Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
3
1 Khái niệm trách nhiệm xã hội
3
2 Các khía cạnh của trách nhiệm xã hội
3
3 Phát triển bền vững – mục tiêu thực hiện TNXH của doanh nghiệp
5
4 Đạo đức và trách nhiệm xã hội
6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC THỰC HIỆN TNXH TẠI VIỆT NAM
8
1 Tình hình chung
8
2 Các công cụ quản lý
9
3 Một số thành công bước đầu
10
4 Những tồn tại còn nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục
10
5 Một số ví dụ
18
LỜI KẾT
Trang 2TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
LỜI MỞ ĐẨU
Cùng với nhịp độ phát triển kinh tế toàn cầu, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước ta cũng đang từng ngày gặt hái được những thànhcông nhất định Tuy nhiên, đó cũng là khởi nguồn gây ra một vấn đề nangiải cho các doanh nghiệp nói riêng và toàn xã hội nói chung: Trách nhiệmđối với người lao động, môi trường, cũng như những gì mà guồng quay kinh
-tế khổng lồ ấy ảnh hưởng tới trong quá trình phát triển của nó Những vấn đề
đó đang ngày càng trở nên bức thiết, và cái giá phải trả sẽ là rất đắt nếuchúng ta không có hướng giải quyết một cách triệt để và kịp thời Trách
Trang 3nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp đang là đề tài nóng bỏng hiện nay,nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng hiểu về nó một cách đầy đủ, đúngđắn, và con số những chủ thể kinh doanh có thể thực hiện các quy định bảođảm TNXH lại càng ít hơn nữa.
“Trách nhiệm xã hội trong kinh doanh” cũng là chủ đề mà nhóm chúng
em chọn làm tiểu luận lần này, vừa để tìm hiểu thêm kiến thức cho chínhbản thân mình, vừa hy vọng có thể giúp người đọc hiểu rõ hơn về khái niệmcũng như thực trạng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở các doanhnghiệp Việt Nam hiện nay một cách đúng đắn nhất, đồng thời đưa ra một sốgiải pháp tháo gỡ những khó khăn đang gặp phải cho vấn đề này
Dù đã cố gắng để hoàn thành tốt nhất có thể nhưng do vấn đề rộng vàkiến thức có hạn nên bài tiểu luận này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Nhóm chúng em rất mong nhận được ý kiến đóng góp chỉ dạy của thầy đểbài làm được hoàn thiện tốt hơn và có giá trị tham khảo
Chúng em xin cám ơn!
Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm TNXH của doanh nghiệp:
TNXH của doanh nghiệp :
Trang 4 Là sự tự cam kết của doanh nghiệp thông qua việc xây dựng và thựchiện hệ thống các quy định về quản lý của doanh nghiệp, bằng phương phápquản lý thích hợp trên cơ sở tuân thủ pháp luật hiện hành, nhằm kết hợp hàihoà lợi ích của doanh nghiệp, người lao động, Nhà Nước và xã hội.
Là việc ứng xử trong quan hệ lao động của doanh nghiệp nhằm đảmbảo lợi ích của người lao động, doanh nghiệp, khách hàng và cộng đồng; bảovệ người tiêu dùng và tuân thủ các quy định của pháp luật nhằm đạt đượcmục tiêu chung là phát triển bền vững
2 Các khía cạnh của TNXH :
Nhiều lãnh đạo của doanh nghiệp cho rằng, TNXH của doanh nghiệp làtham gia vào các chương trình trợ giúp các đối tượng xã hội như hỗ trợngười tàn tật, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa, ủng hộ đồng bào lũ lụtvà thiên tai Điều đó là đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ, mặc dù các hoạtđộng xã hội là một phần quan trọng trong trách nhiệm của một công ty.Quan trọng hơn, một doanh nghiệp phải dự đoán và đo lường được nhữngtác động về xã hội và môi trường mà hoạt động của doanh nghiệp gây ra,đồng thời phát triển những chính sách làm giảm bớt những tác động tiêucực
TNXH của doanh nghiệp còn là cam kết của doanh nghiệp đóng góp vàosự phát triển kinh tế bền vững; hợp tác cùng người lao động, gia đình họ,cộng đồng và xã hội nói chung để cải thiện chất lượng cuộc sống cho họ saocho vừa tốt cho doanh nghiệp vừa ích lợi cho phát triển Nếu là doanhnghiệp sản xuất xe hơi, phải tính toán được ngay cả năng lượng mà cơ sởtiêu thụ và tìm cách giảm thiểu; là doanh nghiệp sản xuất giấy, phải xemchất thải ra bao nhiêu và tìm cách xử lý
Trang 5vào tăng thêm phúc lợi cho xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp.
Đối với người lao động, khía cạnh kinh tế của doanh nghiệp là tạo công
ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng, cơ hội việc làm như nhau, cơ hộiphát triển nghề và chuyên môn, hưởng thù lao tương xứng, hưởng môitrường lao động an toàn, vệ sinh và đảm bảo quyền riêng tư, cá nhân ở nơilàm việc
Đối với người tiêu dùng, ngoài trách nhiệm chủ yếu là cung cấp hànghoá và dịch vụ, doanh nghiệp còn phải quan tâm đến vấn đề về chất lượng,
an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm (quảng cáo), phân phối,bán hàng và cạnh tranh
Khía cạnh kinh tế trong TNXH là cơ sở cho các hoạt động của doanhnghiệp Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chếhoá thành các nghĩa vụ pháp lý Một ví dụ điển hình: Vào những năm 1990,điều kiện lao động khắc nghiệt tại các nhà máy của Nike ở Đông Á và ĐôngNam Á, trong đó có Việt Nam, đã bị nhiều tổ chức phi chính phủ và phươngtiện truyền thông lên án kịch liệt Từ đó đã dấy lên phong trào tẩy chay sảnphẩm Nike tại các thị trường chính của tập đoàn ở Tây Âu và Bắc Mỹ Tuyphong trào tẩy chay không ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, nhưng Nikeđã lập tức đưa ra những chương trình xây dựng lại hình ảnh Hiện tại, bêncạnh vô số những chương trình TNXH tại thị trường tiêu thụ của Nike ở cácnước phát triển và đang phát triển, Nike đã thành lập một hệ thống các tổchức giám sát độc lập nhằm kiểm tra lao động tại các nhà máy ở vùng châuÁ
Vì vậy , để đảm bảo lợi nhuận của mình, các doanh nghiệp ý thức rằngkhông thể phát triển mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng,công nhân viên hoặc cả các đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế Cácnhà quản lý doanh nghiệp quốc tế không những cần biết cách làm tăng tối đalợi nhuận cho công ty, mà còn phải ý thức rất rõ được việc tạo nên nhữngđiều kiện để duy trì và phát triển bền vững những lợi ích kinh tế đó
Khía cạnh pháp lý
Khía cạnh pháp lý trong TNXH của một doanh nghiệp là doanh nghiệp
đó phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lý chính thức đối với cácbên hữu quan Những điều luật như thế này sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảovệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn vàcung cấp những sáng kiến chống lại những hành vi sai trái Các nghĩa vụpháp lý được thể hiện trong luật dân sự và hình sự Về cơ bản, nghĩa vụ pháplý bao gồm năm khía cạnh:
Trang 6 Điều tiết cạnh tranh.
Bảo vệ người tiêu dùng
Bảo vệ môi trường
An toàn và bình đẳng
Khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái
Thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thicác hành vi được chấp nhận Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họkhông thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình
Khía cạnh đạo đức
Khía cạnh đạo đức trong TNXH của một doanh nghiệp là những hành vivà hoạt động mà các thành viên của tổ chức, cộng đồng và xã hội mong đợi
từ phía các doanh nghiệp dù cho chúng không được viết thành luật
Khía cạnh đạo đức của một doanh nghiệp thường được thể hiện thôngqua những nguyên tắc, giá trị đạo đức được tôn trọng trình bày trong bản sứmệnh và chiến lược của công ty Thông qua các công bố này, nguyên tắc vàgiá trị đạo đức trở thành kim chỉ nam cho sự phối hợp hành động của mỗithành viên trong công ty và với các bên hữu quan
Khía cạnh môi trường :
Môi trường sống trong lành là nhu cầu đầu tiên và quan trọng nhất củacon người Tuy nhiên, cứ nhìn vào dòng nước đen và mùi nồng của sông TôLịch hay bầu không khí đầy bụi và khói của Hà Nội Chúng ta sẽ thấy nhucầu đầu tiên ấy đang bị hy sinh cho những nhu cầu vật chất khác Phần lớncác chất thải không thể phân hủy là do hoạt động sản xuất, kinh doanh tạo
ra Vậy TNXH đầu tiên của các doanh nghiệp là không kinh doanh trên sựtổn hại của môi trường
3 Phát triển bền vững - mục tiêu thực hiện TNXH của các doanh nghiệp:
Khái niệm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là một khái niệm tương đối rộng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau Tuy nhiên, một định nghĩa chung nhất đã được đưa ra cho khái niệm phát triển bền vững trong Báo cáo Brundtland như sau:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại
mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”
Trang 7Định nghĩa này mặc dù còn chung chung nhưng đã nhấn mạnh được hai
yếu tố quan trọng nhất của phát triển bền vững Đó là vấn nạn môi trường
và mối tương quan của nó với sự phát triển kinh tế; và nhu cầu của sự phát triển đó đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
Nội dung của chiến lược phát triển bền vững:
Phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắttay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế- xã hội- môi trường
Phát triển bền vững, về cơ bản bao hàm 3 phương diện: Môi trường bền vững, kinh tế bền vững và xã hội bền vững.
a Môi trường trong phát triển bền vững: đòi hỏi chúng ta duy trì sự cân
bằng giữa bảo vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên này ở một giới hạn nhất định, cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống trêntrái đất
b Xã hội của phát triển bền vững: cần được chú trọng vào sự phát triển sự
công bằng và xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được
c Kinh tế bền vững: đóng một vai trò không thể thiếu trong phát triển bền
vững Nó đòi hỏi sự phát triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh , sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản Yếu tố được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người
4 Đạo đức kinh doanh và TNXH:
Phân biệt đạo đức kinh doanh và TNXH của doanh nghiệp:
Khái niệm “đạo đức kinh doanh” và “TNXH” thường hay bị sử dụng lẫnlộn Trên thực tế, khái niệm TNXH được nhiều người sử dụng như là một
Trang 8biểu hiện của đạo đức kinh doanh Tuy nhiên, hai khái niệm này có ý nghĩahoàn toàn khác nhau
Nếu TNXH là những nghĩa vụ một doanh nghiệp hay cá nhân phải thựchiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực vàgiảm tối thiểu các tác động tiêu cực đối với xã hội thì đạo đức kinh doanh lạibao gồm những quy định và các tiêu chuẩn chỉ đạo hành vi trong thế giớikinh doanh TNXH được xem như một cam kết với xã hội trong khi đạo đứckinh doanh lại bao gồm các quy định rõ ràng về các phẩm chất đạo đức củatổ chức kinh doanh, mà chính những phẩm chất này sẽ chỉ đạo quá trình đưa
ra quyết định của những tổ chức ấy Nếu đạo đức kinh doanh liên quan đếncác nguyên tắc và quy định chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chứcthì TNXH quan tâm tới hậu quả của những quyết định của tổ chức tới xã hội.Nếu đạo đức kinh doanh thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từbên trong thì TNXH thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát từ bênngoài
Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và TNXH của doanh nghiệp: Đạo đức và TNXH là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh.Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đứcvà TNXH là trọng tâm của các hoạt động kinh doanh Sự tồn vong củadoanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịchvụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp.Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấytác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức Đạo đức kinh doanh, trongchiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanhnghiệp
Xem đạo đức và TNXH là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh,các doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việcthực hiện Khi đó, những vấn đề này không còn là môt gánh nặng hay điềubắt buộc mà là nguồn và cơ sở của những thành công Rất nhiều cơ hội vàlợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và TNXH là trọngtâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc tôn trọng đạo đức và TNXH của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi íchchung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng Đây là những bộphận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Khithực hiện tốt đạo đức và TNXH, doanh nghiệp sẽ nhận được sự ủng hộ trungthành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác này Đây chínhlà điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công Ngày nay, đề làm cho kháchhàng và cộng đồng thương yêu thương hiệu của công ty, các doanh nghiệp
Trang 9ngày càng ít giới thiệu công ty qua những sản phẩm hay dịch vụ, mà chỉ giớithiệu các thành tích trong việc thực hiện đạo đức và TNXH trong kinh doanhbằng cách nêu lên những nỗ lực của công ty để trở thành ông chủ tốt, đối táctốt, công dân tốt và là người bảo vệ môi trường
HIỆN TNXH Ở VIỆT NAM
1 Tình hình chung
Trước đây, yếu tố trụ cột gắn liền với mục tiêu của mọi doanh nghiệp,không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay tư nhân, đều là yếu tố kinh tế,lợi nhuận Nhưng ngày nay, các yếu tố cấu thành lợi nhuận không chỉ là yếutố kinh tế, mà còn phải kể đến những yếu tố bên ngoài như môi trường, xãhội Trên thế giới, đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển,TNXH không còn là vấn đề xa lạ Các doanh nghiệp có thể thực hiện TNXHcủa mình bằng cách đạt được một chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộQui tắc ứng xử (Code of Conduct hay gọi tắt là CoC) Những người tiêudùng, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách và các tổ chức phi chính phủtrên toàn cầu ngày càng quan tâm hơn tới ảnh hưởng của việc toàn cầu hoáđối với quyền của người lao động, môi trường và phúc lợi cộng đồng.Những doanh nghiệp không thực hiện TNXH có thể sẽ không còn cơ hộitiếp cận thị trường quốc tế Theo đà phát triển chung, Việt Nam những nămgần đây cũng đã có sự tiếp cận ban đầu đối với khái niệm TNXH, đạt đượcmột số bước tiến quan trọng trong việc đưa sự quan tâm của công chúngcũng như của các nhà chức trách tới vấn đề này lên một mức độ cao hơn
Một cách chính thức, TNXH được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạtđộng của các công ty đa quốc gia đầu tư vào Việt Nam Các công ty nàythường xây dựng các bộ quy tắc ứng xử và chuẩn mực văn hóa kinh doanh
có tính phổ quát để có thể áp dụng trên nhiều địa bàn thị trường khác nhau
Do đó, các nội dung TNXH được các công ty nước ngoài thực hiện có bàibản và đạt hiệu quả cao Có thể lấy một số ví dụ nổi bật như chương trình
“Tôi yêu Việt Nam” của công ty Honda- VietNam; chương trình giáo dục vệsinh cá nhân cho trẻ em tại các tỉnh miền núi của công ty Unilever; chươngtrình đào tạo tin học Topic64 của Microsoft, Qualcomm và HP; chương trình
hỗ trợ phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh và ủng hộ nạn nhân vụ sập cầu Cần
Trang 10Thơ của VinaCapital, Samsung; chương trình khôi phục thị lực cho trẻ emnghèo của Western Union…
Đối với các doanh nghiệp trong nước, một khi Việt Nam đã tham giaWTO có nghĩa là chúng ta đã tham gia vào một sân chơi quốc tế Ở đó, tất cảcác vấn đề phát triển thương mại đều phải gắn liền với những "luật chơi" mànếu thành viên nào không thực hiện sẽ bị loại ra khỏi "cuộc chơi" ấy ngaylập tức Chẳng hạn muốn thâm nhập thị trường đang nhắm đến, các Doanhnghiệp Việt Nam phải đáp ứng được những yêu cầu về quan hệ lao động,môi trường, sức khoẻ, an toàn và bảo vệ môi trường Thậm chí các đối tácthương mại sẽ tẩy chay sản phẩm hàng hoá của nước thành viên nào mà DNsản xuất ra sản phẩm đó không thực hiện đúng chuẩn mực về các TNXH.Các công ty xuất khẩu có lẽ là đối tượng đầu tiên tiếp cận với TNXH Hầuhết các đơn hàng từ châu Âu- Mỹ- Nhật đều đòi hỏi các doanh nghiệp maymặc, giày dép phải áp dụng chế độ lao động tốt (tiêu chuẩn SA8000) hayđảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (đối với các xí nghiệp thủy hải sản)…Ngoài ra, nhiều công ty tư nhân trong nước cũng đã nắm bắt vấn đề này khánhạy bén Một số công ty đã chủ động thực hiện và tạo được hình ảnh tốt đốivới công chúng như các tập đoàn Mai Linh, Tân Tạo, Duy Lợi, ACB,Sacombank, Kinh Đô…
2. Các công cụ quản l ý
Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề TNXH của doanh nghiệpmới được đặt ra ở nước ta mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, người ta cũngđã nói nhiều về TNXH của các xí nghiệp đối với nhà nước và người laođộng, cũng như đối với cộng đồng nói chung Nhưng trong những năm gầnđây, TNXH được hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phương diện đạođức, mà cả từ phương diện pháp lý Những tác hại về môi trường do một sốdoanh nghiệp gây ra trong thời gian qua không những bị dư luận lên án vềphương diện đạo đức, mà quan trọng hơn là cần phải được xử lý nghiêmkhắc về phương diện pháp lý Về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động,chúng ta có Bộ Luật lao động năm 1994, được sửa đổi 2 lần vào năm 2002(có nội dung thỏa ước lao động, làm thêm giờ, bảo hiểm xã hội, trợ cấp, sathải lao động) và năm 2006 (về nội dung tranh chấp lao động và đình công).Trong lĩnh vực môi trường, hoạt động thực hiện TNXH ở nước ta có bướctiến lớn sau khi Luật bảo vệ môi trường năm 2005 được ban hành thay thếcho luật cũ năm 1994 hầu như không có hiệu lực Tiếp theo, một loạt nghịđịnh đã được ban hành kịp thời để hướng dẫn luật, đưa nội dung bảo vệ môitrường vào thủ tục đầu tư, thể chế hóa công tác quản lý Nhà nước về vật liệu
Trang 11xây dựng, thu phí nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, chất thảirắn… Về bộ máy quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường, chúng ta có Cụcvà Chi cục bảo vệ môi trường, trực thuộc Trung ương và các địa phương.Đáng chú , sau 1 năm kể từ khi Luật được ban hành, cuối năm 2006, BộCông an đã thành lập Cục cảnh sát môi trường (C36) và Phòng cảnh sát môitrường (PC36) ở các tỉnh, thành Đến nay, cơ quan này đã điều tra và pháthiện hàng trăm vụ ô nhiễm gây tiếng vang trong dư luận Để khuyến khíchcác doanh nghiệp tự thực hiện, từ năm 2005, Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Công thươngcùng với các hiệp hội Da giày, Dệt may trao giải thưởng “TNXH của doanhnghiệp hướng tới sự phát triển bền vững” nhằm tôn vinh các doanh nghiệpthực hiện tốt TNXH của mình trong bối cảnh hội nhập
3. Một số thành công bước đầu
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, TNXHcủa doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếuđược đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ TNXH sẽ không thể tiếp cận đượcvới thị trường thế giới Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện TNXH đã thấyđược những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh Kết quả khảo sátgần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanhnghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện cácchương trình TNXH của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp nàyđã tăng 25%, năng suất lao dộng cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệuđồng/1 lao động/ năm; tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng từ 94% lên 97% Bên cạnhhiệu quả kinh tế, các doanh nghiệp còn củng cố được uy tín với khách hàng,tạo được sự gắn bó và hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp, thuhút được lực lượng lao động có chuyên môn cao Do nhận thức được tầmquan trọng và ích lợi của việc thực hiện TNXH trong điều kiện toàn cầu hóavà hội nhập quốc tế, một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam, ngoài tráchnhiệm đóng thuế cho Nhà nước, đã đăng ký thực hiện TNXH dưới dạng cáccam kết đối với xã hội trong việc bảo vệ môi trường, với cộng đồng địaphương nơi doanh nghiệp đóng và với người lao động
4 Những tồn tại còn nổi cộm, nguyên nhân và giải pháp khắc phục
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, vấn đề TNXH tại Việt Namcòn khá nhiều bất cập Nhận thức của người dân về TNXH còn kém; quản lýnhà nước lỏng lẻo; văn bản pháp luật không sát thực tế (như số tiền phạt quá