Theo TCYT thế giới WHO - 1963, tâm phế là tình trạng phì đại tâm thất phải hậu quả từ những bệnh lý gây ảnh hưởng đến chức năng và cấu trúc của phổi... Bệnh lý giãm thông khí phế nang vớ
Trang 1TÂM PHẾ
BV Đại học Y Dược - 2008
Trang 10I Định nghĩa.
Theo TCYT thế giới (WHO - 1963), tâm phế là tình trạng phì đại tâm thất phải hậu quả từ những bệnh lý gây ảnh hưởng đến chức năng và cấu trúc của phổi
Trang 11II Nguyên nhân.
• d Huyết khối tỉnh mạch cửa.
• C Bệnh lý giãm thông khí phế nang với chủ mô phổi bình thường.
• a Ngưng thở khi ngũ ( Sleep apnea).
Trang 12cấp Tâm phế mạn thường kèm với tăng áp phổi tiến
triển từ từ và dẫn đến hậu quả làm dày tâm thất phải và suy tim phải về sau
Trang 15Điện tâm đồ.
Hai biểu hiện bất thường trên ECG cần chú ý đặc biệt:
• Tâm phế cấp có thể không có sự thay đổi trên điện tâm đồ hay có thể có rung nhĩ Thuyên tắc phổi nặng có thể gây ra hình ảnh sóng S ở DI và Q ở DIII( có thể có TIII) Có thể
xuất hiện RBBB và biến mất đi sau khi xuất hiện những
dấu hiệu của quá tải về áp lực lên tâm thất phải
• Trong bệnh tâm phế do COPD có thể có rối loạn nhịp nhĩ, trục sóng P > +70, điện thế thấp, chậm dẫn truyền trong thất phải và RBBB, có thể có hình ảnh S1S2S3
Trang 20Cận lâm sàng khác
X quang phổi.
• Hình ảnh tăng áp phổi trên phim sau-trước.
• Hình ảnh lớn thất phải trên phim nghiêng: mất khoảng sáng sau xương ức
Trang 23Cận lâm sàng.
• Siêu âm tim
• Thông tim phải Là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán
• Xạ hình phổi và chụp động mạch phổi.
Trang 28Điều trị.
• Trong tăng áp phổi nguyên phát, thuốc dãn mạch được khuyến cáo sử dụng để làm giãm áp lực động mạch phổi
và tăng lưu lượng tim và cải thiện được triệu chứng
• Thuốc nhóm ức chế kênh calci như Nifedipine
(120-240mg/ngày) hay Diltiazem (900mg/ngày) là thuốc được
sử dụng phổ biến nhất Chú ý thuốc có thể gây hạ huyết
áp, giãm oxy máu ( do làm nặng thêm tình trạng bất
thường của thông khí/tưới máu) Verapamil và các thuốc khác như Nitrat, UCMC, hydralazine, ức chế bêta không được khuyến cáo sử dụng