Tại Hà Nội, vào nhưng năm 1996-1997 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực ô nhiễm khoảng 1700 mét và nồng độ bụi
Trang 1Ô nhiễm môI trường
• Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế
là sự gia tăng của ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm đất, nguồn nước và không khí.
Trang 2Nguyªn nh©n g©y « nhiÔm kh«ng khÝ
-Do khí thải công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp.
-Do giao thông vận tải.
-Do sinh hoạt, xây dựng.
-Do quá trình phân hủy tự nhiên
Trang 3• Số liệu thống kê cho thấy mức độ ô nhiễm không khí một cách trầm trọng của nước ta
• Kết quả đo tại cỏc trạm giỏm sỏt khụng khớ cho thấy:
• + SO2: 6% số mẫu cú nồng độ cao hơn tiờu chuẩn 1 3 lần.
• + Bụi : 100% số mẫu cú nồng độ cao hơn tiờu chuẩn cho phộp.
Trang 4• Càng ở thành phố, mức độ ô nhiễm càng lớn
Trang 5• Với mật độ giao thông như thế này, không ô nhiễm mới
là lạ
Trang 6• Chỉ tính riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm các phương tiện vận tải trên địa bàn thành phố tiêu thụ khoảng 210.000 tấn xăng và 190.000 tấn dầu Dizel Như vậy đã thải vào không khí khoảng 1100 tấn bụi, 25 tấn chì, 4200 tấn CO2, 4500 tấn NO2, 116000 tấn CO, 1,2 triệu tấn CO2,
13200 tấn Hydrocacbon và 156 tấn Aldehyt Chính vì thế, tại nhiều khu vực trong các đô thị có nồng độ các chất ô nhiễm lên khá cao Tại Hà Nội, vào nhưng năm 1996-1997 ô nhiễm trầm trọng đã xảy ra ở xung quanh các nhà máy thuộc khu công nghiệp Thượng Đình với đường kính khu vực ô nhiễm khoảng 1700 mét và nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép khoảng 2-4 lần; xung quanh các nhà máy thuộc khu công
nghiệp Minh Khai – Mai Động, khu vực ô nhiễm có đường kính khoảng
2500 mét và nồng độ bụi cũng cao hơn tiêu chuẩn cho phép 2-3 lần
• Tại thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đến năm 2010, nếu tất cả 74 khu công nghiệp đều sử dụng hết diện tích, thì các xí nghiệp sẽ thải ra một lượng chất thải rắn lên tới khoảng 3500
tấn/ngày tức làn gấp 29 lần so với hiện nay, trong đó có khoảng 700 tấn chất thải độc hại
Trang 7• Ngay ë Hµ Néi, t×nh h×nh còng ch¼ng kh¸ h¬n lµ mÊy
• Các nhà khoa học cho rằng, nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí tại Hà Nội là do các nguồn thải từ các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng và sinh hoạt của nhân dân đô thị Trong đó, ô nhiễm do hoạt động của giao thông là rất lớn, gây ô nhiễm không khí trầm trọng đối với các khu dân cư xung quanh Thống kê chưa đầy đủ, hiện Hà Nội có hơn 120.000 ôtô các loại và khoảng 1,7 triệu xe máy - bình quân cứ 2 người dân Hà Nội (kể cả trẻ em và người già) có 1 xe máy Con số này hiện còn tiếp tục tăng với tỷ lệ trung bình 13%-15%/năm, theo các nhà khoa học, đây là mối lo ngại lớn cho vẫn đề ô nhiễm không khí
Trang 8Nguyên nhân ô nhiễm đất
• Phõn bún húa học chắc chắn đó gia tăng năng suất, nhưng việc sử dụng lặp lại, với liều rất cao gõy ra sự ụ nhiễm đất do cỏc tạp chất lẫn vào Hơn nữa Nitrat và Phosphat rải một cỏch dư thừa sẽ chảy theo nước mặt và làm ụ nhiễm cỏc mực thủy cấp Cũng thế, nụng dược vụ cơ hay hữu cơ cũng cú thể làm ụ nhiễm đất và sinh khối
• Trong nhiều húa chất sử dụng trong nụng nghiệp, người ta cú thể phõn biệt cỏc chất khoỏng (vụ cơ) và cỏc chất hữu cơ tổng hợp Chỳng là cỏc chất gõy ụ nhiễm thượng nguồn của đất trồng Nhưng sự giỏn đoạn của chu trỡnh vật chất trong cỏc hệ sinh thỏi nụng nghiệp hiện đại cũn gõy một ụ nhiễm ở hạ nguồn nơi một số đất đai Thật vậy, cỏc nỳi rỏc khổng
lồ cú nguồn gốc nụng nghiệp, sản phẩm do sự khai thỏc hay sự tiờu thụ sản lượng động vật và thực vật thỡ được thấy ở tất cả cỏc nước cụng nghiệp húa Cỏc chất này khụng quay trở lại ruộng đồng, khỏc với lối canh tỏc cổ truyền Chỳng khụng bị tỏi sinh nhưng chất đống ở bói rỏc với sự lờn men hiếm khớ tạo ra cỏc hợp chất S và N độc, làm cho ụ
nhiễm đất gia tăng
• Thõm canh khụng ngừng của nụng nghiệp, sử dụng ngày càng nhiều cỏc chất nhõn tạo (phõn húa học, nụng dược ) làm cho đất ụ nhiễm tuy chậm nhưng chắc, khụng hoàn lại (irreversible), đất sẽ kộm phỡ nhiờu đi
Trang 10• Sự gia tăng của rác thải sinh hoạt cũng như rác thảI công nghiệp cũng là một nguyên nhân lớn, dẫn đến ô nhiễm đất
Trang 11• Dưới tác động ghê gớm của các hóa chất bảo
vệ thực vật, đất trở nên ô nhiễm trầm trọng Lúc này, dù rau trồng trên đất có xanh tươI chăng nữa, cũng chẳng ai dám ăn.
Trang 12• §Êt ®ai bÞ « nhiÔm dÇn trë nªn c»n cçi, khiÕn cho c©y cèi trë nªn x¬ x¸c.
Trang 13Nguyên nhân gây ô nhiễm nước
1 Do rác thải sinh hoạt.
Các chất thải do sinh hoạt, rác thải từ các nhà vệ sinh công cộng đổ ra sông, biển mà không qua bất cứ sự xử lí nào gây
ra ô nhiễm nước một cách trầm trọng
Trang 153 Các sự cố tràn dầu trên biển
Dầu tràn gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường
sống của các loàI sinh vật ở đại dương Sự cố tràn dầu
có thể gây ra sự hủy diệt hàng loạt các loàI sinh vật biển, dẫn đến hiện tượng thủy triều đỏ.
Trang 16• Ô nhiễm nước là nguyên nhân gây ra cáI chết của 5000 trẻ em mỗi ngày
Trang 17Hậu quả của ô nhiễm nước
1 Cá và các loàI động vật sống dưới nước khác không thể sống trong môi trường nư
ớc bẩn thỉu, chúng theo bản năng sinh tồn sẽ di cư đi nơI khác sinh sống, và hậu quả là, chúng ta phảI đi xa hơn để có thể đánh bắt được cá.
2 Nếu cáy cối sống dưới nước chết, thì cá sẽ chết, nếu cá chết thì những loàI chim ăn cá cũng sẽ chết.
Trang 183 Những chất độc hóa học ta thảI vào nước sẽ ảnh hưởng
đến cá Ăn loại cá này, chúng ta sẽ bị ngộ độc
4 Con người dù chẳng may phải uống dù một chút loại nước này đều có thể bị các bệnh như tả và thương hàn.
Trang 195 Những người bơI trong những con sông bẩn sẽ mắc các bệnh về tai và da.
6 Dầu tràn sẽ hủy hoại môI trường biển cũng như những loàI
động vật sống ở biển.
Trang 20Vậy thì, đâu là giải pháp?
(2) Tuyên truyền để mọi ngư
ời cùng bảo vệ môI trư
ờng
Trang 212 T¸I sö dông khi cßn
cã thÓ + Chó thÝch (1) Kh«ng l·ng phÝ giÊy (2) Kh«ng ng¾t hoa
Trang 223 T¸I chÕ
+ Chó thÝch
(1) Mang theo tói cña m×nh
khi ®i mua s¾m
Trang 23• Một sơ đồ táI chế
Trang 24Một số sáng kiến giảm thiểu ô nhiễm
môI trường
• Chương trỡnh phõn loại rỏc tại nguồn:
Biến rỏc thành tài nguyờn
Bắt đầu thực hiện thớ điểm, mỗi hộ dõn nằm trong chương trỡnh sẽ được phỏt miễn phớ
2 thựng đựng rỏc dung tớch 15 lớt Một thựng dựng để đựng rỏc thực phẩm (hữu cơ)
như thức ăn thừa, rau, củ quả Một thựng đựng rỏc cú thể tỏi chế như bao bỡ nylon,
giấy, kim loại, thuỷ tinh Đối với rỏc hữu cơ, người dõn vẫn thực hiện đổ rỏc bỡnh
thường, đối với rỏc cú thể tỏi chế, người dõn cú thể bỏn để kiếm thờm thu nhập Trỏch
nhiệm của cỏc bà nội trợ đến đõy là hết, mọi việc cũn lại là của cơ quan chức năng
Lực lượng thu gom rỏc cú trỏch nhiệm thu gom và vận chuyển cỏc loại rỏc đó được
phõn loại đến đỳng nơi quy định Chỉ với hỡnh thức đơn giản là phõn loại rỏc tại nguồn,
theo tớnh toỏn của cỏc chuyờn gia trong chương trỡnh, nếu thực hiện triệt để trờn địa
bàn toàn thành phố, đến năm 2010, thành phố cú thể tiết kiệm được 50% diện tớch đất
quy hoạch làm cỏc bói chụn lấp rỏc Đồng thời, việc này sẽ gúp phần "cứu" thành phố
một bàn thua trụng thấy là thiếu quỹ đất để lập cỏc bói rỏc
Lợi cả đụi đường
Hiện nay, theo tớnh toỏn của Sở Tài nguyờn - Mụi trường, lượng rỏc thực phẩm (cú
xuất xứ từ nhà dõn và cỏc chợ, siờu thị) chiếm từ 65 đến 90% tổng khối lượng rỏc tại
cỏc bói chụn lấp Nếu được phõn loại ngay từ đầu thỡ lượng rỏc này là nguồn nguyờn
liệu vụ tận cho cụng nghệ xử lý rỏc Nhưng trờn thực tế, đối với loại rỏc "hầm bà lằng"
thỡ khụng thể sử dụng vào bất cứ mục đớch gỡ Nếu làm phõn thỡ khụng đủ sạch, vỡ lẫn
nhiều tạp chất Cũn nếu đưa vào tỏi chế thỡ khụng cú thứ mỏy múc nào cú thể phõn
loại đối với loại rỏc hỗn hợp này Chỉ cũn một cỏch duy nhất để xử lý là chụn Với
chương trỡnh phõn loại rỏc tại nguồn, phần rỏc cú thể tỏi chế đó cú một lực lượng đụng
đảo cỏc cơ sở thu mua phế liệu bao tiờu, mà khụng cần đến vai trũ của Nhà nước
Cũn lại rỏc hữu cơ, loại rỏc này sẽ được đưa vào chụn tại cỏc bói rỏc, sau đú thu hồi
khớ để phỏt điện (cỏch làm hiện nay ở bói rỏc Phước Hiệp) Sau khi thu hồi hết khớ, rỏc
thải cũng đó hoai mục hoàn toàn, sẽ được dựng để chế biến thành phõn vi sinh
(compost) Như vậy, từ những loại rỏc thải thụng thường, nếu được phõn loại ngay từ
đầu cú thể tận dụng và biến rỏc thành một loại tài nguyờn vụ tận
Hiện tại, thành phố cú 6 dự ỏn đang được triển khai Trong đú, chủ yếu là xử lý rỏc
thành phõn bún vi sinh Theo Sở Tài nguyờn và Mụi trường, nếu mọi việc trụi chảy,
đến cuối năm 2007 dự ỏn đầu tiờn sẽ đi vào sản xuất
Trang 25• Seraphin - Công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt Việt Nam07:49' 15/10/2003
(GMT+7) Phân vi sinh được sản xuất từ rác sinh hoạt.(VietNamNet) - Rác thải sinh hoạt
tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố lớn chủ yếu được xử lý thô sơ bằng cách vùi tại các bãi chôn lấp, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và nguồn nước ngầm Căn
cứ vào thực tế đó, tập thể các nhà khoa học thuộc Công ty cổ phần Công nghệ môi trường xanh đã tự nghiên cứu và phát triển thành công công nghệ xử lý rác mang
tên Seraphin, phù hợp với đặc điểm rác thải Việt Nam là không được phân loại từ
đầu nguồn Công nghệ Seraphin đã được nghiên cứu trong 5 năm và được ứng dụng
cách đây 18 tháng dưới dạng nhà máy xử lý rác thí điểm ở Ninh Thuận với công suất 150 tấn/ngày Chi phí xây dựng là 20 tỷ đồng
Có thể tóm tắt quá trình xử lý rác thải như sau: Ban đầu rác từ khu dân cư được đưa tới
nhà máy và đổ xuống nhà tập kết nơi có hệ thống phun vi sinh khử mùi cũng như ozone
diệt vi sinh vật độc hại Tiếp đến, băng tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi
loại bao gói Rác tiếp tục đi qua hệ thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọt xuống sàng lồng Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô
cơ (kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt Trong quá trình vận chuyển
này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm
chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc hại Sau đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi khuẩn Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi nhà
ủ, tới hệ thống nghiền và sàng Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặc biệt
nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50% phân hoá học Phân
dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-10 ngày Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tại Công ty tiếp tục phát triển hệ thống xử lý phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín Phế thải trơ và dẻo đi qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch Sản phẩm thu được ở giai đoạn này là phế thải dẻo sạch Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao Thành phẩm cuối cùng là ống cống panel, cọc gia cố nền móng, ván sàn, cốp pha, gạch bloc Sản phẩm ống cống từ rác vô cơ.Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy,
thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin (chất thải vô cơ không huỷ được) và 250-300kg
phân vi sinh Loại phân này hiện đã được bán trên thị trường với giá 500 đồng/kg Hiện
công ty đang làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác Thuỵ Phương tại thành phố Huế với công xuất 150 tấn/ngày, chi phí xây dựng 30 tỷ đồng Theo dự kiến, nhà máy sẽ đi vào vận hành trong tháng 11 tới Một nhà máy khác mang tên Đông Vinh tại thành phố Vinh
với công suất xử lý 200 tấn/ngày cũng sẽ được hoàn tất vào tháng 12 với chi phí xây dựng khoảng 45 tỷ Chi phí xây dựng một nhà máy xử lý rác sinh hoạt sử dụng công nghệ
seraphin rẻ hơn nhiều so với các giải pháp xử lý rác nhập ngoại.Như vậy, qua các công
đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm cho rác thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi sinh, vật liệu xây dựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho công nghiệp Các sản phẩm này đã được cơ quan chức năng, trong đó có
Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng kiểm định và đánh giá là hoàn toàn đảm bảo về mặt vệ sinh và thân thiện môi trường Với công nghệ seraphin, Việt Nam có thể xoá bỏ
khoảng 52 bãi rác lớn, thu hồi đất bãi rác để sử dụng cho các mục đích xã hội tốt đẹp
hơn.Tuy nhiên, để tạo điều kiện dễ dàng hơn trong khâu xử lý rác thải sinh hoạt, công ty
vệ sinh môi trường đô thị tại các tỉnh, thành phố cần vận động, hướng dẫn người dân phân loại rác sinh hoạt ngay từ đầu - điều mà các nước phát triển đã làm từ hàng chục năm qua