Đạo đức và trách nhiệm xã hội không chỉ là những vấn đề gây tốn kém và bó buộc màcòn có thể là những cơ hội tiềm tàng trong kinh doanh cho những ai nhận ra và đón bắt được.Xem đạo đức và
Trang 1Tiểu luận Đạo đức và trách nhiệm xã
hội trong kinh doanh
Trang 2A.MỞ ĐẦU
Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinhdoanh Nhưng thực tế lại cho thấy rằng những vấn đề này chưa được doanh nghiệp chú ý.Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằngnhững luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt Bài viết này muốn thuyết phục rằng việcthực hiện trách nhiệm xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích mang tính chiến lược cho các doanhnghiệp Đạo đức và trách nhiệm xã hội không chỉ là những vấn đề gây tốn kém và bó buộc màcòn có thể là những cơ hội tiềm tàng trong kinh doanh cho những ai nhận ra và đón bắt được.Xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, cácdoanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc thực hiện Khi đó,những vấn đề này không còn là một gánh nặng hay điều bắt buộc mà là nguồn và cơ sở củanhững thành công
Trong thời đại ngày nay, do sự phát triển ngày càng cao của nhận thức con người vềnhững hậu quả khó lường của các tiến bộ kỹ thuật cũng như kinh tế, nhất là sau những thảmhọa về môi trường do nền công nghiệp gây ra trong vài thập niên gần đây, các nhà doanhnghiệp ngày càng bị áp lực khi buộc phải giải trình và thuyết minh về các phương pháp sảnxuất mà mình sử dụng, cũng như về cứu cánh của các hoạt động mình Người tiêu dùng ngàynay đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải có “ý thức trách nhiệm công dân” nhiều hơn Chính vìthế, gần đây người ta không chỉ nói tới “đạo đức kinh doanh”, mà còn đề cập thêm khái niệm
“đạo đức quản trị” (management ethics) hiểu theo nghĩa là một nền đạo đức nằm ngay trongbản thân tổ chức của doanh nghiệp, trong việc quản lý các mối quan hệ nội bộ cũng như quan
hệ với cộng đồng và môi trường sinh thái ở bên ngoài
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh, bởi nómang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định thương hiệu doanh nghiệptrong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh nghiệp Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpđóng vai trò người kiến tạo lòng trung thành nơi khách hàng bằng những giá trị đạo đức rất
"phong cách", và nó sẽ đánh bóng tên tuổi của doanh nghiệp, khẳng định thương hiệu và gâyđược thiện cảm trong lòng dân chúng, họ sẽ bán hàng nhiều hơn gấp nhiều lần
Khẳng đinh thương hiệu
Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thếcạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, thì "niềm tin càng trở nên cần thiết Đạo đức kinh doanh
và trách nhiệm xã hội trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu thật sự mạnh Điều
Trang 3này đồng nghĩa với việc có được sự sâu đậm trong việc "chia sẻ tâm trí" với người tiêu dùngsong hành với sự "chiếm lĩnh thị phần"!
I ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
I.1 Khái niệm đạo đức kinh doanh
- Khái niệm: Đạo đức kinh doanh được hiểu là những chuẩn mực, nguyên tắc được
xã hội cũng như giới kinh doanh thừa nhận, là những quy định về hành vi, quan hệ nghềnghiệp giữa các nhà quản trị với nhau, hay giữa các nhà quản trị với xã hội trong quá trìnhtiến hành các hoạt động kinh doanh, giúp cho các nhà quản trị xử sự một cách trung thực và
có trách nhiệm với cộng đồng và với nhau
I.2 Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh
Tính trung thực
Sự trung thực là một trong những chuẩn mực đạo đức kinh doanh Tronh kinh doanhkhông những phải trung thực ở những việc lớn, mà còn phải trung thực cả trong những việcnhỏ nhất Câu tục ngữ Việt Nam “một sự bất tín, vạn sự bất tin”, muốn nhắn gửi tới các nhàquản trị không nên “tham bát bỏ mâm”, vì những món lợi nhỏ trước mắt của riêng mình màquên đi lợi ích của người khác, để rồi làm mất đi uy tín và sự tin cậy của cộng đồng đối vớicông việc làm ăn lâu dài Thứ nhất, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng Thứ hai,cải thiện ngày một tốt hơn tình hình nội bộ hãng bằng cách gia tăng tinh thần trách nhiệm vàlợi ích của các nhân viên, giảm biến động đội ngũ cán bộ, tăng năng suất lao động Thứ ba,đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất Cuối cùng, xử lý một cách bàibản những việc liên quan tới cổ phiếu và tài chính - chỉ có ứng xử thật đàng hoàng với luậtpháp thì mới có thể tạo dựng tương lai lâu dài và bền chắc cho hãng
Tôn trọng
- Đối với những người cộng sự và dưới quyền, nhà quản trị cần tôn trọng phẩm giá,quyền lợi chính đáng, tôn trọng hạnh phúc, tôn trọng tiềm năng phát triển của nhân viên, quantâm đúng mức, tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác
-Đối với khách hàng: Tôn trọng nhu cầu, sở thích và tâm lý khách hàng Đối với đốithủ cạnh tranh, tôn trọng lợi ích của đối thủ
-Gắn lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của khách hàng và xã hội, coi trọng hiệu quảgắn với trách nhiệm xã hội
-Bí mật và trung thành với các trách nhiệm đặc biệt
Các thương hiệu nổi tiếng thường là những thương hiệu của các nhà quản trị biết tôntrọng đạo đức kinh doanh
Giá trị và sự công bằng
Trang 4-Trong mối quan hệ kinh doanh, sự khác biệt quan trọng giữa một quyết định quản trịthông thường với một quyết định hướng đạo đức thể hiện một mặt ở chỗ những thông lệkhông còn được coi là cơ sở ra quyết định, mà người ra quyết định phải gánh vác trách nhiệmcân nhắc về giá trị và đảm bảo sự công bằng trong những hoàn cảnh không giống bất kỳtrường hợp nào đã gặp trước đó; mặt khác nhấn mạnh vào giá trị con người (giá trị tinh thần)khi ra quyết định Vì vậy quan điểm về giá trị và triết lý đạo đức về sự công bằng luôn đóngvai trò cực kì quan trong trong các quyết định liên quan đến đạo đức
1.3 Ý nghĩa của việc thực hiện tốt đạo đức kinh doanh
*) Đạo đức trong kinh doanh góp phần điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh.
Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi kinhdoanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã hội Không mộtpháp luật nào, dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng có thể là chuẩn mực cho mọi hành vicủa đạo đức kinh doanh Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việckhuyến khích mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của doanh nhân Bởi vì phạm
vi ảnh hưởng của đạo đức rộng hơn pháp luật, nó bao quát mọi lĩnh vực của thế giới tinh thần,trong khi pháp luật chỉ điều chỉnh những hành vi liên quan đến chế độ nhà nước, chế độ xãhội Mặt khác, pháp luật càng đầy đủ, chặt chẽ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đứccàng được đề cao, càng hạn chế được sự kiếm lời phi pháp Tham nhũng, buôn lậu, trốn thuế,gian lận thương mại khi bị phát hiện sẽ bị pháp luật điều chỉnh, lúc này “hiện tượng kiệntụng buộc người ta phải cư xử có đạo đức”
Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ do chất lượng của bản thân các sản phẩmdịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu do phong cách kinh doanh của doanh nghiệp Hành vi kinhdoanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến sự thànhbại của tổ chức Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lượctrong việc phát triển doanh nghiệp Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ
Ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “gieo tư tưởng gặthành vi, gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”
*) Đạo đức kinh doanh góp phần vào chất lượng của doanh nghiệp.
Phần thưởng cho một doanh nghiệp có quan tâm đến đạo đức là được các nhân viên,khách hàng và công luận công nhận là có đạo đức Phần thưởng cho trách nhiệm đạo đức vàtrách nhiệm xã hội trong các quyết định kinh doanh bao gồm hiệu quả trong các hoạt độnghàng ngày tăng cao, sự tận tâm của các nhân viên, chất lượng sản phẩm được cải thiện, đưa raquyết định đúng đắn hơn, sự trung thành của khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn Các tổchức phát triển được một môi trường trung thực và công bằng sẽ gây dựng được nguồn lực
Trang 5Các tổ chức được xem là có đạo đức thường có nền tảng là các khách hàng trung thànhcũng như đội ngũ nhân viên vững mạnh, bởi sự tin tưởng và phụ thuộc lẫn nhau trong mốiquan hệ Nếu các nhân viên hài lòng thì khách hàng sẽ hài lòng; và nếu khách hàng hài lòngthì các nhà đầu tư sẽ hài lòng Các khách hàng có xu hướng thích mua hàng của các doanhnghiệp liêm chính hơn, đặc biệt là khi giá cả của doanh nghiệp đó cũng bằng với giá của cácdoanh nghiệp đối thủ Khi các nhân viên cho rằng tổ chức của mình có một môi trường đạođức, họ sẽ tận tâm hơn và hài lòng với công việc của mình hơn Các doanh nghiệp cung ứngthường muốn làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp mà họ tin tưởng để qua hợp tác họ có thểxóa bỏ được sự không hiệu quả, các chi phí và những nguy cơ để có thể làm hài lòng kháchhàng Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội và uy tín củacác doanh nghiệp mà họ đầu tư, và các doanh nghiệp quản lý tài sản có thể giúp các nhà đầu
tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp có đạo đức
Hầu hết các doanh nghiệp đáng ngưỡng mộ nhất trên thế giới đều chú trọng vàophương pháp làm việc theo nhóm, quan tâm nhiều đến khách hàng, đề cao việc đối xử côngbằng với nhân viên, và thưởng cho các thành tích tốt
*) Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự cam kết và tận tâm của nhân viên.
Sự tận tâm của nhân viên xuất phát từ việc các nhân viên tin rằng tương lai của họ gắnliền với tương lai của doanh nghiệp và chính vì thế họ sẵn sàng hy sinh cá nhân vì tổ chức củamình Môi trường đạo đức của doanh nghiệp rất quan trọng đối với các nhân viên Đa số nhânviên tin rằng, hình ảnh của một doanh nghiệp đối với cộng đồng là vô cùng quan trọng Sựcam kết làm các điều thiện, quan tâm đến nhân viên và tôn trọng nhân viên thường tăng sự tậntâm, trung thành của nhân viên đối với tổ chức và sự ủng hộ của họ với các mục tiêu của tổchức Các vấn đề có ảnh hưởng đến sự phát triển của một môi trường đạo đức cho nhân viênbao gồm một môi trường lao động an toàn, thù lao thích đáng, và thực hiện đầy đủ các tráchnhiệm được ghi trong hợp đồng với tất cả các nhân viên Các chương trình cải thiện môitrường đạo đức có thể là chương trình “gia đình và công việc” hoặc chia/bán cổ phần chonhân viên
*) Đạo đức kinh doanh góp phần làm hài lòng khách hàng.
Các nghiên cứu và kinh nghiệm hiện thời của nhiều quốc gia cho thấy mối quan hệchặt chẽ giữa hành vi có đạo đức và sự hài lòng của khách hàng Các hành vi vô đạo đức cóthể làm giảm lòng trung thành của khách hàng và khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng củacác doanh nghiệp Các khách hàng thích mua sản phẩm của các doanh nghiệp có danh tiếngtốt, quan tâm đến khách hàng và xã hội Khách hàng nói rằng họ ưu tiên những thương hiệunào làm điều thiện nếu giá cả và chất lượng các thương hiệu như nhau Các doanh nghiệp cóđạo đức luôn đối xử với khách hàng công bằng và liên tục cải tiến chất lượng sản phẩm, cũng
Trang 6như cung cấp cho khách hàng các thông tin dễ tiếp cận và dễ hiểu, sẽ có lợi thế cạnh tranh tốthơn và dành được nhiều lợi nhuận hơn Điểm mấu chốt ở đây là chi phí để phát triển một môitrường đạo đức có thể có một phần thưởng là sự trung thành của khách hàng ngày càng tăng.
*) Đạo đức kinh doanh góp phần tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Những doanh nghiệp cam kết thực hiện các hành vi đạo đức và chú trọng đến việctuân thủ các quy định đạo đức nghề nghiệp thường đạt được thành công lớn về mặt tài chính
Sự quan tâm đến đạo đức đang trở thành một bộ phận trong các kế hoạch chiến lược của cácdoanh nghiệp, đây không còn là một chương trình do các chính phủ yêu cầu mà đạo đức đangdần trở thành một vấn đề quản lý trong nỗ lực để dành lợi thế cạnh tranh
*) Đạo đức kinh doanh góp phần vào sự vững mạnh của nền kinh tế quốc gia.
Các thể chế xã hội, đặc biệt là các thể chế thúc đẩy tính trung thực, là yếu tố vô cùngquan trọng để phát triển sự phồn vinh về kinh tế của một xã hội Các nước phát triển ngàycàng trở nên giàu có hơn vì có một hệ thống các thể chế, bao gồm đạo đức kinh doanh, đểkhuyến khích năng suất Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, cơ hội phát triển kinh tế
và xã hội bị hạn chế bởi độc quyền, tham nhũng, hạn chế tiến bộ cá nhân cũng như phúc lợi
xã hội
1.4 Thực trạng đạo đức kinh doanh ở Việt Nam
Đạo đức kinh doanh là một vấn đề mới ở nước ta Các vấn đề như đạo đức kinh doanh,văn hoa kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp mới chỉ nổi lên khi VN thực hiện chính sách đổimới và tham gia vào quá trình quốc tế hóa và toàn cầu hóa vào năm 1991 Trước đó, trong thờikinh tế kế hoạch tập trung những vấn đề này chưa bao giờ được nhắc tới mọi hoạt động trong xãhội đều phải tuân thủ quy định của nhà nước nân những phạm tù trên là không cần thiết
Tuy nhiên, kể từ khi VN tham gia quốc tế hóa, có nhiều phạm trù mới được xuất hiệnnhư: quyền sở hữu trí tuệ, an toàn thực phẩm, đình công, thị trường chứng khoán và vì thếkhái niệm đọ đức kinh doanh trỏ nên phổ biến hơn trong xã hội
Sự phát triển của kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo tiền đề cho việc sảnxuất ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội, mở rộng và đa dạng hoá các mặt hàng và dịch vụ.Việc Việt Nam trở thành thành viên WTO tạo điều kiện tham gia thị trường toàn cầu sẽ làđộng lực cho các Doanh nghiệp phấn đấu nhiều hơn nữa để tồn tại và phát triển, người tiêudùng có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn hàng hoá, dịch vụ Bên cạnh những Doanhnghiệp sản xuất, kinh doanh bền vững, quan tâm và giữ giá thương hiệu của mình, Doanhnhân vừa có Tâm vừa có Tài thì không ít các Doanh nghiệp hiện nay chỉ nhìn thấy cái lợitrước mắt, sản xuất ở dạng “chộp giật” thậm chí làm giả nhãn, mác, giảm chất lượng lừa dốingười tiêu dùng
Trang 7Tình trạng thực phẩm mất an toàn thường phổ biến trên thị trường gây hoang mang, lolắng cho người tiêu dùng, người tiêu dùng không biết ăn gì, uống gì? Khá phổ biến hiện nay,tình trạng dụng cụ đo không được kiểm định, taximét bị phá niêm chì để chỉnh lại đồng hồ,cột đo nhiệt liệu gắn thêm thiết bị điều chỉnh dung tích xăng, diezen có thể một bộ phận nhỏcác Doanh nghiệp không thấy tác hại việc làm của mình, song đa số các Doanh nghiệp này đãmất hết “đạo đức” Quyền và lợi ích người tiêu dùng đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng.
II Trách nhiệm xã hội
2.1 Khái niệm trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được hiểu là sự cam kết của doanh nghiệp đónggóp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đờisống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, theo cách đó có lợi cho doanhnghiệp, cũng như sự phát triển chung của xã hội
2.2 Các quan niệm về trách nhiệm xã hội:
- Quan niệm thứ nhất:
• Chỉ có một trách nhiệm duy nhất, đó là giải quyết các vấn đề nguồn lực và năng lựchoạt động của tổ chức để nâng cao hiệu quả hoạt động, hay là đạt được các mục tiêu mà nhàquản trị mong muốn đạt được trong phạm vi giới hạn của pháp luật cho phép
• Lợi ích xã hội được đảm bảo một cách tốt nhất gián tiếp qua hoạt động kinh tế, cụthể là qua việc thu lợi ích và sử dụng (phân phối) lợi ích của tổ chức
- Quan niệm thứ hai:
• Trách nhiệm xã hội được thực hiện không phải chỉ bằng kinh tế, mà phải bằng hàngloạt các yếu tố ngoài kinh tế
• Quan điểm này coi trách nhiệm xã hội là sự thừa nhận một nghĩa vụ xã hộinằm ngoài phạm vi yêu cầu của luật pháp
*) Tổng hợp cả hai quan niệm trên, có thể rút ra kết luận sau đây:
- Các tổ chức hoạt động trong nền kinh tế thì phải cân bằng giữa lợi ích kinh tế và lợiích xã hội
- Các tổ chức phải thực hiện trách nhiệm xã hội trong các lĩnh vực như:
• Bảo vệ môi trường sinh thái
• Bảo vệ sức khỏe con người
• An ninh, an toàn
• Quyền công dân
• Bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Trang 8Như vậy, các nhà quản trị sẽ thực hiện trách nhiệm xã hội của bản thân mình và của tổchức theo đòi hỏi, yêu cầu của pháp luật, trách nhiệm công dân, theo các chuẩn mực của đạođức xã hội, theo tiếng gọi của lương tâm và theo truyền thống lịch sử văn hoá của dân tộc
- Có 2 mức thực hiện trách nhiệm xã hội:
+ Tuân thủ quy định, luật pháp của nhà nước (bắt buộc)
+ Thực thi một cách tự nguyện
2.3 Các lý do phải thực hiện trách nhiệm xã hội:
• Mỗi tổ chức là một bộ phận, là tế bào của một xã hội rộng lớn hơn Giữa các bộphận, tế bào, các yếu tố của một tổng thể có tác động qua lại lẫn nhau
• Việc thực hiện trách nhiệm xã hội giúp nhà quản trị phát hiện và nắm bắt các thời cơ,
cơ hội khi nó vừa mới xuất hiện, đồng thời phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro bất trắc xảy ratrong quá trình quản trị • Thực hiện trách nhiệm xã hội là vì chính quyền lợi của tổ chức nóichung và của nhà quản trị nói riêng
- Những khó khăn của nhà quản trị khi thực hiện trách nhiệm xã hội:
• Ảnh hưởng đến tình hình tài chính của tổ chức
• Các nhà quản trị thiếu năng lực hiểu biết xã hội để giải quyết những vấn đề xã hội
• Làm phân tán và lỏng lẻo các mục tiêu chủ yếu của tổ chức nói chung và của nhà quản trị nói riêng
• Việc tham gia thực hiện trách nhiệm xã hội của nhà quản trị có thể không nhận được
sự ủng hộ và chấp nhận của dư luận xã hội vì những lý do khác nhau
- Tư tưởng cơ bản của vấn đề trách nhiệm xã hội là nhà quản trị phải lựa chọn cho mình một hệ thống ứng xử chiến lược và ứng xử tình thế để có thể:
+ Được môi trường chấp nhận
+ Đón được các cơ hội và hạn chế các rủi ro,
+ Tạo ra các cơ hội từ sự biến động của môi trường
2.4 Một số vấn đề nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp có ý thức thực hiện trách nhiệm xã hội
Thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam là sự cần thiết kháchquan trong quá trình hội nhập; tuy nhiên trên thực tế nhiều khi sự nhận thức và vận dụng rấtkhác nhau Bởi vậy, để các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mìnhcần thiết phải có nhận thức đúng và lưu ý các điểm sau:
Một là, cần khẳng định rằng các bộ quy tắc ứng xử không thể thay thế và đứng trên
luật quốc gia Phần lớn các nội dung của bộ quy tắc ứng xử dựa trên các công ước là thông lệquốc tế và luật quốc gia Do vậy việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử ở bất cứ quốc gia nào
Trang 9phải phù hợp với luật quốc gia và hỗ trợ việc thực hiện luật quốc gia, vấn đề quan trọng là đưa
ra cách thức quản lý, theo dõi, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện những quy định này
Hai là, việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử là tự nguyện, hoàn toàn không mang tính bắt buộc Ba là, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được quy định trong các bộ quy tắc ứng
xử được hiểu là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với toàn xã hội thông qua sản phẩm củamình
Bốn là, việc thực hiện các quy định thể hiện trách nhiệm xã hội trong các bộ quy tắc
ứng xử là một khoản chi phí mang tính chất đầu tư của doanh nghiệp, được thực hiện trước vàtrong khi làm ra sản phẩm, chứ không phải là một đóng góp của doanh nghiệp mang tính chấtnhân đạo, từ thiện
Năm là, nếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và bộ quy tắc ứng xử được hiểu
đúng và thực hiện đúng, phù hợp với luật pháp quốc gia thì việc thực hiện trách nhiệm xã hộichính là một việc làm mà các bên đều có lợi
*) Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam là một công việc khôngthể bỏ qua trên con đường hội nhập, vừa lợi ích cho doanh nghiệp, vừa lợi ích cho xã hội, đặcbiệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốthơn Luật pháp Lao động tại Việt Nam, cũng là nội dung quan trọng trong xây dựng văn hoádoanh nghiệp trong nền kinh tế hiện đại Để định hướng và tạo điều kiện cho doanh nghiệp
thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của mình, cần phải thực hiện một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, cần tăng cường thông tin, tuyên truyền để mọi người hiểu đúng bản chất của
vấn đề “trách nhiệm xã hội” và các bộ quy tắc ứng xử, nhất là trong các doanh nghiệp, cácnhà quản lý, hoạch định chính sách vĩ mô
Thứ hai, cần có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp đã thực
hiện và sẽ thực hiện các bộ quy tắc ứng xử, để phát hiện những thuận lợi cũng như các ràocản, khó khăn, thách thức, từ đó khuyến nghị các giải pháp xúc tiến thực hiện trong thời giantới Có thể thấy, trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các bộ quy tắc ứng xử, cácdoanh nghiệp phải chi phí khá lớn cho đầu tư để cải thiện các điều kiện vệ sinh lao động vàmôi trường Trong điều kiện cạnh tranh, nhiều doanh nghiệp không thể trang trải nổi nhữngkhoản chi này, bởi vậy có thể nhà nước phải hỗ trợ cho vay từ quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ xúctiến thương mại… với một chính sách ưu tiên, ưu đãi
Thứ ba, hình thành kênh thông tin về trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp, nhất là
cung cấp các thông tin cập nhật về các bộ quy tắc ứng xử; tư vấn cho các doanh nghiệp trongquá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các Bộ quy tắc ứng xử… Ở đây vai trò của các hiệphội nghề nghiệp (Hội dệt may, Hội giày da, Hội xuất khẩu thuỷ sản…) của Hội Công Thương,Văn phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Bộ, ngành là rất lớn./
Trang 102.5 Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trên thực tế, ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù là vấn
đề mới mẻ, nhưng bước đầu đã được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý Hiện nay, nhiềudoanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã trởthành một trong những yêu cầu không thể thiếu được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bốicảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hộicủa doanh nghiệp sẽ không thể tiếp cận được với thị trường thế giới Nhiều doanh nghiệp khithực hiện trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh doanh.Kết quả khảo sát gần đây do Viện Khoa học lao động và xã hội tiến hành trên 24 doanhnghiệp thuộc hai ngành Giầy da và Dệt may cho thấy, nhờ thực hiện các chương trình tráchnhiệm xã hội của doanh nghiệp, doanh thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%, năng suấtlao động cũng tăng từ 34,2 triệu đồng lên 35,8 triệu đồng/1 lao động/năm; tỷ lệ hàng xuấtkhẩu tăng từ 94% lên 97%
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt Nam, nhiềudoanh nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình Điều đóthể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tài chính, không bảo đảm an toànlao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường Điển hình
là các vụ xả nước thải không qua xử lý gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các dòngsông và cộng đồng dân cư của các Công ty Miwon, Công ty thuộc da Hào Dương, Công tyGiấy Việt Trì, công ty Hyundai Vinashin (Khánh Hòa), các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất
có hại cho sức khỏe con người, như nước tương có chứa chất 3-MCPD gây ung thư, bánh phởchứa phormol, thực phẩm chứa hàn the, sữa có chứa melamine Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp
vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn lao động chongười lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã hội
III: Mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và đạo đức kinh doanh.
[*] Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội có mỗi liên hệ mật thiết với nhau, vìvậy kinh doanh có đạo đức là một phần trách nhiệm xã hội của các nhà quản trị
- Trong thực tế khái niệm trách nhiệm xã hội được nhiều người sử dụng đồng nghĩavới đạo đức kinh doanh Tuy nhiên giữa chúng có sự phân biệt:
+ Trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ mà một doanh nghiệp hay cá nhân nhà quảntrị phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác độngt ích cực và giảmthiếu các tác động tiêu cực đối với xã hội đó là sự cam kết của doanh nghiệp hay nhà quản trịđối với xã hội Trách nhiệm xã hội quan tâm đến tác động của các quyết định về mặt tổ chứcđối với xã hội