người phụ nữ được sống với người đàn ông

yêu thương mình nhưng tâm hồn lại để vào hình ảnh của người đã từng phản bội mình đi theo một người đàn bà khác Đó chính là nghịch lí trong tình yêu

Có thể thấy, trong truyện ngắn Nguyễn Bản, cảm hứng về thân phận con người trong tình yêu, hôn nhân không chỉ là nỗi thương cảm, sẻ chia với người phụ nữ bất hạnh mà đó còn là sự đồng cảm sâu sắc với những người đàn ông bất hạnh Điều này cũng dễ hiểu bởi bản thân nhà văn cũng có cuộc đời riêng không hạnh phúc Vì thế mà đằng sau mỗi nhân vật trong tác phẩm,

ta nhận ra bóng dáng của cuộc đời với số phận nhà văn trong đó

Tuy nhiên, bên cạnh nỗi buồn trước thân phận không mấy an lành của con người trong tình yêu, hôn nhân, ta vẫn nhận ra niềm tin của nhà văn vào con người Nhân vật trong truyện Nguyễn Bản hầu như không mấy người được hạnh phúc nhưng nhà văn vẫn viết về họ với thái độ ca ngợi tấm lòng vị tha, nhân hậu, giàu sức chịu đựng, bao dung của con người, nhất là người phụ

nữ Đặc biệt, nhà văn hết sức tin tưởng và trân trọng thiên tính làm mẹ của người phụ nữ với tình mẫu tử như một thứ bản năng vô cùng mãnh liệt, tạo nên ở người đàn bà một thứ logic tâm lý riêng mà chỉ những người đã từng

làm mẹ mới hiểu được (Nợ trần gian, Cơn lũ, Nước mắt và nụ cười)

2.1.2.2 Trong đời sống tính dục

Trước đây, các nhà văn ngại nói về vấn đề tâm sinh lí, vấn đề tế nhị, thầm kín cho nên nhiều tác phẩm tránh nói về sex, người ta đỏ mặt, xấu hổ, ngại đọc và cho đó là những vấn đề dung tục Nhìn lại văn học Việt Nam thời trung đại, yếu tố sex ít tồn tại trong các tác phẩm văn học chính thống Một số

tác phẩm đề cập tới sex như Hoa viên kỳ ngộ tập (thế kỉ XVIII ) và Hà hương

phong nguyệt (đầu thế kỉ XX) được coi là những tác phẩm ngoài luồng Nhiều

Trang 36

bài thơ của Hồ Xuân Hương bị coi là “dâm tục” Tiểu thuyết Làm đĩ, Số đỏ

của Vũ Trọng Phụng một thời bị cấm lưu hành, cấm đọc

Kể từ khi học thuyết Freud xuất hiện, đời sống xã hội nói chung và văn học nói riêng đã có một cái nhìn mới về tính dục Tuy nhiên, các nhà văn không chỉ là người phản ánh những vấn đề trong đời sống với hai mặt song hành: ý thức và vô thức, lí trí và bản năng, vật chất và tinh thần… mà họ còn mang đến nhiều ý nghĩa sâu sắc hơn khi khám phá phần ẩn kín thẳm sâu nhất trong con người Văn học hiện đại đặt ra vấn đề tính dục như một nhu cầu tồn tại của nhân loại và là một nhu cầu tâm lí Nếu như các nhà viết tiểu thuyết, truyện ngắn lãng mạn xem tình dục là đỉnh cao của cảm xúc yêu đương và nâng lên thành tính thẩm mỹ thì các nhà văn hiện thực viết về tình dục nhằm bóc trần con người thực với bản năng vốn có

Theo ý kiến của Sari Robin thì những trang viết về tình yêu hoàn toàn

có thể sử dụng đến những cảnh làm tình nhưng phải hướng đến một dụng ý nghệ thuật nào đó, không phải cứ nhìn thấy nhau là lôi nhau lên giường một cách vô cớ như câu khách Cảnh sex theo đó phải thể hiện tính cách của nhân vật hoặc góp phần thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện

Truyện ngắn Nguyễn Bản có đề cập đến sex nhưng tế nhị, kín đáo, giàu sức gợi Thứ tình trong văn Nguyễn Bản là thứ tình mượt mà, êm dịu Thông qua miêu tả ái tình, tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc Sex bắc nhịp gắn kết con người lại với nhau Sex mang đến cảm xúc chân thực cho con người được sống, sống một cách nồng nhiệt và mê đắm Sex còn là phương tiện để nhà văn bộc lộ tư tưởng nghệ thuật của mình: đó là khát vọng sống, khát vọng yêu thương

Viết về tình yêu, Nguyễn Bản luôn có ý thức: bàn tới tình yêu mà né tránh hay vắng bóng tình dục, là thiếu đi một nửa cái đẹp, có điều phải dùng chữ nghĩa ra sao để sex vẫn phải là văn hóa Điều đó đồng điệu với nhận thức

Trang 37

ở thế giới phát triển, khi con người tiến hóa, tiến bộ thì tình dục, dù thuộc cái bản năng, cũng phải có văn hóa Và, điều ấy trong dòng văn học Việt Nam đương đại, Nguyễn Bản là bậc thầy

Theo Từ điển tiếng Việt thì ẩn ức là “hình ảnh, sự việc đã qua được lưu giữ sâu kín trong trí nhớ”[52;25] hoặc có thể hiểu là “nỗi ấm ức bị kìm nén lâu ngày, để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí, có tác động nhất định đến tâm

lí và phép ứng xử cá nhân”[52;25] Những ẩn ức, ám ảnh trong đời sống tính

dục của con người đã trở thành cảm hứng trong truyện ngắn Nguyễn Bản

Những giai phẩm như Mùi tóc Thảo; Cơn lũ là sư treo sex tới sát ván nhằm

phát biểu về con người, tình yêu có sex mà không hề dung tục, tầm thường Sex của ông gợi và đẹp

Truyện ngắn Ánh trăng được khai thác từ những mặc cảm tình dục ấu

thơ hay là những ám ảnh tình dục trong quá khứ Từ hình ảnh đầu tiên mà chưa từng được nhìn thấy, Hoàng – một cậu thiếu niên đã ngẩn ngơ trước sắc

đẹp của chị Vân “Da chị nõn nà, da và lụa như lẫn vào nhau, những đường cong lằn lên trên quần áo như đang chuyển động ( )Ánh trăng tràn qua màn tuyn tưới lên mái tóc và cơ thể chị Chị nằm nghiêng, quay về phía tôi, khuôn mặt tuyệt đẹp hơi ngửa lên như hứng trăng, hai tay vươn ra như đang đón ai, đùi nọ ấp đùi kia” [6;146], “đùi chị mịn như nhung, lúc ấm, lúc mát gác lên đùi tôi” [6;147] Hoàng xao xuyến, đắm đuối, mải mê, hồi hộp nhìn chị, đôi

lúc nhìn lại thân thể, da thịt mình, buồn nản thấy mình vô nghĩa

Khi bước sang tuổi thanh niên, cùng với những biến đổi của giới tính, Hoàng càng hay nghĩ đến chị, đến cái đêm trăng chị ngủ bên cạnh Hoàng vẫn thường xao xuyến mỗi đêm có trăng lọt vào giường, nhớ đến dáng chị nằm như bơi trong trăng Anh tưởng như chị nằm nghiêng, quay về phía mình, đùi khép hờ, hai cánh tay vươn ra đón anh Gặp bất cứ người đàn bà đẹp nào, anh cũng thường đem so, nhưng chẳng ai có thể so với chị Ấn tượng ban đầu về

Trang 38

vẻ đẹp của người đàn bà ngủ dưới ánh trăng, nhất sự hòa quyện giữa làn da, màu lụa và ánh trăng đã trở thành khát khao, ám ảnh nhân vật suốt cuộc đời

Cái mặc cảm mình vô nghĩa thuở ấu thơ luôn day dứt nhận vật “Đôi lúc tôi lẩn thẩn tự hỏi, nếu như bây giờ chị lại nằm cạnh tôi, hắt trăng ra như thế, tôi

sẽ là gì, tôi có dừng lại mặc dù đùi chị gác lên đùi tôi để tận hưởng làn da vừa ấm vừa mát hay không?( ) Tôi có cảm thấy mình vô nghĩa nữa không?”

[6;148] Hai lần lấy vợ nhưng lại bỏ vợ do anh không bao giờ tìm thấy cảm giác về làn da vừa ấm vừa mát khi xưa Hoàng luôn thấy xót thương cho số

phận của chị “sao tạo hóa trớ trêu, một tạo phẩm tuyệt mĩ như thế, cứ đặt vào những tình cảnh éo le” [6;150] Và cứ thế, hằng đêm, “tôi” vẫn đi tìm trong ánh trăng, ánh trăng từ chị hắt ra đêm hôm ấy, cái đêm “tôi” còn là một

thiếu niên trong trắng, ngây thơ, ánh trăng và mùi phấn rôm làm tôi xao xuyến, chơi vơi mãi trong đời

Cảm hứng về thân phận con người trong đời sống tính dục cho thấy cái nhìn sâu sắc về con người của nhà văn Đọc truyện ngắn Nguyễn Bản, ta nhận

ra con người tìm đến sex nhiều khi để thỏa mãn dục vọng cá nhân Họ coi sex như một trò chơi, một sự trao đổi mà họ là con đực thực thụ, đã đem đến cho

người đọc cảm giác tởm lợm, ghê sợ, khinh bỉ (Những cánh hoa quỳ dại) Truyện ngắn Chuồn chuồn đi đón cơn mưa là cuộc tình vụng trộm giữa người

đàn ông đã có vợ và hai con với Thành – người đàn bà đã bỏ chồng để theo đuổi mối tình trong vô vọng Tình dục đối với họ chỉ là một trò chơi, vì

niềm“say mê” tình ái “Chúng tôi như một cặp nghệ sĩ trình diễn trò ái tình hết vở này sang vở khác, thật ăn ý, với đủ loại thủ pháp ánh sáng, âm thanh, trên đủ mọi loại sân khấu Đôi khi chúng tôi lại hỏi nhau chúng ta đang diễn

vở gì vậy? Đôi nhào lộn trong rạp xiếc? Cặp múa đôi trên sân băng hay vũ điệu Lam ba đa Chúng tôi yêu nhau hay là mê muội nhau, hay như hai con bạc khát nước chỉ có được mà không thua ván nào” [11;278]

Trang 39

Có người tìm đến sex như một sự giải thoát, cứu vớt, đánh đổi thân mình vì vật chất nhưng rốt cục, họ chẳng những không tìm được sự thanh thản trong tâm hồn mà lại càng rơi vào tâm trạng dằn vặt, đau đớn, bởi không

biết lúc nào “Vi đã tuột khỏi ranh giới con người, không vượt qua được những khoái cảm nhục dục, biến thành con vật” [6;280] Đó cũng chính là hệ quả mà

S Freud cho rằng: “Nếu vô thức thắng ý thức thì khả năng tính dục sẽ trỗi dậy, chi phối, lấn áp các họat động ý thức của con người, khi đó, sự đòi hỏi xác thịt, đòi hỏi thỏa mãn tính dục, tạo nên những xung năng mãnh liệt, có khi dẫn đến sự suy đồi tình dục [26;24] Nhân vật này gieo vào lòng người

đọc cảm giác vừa đáng trách lại vừa đáng thương

Còn có người tìm đến sex vì tìm được sự đồng điệu, đồng cảm, bớt cô

đơn Nhân vật Diệu trong Cơn lũ là một cô gái quê, ít học Diệu đã được

“anh” yêu hết lòng, yêu trân trọng Diệu yêu biết bao nhiêu cái mùi nồng nàn của riêng anh “Nó tràn lấn ngay vào thân thể em, khiến em rạo rực người, cái mùi đặc biệt riêng anh mới có, khiến ngồi cạnh bất cứ người đàn ông nào, em cũng thấy mùi khét, thấy như bị xúc phạm”[10;44] Đó là những cảm giác mà

trước đây cô chưa hề có, chưa được hưởng giây phút hạnh phúc nào bên người chồng cũ, mặc dù cô cũng là cô gái đẹp, có khả năng uốn dẻo khiến

“anh” kinh ngạc khi “mỗi sáng ngủ dậy, còn ở trong màn, Diệu chỉ mặc mỗi chiếc quần lót, thân hình và cặp đùi như vũ nữ, theo thường lệ, cô tập uốn dẻo trên giường, chân xoạc ra thẳng băng thành một đường thẳng tắp, vuông góc với người, rồi gập thẳng người xuống áp mặt xuống chiếu, sau đó lại đứng lên ngửa người ra sau, uốn dần, uốn dần cho tới khi đầu luồn qua hai

cổ chân”[10;45] Những giây phút ái ân giữa họ đều xuất phát từ tình yêu đích thực, xa rời những dục vọng thấp hèn “Hai bầu ngực Diệu quệt vào mặt anh Anh áp mặt vào đấy như muốn truyền hết hơi ấm của mình sang cho Diệu” [10;51 – 52]

Trang 40

Nhiều khi trong trang viết của mình, nhà văn mượn những câu chuyện huyền thoại như huyền thoại về núi Cấm – nơi đó có pho tượng đá đang khóc

để đề cập đến khát khao bản năng của con người (Rêu đá), huyền thoại giống mèo mỗi khi phủ nhau lại gào thét đau đớn và thảm thiết (Những cánh hoa quỳ dại), rồi tiếng gọi tìm bạn tình nghe ai oán và ảo não của giống chim lợn

(Mùa chim lợn)

Hay trong truyện ngắn Nguyễn Bản còn có những trang viết miêu tả cảnh sex của động vật để liên tưởng, khơi gợi, lí giải những ẩn ức tính dục trong lòng mỗi người Đó là cảnh con dê đực rừng đầu đàn đuổi kịp và cưỡi

lên con dê cái mỡ màng nhất (Rêu đá), rồi cảnh chuồn chuồn đi đón cơn mưa

“Trời nổi cơn mua Mây kéo đến Trời xám dần Gió hiu hiu ẩm mát Chuồn chuồn vỡ tổ ở đâu bay ra khắp mặt hồ Chúng bay lượn, nhào lên, lộn xuống, con đực, con cái cong người nối đuôi nhau giao hoan trên không trung, có đôi là là sát mặt nước.( ) Giao hoan xong, mỗi con chuồn đi một ngả, con đậu cọc rào, con đậu bụi cây mà ngủ rồi lại đợi cơn mưa sau[11;280-281]

Đặc biệt là những trang văn thể hiện niềm khát khao của con ngựa tía với con

Xám hoa trong Mùi tóc Thảo “Mắt nó khao khát, nó hí lên, cào đất dưới chân

nó, tỏ ý muốn dứt tung để đến với bạn tình.( )Mắt nó như trách tôi: Các người thật là ích kỷ, ai ngăn cấm các người.( ) Nơi khe nước, con Xám hoa

đá như mưa vào mặt con ngựa tía.( ) Và điều bất ngờ, con Xám hoa, chính con ngựa cái còn cuồng nhiệt và ngây dại gấp mấy lần con ngựa tía Nó run lên rên rỉ đón nhận niềm hoan lạc như mưa móc của đất trời như từ đâu rơi xuống Việc đã xong, bãi cỏ dưới chân đầm đìa, nó còn đứng nguyên, đờ đẫn như nuối tiếc Khi tôi dắt con ngựa tía về, nó mới như chợt tỉnh, lững thững chạy theo, âu yếm liếm lên những vết thương rớm máu của bạn tình”[5;243-

245] Tất cả sự miêu tả này đều được cảm nhận bằng trái tim của một kẻ đang yêu, của một người đang khát khao hạnh phúc bởi anh đã thấy khi bên Thảo,

Ngày đăng: 23/11/2016, 21:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm