1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích vai trò của nđt nước ngoài đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước liên hệ thực tiễn việt nam

29 805 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vai trò của NĐT nước ngoài đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong nước liên hệ thực tiễn Việt Nam
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 366,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hơn 8 năm hoạt động, sự chi phối và những tác động cụ thể của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường vẫn còn lànhững ẩn số, nhưng qua thực tế trong nhưng năm qua ta dễ ràng nhận

Trang 1

Đề tài:

Phân tích vai trò của NĐT nước ngoài đối với sự phát triển của thị trường chứng

khoán trong nước? Liên hệ thực tiễn Việt Nam?

Trang 2

MỤC LỤC

I Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK 3

1 Nhận diện NĐT nước ngoài 3

1.1 Khái niệm 3

1.2 Phân loại 4

1.3 Đặc điểm của NĐT nước ngoài 4

2 Vai trò đối với sự phát triển của TTCK 7

2.1 Thúc đẩy quan hệ cung cầu 7

2.2 Thúc đẩy công nghệ 7

2.3 Thúc đẩy kinh nghiệm tài chính, quản lý 8

2.4 Dẫn dắt thị trường 8

3 Kinh nghiêm của các TTCK khác 9

II Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK Việt Nam 2000-2008 10

1 Khái quát sự phát triển của TTCK VN 2000-2008 10

1.1 Quá trình hình thành và phát triển 10

1.2 Sự tham gia của NĐT nước ngoài 12

2 Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK 14

2.1 Quan hệ cung cầu 14

2.2 Phát triển nội lực tài chính 17

III Một số giải pháp phát huy vai trò tích cực 18

1 Tính hai mặt của đầu tư nước ngoài vào TTCK 18

1.1 Những tác động tích cực 18

1.2 Một số tác động tiêu cực 20

2 Giải pháp phát huy vai trò tích cực của đầu tư nước ngoài 22

2.1 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến 2020 22

2.2 Một số giải pháp phát huy vai trò tích cực 26

Danh mục tài liệu tham khảo 29

Trang 3

Trong hơn 20 năm mở cửa, nền kinh tế Việt nam đã có những thành tưu to lớn, thoátkhỏi khủng hoảng, trì trệ những năm 90, từng bước hoàn thiện nền KTTT có đủ nănglực cạnh tranh, hội nhập thế giới Tháng 07/2000 TTCK Việt Nam chính thức đi vàohoạt động thể hiện nổ lực xây dựng, phát triển thị trường vốn, hoàn thiện TTTC, giảiquyết vấn đề tiếp nhận, lưu thông vốn cho nền kinh tế

Với chính sách rộng mở, khuyến khích đầu tư nước ngoài, nguồn vốn đầu tư nướcngoài vào Việt nam nói chung và TTCK nói riêng không ngừng tăng cao Nguồn vốnđầu tư nước ngoài đã tạo cho Việt nam cơ hội tiếp nhận nguồn tài chính, công nghệ,

kỹ năng quản lý, nâng cao sức cạnh tranh và TTCK Việt Nam cũng không nằm ngoài

sự chi phối, tác động của đầu tư nước ngoài Trong hơn 8 năm hoạt động, sự chi phối

và những tác động cụ thể của nhà đầu tư nước ngoài đối với thị trường vẫn còn lànhững ẩn số, nhưng qua thực tế trong nhưng năm qua ta dễ ràng nhận thấy Nhà đầu tưnước ngoài với tiềm lực kinh tế, kinh nghiệm đầu tư, họ đã có ảnh hưởng rất lớn đếnhoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam Qua từng giai đoạn khác nhau mức

độ ảnh hưởng của ảnh đầu tư nước ngoài đối với TTCK Việt nam có khác nhau, để cóthể hiểu và đánh giá được phần nào về tác động, vai trò của nhà đầu tư nước ngoài đốivới thị trường chúng ta tiến hành phân tích một số vấn đề cơ bản sau

I Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK

1 Nhận diện NĐT nước ngoài

1.1 Khái niệm

Theo luật đầu tư nước ngoài: Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân, tổ chức bỏ vốn đểthực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam Và dựa trên hoạt động đầu tư mà pháp luậtcũng phân định hai hình thức:

- Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản

lý trực tiếp

- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, tráiphiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tàichính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động sảnxuất kinh doanh ở doanh nghiệp nhận vốn đầu tư

Như vậy, NĐT nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam được xếp vào loạihình đầu tư gián tiếp(Foreign Indirect Investment) Chính dòng vốn đầu tư gián tiếp

Trang 4

này đã tạo ra sự bùng nổ TTCK Việt Nam trong 2 năm 2006-2007 và vẫn đang làđộng lực quan trọng trong sự sôi động của thị trường trong thời gian tiếp theo

1.2 Phân loại

Bản thân khái niệm Nhà đầu tư nước ngoài đã phân ra hai loại: Cá nhân và tổ chứcnước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam

Nhà đầu tư cá nhân: là cá nhân tự bỏ vốn nghiên cứu, phân tích và thực hiện hoạt

động mua bán cổ phiếu, thực hiện đầu tư vào các công ty cổ phần bằng việc mua lại

cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán hoặc thông qua các tổ chức tài chính trunggian

Nhà đầu tư tổ chức: Các tổ chức nhận uỷ thác đầu tư của nhà đầu tư cá nhân hoặc

của tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư vào cổ phiếu của

DN trong nước, thực hiện mua bán cổ phiếu, giấy tờ có giá trên thị trường chứngkhoán Việt Nam một cách bài bản và có tổ chức

Thị trường chứng khoán Việt Nam đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, tính đếnngày 01/04/2009, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLK) đã cấp mã số giao dịchchứng khoán cho 12.865 nhà đầu tư nước ngoài trong đó có 937 nhà đầu tư tổ chức và11.928 nhà đầu tư cá nhân Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng phức tạp của khủng hoảng tàichính, sự thất thường của TTCK Việt Nam xu hướng đầu tư nước ngoài thông qua tổchức vào thị trường Việt Nam đang tăng lên, trong số 27 mã số giao dịch được cấpmới trong tháng 03/2009 có tới 20 nhà đầu tư tổ chức và chỉ có them 07 nhà đầu tư cánhân được cấp mã số mới

1.3 Đặc điểm của NĐT nước ngoài

Nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam với tư cách của TT quốc tế với hàngtrăm năm kinh nghiệm, với năng lực tài chính nhiều tỷ đô(4,5 tỷ đô) và sức mạnhcông nghệ, kỹ năng quản lý, dự báo TTCK hiệu quả, NĐT nước ngoài đã tạo sự bùng

nổ của thị trường trong hai năm 2006 – 2007

Về năng lực vốn: Năm 2007, nguồn vốn các nhà đầu tư đem đến cho TTCK Việt

Nam (FPI) đạt 5,7 tỷ USD, tăng 330% so với năm 2006 là khoảng 1,3 tỷ USD vàhướng tới đạt 7,3 tỷ USD cho năm 2008 trong khi quy mô TTCK Việt Nam thời điểmnày khoảng 492.000 tỷ đồng với mức giao dịch trung bình những phiên cao nhấtkhoảng 1.500 tỷ đồng tương đương 100 triệu đô la

Trang 5

Kinh nghiệm: TTCK thế giới đã có hàng trăm năm phát triển trải qua nhiều biến cố,

khủng hoảng đã tích luỹ cho các NĐT nước ngoài nhiều kinh nghiệm Theo quá trìnhphát triển, TTCK ở các nước đang phát triển như Việt Nam sẽ thiếu những nguồnnhân lực có kinh nghiệm, hiểu biết sâu sắc về các sản phẩm chứng khoán, quản lý thịtrường và kinh nghiệm điều hành, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình pháttriển

Công nghệ: Cùng với khả năng về vốn, kinh nghiệm thì công nghệ cũng là một thế

mạnh của NĐT nước ngoài Nhà đầu tư trong nước đã được tiếp cận với những kỹnăng phân tích kỹ thuât, công nghệ phân tích tài chính, định giá lựa chọn cổ phiếutheo kỳ vọng lợi nhuận các chỉ số tài chính trong các báo cáo tài chính được cung cấp.Trong thời gian này, hàng loạt những ấn phẩm, phần mêm quản lý, phân tích đượcgiới thiệu với nhà đầu tư trong nước NĐT trong nước đã biết đến phần mềm phântích kỹ thuật Meta Stock, Forex, các hãng tài chính nổi tiến CNBC, Blooberg, phươngpháp luận của những nhà đầu tư nổi tiếng Warren Buffet…

Để phần nào đánh giá được mức độ đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào TT ViệtNam nói chung cũng như TTCK nói riêng, chúng ta xem xét quy mô và phạm vi hoạtđộng của một số công ty quản lý quỹ lớn đã và đang hoạt động tại Việt Nam

1 Dragon Capital: Đây là quỹ đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng tài

sản ước tính khoảng 1 tỷ USD(năm 2007) Năm 2003, Dragon Capital liên doanh vớiSacombank để thành lập VietFund Mangagement (VFM), công ty quản lý quỹ đầutiên tại Việt Nam Hiện VFM đang quản lý Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VF1)

có tài sản ròng quy đổi khoảng 2000 tỷ VNĐ

Cuối năm 2004, Dragon Capital lại thành lập quỹ thứ hai tại Việt Nam là VietnamGrowth Fund Limited (VGF) có tổng vốn 500 triệu USD Sang năm 2005, Dragon lậpthêm quỹ Vietnam Dragon Fund Limited (VDF) có tài sản hiện tại là 340 triệu USD.Quỹ đầu tư mới nhất của hãng này là Vietnam Resource Investment (Holdings)Limited (VRI), từ 2007 Đây là quỹ đầu tiên đầu tư vào các công ty kinh doanh về tàinguyên thiên nhiên

2 VinaCapital: Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital bắt đầu hoạt động tại Việt Nam từ

tháng 11/2003 với việc ra đời quĩ đầu tư tư nhân Vietnam Opportunity Fund (VOF).VOF là quĩ do một số tổ chức tài chính lớn thành lập để đầu tư vào Việt Nam, trong

đó ông Robert Knapp, giám đốc quĩ Millennium Partners (là quĩ đầu tư lớn tại Mỹ với

số vốn 4 tỷ USD), có tỉ lệ góp vốn lớn nhất

Trang 6

Từ giữa năm 2006, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital khai trương Quỹ bất động sảnVinaLand, nhưng số tiền mà các nhà đầu tư nước ngoài góp vào quỹ đã lên tới 65triệu đô la Mỹ, vượt mức dự kiến 15 triệu đô la Mỹ Ngoài VinaLand, VinaCapitalđang nỗ lực giải ngân nốt số tiền còn lại chừng 50 triệu đô la Mỹ trong tổng số 171triệu đô la Mỹ của Quỹ Vietnam Opportunities Fund (VOF) với hướng đầu tư chínhcủa VOF tiếp tục là cổ phiếu OTC và địa ốc.

Ngay từ đầu năm 2007, VinaCapital đã lên kế hoạch thành lập mới một quỹ đầu tư bấtđộng sản với tổng vốn đầu tư lên tới 200 triệu USD

Ngày 5/7/2007, Vina Captial đã chính thức đưa Quỹ Cơ sở hạ tầng Việt Nam(Vietnam Infrastructure Limited – VIL) lên niêm yết trên sàn chứng khoán thứ cấpLondon (Alternative Investment Market – AIM) Đây là quỹ đầu tiên giao dịch trênthị trường AIM tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng cơ sở then chốt của Việt Nam, baogồm năng lượng, vận tải, nước và viễn thông Sự kiện này đã nâng số quỹ đầu tư màVina Capital mở tại Việt Nam lên thành bốn quỹ với tổng số vốn đầu tư gián tiếp đãthu hút vào Việt Nam lên tới 1,8 tỷ USD

3 Mekong Capital: Mekong Capital là công ty quản lý quỹ đầu tư tập trung vào Việt

Nam do các cá nhân có kinh nghiệm về mảng quản lý đầu tư cả ở Việt Nam và quốc

tế thành lập năm 2001 Công ty bắt đầu hoạt động từ năm 2002 với tổng số vốn vàokhoảng 70 triệu USD, trong đó khoảng 50 triệu USD được đầu tư vào các công ty cổphần trong lĩnh vực sản xuất, phân phối và quảng bá thương hiệu thông qua quỹ đầu

tư Mekong Enterprise Fund II

4 Indochina Capital: Trong 17 năm hoạt động tại Việt Nam, công ty đã tiến hành

đầu tư hơn1 tỷ USD vào các dự án địa ốc, trong đó tiêu biểu là các dự án như Kháchsạn Furama (Đà Nẵng), Saigon Center (Tp.HCM), 63 Lý Thái Tổ (Hà Nội) và nhiều

dự án địa ốc khác do công ty đầu tư chính; và góp vốn chung với một công ty khácđầu tư dự án khu du lịch Nam Hải (Đà Nẵng)

Ngoài lĩnh vực bất động sản, công ty còn đầu tư vào thị trường chứng khoán kể từ khithị trường chứng khoán bắt đầu mở cửa cho đến nay và tổng cộng công ty đã đầu tưkhoảng trên 50 triệu USD vào thị trường chứng khoán

Để phục vụ cho mục tiêu lâu dài trên thị trường Việt Nam, Indochina Capital đã thànhlập Quỹ Indochina Capital Holding Limited và thực hiện đợt phát hành và niêm yếttrên thị trường chứng khoán London với quy mô ban đầu là 500 triệu USD (3/2007)

Sự kiện này ngay lập tức đã thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài và trong

Trang 7

đợt phát hành lần đầu Indochina Capital Vietnam Holding Limited dự định thu hútkhoảng 300-350 triệu USD nhưng đã nhận được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu

tư và đạt được con số 500 triệu USD

Mặc dù, sự sụt giảm của TTCK trong năm 2008 đã làm sụt giảm tới 68% giá trị tàisản ròng của các quỹ đầu tư Việt Nam, một số quỹ của các công ty quản lý quỹ thua

lỗ, cổ đông lục đục nhưng hầu hết các nhà đầu tư lớn đều đánh giá cao tiềm năng phụchồi và phát triển của TTCK Việt Nam trong thời gian sắp tới Tính đến cuối tháng05/2009 các quỹ đều có báo cáo tăng giá trị tài sản ròng từ 14-20% do TTCK đã khởisắc trở lại vào cuối quý II Sự tăng trưởng bền vững của thị trường vẫn còn là một ẩn

sô, tuy nhiên chứng kiến sự phục hồi và hoạt động giao dịch trong thời gian vừa qua

đã chứng tỏ được bản lĩnh của nhà đầu tư trong nước Nhà đầu tư trong nước đã dầnthoát khỏi bóng của nhà đầu tư nước ngoài và nắm vai trò đầu tàu trong đợt tăng nóngcủa TTCK thời gian vừa qua, phải chăng vai trò hỗ trợ thị trường của NĐT nướcngoài đã kết thúc?

2 Vai trò đối với sự phát triển của TTCK

2.1 Thúc đẩy quan hệ cung cầu

Với nguồn lực tài chính dồi dào NĐT nước ngoài đã tạo ra sự bùng nổ trên thị trườngchứng khoán trong thời kỳ 2006-2007, đưa thị trường thoát khỏi cảnh chợ chiều trongnhững năm 2002-2005 NĐT nước ngoài tiến hành mua gom đã tạo ra sự chênh lệchcung cầu rất lớn Những tháng đầu năm 2007, lực cầu của khối ngoại luôn chiếmkhoảng hơn 30% giá trị giao dịch của toàn thị trường, tập trung vào những cổ phiếutốt như SSI, STB,SJS…đã tạo ra hiện tượng tăng giá liên tục ở nhiều mã cổ phiếu.Với tâm lý sợ ngoại, cùng với quy định room cho người nước ngoài đã kích thíchNĐT trong cuộc đua tranh mua với NĐT nước ngoài tạo nên sự bùng nổ của TTCK,cuối năm 2007 Vnindex đã vượt ngưỡng 1100 điểm tạo sự hưng phấn cho toàn thịtrường

2.2 Thúc đẩy công nghệ

Việt Nam là thị trường đi sau chính vì vậy tất cả công nghệ, tổ chức thị trường chứngkhoán đều là sự vay mượn, cải tiến cho phù hợp với định hướng phát triển của nhànước Sự thiếu hiểu biết về sự vận hành, quản lý thị trường gây nhiều khó khăn trongviệc lựa chọn mô hình giao dịch, phương thức khớp lệnh, quản lý nhà đầu tư, quản lýcông ty chứng khoán, lựa chọn, xây dựng cơ sở hạ tần CNTT…Về phía các công tychứng khoán, phát hành đó là sự lúng túng trong việc định giá, lựa chọn đối tác, quản

Trang 8

lý cổ đông, xây dựng bộ máy và nhất là lựa chọn công nghệ quản lý NĐT, triển khai

và sử dụng CNTT phục vụ giao dịch

Nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam mang theo vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý

đã tạo cơ hội cho NĐT, công ty chứng khoán, công ty đại chúng được tiếp cận côngnghệ mới hoặc buộc phải cải tiến công nghệ để cạnh tranh với NĐT nước ngoài hoặc

tổ chức tiếp nhận công nghệ

2.3 Thúc đẩy kinh nghiệm tài chính, quản lý

Cùng với sự thúc đẩy phát triển công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các chủ thể trongnước tham gia TTCK cũng được nâng cao thông qua làm việc, tiếp nhận và cạnh tranhvới nhà đầu tư nước ngoài Thị trường Việt Nam đã và đang tiếp nhận lượng rất lớnvốn đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này rất cần cho sự phát triển hoạt động sản xuấtkinh doanh Tuy nhiên để sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư vào hoạt động sản xuấtkinh doanh rất cần khả năng, kinh nghiệm quản lý và để vốn đầu tư sinh lợi NĐTnước ngoài cũng cần đầu tư kinh nghiệm, phương pháp quản lý cho các đơn vị tiếpnhận nguồn vốn đầu tư

Quá trình làm việc cho các tổ chức đầu tư nước ngoài đã đào tạo, rèn luyện một độingũ nhân lực có trình độ quản lý tốt cho thị trường tài chính Việt Nam Hơn nữa, cácdoanh nghiệm trong nước muốn cạnh tranh, tồn tại, vươn lên trên thị trường họ phảitìm kiếm đối tác nước ngoài hoặc đầu tư về công nghệ, nguồn nhân lực, kỹ năng quản

lý Vô hình chung, quá trình tiếp nhận, cạnh tranh đã thúc đẩy sự phát triển của thịtrường chứng khoán Việt Nam, điều này đã được minh chứng qua thời gian phát triểncủa TTCK Việt Nam

2.4 Dẫn dắt thị trường

Với năng lực tài chính, kinh nghiệm và nền tảng công nghệ, quản lý tốt Nhà đầu tưnước ngoài trong những năm đầu tham gia TTCK Việt Nam đã phần nào tạo được thếchủ động, trong một chừng mực nào đó, hoạt động mua bán của khối NĐT nước ngoài

đã trở thành quyết định mua bán, quyết định xu hướng của TT nhất

Trong giai đoạn cuối 2006 đầu 2007, TT chứng kiến hàng loạt cổ phiếu tăng chóngmặt, nhà đầu tư sẵn sang trả hết biên độ giá trong nhiều phiên liên tiếp để có được cổphiếu này bởi lý do đơn giản là một tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài nào đó trở thànhđối tác của công ty đó Cả 2 sàn Hastc và Hose đều có những thống kê giao dịch củaNĐT nước ngoài và trên các diễn đàn thông tin giao dịch của NĐT nước ngoài trởthành những tin hỗ trợ giá cổ phiếu lên hay xuống

Trang 9

Thực tế, khi TTCK Việt Nam còn quá non trẻ, NĐT trong nước còn chưa có kiến thứccần thiết trong hoạt động phân tích đầu tư cộng với tâm lý “sùng Ngoại” của dân Việtnam đã đặt NĐT nước ngoài vào vị trí “Dẫn dắt thị trường” Với kinh nghiệm, côngnghệ phân tích, xử lý đầu tư tốt NĐT nước ngoài khi tham gia TTCK Việt Nam đã thugom được khá nhiều cổ phiếu tốt với giá rẻ Với phương thức mua vào, bán ra theokiểu “cuốn chiếu” ở từng mức giá cộng thêm những kinh nghiệm và năng lực tàichính lớn lợi dụng hoạt động giao dịch tranh mua bán của NĐT trong nước các nhàđầu tư nước ngoài có thể thao túng thị trường, làm giá…dẫn dắt thị trường nếu họmuốn Với năng lực hàng trăm triệu USD của các quỹ đầu tư(tương đương với vốnđầu tư của những công ty chứng khoán lớn của Việt nam như SSI) và số vốn đầu tưvào TTCK Việt nam lớn(theo đánh giá của IMF, khoảng 4 tỷ USD) hoạt động đầu cơcủa NĐT nước ngoài có thể gây thiệt hại, thậm chí gây sụp đổ TT.

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã cuốn trôi tất cả những gì mà NĐT gây dựng đượctrong 2 năm 2006-2007, đưa nhà đầu tư trở lại và thậm chí là dưới vạch xuất phát.Mặc dù vẫn có vai trò tích cực trong hoạt động giao dịch khi nhà đầu tư trong nướcmất niềm tin vào thị trường nhưng vai trò dẫn dắt có lẽ không như trước nữa, các quỹđầu tư nước ngoài tại Việt nam cũng gánh chịu mất mát cùng TTCK Việt nam Cuối

2008, nhiều quỹ đầu tư nước ngoài đã giảm tới 68% giá trị tài sản trên mức giảmchung khoảng 70% của TT, nội bộ lục đục đòi mở quỹ, nguồn nhân lực cao cấp dứt áo

ra đi

Quá trình tham gia thị trường, vượt qua khủng hoảng tài chính chứng kiến sự thua lỗ,yếu kém của NĐT nước ngoài, nhà đầu tư trong nước đã có hiểu biết và đặc biệt làbản lĩnh hơn rất nhiều Sự phục hồi của TTCK Việt Nam từ tháng 03 năm 2009 đượcđánh giá là do sự hưng phấn của NĐT trong nước và lực cầu của NĐT trong nước đãkéo thị trường qua nhiều mức cản tâm lý, VN-Index từ 240 vào đầu năm lên hơn 400điểm vào cuối tháng 05/2009

3 Kinh nghiêm của các TTCK khác

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bảncuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Cácnhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ lớn của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sảncủa mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Álại thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn

ở các nước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nướcchâu Á

Trang 10

Các nước láng giềng như Thailand, Indonesia, Philipin, Malaysia trước khủng hoảng

1997 có bước phát triển vượt bậc, giá trị TTCK tăng gấp đôi, gấp 3 cũng chính dođộng lực của NĐT nước ngoài

Năm 1985, Thái Lan bắt đầu mở cửa cho phép đầu tư trực tiếp nước ngoài ồ ạt , cácngân hàng Thái Lan được phép trực tiếp vay ngoại tệ đáp ứng nhu cầu đầu tư để đẩymạnh phát triển nông nghiệp và đặc biệt Thái Lan xây dựng các tổ hợp công nghiệpvới quy mô lớn Bên cạnh đó, ngân hàng Thái lan còn tận dụng những nguồn vốn tưbản ngắn hạn nước ngoài để bổ sung khoản trống giữa tiết kiệm có giới hạn trongnước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, dư nợ vay nước ngoài không ngừng tăng lên đến

1996 chiếm 55% GDP, riêng Ngân hàng quốc tế Thái Lan đã thu hút đến 50 tỷ USD Nằm trong xu thế toàn cầu hóa, thị trường chứng khoán Thái Lan phát triển mạnh sôiđộng, đến năm 1995, trên 50% giao dịch thị trường chứng khoán do nhà đầu tư nướcngoài thực hiện Thời kỳ này các ngân hàng Thái Lan phát triển mạnh mẽ nghiệp vụđầu tư vào thị trường tài chính do tỷ lệ vay vốn nước ngoài gia tăng, tỷ lệ lợi nhuậntrên vốn của ngân hàng đạt đến 25%, đến năm 1996, tài sản của hệ thống ngân hàng

và tổng giá trị của thị trường chứng khoán đạt đến 15% GDP, cho thấy cả hai hệ thốngtrên đóng vai trò ngang nhau trong việc cung cấp vốn cho nền kinh tế

Do sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài trên TTTC và nhất là các giao dịch trênTTCK với 50% giá trị giao dịch do nguồn vốn ngoại đã đẩy giá cổ phiếu lên quá cao,gấp 2 lần trong 6 tháng đầu năm 1996 Do tính chất đầu cơ của dòng vốn FPI, cộngvới sự yếu kém trong quản lý ngoại hối và các chính sách nhằm giữ giá đồng Baht đãđẩy Thai Lan vào cuộc khủng hoảng tài chính 1997 khi các nhà đầu cơ đồng loạt rútvốn, bán tháo cổ phiếu để rút chạy

II Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK Việt Nam 2000-2008

1 Khái quát sự phát triển của TTCK VN 2000-2008

1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Thị trường chứng khoán Việt Nam thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào sáng28/7/2000, lúc này còn quy mô nhỏ, chất lượng hoạt động còn thấp, chỉ mang tính sơkhai Khi thị trường bắt đầu hoạt động chỉ có 2 cổ phiếu được niêm yết, giao dịch tạiTTGDCK với tổng giá trị vốn niêm yết là 270 tỷ đồng, Với chức năng của trung tâmlưu ký chứng khoán trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật còn hạn chế, nhưng hệthống lưu ký hoạt động tương đối có hiệu quả, vì thế đã rút ngắn thời gian thanh toán

Trang 11

từ 4 ngày xuống 1 ngày, Đối với các nhà đầu tư: Đã có nhiều nhà đầu tư trong vàngoài nước tham gia TTCK Việt Nam Số lượng các nhà đầu tư tham gia thị trườngliên tục tăng cuối năm 2000 có gần 3.000 tài khoản giao dịch; cuối năm 2001 có gần9.000 tài khoản, cuối năm 2002 có hơn 13.000 tài khoản Cũng bắt đầu như bao chỉ

số thị trường khác, vni đã khởi đầu với 100 điểm vào ngày 28 - 7 năm 2000 Với sự lạlẫm và nhiệt huyết, chỉ chưa đầy 1 năm sau nó đã tăng lên tới đỉnh tại 571 điểm (gấpgần 6 lần!) Lúc này, với 1 vài sự chỉ đạo và ban hành “chiến lược” của nhà nước, vn-index đã bị dội 1 gáo nước lạnh vào đầu để rồi sau đó đã bước vào 1 thời kỳ suy thoáikéo dài hơn 2 năm sau, giảm xuống còn 130.9 điểm, chỉ cách điểm khởi đầu có 30.9điểm

Sau sự bùng nổ khi thị trường mở cửa năm 2001 (chỉ số VN index đạt 570 điểm sau 6tháng), chỉ số chứng khoán rơi xuống điểm xuất phát và đạt mức thấp nhất là 130điểm vào năm 2003

Năm 2003, Sau 3 năm đi vào hoạt động, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Namvẫn chưa thực hiện được chức năng chính của mình là một kênh huy động vốn trung

và dài hạn cho nền kinh tế Các DN ''khát'' vốn, chủ yếu vẫn vay ngân hàng, và chínhphủ phát hành trái phiếu cho các công trình lớn vẫn phải động viên dân mua, việc huyđộng vốn của DN qua TTCK Việt Nam rất nhỏ bé, rất thấp, 3 năm cũng chỉ là mộtgiai đoạn thử nghiệm, tập dượt cho nên có thể nói là các DN chưa huy động được vốnqua thị trường

Năm 2004 được đánh giá là năm chứng khoán phục hồi, Năm 2004 được đánh giá làthời gian giá cổ phiếu dần hồi phục sau giai đoạn suy giảm trong các năm 2002 và

2003 Giao dịch cổ phiếu trên sàn có xu thế ổn định hơn, các cổ phiếu hầu như không

có biến động lớn, VN-Index ở mức 239,29 điểm (ngày 31/12/2004), tăng hơn 72 điểm

so với cùng thời điểm này của năm 2003 (166,94 điểm)

Vào tháng 9/2005, VN-Index đã vượt qua cái đỉnh ngắn hạn cũ 279.7 điểm để rồi đạttới 1 cái đỉnh ngắn hạn mới 322.5 điểm vào ngày 3/11/2005

Ngày 25/4/2006, VN-Index đã đóng cửa tại 632.69 điểm, đã vượt qua đỉnh 571 cũ củanăm 2001

Ngày 26/4/06, VN-Index đi vào 1 đợt hiệu chỉnh sâu không thể tránh khỏi gần 3tháng, để vào ngày 2/8/06 đóng cửa tại 399.8 điểm,nhưng đầu tháng 11/06, dựa vàotin Việt Nam gia nhập WTO, VN-Index đã nhanh chóng, tăng liên tục trong 5 tháng

để đạt tới đỉnh tăng trưởng kỷ lục, đóng cửa tại 1170.67 điểm vào ngày 12/3/2007

Trang 12

Kể từ đỉnh tăng trưởng đầu năm 07,VN-Index đã bị rơi xuống mốc 859.62 điểm(ngày 1/2/08 ), ngày 3/3/08, VN-Index đã đóng cửa tại 635.24 điểm, mất hơn 224điểm từ đỉnh 859.62,

Nếu tính từ số điểm đóng cửa của phiên giao dịch đầu tiên của năm (2/1/2008), chỉ sốVN-Index là 921,07 điểm, thì đóng cửa phiên giao dịch cuối năm (31/12/2008), chỉ sốnày chỉ còn 315,62 điểm, tức đã mất đi 605,45 điểm (giảm 65,33%) Năm 2008,TTCK Việt Nam trải qua thời kỳ suy thoái dài, giao dịch ảm đảm VN-Index đã có lúcxuống tới 220 điểm giảm tới 70% so với đỉnh cao vào đầu 2007

1.2 Sự tham gia của NĐT nước ngoài

Tính đến 01/04/2009, TTCK Việt Nam đã tiếp nhận hơn 12 nghìn tài khoản của nhàđầu tư nước ngoài trong số hơn 400 nghìn tài khoản giao dịch chứng khoán trên toànthị trường Tuy số tài khoản chiếm tỷ trọng rất ít, nhưng NĐT nước ngoài với nhiều tổchức với số vốn lên đến hàng tỷ đô la đã có tác động rất lớn đến sự phát triển, sự bùng

nổ TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2006-2007 Chúng ta hãy nhìn lại một chút quátrình tham gia của NĐT nước ngoài vào TTCK Việt Nam trong những năm vừa qua.Tính đến cuối 2004, tổng số tài khoản của các nhà đầu tư nước ngoài mở tại các công

ty chứng khoán là khoảng 250 TK trên 20.300 TK của NĐT tham gia thị trường.Điểm nổi bật là bên cạnh việc đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển mạnhsang giao dịch trái phiếu (chiếm 48% tổng giá trị giao dịch của những đối tượng này).Tính thanh khoản của thị trường giao dịch chứng khoán niêm yết được nâng lên Khốilượng giao dịch tăng mạnh trong năm 2004 với tổng giá trị gần 20.000 tỷ đồng (bìnhquân 80 tỷ đồng/phiên), tăng 6,6 lần so với 2003 Các nhà đầu tư có tổ chức đóng vaitrò quan trọng đối với giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung: tuy chỉ chiếmtrên 1% về số lượng nhưng các nhà đầu tư có tổ chức lại chiếm gần 39% tổng giá trịgiao dịch của năm 2004

Tuy nhiên, năm 2006 lại thực sự là một năm “bản lề” đối với nhà đầu tư nước ngoài.Riêng trong năm nay, tỷ lệ sở hữu của các nhà đầu tư nước ngoài tại thị trường chứngkhoán Việt Nam đã tăng vọt gấp gần ba lần, từ 6% lên 17% Đến đầu tháng 3/2007, tỷ

lệ này lên đến 19% và cho đến tháng 5/2007, có tính toán cho biết tỷ lệ này đã lên đến20-25%

Trang 13

Như vậy, so sánh hai mốc thời điểm đầu năm 2006 với những tháng đầu năm 2007, tỷ

lệ sở hữu giá trị cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài đã tăng gấp gần 4 lần Tình hình

đó cũng có tính tương ứng với thông tin của Ngân hàng thế giới ước tính các nhà đầu

tư nước ngoài đã đầu tư khoảng 4 tỷ USD vào thị trường chứng khoán Việt Nam Tính đến tháng 4/2007, nhà đầu tư nước ngoài vẫn mạnh nhất trên thị trường niêmyết, trong đó giá trị đầu tư vào cổ phiếu của các công ty niêm yết chiếm đến 68%trong tổng giá trị đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư vào trái phiếu niêm yếtchiếm

25%; đầu tư vào trái phiếu không niêm yết chỉ chiếm 6% và đầu tư vào cổ phiếukhông niêm yết chỉ vỏn vẹn có 1%

Tại thị trường niêm yết, nhà đầu tư nước ngoài đã nhanh chóng sở hữu đến 49% hoặcđang có xu hướng đạt đến 49% (tỷ lệ cao nhất cho phép đối với nhà đầu tư nướcngoài) đối với một số mã cổ phiếu như AGF, CII, BT6, GIL, GMD, IFS, SAM, TDH,TMS, TYA, VNM

Trang 14

Cuối 2007 đầu 2008, do ảnh hưởng của khung hoảng tài chính toàn cầu, giới đầu tưnước ngoài chịu ảnh hưởng nặng nề, xu hướng rút vốn để bảo toàn, bù đắp cho nhữngkhoản lỗ năng nề ở thị trường lớn trên thế giới đã ảnh hưởng rất lớn đến NĐT nướcngoài ở Việt Nam cũng như tạo áp lực tâm lý nặng nề lên các nhà đầu tư trong nướcvẫn coi hành động của NĐT nước ngoài như kim chỉ nam, nguồn đô la lớn là động lựcthúc đẩy thị trường trong giai đoạn 2006-2007 Chính vì thế TTCK Việt Nam đã cóbước trượt dài từ 1170 điểm đầu 2007 chỉ còn 220 vào cuối năm 2008, và để ngăn đàgiảm điểm của thị trường cuối 2007 Uỷ ban chứng khoán nhà nước đã phải thu hẹpbiên động giao dịch ở 2 sàn từ 10% ở HASTC xuống 2%, và 5% ở HOSE xuống 1%.Thị trường chứng khoán rơi vào cảnh chợ chiều, tính thanh khoản biến mất, thị trườngOTC gần như không có giao dịch.

Tuy nhiên, giới đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá cao tiềm năng của TT Việt nam Năm

2009 khi ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính đã phần nào được kiểm soát, NĐTnước ngoài đã quay trở lại thị trường Việt Nam Tính đến 01/04/2009 đã có hơn 12nghìn tài khoản của NĐT nước ngoài được mở Tuy nhiên cơ cấu đã có sự thay đổikhá lớn, tỷ trọng NĐT tổ chức vào Việt Nam ngày càng tăng, tháng 03/2009 trong số

27 tài khoản đăng ký mới chỉ có 07 TK phục vụ NĐT cá nhân

2 Vai trò của NĐT nước ngoài với sự phát triển của TTCK

Trong lịch sử 8 năm phát triển của TTCK Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài đượcđánh giá là động lực đưa TTCK Việt nam bùng nổ vào năm 2006-2007, đưa thịtrường CK Việt Nam sang một giai đoạn phát triển mới công nghệ hơn, NĐT trongnước có kinh nghiệm, kỹ năng và đặc biệt bản lĩnh hơn trước những biến động củaTTCK

2.1 Quan hệ cung cầu

Ngay từ những năm 90 nhà đầu tư nước ngoài hưởng ứng lời mời gọi đầu tư của Nhànước trong thời kỳ đổi mới đã đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội sinh lời cao từ nguồnvốn dồi dào từ thị trường Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản

Năm 2005, 2006 đánh dấu bước chuyển biến lớn của nhà đầu tư nước ngoài trên thịtrường chứng khoán Việt Nam Cuối năm 2005, số tài khoản đăng ký giao dịch đãtăng 100% so với năm 2004 Nhiều tổ chức, quỹ đầu tư đã được thành lập và đăng kýhoạt động tại TTCK Việt nam Ngay từ cuối 2006, đầu 2007 cầu cổ phiếu của cácNDT nước ngoài đã kéo cả TTCK Việt Nam liên tục bứt phá Lượng giao dịch bình

Ngày đăng: 25/12/2013, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w