1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy

134 3,7K 32
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy
Tác giả Mai Thị Thủy Tiên
Người hướng dẫn PGS. TS. Phùng Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề tài về : Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

_

Mai Thị Thủy Tiên

THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT THƠ

NGUYỄN DUY

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số : 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh - 2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể Thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, phòng Khoa học- Công nghệ sau đại học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-TS.Phùng Quý Nhâm, người Thầy đã tận tâm, chu đáo trong hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin được cảm ơn nhà thơ Nguyễn Duy và gia đình, đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu quý giá cho luận văn

Và tôi cũng xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã khích lệ, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2009

Người thực hiện luận văn

Mai Thị Thủy Tiên

Trang 3

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm chiến đấu chống Mỹ xuất hiện lớp nhà thơ mặc áo lính, tuổi đời còn rất trẻ Như nhiều thanh niên thời bấy giờ, theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ lên đường nhập ngũ Trong số đó có Nguyễn Duy Ông tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 tại Đông Vệ, Thanh Hóa Nguyễn Duy từng tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường Khe Sanh, Đường Chín, Nam Lào, rồi sau này là mặt trận phía Nam, mặt trận phía Bắc (1979) Nguyễn Duy làm thơ khá sớm nhưng đến năm

1973, ông mới được độc giả biết đến với chùm thơ đoạt giải nhất cuộc thi thơ của

tuần báo Văn nghệ: “Tre Việt Nam, Bầu trời vuông, Hơi ấm ổ rơm” Từ đó Nguyễn

Duy đã xuất bản nhiều tập thơ sáng giá trong tiến trình thơ đương đại Việt Nam: Cát

trắng (1973), Phóng sự 30-4-1975 (1981), Ánh trăng (1984) đã đưa ông lên vị trí là

một trong những nhà thơ “đem lại vinh quang cho cả thế hệ thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ” (Trần Đăng Suyền) [117, tr.92], góp phần “in đậm dấu ấn của thời đại” (Lưu Khánh Thơ) [5, tr.4]

Sau 1975, thơ Việt Nam trải qua một giai đoạn chững lại, tìm đường Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Duy vẫn “bền bỉ kiên trì trong quá trình sáng tạo, cố gắng đi sâu vào mọi khía cạnh của hiện thực đời sống, hiện thực tâm trạng” (Lưu Khánh

Thơ)[5, tr.4] Với các tập thơ: Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng(1987), Đường xa (1989), Quà tặng (1990), Về (1994), Vợ ơi (1995) cùng tuyển tập Thơ Nguyễn Duy

Sáu & Tám, Nguyễn Duy đã thuộc “lực lượng đi tiên phong” (Trần Nhuận Minh) [4,

tr.4] trong thời kì Đổi Mới với nhiều “chuyển đổi trong phương thức chiếm lĩnh hiện thực, trong các quan niệm mới về nghệ thuật, trong thế giới nghệ thuật có phần mới

mẻ, khác lạ về con người, trong ý thức mới đối với tư cách chủ thể của nhà văn”(Phong Lê) [71, tr.344]

Thơ Nguyễn Duy đã được chọn đưa vào chương trình giảng văn ở bậc phổ thông, giới thiệu ra nước ngoài, đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá, công bố trên các báo chuyên ngành, được công chúng yêu thơ đọc và bình phẩm Tuy nhiên, ngoài những bài viết đó và một vài luận văn cử nhân, vẫn chưa có

những công trình nghiên cứu toàn diện về thơ ông Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Thế

Trang 4

giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy trên cơ sở tiếp thu, kế thừa có chọn lọc công trình

nghiên cứu của những người đi trước để nhằm góp thêm một cái nhìn khái quát về sự

nghiệp thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy

2 Giới hạn đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đặt Nguyễn Duy trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại, từ việc khảo sát nghiên cứu văn bản thơ, tìm hiểu hành trình sáng tạo của nhà thơ, chúng tôi hướng tới xác định cảm hứng chủ đạo và đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Duy về: ngôn ngữ, giọng điệu, đặc biệt là thể thơ lục bát Từ đó khẳng định những đóng góp của ông - một tác giả có vị trí đáng kể trong đời sống thơ ca Việt Nam từ năm 1970 đến nay

“Đánh giá một tác giả văn học, cần xem tác giả ấy đã kế thừa được những gì trong truyền thống văn học quá khứ, của những người đi trước Và phải xem họ đã đem lại một cái gì mới: một mảng hiện thực, một cách nhìn cuộc sống, một giọng văn, những đổi mới về thể loại” [74,tr.717] Vì vậy, trong điều kiện và chừng mực nhất định, chúng tôi đối sánh thơ Nguyễn Duy với thơ của một số tác giả trước hoặc cùng thời như: Nguyễn Bính, Bùi Giáng, Hữu Thỉnh để từ đó rút ra những nét riêng biệt ở thơ ông

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Nguyễn Duy sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như: thơ, tiểu thuyết, bút kí, phóng sự, kịch thơ và sáng tác các loại lịch thơ, tranh thơ nhưng với đề tài này, luận

văn chỉ tập trung nghiên cứu thơ trữ tình của Nguyễn Duy Cụ thể ở các tập thơ: Cát

trắng (1973), Phóng sự 30-4-1975 (1981), Ánh trăng (1984), Mẹ và em (1987), Đãi cát tìm vàng (1987), Đường xa (1989), Về (1994), Thơ Nguyễn Duy Sáu & Tám

(1994), Vợ ơi (1995), Bụi (1997), Tuyển tập thơ Nguyễn Duy (bản thảo do tác giả

cung cấp)

Bên cạnh việc khảo sát các tác phẩm trên, chúng tôi còn tiếp thu một cách chọn lọc những nhận định đánh giá của các công trình nghiên cứu đã có và những ý kiến của chính tác giả để đảm bảo tính khoa học, tính khách quan cho luận văn

3 Lịch sử vấn đề

Xuất hiện trên thi đàn Việt Nam từ những năm bảy mươi, Nguyễn Duy đã tạo

Trang 5

ấn tượng nơi người đọc về một giọng thơ nhiều triển vọng Có thể nói người có công phát hiện và giới thiệu thơ Nguyễn Duy đầu tiên là Hoài Thanh Trải qua hơn một phần tư thế kỷ, đã có nhiều nhà phê bình, nghiên cứu nhận xét, đánh giá thơ Nguyễn

Duy, có thể chia làm bốn nhóm: Một là loại bài tìm hiểu những bài thơ, tập thơ tiêu biểu Hai là, loại bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy Ba là, những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của chính nhà thơ về tác phẩm của mình Bốn là, một số luận

văn cử nhân nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã đi vào tìm hiểu nội dung và nghệ thuật thơ Nguyễn Duy ở những phương diện và mức

độ khác nhau Trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ hệ thống những ý kiến nổi bật, những nhận định quan trọng liên quan đến cảm hứng chủ đạo và đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Duy

Để hình dung cụ thể, trong phần lịch sử vấn đề, chúng tôi phân chia ra các nhóm ý kiến sau:

3.1 Hướng tiếp cận về nội dung

Trong những bài nghiên cứu đánh giá, thẩm bình về thơ Nguyễn Duy, nhiều tác giả đã có những phát hiện về nét riêng độc đáo đối với từng tác phẩm của ông Cụ

thể trong Hơi ấm ổ rơm, Vũ Quần Phương cho là “tấm lòng thơm thảo, nhường cơm

xẻ áo của nhân dân ta” [99, tr.154] Trong Đò Lèn, Trịnh Thanh Sơn cho là “những

thước phim quay chậm” về nỗi gian truân của người bà, khiến độc giả “chỉ đọc thôi

đã muốn trào nước mắt”)[112, tr.14]; Đỗ Lai Thúy thì cho là sự “giải cổ tích hóa”, là

“cốt cách hiện đại” [138 ,tr 379-384] Trong Ánh trăng, Nguyễn Bùi Vợi đã cảm

“nỗi ăn năn nhân bản, thức tỉnh tâm linh, làm đẹp con người” [148, tr.7] Ngồi buồn

nhớ mẹ ta xưa, Đặng Hiển cho là “đã động thấu đến những tình cảm thiêng liêng

nhất, sâu xa nhất và thân thương nhất của chúng ta - tình cảm đối với mẹ” [49, tr.34]

Còn Lê Trí Viễn khi nói về bài Tre Việt Nam đã khẳng định đó là những biểu hiện

của “phẩm chất con người” [147, tr.289] Những bài nghiên cứu ấy đã chỉ ra cảm

hứng trong thơ Nguyễn Duy xuất phát từ sự trân trọng, yêu thương, phát hiện ra vẻ

Trang 6

đẹp của con người Việt Nam trong những hoàn cảnh khó khăn, gian khổ đặc biệt là những gian khổ thấm đẫm máu, mồ hôi, nước mắt của người dân

Tập thơ của Nguyễn Duy được nhiều nhà phê bình chú ý là Ánh trăng- tác

phẩm được nhận giải thưởng của Hội nhà văn 1984 Nhận xét về nội dung tập thơ

này, Từ Sơn viết: “Tám mươi bài thơ chọn in trong hai tập Cát trắng và Ánh trăng

chiếm số lượng lớn vẫn là những bài thơ viết về người lính, về những điều đã cảm nhận trên các nẻo đường chiến tranh Nguyễn Duy đã đi nhiều nơi, đã tiếp xúc với nhiều người Bao giờ anh cũng dành những tình cảm tốt đẹp nhất của mình cho đồng đội và cho những người dân bình thường” [116, tr.2] Cùng ý kiến đó, Lê Quang

Hưng cũng rất sâu sắc khi nhận định: Tiếng nói của Nguyễn Duy trong Ánh trăng

“trước tiên vẫn là tiếng nói của một người lính, tiếng nói tìm đến những người lính-

những đồng đội để sẻ chia, trò chuyện Đúng như Nguyễn Duy tâm sự: anh luôn cảm thấy mình mắc nợ cuộc sống, mắc nợ những đồng đội Các cảm giác đáng quí cũng

là cái ý thức trách nhiệm ấy đã thôi thúc anh, nâng giúp anh viết ngày một nhiều, ngày một hay hơn về những người chiến sĩ” [58, tr.156] Trên cơ sở đó, Lê Quang

Hưng rút ra sự hấp dẫn của tập thơ: “Ánh trăng được nhiều bạn đọc yêu thích trước

hết vì nó thực sự là một phần của một cuộc đời, là tiếng nói của một cây bút có trách nhiệm trước cuộc sống xây dựng và chiến đấu sôi động trên đất nước ta những năm qua” [58, tr.158]

Tế Hanh cũng thể hiện sự trân trọng của mình khi nhận xét về tập thơ Ánh

trăng của Nguyễn Duy Trong bài “Hoa trên đá và Ánh trăng” đăng trên báo Văn

nghệ số 15/1986, ông viết: “Đọc thơ Nguyễn Duy trước hết ta thấy anh là một người

lính đã chiến đấu ở nhiều mặt trận Hiện nay anh không phải là quân nhân nhưng những câu thơ anh viết về bộ đội, về cuộc đời quân nhân vẫn là những câu thơ thấm thía nhất” [40, tr.3] Dù mỗi người nhìn nhận, đánh giá tập thơ này ở những góc độ

khác nhau, nhưng nhìn chung các ý kiến trên đều thống nhất ở một điểm: cảm hứng

để Nguyễn Duy viết là từ những tâm sự và trải nghiệm của chính bản thân nhà thơ- một người lính đã từng trải qua những địa danh trận mạc cũng là những địa danh của thi ca, một công dân có trách nhiệm sâu sắc đối với cuộc đời

Trang 7

Trong các bài nghiên cứu khái quát thơ Nguyễn Duy của Hoài Thanh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thụy Kha, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Quang Sáng, Chu Văn Sơn, Vũ Văn Sỹ, Nguyễn Trọng Tạo, Đỗ Minh Tuấn, Phạm Thu Yến, các tác giả đều

có khuynh hướng đi sâu tìm hiểu những nội dung cơ bản trong thơ Nguyễn Duy Các bài viết này đã khẳng định thế giới nghệ thuật trong thơ Nguyễn Duy ngay từ khi mới xuất hiện là những cảnh vật, sự việc, con người bình thường trong cuộc sống, gần gũi với nhà thơ và với mọi người Có thể nói, bài phê bình sớm nhất về thơ Nguyễn Duy

là “Đọc một số bài thơ của Nguyễn Duy” của Hoài Thanh, đăng trên Báo Văn nghệ

số 444/1972 Bài viết khẳng định: “Thơ Nguyễn Duy đưa ta về một thế giới quen

thuộc Nguyễn Duy đặc biệt thấm thía cái cao đẹp của những con người, những cuộc đời cần cù gian khổ, không tuổi không tên Đọc thơ Nguyễn Duy, thấy anh thường hay cảm xúc, suy nghĩ trước những chuyện lớn, chuyện nhỏ quanh mình ”

[129, tr.5] Cùng ý kiến đó, Lại Nguyên Ân trong bài “Tìm giọng mới thích hợp với

người thời mình” cho rằng thơ Nguyễn Duy “nhạy cảm với cái gì ít ỏi, còm nhom,

queo quắt, cộc cằn , đơn lẻ” [2, tr.11] Trong bài “Đi tìm tiềm lực trong thơ Nguyễn

Duy”, in trong phụ lục tập thơ Mẹ và em, Nguyễn Quang Sáng nêu ý kiến: “Ngoài

mảng thơ về đề tài chiến trận, thơ Nguyễn Duy chủ yếu dành cho những đề tài muôn thuở: tình yêu, con người và đất nước quê hương Trong thơ Duy có hầu hết gương mặt các miền đất với những cảnh sắc, thần thái riêng” [111, tr.91] Cũng bình về

những đặc điểm này Vũ Văn Sỹ có những nhận xét khá tinh tế: “Nguyễn Duy thường

nắm bắt những cái mong manh nhưng vững chắc trong đời: chút rưng rưng của ánh trăng, một tiếng tắc kè lạc về giữa phố, một dấu chân cua lấm tấm ruộng bùn, một kỉ niệm chập chờn nguồn cội, một mùi thơm của huệ trắng trong đền, thoáng hư thực giữa người và tiên phật Và rồi hồn thơ Nguyễn Duy neo đậu được ở đó” [124,

tr.69] Sau khi nêu những cảm nhận chung, Vũ Văn Sỹ đã mượn ngay câu thơ của

Nguyễn Duy để kết luận về cảm hứng chủ đạo trong thơ ông: “Nguyễn Duy- người

thương mến đến tận cùng chân thật” [124] Và nếu như Nguyễn Đức Thọ chỉ chú ý

một khía cạnh trong thơ Nguyễn Duy: “Có lẽ sau cụ Tú Xương, tôi chưa thấy ai ca

ngợi vợ tài như Nguyễn Duy” [135, tr.82-90] thì Nguyễn Quang Sáng, một người bạn

thân thiết với Nguyễn Duy, nêu nhận xét cụ thể hơn: “Nguyễn Duy gắn bó máu thịt

Trang 8

với đất nước mình bằng tình cảm rất cụ thể với người dân Thơ Nguyễn Duy có niềm

tự hào chính đáng về nhân dân mình, cùng với nỗi buồn thương chính đáng” [111,

tr.97] Còn nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đưa ra một nhận xét có ý nghĩa khái

quát: “Bao dung nên giàu có” [83, tr.280] Nhìn chung các ý kiến đánh giá trên đã chỉ

ra được nét riêng và độc đáo của thơ Nguyễn Duy là ông thường cảm xúc - suy nghĩ

về những điều bình dị, cụ thể của đời thường Đặc điểm này thể hiện trong thơ ông như một mạch thống nhất, xuyên suốt cả trong hoàn cảnh chiến tranh và hòa bình

Cùng tìm hiểu về nội dung thơ Nguyễn Duy, năm 2008, trong luận văn tốt

nghiệp, sinh viên Nguyễn Thị Thu Hiền với đề tài “Cái tôi nội cảm tìm về cội nguồn

trong thơ trữ tình Nguyễn Duy” đã đi sâu làm rõ một trong những khía cạnh nổi bật

của thơ trữ tình Nguyễn Duy: cảm xúc về quê hương xứ sở, điệu hồn của dân tộc, về đạo đức truyền thống và những giá trị thiêng liêng cùng nghệ thuật thể hiện cái tôi trữ tình Tuy nhiên những vấn đề trên chưa được nghiên cứu sâu

3.2 Hướng tiếp cận về nghệ thuật

Phương diện được các tác giả quan tâm nhiều nhất và có ý kiến tương đối

thống nhất là thể loại Bài “Tre Việt Nam” được nhiều nhà phê bình phân tích, đánh

giá; có thể xem đây là một trong những bài thơ lục bát tiêu biểu của Nguyễn Duy

Văn Giá trong “Một lục bát về tre” nhận xét: “ Lựa chọn thể thơ 6-8, một thể thơ

thuần chất Việt Nam, tác giả xử lý thật nhuần nhuyễn, trôi chảy, trau chuốt, không non ép, gượng gạo, vấp váp một chỗ nào Trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ, phần các bài viết theo thể lục bát không phải là nhiều nhất nhưng anh vẫn được coi là một trong những nhà thơ hiện đại viết lục bát thành công nhất Với tất cả những gì đạt được, anh đã góp phần đem lại một sắc điệu hiện đại cho thể thơ lục bát của dân tộc” [9, tr.93] Và chính Nguyễn Duy, khi trả lời phỏng vấn trên báo Đại đoàn kết đã

bộc bạch: “Những bài thơ lục bát là phần quý giá nhất của mình” [12, tr.14] Lê Quang Trang khẳng định “Anh vốn là người sở trường về sử dụng thơ lục bát” [141, tr.200] Nguyễn Quang Sáng cũng cùng ý kiến đó khi cho rằng: “Nguyễn Duy vốn có

ưu thế và trội hẳn lên trong thể thơ lục bát” [111, tr.91] Nguyễn Thụy Kha: “Sẵn cái chất hóm hỉnh, dân dã, sâu sắc hơi chua cay chút chút, Duy quả là thiện nghệ trong cái trò “ 6&8” này” [61, tr.204] Và nếu năm 1986, Lại Nguyên Ân còn e dè khi cho

Trang 9

rằng: “Ngay cả những bài lục bát, ta cũng thấy có cái gì bên trong như muốn cãi lại

vẻ êm nhẹ mượt mà vốn có của câu hát ru truyền thống” [2, tr.11] thì đến năm 1999,

Vũ Văn Sỹ đã mạnh mẽ khẳng định: “Nguyễn Duy đã sử dụng lục bát để thuần hoá

chất liệu cập nhật của đời sống Lục bát trong tay Nguyễn Duy trở nên vừa êm ái vừa ngang ngạnh, vừa quen thuộc vừa biến hoá, “cựa quậy” Làm thơ lục bát đến như Nguyễn Duy có thể xếp vào bậc tài tình” [124,tr.74] Nhà thơ Trần Đăng Khoa trong

lời giới thiệu in ở đầu tập thơ “Nguyễn Duy- thơ với tuổi thơ” cũng đã chỉ ra sự đổi

mới cách tân của Nguyễn Duy khi sử dụng thể thơ dân tộc: “Lục bát của Nguyễn Duy

rất hiện đại Câu thơ vừa phóng túng ngang tàng lại vừa uyển chuyển, chặt chẽ với một bút pháp khá điêu luyện Nguyễn Duy là người có công trong việc làm mới thể

thơ truyền thống này” [63] Nguyễn Thị Thúy Hằng trong luận văn tốt nghiệp đại học

năm 1999, với đề tài “Thơ lục bát của Nguyễn Duy” đã khảo sát Câu lục bát trong ca

dao truyền thống và thơ lục bát của Nguyễn Duy Từ đó, chỉ ra sự kế thừa những đặc điểm của ca dao và thơ truyền thống trong câu thơ Nguyễn Duy, nêu một vài điểm đổi mới trong thơ ông như: Quan niệm về thế giới và con người, hình thức trình bày thơ, cấu tứ và kết cấu ở một bài thơ lục bát Có thể thấy, mỗi tác giả đánh giá thơ lục bát của Nguyễn Duy ở một khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung các ý kiến này đều thống nhất cho rằng thơ lục bát Nguyễn Duy thực sự có vị trí cao trong các sáng tác lục bát đương thời

Ngôn ngữ - vốn là một phương diện rất quan trọng trong việc tìm hiểu nghệ thuật thơ Nguyễn Duy nhưng lại chưa có sự thống nhất cao Theo Nguyễn Quang

Sáng: “Thơ Nguyễn Duy đượm tính dân tộc và nhuần nhuyễn ngôn ngữ dân gian.”

[111, tr.96], Phạm Thu Yến lại có ý kiến khác: thơ Nguyễn Duy là sự kết hợp giữa

“ngôn ngữ đời thường” và ngôn ngữ “đậm màu sắc hiện đại” [152, tr.79 ] Còn với Vương Trí Nhàn, thơ Nguyễn Duy là “bản hợp xướng của những chữ lạ” [83, tr.283]

Hồ Văn Hải thì khẳng định: “Sáng tạo từ láy là điểm nổi bật nhất trong lục bát

Nguyễn Duy” [44, tr.6 ]

Phương diện được nhiều nhà nhiên cứu, phê bình quan tâm là giọng điệu Khi

bình bài “Tre Việt Nam”, GS.Lê Trí Viễn cho rằng: “Giọng điệu bài thơ là kể chuyện

như kể chuyện cổ tích” [147, tr.289] Năm 1986, trong bài viết “Tìm giọng mới thích

Trang 10

hợp với người thời mình”, Lại Nguyên Ân tập trung tìm hiểu sự cách tân giọng điệu

trong thơ Nguyễn Duy: “Thật ra thơ Nguyễn Duy nhìn chung vẫn nằm trong điệu trữ

tình Thơ Nguyễn Duy gần đây thường có thêm sắc giọng thủng thẳng, hơi ngang ngạnh và ương bướng” Với Lại Nguyên Ân, giọng điệu đó làm cho thơ tình “bớt đi cái tha thiết héo ruột héo gan vốn thường có ở những khí chất yếu, những tâm trạng

u sầu lối cũ” “tăng thêm cái khoẻ khoắn mạnh mẽ vốn là đặc điểm của con người

thời nay”[2, tr.11] Ngô Thị Kim Cúc khi đọc tập thơ “Bụi” của Nguyễn Duy đã

nhận xét: “Từ bài đầu đến bài cuối hầu hết vẫn giống nhau ở một cách viết, vẫn cái

giọng cà tửng cà khịa khiến người ta lúc đầu bật cười rồi sau đó thấm thêm một tí lại trào nước mắt” [13, tr.5] Phạm Thu Yến thì cho rằng: khuynh hướng hài hước, trào

lộng là một trong những biểu hiện của thi pháp ca dao và đã nhẹ nhàng phê bình Nguyễn Duy đôi khi “quá đà”, khiến người đọc phải “ái ngại” [152, tr.76-82]

Trong các bài phê bình nghiên cứu về thơ Nguyễn Duy, thì bài viết “Nguyễn

Duy - thi sĩ thảo dân” của Chu Văn Sơn là một bài viết công phu, cung cấp cho

người đọc một cái nhìn tương đối rõ về con đường sáng tác của Nguyễn Duy Ông

gọi thế giới thơ Nguyễn Duy là “cõi chúng sinh thì hiện tại”: binh lửa và bụi bặm,

bùn nước và gió trăng, nghèo đói và tiềm năng, tàn phá và gây dựng, xơ xác và nhen nhóm, bần bách và phù hoa”; nhân vật là “thập loại chúng sinh”, là bà, mẹ, cha ,vợ,

con đặc biệt là những con người không may mắn xuất hiện trong đời sống như “chú

bé đi bụi khoèo mái hiên lắng nghe pháo tết, em điếm ế đón giao thừa gốc cây, bà bới rác nằm co ro gầm cầu ” Từ đó biện giải “Nguyễn Duy là thi sĩ thảo dân”, chỉ ra

bản chất “thảo dân” ấy ở cảm hứng sáng tác, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy [114, tr.38-53]

Như vậy, qua các bài nghiên cứu, phê bình thơ Nguyễn Duy nêu trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã có những đóng góp nhất định trong việc phát hiện ra một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật nổi bật của thơ ông Nhưng nhìn chung, các bài viết này chỉ mới đi vào tìm hiểu một bài thơ, tập thơ hoặc chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh, một mặt nào đó trong thơ Nguyễn Duy, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát toàn diện và có hệ thống về thơ ông, để từ đó rút ra những đặc điểm khái quát về nội dung tư tưởng, nghệ thuật thơ Nguyễn Duy Tuy nhiên đây là

Trang 11

những nhận định hết sức đáng quý, gợi mở cho chúng tôi nhiều vấn đề về cảm hứng, ngôn ngữ, giọng điệu, thể thơ lục bát của Nguyễn Duy trong việc thực hiện đề tài luận văn

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:

4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Đây là phương pháp cơ bản và phổ biến trong nghiên cứu văn học nói chung Chúng tôi sẽ vận dụng phương pháp này để phân tích câu thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ có tính chất tiêu biểu, điển hình để minh họa cho các luận điểm của luận văn

4.4 Phương pháp phân loại, thống kê

Đối với từng thành tố trong chỉnh thể, đối với các yếu tố thuộc phương thức, phương tiện trữ tình trong thơ Nguyễn Duy, khi cần thiết luận văn thực hiện phân loại

và thống kê qua các con số cụ thể

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đã tìm hiểu thơ Nguyễn Duy trên bình diện của thế giới nghệ thuật

Trong quá trình tiếp cận “Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy”, người viết xem đó

như một chỉnh thể nghệ thuật bao gồm nhiều phương diện có mối quan hệ gắn bó biện chứng với nhau Với đề tài này, người viết mong muốn đóng góp thêm một

Trang 12

hướng tiếp cận, nhằm tìm hiểu tương đối đầy đủ về sự nghiệp sáng tác thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy, thông qua việc nghiên cứu những vấn đề nổi bật như: Hành trình sáng tạo, cảm hứng chủ đạo và những đặc điểm nghệ thuật thơ ông, để từ đó khẳng định bản sắc riêng độc đáo của ngòi bút Nguyễn Duy và vị thế của ông trong tiến trình vận động và phát triển của thơ Việt Nam hiện đại

Người viết cũng hi vọng rằng những tư liệu và kết quả của luận văn sẽ góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập thơ Nguyễn Duy trong nhà trường được tốt hơn

6 Cấu trúc luận văn

Phù hợp với lôgic nội tại của vấn đề đặt ra nghiên cứu, ngoài phần Dẫn nhập

và Kết luận, luận văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1: Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy

Chương 2: Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy

Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Nguyễn Duy

Cuối cùng là danh mục Tài liệu tham khảo

7 Giới thuyết khái niệm: “Thế giới nghệ thuật”

Thế giới nghệ thuật là một cụm từ càng gần đây càng được sử dụng nhiều cả

trong đời sống và trong học thuật Nó được dùng khi con người có nhu cầu diễn đạt ý niệm về cái chỉnh thể bên trong của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình

tác phẩm, sáng tác của một tác giả, một trào lưu ) Có nhiều cách lý giải về thế giới

nghệ thuật Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: Thế giới nghệ thuật là một thế giới

được tạo ra trong nghệ thuật Nó hoàn toàn “khác với thế giới thực tại vật chất hay

thế giới tâm lí của con người mặc dù nó phản ánh thế giới ấy” “Thế giới nghệ thuật

thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các

nguyên tắc tư tưởng và nghệ thuật Mỗi thế giới nghệ thuật như một mô hình nghệ

thuật trong việc phản ánh thế giới, ứng với một cách quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới” [39, tr.352] Lê Ngọc Trà quan niệm: “Đối tượng nghiên cứu đầu tiên của thi pháp học là các yếu tố và cấu trúc tác phẩm văn học như ngôn ngữ, thế giới nghệ thuật, kết cấu và chủ thể nghệ thuật [140, tr.140] “Thế giới nghệ thuật bao gồm nhân vật, cốt truyện và các chi tiết được mô tả, không gian, thời gian nghệ

Trang 13

thuật Nghiên cứu thế giới nghệ thuật của tác phẩm, khám phá được tính chỉnh thể ấy

có ý nghĩa quan trọng đối với việc tìm hiểu cách cảm nhận thế giới cũng như quan niệm tư tưởng của nhà văn” [140, tr.141] Lê Tiến Dũng cho rằng: “Qua văn bản ngôn từ người đọc bắt gặp “bức tranh đời sống”, một thế giới như ta đã gặp đâu đó trong đời, lại như chưa gặp bao giờ Người ta gọi lớp này là lớp thế giới nghệ thuật hay là lớp hình tượng” “Mỗi nhà văn, mỗi thời đại văn học sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng Tiếp nhận được thế giới này là cơ sở để hiểu tư tưởng - nghệ thuật của tác phẩm, cảm nhận được những gì nhà văn miêu tả, kí thác cũng như cái nhìn, quan niệm của nhà văn về con người, cuộc sống” [15, tr.11]

Những quan niệm trên về thế giới nghệ thuật thiên về tác phẩm văn xuôi và nội dung được phản ánh trong tác phẩm Từ góc độ thi pháp học chúng tôi quan niệm

“hình thức mang tính nội dung và nội dung là một nội dung được xác định trong hình

thức” [118, tr.9] Nói cách khác thế giới nghệ thuật không đơn thuần là vấn đề hình

thức mà trong tính chỉnh thể của nó, hình thức thẩm mĩ đó luôn được thẩm thấu, chuyển hóa trong một nội dung thích hợp Thông qua thế giới nghệ thuật của một nhà thơ ta có thể phân biệt được chỗ sâu sắc, tư tưởng nghệ thuật độc đáo của nhà thơ ấy

với nhà thơ khác Vậy “Thế giới nghệ thuật” vừa là thế giới được tạo thành trong thơ

qua cách cảm nhận riêng của tác giả vừa là hình thức biểu hiện của thế giới ấy, một hình thức thích hợp duy nhất để nội dung được biểu hiện trọn vẹn và đầy đủ

Với “Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy”, chúng tôi tập trung nghiên cứu

cảm hứng sáng tác và phương thức biểu hiện trong thơ như: thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu Từ đó thấy được phong cách nghệ thuật thơ Nguyễn Duy vừa mang nét riêng

cá nhân vừa phản ánh trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, một thời đại

Trang 14

Chương 1 HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN DUY

Khi nói đến những con đường dẫn người nghệ sĩ đi tới việc tạo ra những tác phẩm của mình, nhà thơ P.Antokolxky đã phát biểu: “Cũng như trong bất kỳ một lãnh vực nào cái quan trọng nhất trong nghệ thuật là quá trình, là sự hình thành, là cuộc đấu tranh, là sự tìm tòi, là một dòng nước không bao giờ cạn tự khơi lấy một dòng sông” [66, tr.338-339] Để tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy, không thể xem xét từng tác phẩm của ông mà phải nhìn nhận sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy trong gần bốn mươi năm qua như một hành trình mà mỗi tác phẩm chỉ

là một sự kiện, một mắt xích, một cột mốc trong hành trình đó Hướng tiếp cận này cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, là cơ sở quan trọng để đi sâu khám phá về những cảm hứng chính trong các tác phẩm cũng như đi sâu vào từng vấn đề cụ thể trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ

Do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và sự vận động trong ý thức của chủ thể nhà thơ, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy có thể chia làm hai giai đoạn: trước những năm tám mươi và sau những năm tám mươi Sở dĩ chúng tôi phân chia như vậy là vì sau những năm tám mươi, thơ Nguyễn Duy mới thực sự có những chuyển biến đáng kể Sự chuyển biến đó thể hiện ở tất cả các cấp độ: cảm hứng chủ đạo, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu Ở những chương tiếp theo của luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng chỉ rõ sự khác biệt ấy, nhưng cũng xin lưu ý: sự chuyển biến trong sáng tác của Nguyễn Duy trước và sau những năm tám mươi chỉ là sự chuyển biến mang tính tiếp nối, không phải là những bước ngoặt đưa thơ ông rẽ sang những hướng đi khác, bởi

về cơ bản, các sáng tác của ông luôn nhất quán dưới sự chi phối mạnh mẽ của triết lí nhân sinh: “Ta là dân- vậy thì ta tồn tại” Nếu như Chế Lan Viên tuyên bố hùng hồn

về cuộc chiến tranh giữ nước: Ta đánh Mỹ vậy ta tồn tại, Lưu Quang Vũ ngây ngất trong tình yêu: Anh yêu em vậy anh tồn tại, còn Nguyễn Duy trong bất kỳ hoàn cảnh

nào cũng nói lên cái “triết lí thảo dân” (Chu Văn Sơn) kia của mình Thông thường,

có được một quan niệm riêng đúng đắn, xem như có một hoa tiêu tin cậy cho hành trình sáng tạo rồi Dẫu biết rằng quan niệm của người nghệ sĩ không phải nhất thành

Trang 15

bất biến, song ở Nguyễn Duy cái quan niệm buổi chập chững đã là một kim la bàn khá chuẩn, càng về cuối càng sắc nét hơn và được hiện thực hóa trong suốt hành trình sáng tạo của ông

1.1 Hành trình qua nhiều miền Tổ quốc

Trước hết, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy là cuộc hành trình qua những miền đất, hay nói cách khác, đó là cuộc hành trình đầy ắp chất liệu thực tế do nhà thơ gặt hái được từ những chuyến đi, “Duy đi hầu khắp đất nước, đi qua bão, qua lụt, qua đạn, qua bom, đi “xẻ dọc Trường Sơn”[111, tr.91] Chỉ nhìn vào tựa đề các bài thơ và thời điểm sáng tác, ta thấy ông đã đặt chân lên hầu hết mọi miền quê trên đất nước mình: từ các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Hà Nội, Hà Nam đến dải đất miền Trung với Huế, Quảng Bình, Quảng Trị; từ đồng bằng sông Cửu Long qua Tiền Giang, Hậu giang, Đồng Tháp và đến tận Mũi Cà Mau Ở đâu, Nguyễn Duy cũng tìm được cho mình nguồn cảm hứng sáng tác và có những bài thơ hay Nguyễn Quang Sáng đã yêu mến ví “Nguyễn Duy như một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài thì ở trong tàu lúc nào cũng nghe cái gõ lộp cộp của nó, nó đòi đi.” [103, tr.88] Và trong cuộc hành trình này, Nguyễn Duy không phải trong vai

“người bộ hành phiêu lãng” (Thế Lữ) mà đã hóa thân vào đất đai, sông nước để diễn

tả được “những cảnh sắc, thần thái riêng riêng” [103, tr.84] của từng miền đất Cùng chung một cái gốc nhân bản và tâm hồn nhân hậu, thế mà ở thơ ông, mỗi khu vực địa

lí khác nhau đều có chút riêng riêng khác nhau ấy Với Hà Nội, Nguyễn Duy xúc cảm trước thiên nhiên, con người, trước cái biến đổi của mảnh đất thủ đô ngàn năm văn hiến:

“Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích

con rùa vàng gửi bóng ở trên mây cây si mọc chúc cành xuống nước Thê Húc cong cong một nét lông mày

Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió

áo em bay cho mờ tỏ thân hình

em sâu sắc như kinh thành cổ kính gốc si già da mốc ngói rêu xanh

Trang 16

Em nhẹ nhõm đi về trong phố cũ tường nhà lở vôi cửa gỗ bức bàn

ta lặn lội như một thằng ăn trộm nơm nớp lo mình bị bắt quả tang

Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại

để dành thành mất cắp cả tình yêu thế là ta mồ côi em mãi

cát vu vơ chết đuối dưới sương chiều

Cửa gỗ cài then bóng em mất hút

xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều

ta trở lại gốc si già và làm lại làm thơ tình tặng những lứa đang yêu ”

( Một góc chiều Hà Nội )

Và cũng hàm súc biết bao những câu thơ ông viết về ruộng đồng miền Bắc có cái gì rất đặc trưng:

“Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải

bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua”

( Tuổi thơ ) hay “Giọt sương muối co ro đầu nhảnh mạ

nhức nhối bàn chân phì phọp thở trong bùn”

( Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh )

Về “thần hồn” của một vùng quê xưa: “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng - mùi

huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm - điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng ” (Đò

Lèn) Có thể thấy Nguyễn Duy viết rất hay về đồng bằng Bắc Bộ đặc biệt là quê hương Thanh Hóa, điều đó không có gì lạ vì đây là nơi “chôn nhau cắt rốn” của nhà thơ Nhưng khi đến Huế, nhà thơ lại cho ra đời những bài thơ tuyệt vời đưa người đọc

Trang 17

đến với dòng sông Hương nước êm đềm trong vắt có cầu Tràng Tiền mềm mại bắc qua sông, thấp thoáng tà áo người thiếu nữ, đẹp đến ngẩn ngơ lòng:

“Vừa xa mà đã nghe lâu hỏi thăm áo tím qua cầu gió bay

ớt Đông Ba có còn cay gạo de An Cựu độ này còn thơm?

Hỏi thăm hoa phượng bên đường sông Hương mấy bữa mưa nguồn còn trong quán cơm Âm Phủ còn không

cô gì hôm ấy lấy chồng hay chưa? ”

( Hỏi thăm ) hay nỗi trầm tư trước cảnh:

“Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu

em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi lối mòn đá cuội rong chơi

lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ Lan báo hỉ nở tình cờ

bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương giang chợ chiều Bến Ngự chưa tan

ai đi ngược dốc Phú Cam một mình ”

( Nhớ bạn )

“Người ta chỉ có thể nhận ra diện mạo của một Huế đích thực không phải bằng con mắt của một chuyên viên thống kê đô thị, mà bằng tâm thức” (Hoàng Phủ Ngọc

Tường, Huế- di tích con người) Cái sâu sắc nên thơ của Huế được đúc kết từ những

nét rất giản dị, mộc mạc Có thể chỉ một dòng sông Hương, chỉ một tà áo tím, chiếc nón bài thơ hay một mái tóc thề cũng đủ làm nên nét Huế Và cũng không biết từ đâu khi ngắm cảnh Huế, người ta khó tránh được cái buồn vơ vẩn, dường như nó là khí vị riêng của xứ này Làm thế nào để “cảm” được cái buồn không tên ấy? Phải tìm thấy cái tình của Huế, phải nhận thức Huế bằng tâm linh Phải yêu lắm, phải hiểu lắm

Trang 18

mới thấy hết sự tinh tế sâu sắc tỏa sáng trong tâm hồn Huế, Nguyễn Duy mới viết được những câu thơ thấm đẫm chất Huế đến như vậy Dường như ở đâu ông cũng bắt được cái thần của con người và cái hồn của cây cỏ nhờ vào thế giới nội tâm phong

phú và năng động của chính mình Trong Đà Lạt một lần trăng, ông cũng đã thâu tóm

được sự mơ màng huyền ảo của thành phố sương mù:

“Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng ngọn gió nhà ai thấp thoáng bên đồi tiếng móng ngựa gõ ròn dốc vắng nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi ”

Khi bàn chân nhà thơ đặt chân đến vùng đất tận cùng của Tổ Quốc, ông lại

rung cảm với cuộc sống sông nước của những người nông dân ở đây Lời ru từ mũi

Cà Mau khắc ghi nguyên vẹn nét hoang sơ của mảnh đất địa đầu Tổ quốc, Xuồng đầy

lưu giữ vẻ như thực như mơ của sông nước Cửu Long, Ông già sông Hậu thể hiện sự

hồn nhiên phóng khoáng mà hồn hậu của người nông dân Nam Bộ:

“Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng

ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều

Ai nghèo thiếu qua nhường cơm xẻ áo bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta

ki cóp một thân làm chi cho cực giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da

Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa việc bán lúa dư đăng báo chi cho phiền

dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước thành tích có gì mà phải nêu tên ”

(Ông già Nam Bộ)

Trang 19

Những bài thơ Nguyễn Duy viết về Nam Bộ có thể khiến cho nhiều thi sĩ sinh

ra trên mảnh đất này phải chạnh lòng, vì: “Nguyễn Duy làm thơ về Nam Bộ chưa nhiều hơn một vài nhà thơ gốc người Nam Bộ, nhưng lại chiếm tỉ lệ khá cao trong số những bài hay về miền đất này” (Nguyễn Quang Sáng) [103, tr.87] Không thể coi những bài thơ trên là báu vật của trời rớt xuống, nhà thơ có diễm phúc tình cờ vớ được bởi nếu không có những chuyến đi, và đặc biệt là tâm hồn nhạy cảm tinh tế, luôn lắng sâu hồn đất hồn người, thì làm sao Nguyễn Duy có thể viết lên những câu thơ lắng đọng “hồn” của từng vùng đất như vậy

Đến năm 1978- 1979, khi chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra, Nguyễn Duy cũng có mặt để ghi lại hình ảnh những anh lính băng rừng, lội suối, ngủ bưng, ngủ hầm:

“ Hiếm hoi cái giấc yên lành hành quân xa lại tiếp hành quân xa bao anh lính trẻ đã già

chưa sang hết suối chưa qua hết rừng

Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm

“cát” vô tận- để nhà thơ đãi ra “vàng” thơ ca theo tâm nguyện “tìm ánh vàng trong

muối mặn mồ hôi” của mình Sau này khi đến Matxcova, Dresden, Varzsava,

Washington, Hollyood, Texas, San-Diego mỗi miền đất lạ ấy đều đem đến cho ông

“một thứ gì đó” để ông “nhét vào cái tay nải quả mướp của đời mình” (Tiếng gõ), đôi khi chỉ là một “tiếng chim trời” đánh thức nhà thơ dậy vào mỗi ban mai (Tiếng gõ), là “thành phố trong rừng/ rừng trong thành phố” (Rừng và phố), là nghĩa trang

Trang 20

mà “Chủ tịch nước đầu tiên nằm cạnh bác đánh cờ/ người thợ dệt kề bên nhà nghệ

sĩ” (Thăm nghĩa trang Ta-Lin) Nhưng tỉ lệ thuận với hành trình trải rộng theo không

gian và trải dài theo thời gian đó, “chất sống” (chữ của Xuân Diệu) [14, tr.56] trong ông càng đầy đặn hơn, sâu sắc hơn, đó thực sự là một hành trình “bao dung” nên

“giàu có” (Vương Trí Nhàn) [83, tr.280] bởi “thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc

sống đã thật đầy” (Tố Hữu) [54, tr.36-37]

1.2 Hành trình kiên trì vượt lên mọi hoàn cảnh để khẳng định mình

Hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy còn là một hành trình kiên trì bền bỉ,

đó là kết quả của sự nỗ lực vượt lên hoàn cảnh để khẳng định mình Trong chiến tranh, thơ ông luôn có mặt ở những nơi địa đầu tuyến lửa: Thành cổ Quảng Trị, Khe

Sanh, địa đạo Vĩnh Linh, ngã ba Đồng Lộc, Đầu Mầu Dù “Bom đạn thi nhau vằm

mặt đất” nhưng “sâu trong lòng đất” Nguyễn Duy vẫn làm thơ (Bên hàng rào Ái

Tử), vẫn ca khúc hát “bài hát của cây”, “bài hát của trời”, “bài hát của sông”, “bài

hát của ta” (Lời ru trong bão) Ngay những bài thơ đầu tay đăng trên báo Văn nghệ

năm 1972, Nguyễn Duy đã tỏ ra có ý thức tìm tòi một cách nói cho thơ mình Bài

“Tre Việt Nam” của ông đã làm một cách tân nho nhỏ nhưng rất có tác dụng mà hồi

ấy chưa có ai làm: ngắt câu lục thành hai và ba dòng Câu đầu:

Tre xanh,

và câu cuối: Mai sau,

Câu bát cuối cùng của bài thơ:

Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

là một câu thơ có thể ngắt theo nhiều cách khác nhau nhất trong thơ Việt Nam hiện đại, để thể hiện cùng một ý Do những tìm tòi ấy, hiệu quả nghệ thuật của bài thơ tăng hẳn lên

Không những tìm tòi đổi mới ở hình thức sáng tác, Nguyễn Duy còn cố gắng chắt lọc đưa hơi thở cuộc sống sôi động chiến trường vào trong thơ Trong hoàn cảnh đầy ắp sự kiện của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nỗi khổ tâm lớn nhất của nhà thơ trẻ:

Trang 21

“Thần chiến thắng dang cánh bay phản lực thần thi ca lóc cóc vó ngựa già

thơ hổn hển bơi theo dòng sự kiện

sự kiện khổng lồ nuốt chửng mọi lời ca”

(Theo dòng sự kiện)

Cũng như những nhà thơ cùng thế hệ trưởng thành trong kháng chiến chống

Mỹ, thơ Nguyễn Duy giai đoạn này có những hạn chế nhất định, đó là sự “bề bộn, ngồn ngộn chất liệu của hiện thực”, “có khi vì thế mà nó ôm đồm, tham lam, thậm chí còn sống sượng, còn bê nguyên xi sự kiện nguyên mẫu vào trong thơ như quặng chưa kinh qua lò luyện ở nhiệt độ cao” (Bùi Công Hùng)[56, tr.104] Nhưng trong hoàn cảnh đối mặt với cái chết, hơn bao giờ hết, mỗi bài thơ của Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh thực sự “được bảo đảm bằng máu” (Hữu Thỉnh) [73, tr.417], là “một sự dấn thân hết mình” (J.P.Sartre) [109, tr.45] Sau này, khi viết về

Thế hệ những nhà thơ Cách mạng, Thanh Thảo đã tâm sự: “Chiến tranh là một trải

nghiệm khốc liệt mà chắc chắn không ai muốn, nhưng rồi khi phải đối đầu với nó, phải ngập chìm trong nó, người ta có thể coi những bài thơ rất bình thường viết được trong chiến tranh như những bát cơm đã nuôi mình khi đói, như hớp nước cuối cùng trong bi đông mà mình đã xẻ chia cùng đồng đội, lại như một ân sủng mà mình tình

cờ nhận” [4, tr.4] Chính tiếng nói của người trong cuộc giúp ta càng thấm thía hơn

sự kiên trì bền bỉ vượt lên bom đạn của những nhà thơ- chiến sĩ và giá trị của những bài thơ ra đời trong khói lửa chiến tranh

Nhưng chuyển sang thời bình, nhà thơ lại phải đối mặt với một thử thách khác:

sự ngổn ngang, bề bộn, phức tạp của cuộc sống đời thường Những câu thơ của Nguyễn Duy đã ghi lại được phần nào những “ngày gian khổ” ấy:

“Lương tháng thoảng qua một chút hương trời đồng nhuận bút hiếm hoi gió lọt vào nhà trống

vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm không có cái sợ nào bằng cái sợ sinh con”

(Bán vàng)

Trong tùy bút “Nỗi nhớ thời khó thở”, nhà thơ tâm sự: cái thời hậu chiến gian

Trang 22

khổ, kéo dài hơn một thập kỷ sau 1975 ( khoảng 1975- 1985) Đó là thời của “ bạt ngàn lính giải ngũ, trở lại xóm làng xơ xác sau chiến tranh Triệt để hợp tác hóa ở nông thôn Đánh tư sản, triệt nhà giàu ở thành thị Kẻ vào trại học tập cải tạo, không bản án, không thời hạn Người ra biển vượt biên không hẹn ngày về, phó mặc sinh mạng cho sóng gió và ma quỉ Đất nước liền một dải mà lắm nhà lại lâm cảnh ly tán

Mà cõi lòng lại đau nỗi cắt chia mới Lương thực viện trợ của nước ngoài như hồi chiến tranh không còn nữa Nạn đói hoành hành khắp nước Đột ngột lính Pol Pot tràn sang, thảm sát dã man dân lành suốt một dải biên giới Tây Nam Lại đột ngột súng nổ, lại chết người, lại cháy nhà, suốt toàn tuyến biên giới phía Bắc Nền kinh tế quốc gia “tuột dốc theo chiều rơi thẳng đứng” (Tố Hữu) Lại thiếu gạo Lại đứt bữa Lại thấy người ăn mày đầy đường Lại ăn độn cả sắn, ngô, khoai, bo bo, mì sợi, mì bột, mì hột ” [153] Trong hoàn cảnh đó, nhiều nhà thơ “hoặc là ngại nói thực hoặc

là vẫn triền miên theo quán tính tư duy thời trước đó”, nghĩa là “im lặng” hoặc “ngợi ca”[131, tr.360] Có thể thấy cả sự ngợi ca lẫn im lặng của các nhà thơ lúc này đều thật tàn nhẫn, đều thể hiện “sự không làm tròn nhiệm vụ chính trị”[131, tr.360] của mình

Nguyễn Duy không thuộc loại nhà thơ “ngợi ca” hay “im lặng” Ông không

tiếp tục sống trong hào quang của chiến thắng vì ông quan niệm “tất cả trôi xuôi-cấm

lội ngược dòng”, nhưng ông cũng không thu mình vào cuộc sống gia đình, lãnh đạm

với thế sự bởi điều ông sợ nhất là “lòng trống trải dửng dừng dưng” (Từng trải) Ngược lại, với ông, người cầm bút không thể “nhỏ giọt dòng thơ không dễ dãi” mà phải “đêm đêm thao thức như cây chổi quét đường”( Mười năm bấm đốt ngón tay)

Mà ngòi bút của ông tựa như cây chổi thật, bởi ông đã “quét” ra ánh sáng những sự thật đau lòng của xã hội ta lúc bấy giờ:

“Con rầy nâu khoét rỗng cả mùa màng thóc bỏ mục ngoài mưa thiếu xăng dầu vận chuyển phà Cần Thơ lê lết người ăn xin”

( Đánh thức tiềm lực)

Nguyễn Duy lại tiếp tục mong thơ mình là tiếng hát, nhưng không phải “hát để

mọi người cùng nhớ / về dáng hình bé nhỏ của anh lính thổi kèn”, cũng không phải

Trang 23

“hát bài hát của cây”,“bài hát của trời”, “bài hát của sông” như trong những năm tháng kháng chiến ác liệt và hào hùng trước đây mà là tiếng hát vừa có “tiếng trong

sáng của nắng và gió”, vừa có “tiếng chát chúa của máy và búa/ tiếng dẻo dai của đòn gánh nghiến trên vai / tiếng trần trụi của lưỡi cuốc” để “ĐÁNH THỨC TIỀM LỰC” Những bài thơ Nguyễn Duy viết trong giai đoạn này tự ông thấy còn “nôm na”, ngôn ngữ thơ “chưa được”, nhưng cái được ở đây là “tâm tình thật trong tôi”

[153] Có thể thấy tiếng hát của ông lúc này không chỉ là tiếng hát của một công dân, một nhà thơ ý thức sâu sắc về trách nhiệm nghĩa vụ của mình đối với đất nước mà còn là tiếng lòng của một con người có ý chí, có bản lĩnh hơn người, vượt lên mọi hoàn cảnh khắc nghiệt, để kiên trì bền bỉ với nghiệp thơ mà mình đã lựa chọn Thế nên, giọng điệu chân thành của nhà thơ đã khiến những bài thơ chưa đạt về kỹ thuật,

chưa chuẩn về hình thức, vẫn còn là những “dòng chữ nặng nề và chậm chạp” như

lời tự nhận xét của tác giả đi thẳng vào nơi sâu nhất trong tâm hồn người đọc

Sau năm 1986, phương châm: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” của Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tạo nên sự chuyển động mới của văn học: “Văn học có dấu hiệu chuyển lên một đường ray mới, có lúc ngập ngừng rụt rè, có lúc bạo dạn sấn sổ, dẫu thế nào mặc lòng, nó không còn chấp nhận

sự bình ổn, bình yên kiểu cũ” (Phong Lê) [71, tr.344] Trong điều kiện mới ấy, thơ

Nguyễn Duy lại càng là “cây chổi” không mệt mỏi Bài thơ Nhìn từ xa Tổ quốc của ông thực sự là những “câu thơ tuẫn tiết” vì đã tháo tung mọi ràng buộc, để sự thật

đắng cay trần trụi phơi bày trước mắt mọi người:

“Xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày

Xứ sở nhân tình sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma

ma quái- ma cô- ma tà- ma mãnh

Xứ sở linh thiêng sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Xứ sở thông minh

Trang 24

sao thật lắm trẻ con thất học Lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt

tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bom xe đạp tuổi thơ bay như lá ngã tư đường ”

(Nhìn từ xa Tổ quốc) Hàng loạt những câu hỏi tự vấn của nhà thơ là tất cả cái trăn trở, suy tư về cuộc sống hiện tại Trong mỗi dòng thơ đều hằn lên nỗi khắc khoải, khi tác giả nhìn nhận thẳng vào sự thật đất nước Ông đã viết được những điều cần nói bằng cả máu và nước mắt của mình trên giấy “Gan ruột rũ ra hết ở đầy, tài năng, trí tuệ, nhân cách rũ

ra hết ở đấy.” Dường như ông viết để chứng minh cho một điều “Nhà văn phải luôn

là đại diện của thần thánh để sống với cuộc đời này” [145] Nguyễn Duy đã viết

nhiều những “câu thơ tuẫn tiết” như vậy ngay trong thời buổi “tờ giấy mỏng manh

che chở làm sao được/ mỗi câu thơ chống đỡ mấy mạng người” (Bán vàng) Đúng là

ông đã lấy sinh mạng chính trị của bản thân và gia đình để bảo đảm cho thơ Có lẽ vì thế mà Đỗ Ngọc Yên đã đánh giá rất cao Nguyễn Duy khi viết: “Nguyễn Duy là người đốt mình sống cho thơ Thơ anh mới từ sự tìm tòi cần mẫn trong cát bụi cuộc đời và được chưng cất lên thành những viên ngọc tinh tú.” [160]

Như vậy, hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy là một hành trình kiên trì bền bỉ trước sau như một, luôn vượt lên mọi hoàn cảnh để sáng tác Một trong những yếu tố quan trọng giúp ông có được sự bền lòng ấy chính vì ông luôn xác định vị thế của

mình “Cứ chìm nổi với đám đông”( Bao cấp thơ ), nghĩa là khi cất lên tiếng nói của người dân, ông luôn tin tưởng vào sự tồn tại của đời mình, của thơ mình: “Ta là dân

Trang 25

nhưng trong đáy sâu tâm hồn vẫn luôn chất chứa một nỗi nhớ, niềm thương tha thiết đối với quê hương mình Chẳng thế mà những câu ca dao quen thuộc nhất, đọng lại trong kí ức của con người biết bao đời nay là những dòng viết về quê hương xứ sở thân yêu:

“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

Và hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy cũng không nằm ngoài quy luật đó Hành trình nghệ thuật trong thơ ông bắt nguồn từ “xó bếp” ra “thế giới”- hành trình

của “giọt nước lìa nguồn ra biển” (Dòng sông mẹ) và cũng là hành trình từ xứ lạ trở

về với quê nhà - hành trình của “dòng nước trôi đi giọt nước lại rơi về” (Sông Thao)

Vương Trí Nhàn gọi đây là: “Cuộc trở về không ảo tưởng”- “trở lại với những giá trị

cội nguồn” [83, tr.286] Chu Văn Sơn thì căn cứ vào tên tập thơ đầu tiên: Cát trắng in năm 1973 và tập thơ cuối cùng (vì Nguyễn Duy tuyên bố sẽ không làm thơ nữa) Bụi

in năm 1997 để mã hóa hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy là: “từ hạt Cát đến hạt Bụi” [114,tr.40] cũng với hàm nghĩa là sự trở về nơi xuất phát ban đầu

Vào những năm cuối thập kỉ sáu mươi của thế kỉ XX, khi còn là một anh bộ đội mới qua tuổi bắt chim, bắt bướm ở làng quê ông đã nhận ra và tâm niệm: sống và sáng tạo phải gắn bó với nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân:

“Một đời không thể nào quên

Lòng dân- chiếc mộc vững bền che ta”

( Hầm chữ A )

Cho nên có thể nói trong tập thơ đầu tay Cát trắng, những bài thơ hay nhất của

ông là những bài thể hiện lối sống gần gũi, chan hòa với dân, vừa cụ thể sinh động,

vừa có sức khái quát và giàu ý nghĩa nhân sinh Đó là các bài Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt

Nam, Khúc dân ca Trong bài Khúc dân ca, nhà thơ khẳng định;

“Nghìn năm trên dãi đất này

Cũ sao được cánh cò bay la đà

Cũ sao được sắc mây sa

Trang 26

Cũ sao được khúc dân ca quê mình

Cò bay bằng cánh trắng tinh Lúa thơm bằng phấn hương lành ai ơi Mây bay bằng gió của trời

Là ta ta hát bằng lời của ta”

Như thế, quan điểm nhân sinh của nhà thơ là hướng về cội nguồn nhân dân và dân tộc Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, sau gần hai thập kỉ đất nước thống nhất và

có nhiều thay đổi, nhà thơ vẫn giữ quan niệm như thế, nhắc lại và nhấn mạnh như một tuyên ngôn đầy xác tín:

“Cứ chìm nổi với đám đông riêng ta xác định ta không là gì

Cứ là rượu của chúng sinh cho ai nhắm nháp cho mình say sưa”

Sau này, khi trả lời phỏng vấn hai bạn đọc Phạm Hùng và Đỗ Quyên (đăng trên

báo Diễn đàn, số 114 năm 2002), Nguyễn Duy tâm sự: “Tôi sinh ra ở nông thôn, làm

ruộng từ bé, đằm mình trong đất cát, rơm rạ, cua ốc và ngôn ngữ nhà quê Lớn lên thì

đi lang thang nhiều nơi, nhưng mà cái thần hồn của làng quê trong tôi nó cứ nhập vào như lên đồng” Và trong nhiều bài thơ, Nguyễn Duy chân thật thổ lộ:

“Tôi sinh ra nơi làng quê nghèo Quen cái thói hay nói về gian khổ

Dễ chạnh lòng trước những cảnh thương tâm”

( Đánh thức tiềm lực)

“Trọn kiếp người ta chập chờn nguồn cội

Có một miền quê trong đi đứng nói cười.”

(Tuổi thơ)

Vì thế mà Nguyễn Duy viết nhiều về người và cảnh làng quê bằng một tình yêu

da diết, sẻ chia và giọng điệu nhuần nhị, đằm thắm Trong thơ Nguyễn Duy, không phải đến những chuyến đi xa nước ngoài, môtíp “trở về” mới xuất hiện Ngay từ năm

1986, ông đã viết:

Trang 27

“Giọt nước có biệt tăm ngoài biển cả Ngày ngày

Làm mây bay về nguồn”

(Dòng sông Mẹ) Nhưng trong và sau những chuyến đi xa quê hương đất nước, môtíp ấy xuất hiện nhiều hơn:

“Thôi ta về với mình thôi Chân trời đành để chim trời nó bay”

chia mười tập thơ đã xuất bản của mình thành bốn phần như một mạch tuần hoàn :

Đường làng, Đường nước, Đường xa và Đường về Đó cũng chính là bốn giai đoạn

lớn trong hành trình thơ Nguyễn Duy Cái đích trở về của mọi người thường chỉ có một: gia đình, quê hương, nhân dân, Tổ quốc, nhưng con đường trở về của mỗi người thường không ai giống ai Ở Nguyễn Duy, sự trở về ấy đã diễn ra như thế nào? Muốn

hiểu rõ hơn về một Nguyễn Duy trong Đường về, không thể không bắt đầu từ một Nguyễn Duy trong Đường xa

Đường xa là tập thơ ra đời năm 1989, gồm mười chín bài thơ được Nguyễn

Duy sáng tác từ năm 1985 đến 1988 Có thể xem tập thơ như một quyển nhật ký bằng thơ ghi lại những tâm tư tình cảm, ấn tượng sâu sắc của Nguyễn Duy về con người và cảnh vật nước Nga mà ông có dịp gặp gỡ hoặc tham quan Trong tuyển tập thơ sắp

phát hành, ông đã bổ sung thêm vào Đường xa những bài thơ ông viết ở Anh, Pháp ,

Trang 28

Mỹ Trong quan niệm của Nguyễn Duy, Đường xa đồng nghĩa với “đường người”, phân biệt với đường làng, đường nước, đường ta Nhưng ở Đường xa, nhà thơ không

chú ý nhiều đến sự khác biệt giữa “ta” và “người” mà thường quan tâm đến những sự

tương đồng Bắt gặp Chút thu vàng ở Matxcơva, ông nhận ra ngay:

“ Buồn vui đâu cũng giống nhau

Lẻ loi kim tước chân cầu ngủ mơ Vàng long lanh chóp nhà thờ Cánh chim ngoan đạo lửng lơ ngang trời Rừng phong đã chớm thu rồi

Vàng rơi trên mái tóc người đi qua.”

(Chút thu vàng)

Trước tượng đài Kiép, ông ngậm ngùi: “thương cảm lăn tăn mặt sông vảy cá /

ta với người có xa lạ gì đâu” (Trước tượng đài Kiép) Riêng về tình yêu, ông khẳng

định: “Tây Tàu cũng thế thì thôi/ Y chang cay đắng ngọt bùi khổ đau” (Được yêu như thể ca dao), và: “Gió đâu gió cũng lang thang / người đâu yêu cũng nồng nàn

như yêu” (Chỉ khác nhau cái nhìn, em ạ ) Như vậy, ông đã từ những đau thương,

hạnh phúc của cá nhân mình, dân tộc mình để hiểu về dân tộc khác, và cũng từ họ, ông càng hiểu rõ hơn về dân tộc mình, đất nước mình

Nhưng có lẽ cảm hứng nổi bật trong Đường xa là nỗi nhớ thương quê nhà da

diết khôn nguôi Cảnh vật xứ người luôn gợi ông chạnh nhớ quê hương mình, “sang đến Tây, hồn vía lại lộn về nhà” [137, tr.111] Gặp những khu rừng trong phố ở

Matxcơva, ông nhớ ngay đến “những cánh rừng chiến tranh/ mùi cây cháy xót xa như

thịt cháy” (Rừng và phố) Gặp một người lính trẻ “đẹp như một dáng cây cảnh” nhà

thơ cầu chúc “không bao giờ phải ra trận” vì ông ngậm ngùi nhớ đến những chiến sĩ

đã ngã xuống trong cuộc chiến tranh bảo vệ quê hương: “làng quê ta vừa qua thời tàn

hoang / những giọt máu nặng như chùm quả” ( Gặp một người lính trẻ ) Một tiếng

chim gõ vào cửa kính lúc bình minh cũng khiến ông chạnh lòng: “Quê tôi, nơi chiến

tranh kéo dài / chim tới nhà là điềm lạ” (Tiếng gõ) Bắt gặp màu trắng của tuyết, sau

phút sững sờ bật lên tiếng kêu “Ối giời ơi” là choáng ngợp trong ông cảm giác:

“Lạnh lưng nhớ trũng cánh đồng / gió mùa đông bắc thổi trong xương người”

Trang 29

(Trắng và trắng ) Trong những ngày xa Tổ quốc, chưa bao giờ hình ảnh quê hương

đất nước phai nhòa trong ông, mà ngược lại, chính khoảng cách ấy đã giúp nhà thơ nhìn rõ hơn diện mạo Tổ quốc mình trong thời “đổi mới” bộn bề những điều bất cập đầy chua xót, trăn trở trước những thói xấu, đói nghèo đang tồn tại:

“Xứ sở cần cù sao thật lắm Lãn Ông lắm mẹo lãn công Giả vờ lĩnh lương Giả vờ làm việc

Xứ sở bao dung sao thật lắm thần dân lìa xứ

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về ”

( Nhìn từ xa Tổ quốc)

Trước thực tế ấy, đã có lúc ông “ước sống thử đời người khác/ cuộc đời thần

tiên nào”, nhưng đó chỉ là việc làm khiên cưỡng “nhồi nhét đại hồn ta vào xác lạ/ tội nghiệp thân ta hóa mất hồn”, bởi vì chỉ trong khoảnh khắc thử hóa thân ấy, những

“lối mòn lầy lụa quen chân”, “mùi ô nhiễm quen thường trực mũi”, rồi “mùi nước mắm gắt góc bếp ám khói” đã đột ngột ùa đến ngập tràn tâm trí nhà thơ, giúp ông

thấm thía nhận ra :

“Không thể sống nổi đời người khác

ta nhớ cuộc đời ta

bụi bặm quê nhà”

( Nhớ nhà ) Nếu trong những bài thơ ông viết ở Nga thường da diết nhớ thương thì những bài thơ ông viết khi đi thăm các nước châu Âu, châu Mỹ đẹp đẽ, sang cả ngỡ sẽ khác nhưng cũng lại chỉ thấy hiện ra toàn những dằn vặt, về những nghèo nàn tội nghiệp

và những nỗi buồn Đó là “ngo ngoe ngứa nỗi buồn vui không màu” (Boston, 21.6.1995), “Bùi ngùi lả tả tiền nhân- ngôi sao hóa kiếp dấu chân ven đường” (Hollyyood, 21.7.1995), “Khối buồn đâu dễ nguôi ngoai” (Bolsa, 30.7.1995 ), “Mộng

Trang 30

bầm đêm hận chưa tan” (San Francisco, 5.8.1995), “khúc đoạn trường mốc meo”

(London mùa phơi), “tuyệt vọng ván tù mù hy vọng” (Mirage ) Có thể lí giải điều

này bằng chính lời tâm sự của nhà thơ:“Tôi là người đi nhiều, đã qua hàng chục quốc gia, qua biết bao nhiêu những thành phố sầm uất, những thủ đô hoa lệ, nhưng rồi lại thấy đi đâu cũng không bằng trở về nhà mình, được sống giữa tâm hồn dân tộc mình ”

“ Thôi ta về với mình thôi chân trời đành để chim trời nó bay Trông người xưa ngẫm người nay đường xa nghĩ nỗi sau này cũng kinh”

(Đường xa ) Dường như từ những câu thơ rất chân tình của Nguyễn Duy giúp ta thấm thía hơn niềm hạnh phúc giản dị: được sống ngay trên đất nước mình Và trên chặng

Đường xa ấy, Nguyễn Duy hoàn toàn khác với Nguyễn Bính, tuy hai ông đều có

chung hành trình từ thôn quê ra thị thành Với Nguyễn Bính, quãng đời “dan díu với

kinh thành” (Hoa với rượu) của ông là một chuyến “đi đày” (Giời mưa ở Huế), phải

sống kiếp “con chim lìa đàn” (Lỡ bước sang ngang), phải “dang dở đời sương gió”

(Xuân tha hương) bởi “Hành trình lìa quê của ông cũng là hành trình của ăn năn, của khắc khoải cố hương chưa đi mà đã thấy ngay mình vừa đánh mất một cái gì thiêng liêng, hệ trọng nhất của đời mình, của cuộc sống này” ( Chu Văn Sơn) [115, tr.144] Hay nói một cách khác, do hoàn cảnh nước mất nhà tan, nên cũng như phần lớn các nhà thơ trong phong trào Thơ Mới, Nguyễn Bính “thiếu quê hương” ngay trên đất nước mình Nguyễn Duy thì khác, tuy có lúc ông không bằng lòng với cuộc sống

trong những “tòa nhà cao tầng chia ngăn chia ô” giống cái “tủ thuốc bắc”, không gian sống là “vũ trụ nhà” với “những bức tường trắng toát vuông vắn” ở Sài Gòn hoặc dị ứng với “thiên đường rở” Mirage vì “mềm mại mánh mung mưu mẹo mập

mờ / con bài bịp tàng hình nuôi dưỡng mơ mộng” (Mirage) hay cuộc đấu bò “điên cuồng” ở Feria de Nimes đang “giết chết nỗi cô đơn” (Giác đấu) nhưng về cơ bản,

trong ông không có sự đối trọng giữa nông thôn và thành thị, giữa “xứ mình” và “xứ người” để ông phải băn khoăn, trăn trở Cuộc sống nơi phồn hoa đô hội chưa bao giờ

Trang 31

làm biến đổi tâm hồn ông, chưa bao giờ ông nhạt phai tình cảm với quê hương, gia đình, chưa bao giờ ông đi xa những “giá trị cội nguồn” của dân tộc, đúng như nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khẳng định: “Nguyễn Duy vẫn sáng tác với bản sắc của mình, không biến dạng, không pha tạp do hoàn cảnh sống” [103, tr.87], càng đi xa Nguyễn Duy càng hiểu hơn, càng thiết tha gắn bó hơn với quê hương đất nước mình:

“Dù ở đâu cũng tổ quốc trong lòng Cột biên giới đóng từ thương đến nhớ”

( Nhìn từ xa Tổ quốc )

Như vậy, Đường xa với Nguyễn Duy chỉ thuần túy là khoảng cách địa lí, và sự

xa cách ấy càng nhân lên tình cảm thắm thiết của ông đối với đất nước, quê hương

Nguyễn Duy trong Đường xa như vậy, nên trong Về, nhà thơ không hề có những thú nhận lỗi lầm, những ăn năn sám hối Về với ông có nghĩa là khẳng định cụ thể hơn,

mạnh mẽ hơn nữa quan niệm sống của mình:

Riêng ta xác định ta không là gì”

(Bao cấp thơ)

và “ bình tâm làm hạt bụi người mà bay” (Saint Louis 14 6 1995) Về với ông có nghĩa là sống lại với những kỉ niệm tuổi học trò “đẹp như là không đâu vào đâu” (Kính gửi tuổi học trò) với “Áo trắng là áo trắng bay / thấp tha thấp thoáng tháng

ngày mong manh” (Áo trắng má hồng), là đối mặt với đời thường xô bồ phức tạp như

cuộc khiêu vũ “ríu rít tít mù loảng xoảng” (Khiêu vũ), như phiên chợ với “mùi quí

phái dan díu mùi lam lũ ô nhiễm” ( Liền anh đi chợ), là đối mặt với chính mình trong

nỗi cơ đơn tột cùng của thi sĩ: “Vũ trường giấy trắng cô đơn anh khiêu vũ giấc mơ/

không bắt đầu từ đâu không kết thúc nơi nào” (Khiêu vũ), trong sự xót xa tiếc nuối

khi nhận ra tuổi già đã đến tự khi nào: “Lòng vòng đường xá càng xa/ lỏng gối/

chạnh xót mình chớm già” ( Sương muối), đến mong ước“xanh lại vài thời trai nữa”

(Sương muối) và gửi gắm niềm tin : “cái thời loang lổ đang trôi/ thôi thì thong thả

tới thời trắng tinh” (Thời gian) Nhưng có lẽ phần tha thiết và lắng sâu nhất trong tập

thơ Về này là những bài thơ ông viết tặng riêng vợ Trong thơ ca Việt Nam, những

bài thơ yêu chồng và thương chồng khá nhiều, thơ yêu vợ và thương vợ chỉ thảng

Trang 32

hoặc như cầu vồng sau mưa Cho nên nếu ta đã bắt gặp sự cảm thông sâu sắc, tình thương yêu sâu nặng và sự biết ơn vô cùng đối với vợ trong thơ Trần Tế Xương thuở

trước thì nay lại thấy niềm trân trọng đó trong thơ Nguyễn Duy :

Chồng với con mấp mé một thuyền đầy Năm tháng bão dông sang sông lũ đổ Một tay em chèo chống ngày ngày ”

liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê Cánh buồm mây tướp chiều quê Ruỗng

tênh hênh

bịch rơi

về cõi em ( Cõi về)

Những câu thơ được viết lên như một sự hối hận của nhà thơ khi mải mê với những chân trời lạ đến phút về chiều ngẫm lại bỗng thảng thốt giật mình Nhưng dường như đây chỉ là một cách “nịnh vợ”, vì có bao giờ thơ ông thể hiện niềm mê đắm đó đến “ruỗng” cả hình hài lẫn nhân cách đâu? Một chút tự trào ấy chẳng qua là

để cho dòng cảm xúc về người vợ thêm phần ý nhị, sâu lắng và mãnh liệt hơn

Từ những hoài niệm tuổi thơ đến những tâm tình với vợ, tất cả những gì được

thể hiện trong tập thơ Về đều rất quen thuộc với mỗi chúng ta Điều đó càng chứng tỏ

Trang 33

rằng, nếu coi mốc trở về của Nguyễn Duy là “giá trị cội nguồn” như quan niệm của Vương Trí Nhàn, là “rơm rạ”, “đồng ruộng”, “xó bếp”, “em” như chính nhà thơ quan

niệm, thì Nguyễn Duy thực sự chưa bao giờ là người đi xa Cả Đường xa lẫn Đường

về với ông chỉ là những khái niệm chỉ không gian và thời gian thuần túy, còn trong

thực tế, hành trình nghệ thuật của nhà thơ càng ngày càng gần hơn nữa với cuộc đời,

với “chúng sinh” thời hiện tại như ông từng phát biểu: “Vương triều mất đi nhân dân

còn lại” (Trong đất)

Như vậy, dù nhìn ở góc độ nào, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy cũng là

sự hiện thực hóa, cụ thể hóa triết lý nhân sinh: “Ta là dân- vậy thì ta tồn tại” Triết lí

này không chỉ tạo nên những nét riêng độc đáo trong quan niệm nghệ thuật của ông

mà còn tạo nên những dấu ấn đậm nét của chủ thể nhà thơ trên từng chặng đường sáng tác Ngay từ khi mới cầm bút cho đến giai đoạn sáng tác sau này, khuynh hướng chung trong hành trình sáng tạo của Nguyễn Duy là đưa thơ về gần hơn nữa với cuộc sống đời thường, với nhân dân Từ những chuyến đi không mệt mỏi, bằng sự kiên trì bền bỉ sáng tạo không ngừng và quan trọng hơn cả là với một tài năng thật sự cùng một tấm lòng luôn hướng về những con người nhỏ bé, bình dị trong xã hội, Nguyễn Duy đã chuyển hóa triết lí nhân sinh của mình vào hành trình nghệ thuật, để thơ ông trở thành “định nghĩa sống” cho chính con người ông, tạo nên sự hòa hợp giữa thơ và người: “Người thơ phong vận như thơ ấy” (Hàn Mặc Tử) Khai thác những khía cạnh trong đời sống hàng ngày, thơ Nguyễn Duy đã góp phần bồi dưỡng, hình thành nhân cách con người Đó là phẩm chất cao cả của thơ, một phạm trù triết học mà bất cứ người làm thơ nào cũng hướng tới

Trang 34

Chương 2 CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ NGUYỄN DUY

Vai trò của cảm hứng nghệ thuật đối với nhà văn được các tác giả, các nhà nghiên cứu văn học, mỹ học nhiều thời đại đề cao như một trong những yếu tố cực kỳ quan trọng vì là điểm khởi đầu cho quá trình sáng tác của nhà văn Từ thế kỷ thứ

VIII, thi tiên nổi tiếng đời Đường Lý Bạch đã ngâm nga: “Hứng hàm lạc bút dao ngũ

nhạc / Thi thành tiếu ngạo lãng Thương Châu” ( Khi cảm hứng say sưa, hạ ngọn bút

làm rung chuyển năm núi lớn; Lúc thơ làm xong, tiếng cười cợt, ngạo nghễ vượt qua bãi xanh ) Mười thế kỉ sau, khi luận bàn về làm thơ, khái niệm cảm hứng đối với Lê

Quý Đôn được hiểu như trạng thái cảm xúc tràn đầy: “Trong lòng có cảm xúc thực

sự, rung cảm nên lời” [ 89, tr.93], Nguyễn Quýnh cũng đề cao vai trò cái hứng trong

sáng tác văn chương: “Người làm thơ không thể không có hứng, cũng như tạo hóa

không thể không có gió vậy Tâm người ta như chuông, như trống, hứng như chày và dùi Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông, trống khiến chúng phát ra tiếng; hứng đến khiến người ta bật ra thơ” [ 89, tr.103] Đến thế kỷ XX, thuật ngữ “cảm hứng”, “cảm

hứng chủ đạo” trong lý luận văn học và mỹ học hiện đại được nhấn mạnh trong mối quan hệ biện chứng giữa văn học và hiện thực đời sống, đặc biệt trong mối quan hệ,

Trang 35

tác động qua lại giữa nhà văn - tác phẩm - người đọc Nếu Tuôcghênhep gọi cảm

hứng là “trời đến gần ta”, là sự thần khởi của con người nhờ ý nghĩ và tình cảm[131, tr.66], L.Tônxtôi nói “cảm hứng chính là sự bất chợt thấy rõ điều ta có thể thực hiện

được” [131, tr.66], A.Puskin cho rằng “cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho

sự tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng” [131, tr.66], thì với Pôxpêlốp “sự

lý giải, đánh giá sâu sắc và chân thực - lịch sử đối với tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [102, tr.141]

Như vậy, cảm hứng là thái độ tình cảm nồng nhiệt, say đắm của nhà văn khi thể hiện tư tưởng của mình trong tác phẩm chứ không phải là bản thân tư tưởng xét trên bình diện triết học, xã hội học, cũng như không phải là cái hứng, cảm xúc bột phát của nhà văn khi bắt tay cầm bút Cảm hứng là một trong những yếu tố chính hợp thành nội dung tác phẩm Nó thống nhất và gắn bó với tất cả các yếu tố thuộc về nội dung tác phẩm như đề tài, chủ đề, tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng bao trùm, xuyên suốt một tác phẩm hoặc toàn bộ sáng tác của một tác giả

2.1.2 Cảm hứng chủ đạo

Trong mỹ học và nghiên cứu văn học cổ điển, khái niệm cảm hứng chủ đạo

được hình thành “với tư cách là một nhân tố tư tưởng nồng nhiệt trong sáng tạo nghệ

thuật” Cảm hứng chủ đạo trong hệ thống tư tưởng mỹ học của Hêgel được xem như

là “trung tâm điểm”, là “vương quốc thật sự” của nghệ thuật, nhân tố của mối tác động hữu cơ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận nghệ thuật “Xem nghệ thuật

như sự miêu tả cảm tính các tư tưởng, một hình thức chân lý tuyệt đối”, Hegel cho

rằng cảm hứng chủ đạo là biểu hiện của tâm hồn người nghệ sĩ say mê thâm nhập vào bản chất của đối tượng, trở thành tương ứng với nó, gần như là xuyên suốt vào nó

Theo ông, cảm hứng chủ đạo cần được xem là “sản phẩm của một tinh thần phong

phú và hoàn thiện, một cá tính mà trong đó tất cả những lực lượng bản thể phổ quát đều được thực hiện” [43, tr.208]

Sau này, Bêlinxki quan niệm về cảm hứng chủ đạo cụ thể hơn: “Trong những

tác phẩm thi ca đích thực, tư tưởng không phải là một khái niệm trừu tượng, được diễn tả một cách giáo điều, mà nó tạo thành linh hồn tỏa vào trong tác phẩm, giống

Trang 36

như ánh sáng chiếu vào pha lê Tư tưởng trong sáng tạo thi ca- đó chính là cảm hứng Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó” và “ cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt”[43, tr.208 - 209] Như vậy, cảm hứng chủ đạo chính là sự bộc lộ khuynh

hướng cơ bản của tác phẩm, nó xuyên suốt, thấm nhuần vào toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn học: ngôn từ, giọng điệu, nhân vật Cảm hứng chủ đạo có tầm quan trọng như trên, nên theo Bêlinxki phải nghiên cứu cảm hứng chủ đạo của

nhà văn trong tác phẩm để tìm hiểu đặc điểm sáng tác của nhà văn ấy: “Công việc

đầu tiên, nhiệm vụ đầu tiên của người phê bình là phải giải đoán cảm hứng chủ đạo của tác phẩm”[ 43, tr 209]

Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong “Từ điển thuật

ngữ văn học” cũng cùng ý kiến đó khi cho rằng: “Cảm hứng chủ đạo là trạng thái

tình cảm mãnh liệt, say đắm, xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [39, tr.44- 45]

Trong “Lý luận văn học- vấn đề và suy nghĩ”, Huỳnh Như Phương nhấn mạnh vai trò bao quát, chi phối của cảm hứng chủ đạo vừa mang tính định hướng vừa có ý

nghĩa quyết định đến mọi phương diện của tác phẩm văn học: “Cảm hứng chủ đạo

thấm nhuần vào toàn bộ cấu trúc của tác phẩm, vào thế giới hình tượng, bao gồm không gian, thời gian, tính cách nhân vật vào xung đột và cốt truyện, vào ngôn từ và giọng điệu của một bài thơ, một truyện ngắn, một thiên tùy bút hay một cuốn tiểu thuyết [ 43, tr.210] Từ quan điểm này, Huỳnh Như Phương khẳng định: “Việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo không phải chỉ căn cứ trên một bộ phận, một thành tố nào,

mà phải căn cứ trên toàn bộ lô gích nghệ thuật của tác phẩm”[ 43, tr.210 ]

Như vậy, có thể nói, cảm hứng chủ đạo là một yếu tố có vai trò cả trong quá trình sáng tạo lẫn thưởng thức văn học nghệ thuật Yếu tố đó có mặt và thâm nhập vào hầu hết các “ngõ ngách” của tác phẩm Với “tư cách” là thái độ, tư tưởng tình cảm của tác giả với hiện thực được mô tả trong tác phẩm, nó là điều kiện tiên quyết,

là nguồn cảm hứng để người sáng tác tạo nên giá trị tác phẩm từ sự lựa chọn hiện

Trang 37

thực Nói cách khác, nó là yếu tố tạo nguồn và thúc đẩy quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật Với “tư cách” là một yếu tố của bản thân nội dung tác phẩm, cảm hứng chủ đạo là hệ quả của quá trình thâm nhập thực tế, lựa chọn đề tài, thể nghiệm tư tưởng, tình cảm của tác giả Tức, là kết quả của sự hòa điệu tuyệt vời giữa thế giới quan với tài năng, bản lĩnh và mức độ thâm nhập của người sáng tác vào hiện thực đời sống Nó có khả năng thức tỉnh những tình cảm ở độc giả, làm tiền đề cho sự tiếp nhận sâu sắc tác phẩm, biến quá trình tiếp nhận tác phẩm dường như khô khan thành quá trình tiếp nhận tự nguyện nhờ sự đồng cảm, thăng hoa nghệ thuật Song, điều quan trọng là, ở cả hai “tư cách”, cảm hứng chủ đạo đều có vai trò (gián tiếp hoặc trực tiếp) tác động vào người tiếp nhận, tạo nên những xúc cảm thẩm mỹ ở họ, khiến

“sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư tưởng” như Bêlinxki đã từng nhận xét Tìm hiểu cảm hứng chủ đạo với tư cách là một yếu tố của bản thân nội dung tác phẩm, tức “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” là mục đích chính của chúng tôi trong chương này

2.2 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy

Như trên đã nêu, cảm hứng chủ đạo chi phối toàn bộ quá trình sáng tác của tác giả Nó lý giải những đặc điểm nghệ thuật, phong cách tác giả Cảm hứng nghệ thuật của một tác giả bắt nguồn từ hiện thực khách quan, mang đậm dấu ấn thời đại Cách nhận thức về thế giới, con người của thời đại hòa quyện vào thế giới tư tưởng của nhà thơ, trở thành nguồn cảm xúc mãnh liệt thôi thúc sự sáng tạo nghệ thuật Hành trình sáng tác thơ ca của nhà thơ Nguyễn Duy đã đi cùng cuộc kháng chiến chống Mỹ bảo

vệ Tổ quốc vô cùng ác liệt, đau thương mà hào hùng, vĩ đại cùng với thời kì hậu chiến đầy nhọc nhằn, gian khổ là những mảng hiện thực đời sống đầy ắp chất liệu quý giá đã tạo nguồn cảm hứng sáng tạo dâng trào cho các nhà thơ trong đó có Nguyễn Duy

Đến với thơ Nguyễn Duy, nếu vào thời chiến, người đọc nhận ra cảm hứng chủ đạo là yêu thương, tự hào về nhân dân và đất nước thì ở thời bình, cảm hứng thế sự, đời tư, suy ngẫm về con người và đất nước lại là cảm hứng bao trùm trong thơ ông

Trang 38

2.2.1 Cảm hứng yêu thương, tự hào về nhân dân và đất nước thời kì chống Mỹ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta như một bản anh hùng

ca về sự nghiệp giữ nước đã đóng một vai trò rất lớn trong hệ thống cảm xúc của

Nguyễn Duy khi viết về đất nước Hình ảnh cả một thế hệ “xanh màu áo lính”, “điệp

trùng áo lính” (Thơ Nguyễn Đức Mậu), “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” (Tố Hữu )

là một hình ảnh đẹp cho thơ Chưa bao giờ trong lịch sử cả dân tộc ta lại có một ý tưởng duy nhất như bấy giờ Đó là độc lập tự do của Tổ quốc Đây chính là nơi bắt nguồn của mọi cảm hứng Vì vậy, khuynh hướng chủ đạo của thơ Việt Nam giai đoạn này là tập trung thể hiện những vấn đề, những sự kiện có ý nghĩa lịch sử và tính cách toàn dân tộc Vấn đề riêng tư của mỗi cá nhân bị lu mờ đi trước những vấn đề chung của đất nước, mang ý nghĩa vận mệnh chung của cả cộng đồng Con người được tập trung nhìn nhận chủ yếu ở phương diện cống hiến và lí tưởng Khuynh hướng đó không chỉ tạo nên những nhân vật trữ tình mang đậm tính chất cao cả, những hình ảnh nhân dân và Tổ quốc có sức khái quát cao mà còn tạo ra hàng loạt những mô típ nội dung quen thuộc Tất cả những điều đó được các nhà thơ viết bằng cảm hứng sôi nổi, mãnh liệt mang ý nghĩa khẳng định, ca ngợi, tự hào Cũng tắm mình trong nguồn cảm hứng lớn lao ấy tuy nhiên thơ Nguyễn Duy có những cách tiếp cận khá riêng biệt ghi đậm dấu ấn của chủ thể sáng tạo

2.2.1.1 Biểu hiện tập trung của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong văn học

Việt Nam thời chống Mỹ là hình ảnh anh bộ đội nói riêng và hình ảnh con người cầm

vũ khí nói chung Họ đã sống và chiến đấu theo một lý tưởng xã hội cao cả là giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Lý tưởng cao đẹp đó trở thành một mục đích cao cả và niềm tin thiêng liêng đem lại sức mạnh cho những con người anh hùng thời chống Mỹ Tinh thần ấy được các nhà thơ thể hiện theo cách riêng của mình Nhiều tác giả, khi nghĩ về Tổ quốc thì xây dựng hình

ảnh “nước non ngàn dặm”, nghĩ về dân tộc bằng “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế

kỉ”, nghĩ về anh bộ đội giải phóng thì “Kính chào anh còn người đẹp nhất” Có thể

nói, họ đã hòa nhập vào quĩ đạo lớn lao của cuộc sống chiến đấu lúc bấy giờ

Trang 39

Nguyễn Duy cũng viết không ít bài về đề tài chiến tranh Song có điều giọng điệu chủ đạo của thơ Nguyễn Duy giai đoạn này không phải là anh hùng ca Trong

thời đại “Tỏa nắng cho thơ là triệu ánh anh hùng” (Dương Hương Ly) nhưng cảm

hứng để Nguyễn Duy sáng tác không ở việc dựng những tượng đài hoành tráng mà chỉ tập trung khắc họa những vẻ đẹp đơn sơ, bình dị: một hành động, một tính cách,

một tâm trạng của con người Đó là anh lính thổi kèn với tiếng kèn “đỏ lừ” như “một

đạo quân âm thanh” bủa vây kẻ thù (Tiếng kèn hiệu trong trận đánh cao điểm X ), là

anh chàng Nam ra trận với khẩu súng, cây đàn (Khẩu súng, cây đàn), là vẻ đẹp “như

dạ hương thấp thoáng đêm nào” của một cô giáo ở Lạng Sơn trong những ngày

chống quân bành trướng ( Dạ hương), là hình ảnh cô gái đếm bom La Thị Tám nơi ngã ba Đồng Lộc, là vẻ đẹp tâm hồn như “trang sách quí chưa in” của cô thanh niên

xung phong tuy bị thương: “Má loang lổ sẹo trắng / Con mắt trái đục lờ mờ hẳn /

Nham nhở mái đầu tóc cháy khô” nhưng vẫn “nằn nì xin ở lại cung đường” (Trang

sách chưa in), là vẻ đẹp nụ cười của vợ chồng người chính ủy gặp nhau sau hai mươi

sáu năm xa cách: “Giọt nước mắt cũng già như tuổi/ Riêng nụ cười là vẫn trẻ trung”

(Giọt nước mắt và nụ cười), là sự bao dung vị tha của một người lính từ chiến trường trở về biết tin vợ vừa sinh con với người khác (Trở lại khúc hát ru) Đó là những con người bình thường nhưng đã góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc chống giặc ngoại xâm

Khi thơ Nguyễn Duy được “trình làng” thì cũng là lúc cuộc đấu tranh giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược đang tiến dần đến điểm kết thúc Cả nước sục sôi khí thế tiến công Các nhà thơ trẻ, đặc biệt là những nhà thơ - người lính “đều là những cây bút đã chạm khắc được rõ nét chân dung tinh thần của mình” [126, tr.107]

Vì vậy ta rất hay gặp những niềm vui, những cái đẹp, những tiếng cười trong thơ bộ

đội thời chống Mỹ Chẳng hạn Chính Hữu - Những ngày vui sao cả nước lên

đường Tiếng cười hăm hở đầy sông đầy cầu (Đường ra mặt trận), Phạm Tiến Duật - Đường ra trận mùa này đẹp lắm ( Trường Sơn đông, Trường Sơn tây), Xuân Thiều - Tiếng cười dậy cả Trường Sơn, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu còn có cả một bài thơ với

cái tên Niềm vui ra trận Còn Nguyễn Duy đi vào phản ánh cái trẻ trung yêu đời của

Trang 40

người lính Sau những “sục sôi bom lửa” ở chiến trường, tâm tư người lính nhẹ nhàng, thư thái, yên tĩnh trở về với “bầu trời vuông”:

“Khoái nào bằng phút ngả lưng

Mở trang thư dưới cánh rừng đong đưa Trời tròn có lúc rơi mưa

Trời vuông vuông suốt bốn mùa nắng xanh”

Cánh võng trong thơ Nguyễn Duy cũng trở thành “võng trăng” biến tất cả đêm

Trường Sơn thành đêm trăng huyền ảo: “Em ơi dù có mưa giăng/ Đêm Trường Sơn

vẫn sáng trăng lưỡi liềm”( Võng trăng ) Qua “bầu trời vuông”, “võng trăng ấy”,

người đọc đã cảm nhận thật sâu sắc sự trẻ trung yêu đời, tinh thần lạc quan phơi phới của người lính Trường Sơn

Trên bước đường hành quân, họ vui thú với thiên nhiên, xem thiên nhiên như người bạn đường thân thiết Một tiếng chim rừng cũng làm cho anh chiến sĩ lưu luyến:

“Đường hành quân còn xa Bao nhiêu là gian khó Chim bay cùng ta đó

Ơi tiếng chim bạn bè”

( Tiếng chim bạn bè ) Sau sự gầm rú của bom đạn, người lính vẫn tìm thấy sự bình thản, tự tin của giây phút thanh bình:

“Vừa tim nghỉm tiếng bom rung

Đã nghe nhỏng nhảnh chim rừng tán nhau”

(Tiếng chim sau trận B52) Người lính hiện lên trong thơ Nguyễn Duy với sự nhẹ nhàng, kín đáo, tinh tế,

có tình nghĩa mặn nồng và sự chỉn chu lo toan của người mẹ:

“Mắc võng ngủ nhờ rừng cây cao su Quấn thêm cỏ vào dây cho cây không trớt vỏ

Giấc ngủ đến nhòe rừng, vẫn nhớ Giữ nguyên lành dòng nhựa trắng cho cây.”

Ngày đăng: 11/04/2013, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1.Bảng thống kê so sánh tỉ lệ thơ lục bát - Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy
Bảng 3.1. Bảng thống kê so sánh tỉ lệ thơ lục bát (Trang 70)
Bảng 3.2. Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ - Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy
Bảng 3.2. Bảng thống kê thể thơ trong một số tập thơ (Trang 71)
BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ TỪ LÁY - Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Duy
BẢNG THỐNG KÊ SO SÁNH TỈ LỆ TỪ LÁY (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w