Luận văn về xóa đói giảm nghèo dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 1Mở đầu
1 - Sự cần thiết của đề tài
Ngày nay, nghèo đói và chống nghèo đói đã trở thành vấn đề toàn cầu Nhiều quốc gia, tổ chức và diễn đàn quốc tế đều lấy hoạt động chống nghèo đói làm một trong những mục tiêu quan trọng trong chơng trình hoạt động
ở nớc ta, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản trong hoạt động của mình là giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ mới để
đem lại hạnh phúc, ấm no cho mọi ngời dân Việt Nam Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, Đảng và Nhà nớc phải tạo điều kiện “Làm cho ngời nghèo đủ
ăn Ngời đủ ăn thì khá, giàu Ngời khá, giàu thì giàu thêm”
Trong những năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có bớc tiến phát triển
v-ợt bậc, đời sống của đa số dân c đợc cải thiện Công tác xoá đói giảm nghèo (XĐGN) đã thu đợc những thành tựu đáng kể Tuy vậy, mức sống của ngời dân vẫn còn thấp, phân hoá thu nhập có xu hớng tăng lên Một bộ phận dân c sống nghèo
đói - trong đó có những gia đình có nhiều đóng góp cho cách mạng vẫn chịu nhiều thua thiệt trong hoà nhập cộng đồng và không đủ sức tiếp nhận những thành quả do công cuộc đổi mới đem lại Hiện nay, tỉ lệ hộ đói nghèo của nớc ta là 10,86% (khoảng 2 triệu hộ) Đặc biệt, có hơn 1000 xã nghèo đói với số hộ nghèo chiếm từ 40% trở lên Từ khi thực sự trở thành phong trào và có một số văn bản quy phạm pháp luật ở một số khía cạnh khác nhau, công tác xoá đói, giảm nghèo ở nớc ta đã
đợc Liên hợp quốc đánh giá là có nhiều sáng tạo và tiến bộ; các tổ chức quốc tế
nh UNDP, UNFPA, UNICEP, FAO đã có cam kết tiếp tục hợp tác và hỗ trợ Việt Nam phát triển Nhng nếu nhìn lại một cách nghiêm túc vẫn còn có những bất cập
và thiếu sót cần sớm khắc phục và bổ sung để thúc đẩy nhanh hơn, hiệu quả hơn công cuộc XĐGN ở nớc ta Chơng trình quốc gia XĐGN đã đợc triển khai ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nớc, nhng hiệu quả cha cao Tuy số hộ nghèo hàng năm giảm trên 20%, nhng với tiêu chuẩn phân định nghèo rất thấp Một khía cạnh rất đáng quan tâm ở đây là còn nhiều hộ gia đình ở những vùng dân tộc thiểu số
Trang 2thực sự đang lúng túng, quẩn quanh trong tình trạng đói nghèo, gặp khó khăn về khách quan và chủ quan khó có thể vợt qua nếu không có sự giúp đỡ từ phía Nhà nớc và xã hội Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số thực sự là một vấn đề bức xúc, cần đợc xem xét và soi sáng, dới nhiều khía cạnh, nhiều góc độ nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau, để giải quyết một cách khoa học, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) đã khảng định tiếp tục đầu t, giúp đỡ “những vùng nghèo, xã nghèo và nhóm dân c nghèo”, “phấn
đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn hộ nghèo Thờng xuyên củng cố thành quả xoá đói, giảm nghèo” và định mục tiêu “cơ bản xoá hộ đói, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 10% vào năm 2005” Vì vậy, việc xem xét, đánh giá thực trạng nghèo
đói và hình thành những giải pháp để XĐGN ở một vùng khó khăn nh là vùng dân tộc thiểu số nớc ta là vấn đề thiết thực, cấp bách cả về lý luận và thực tiễn Cho nên học viên lựa chọn đề tài luận văn là: “ Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam : Thực trạng và giải pháp”
2 - Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghèo đói, phân hoá giàu nghèo và XĐGN ở nớc ta là chủ đề đợc
Đảng, Nhà nớc và nhiều cơ quan, cán bộ nghiên cứu, chỉ đạo thực tiễn quan tâm Bên cạnh hệ thống các tài liệu, báo cáo của các cơ quan Nhà nớc và đoàn thể quần chúng nh Bộ NN và PTNT, Tổng cục Thống Kê, Bộ LĐTB và XH, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Ban XĐGN các tỉnh, thành phố, nhiều tài liệu nghiên cứu về XĐGN
Trang 3TSKH Lê Du Phong, TS Chu Tiến Quang đã có nhũng công trình nghiên cứu công phu về XĐGN ở nớc ta Nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học cũng lấy chủ đề phân hoá giàu nghèo và XĐGN làm đề tài luận văn ở địa bàn vùng dân tộc thiểu số nớc ta, nhiều năm nay cũng đã có những nghiên cứu tổng kết về XĐGN Ngoài tổng kết của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi, Ban XĐGN của các tỉnh, các huyện còn có các nghiên cứu của Bộ LĐ - TB và XH, Tổ chức OXFAM Anh (Tổ chức phi chính phủ của Anh), CSF - UK (Tổ chức quỹ nhi đồng Anh), AAV (Tổ chức hành động vì ngời nghèo Anh)
Có thể khảng định, các nghiên cứu về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở
n-ớc ta nói chung và ở vùng dân tộc thiểu số là rất phong phú Bên cạnh những phơng pháp nghiên cứu, tiếp cận truyền thống, các công trình nghiên cứu, chỉ đạo XĐGN
đã vận dụng nhiều phơng pháp mà các tổ chức quốc tế đã vận dụng nghiên cứu về phân hoá giàu nghèo và XĐGN ở nớc ta đã thực sự cung cấp những luận cứ khoa học, thực tiễn cho xây dựng, triển khai các chơng trình XĐGN cấp toàn quốc và
địa phơng
3 - Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nhận thức về lý luận và thực tiễn của nghèo đói và XĐGN, mục
đích của luận văn là đề xuất một số giải pháp chủ yếu về kinh tế - xã hội nhằm thực hiện XĐGN cho dân c vùng dân tộc thiểu số nớc ta
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo.+ Phân tích thực trạng đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và nguyên nhân
+ Phân tích những lợi thế và thách thức của vùng dân tộc thiểu số trong công tác xoá đói giảm nghèo
+ Đề xuất định hớng và những giải pháp thực hiện xoá đói, giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số Việt Nam
4 - Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Vùng dân tộc thiểu số nớc ta có đặc điểm tơng đối phức tạp về điều kiện sống, khí hậu và địa hình có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến nghèo đói cho từng vùng, từng hộ Tỷ lệ hộ đói nghèo cao nhất tập trung ở vùng dân tộc thiểu
số, vì thế luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề nghèo đói và XĐGN ở vùng
Trang 4này Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm gợi mở, góp phần vào sự nghiên cứu tổng thể một cách khoa học và toàn diện trong quá trình hình thành các chơng trình
dự án cụ thể để thực thi trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nớc nói chung và ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng
Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu về vấn đề nghèo đói ở địa bàn dân tộc thiểu số ở nớc ta từ năm 1992 cho đến nay Về mục tiêu và giải pháp XĐGN, dự báo đến năm 2010 để phù hợp với chiến lợc phát triển kinh tế xã hội của cả nớc Một số mục tiêu đợc lợng hoá cụ thể đến năm 2005
5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn.
Để xem xét vấn đề đói nghèo và XĐGN một cách khách quan, sát thực tiễn, luận văn vận dụng phép biện chứng của triết học Mác xít, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn vận dụng nhiều phơng pháp nghiên cứu cụ thể của kinh tế học và xã hội nh: so sánh, điều tra, phân tích, tổng kết thực tiễn thông qua các mô hình
6 Những đóng góp mới của luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, học viên đã tiếp thu thừa kế kết quả nhiều công trình khoa học liên quan đến XĐGN Với phạm vi và địa điểm nghiên cứu đợc lựa chọn, luận văn có những điểm mới sau đây:
- Trình bày tơng đối có hệ thống những nhận thức về đói, nghèo và XĐGN, những nhân tố ảnh hởng đến đói nghèo đặc biệt là nhân tố, chính sách quản lý điều hành công tác XĐGN
- Phân tích thực trạng nghèo đói gắn với điều kiện kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số nớc ta
7 Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chơng:
- Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói và xoá đói giảm nghèo
- Chơng 2: Thực trạng đói nghèo và công tác xoá đói, giảm nghèo ở vùng dân
tộc thiểu số
- Chơng 3: Kiến nghị về định hớng và một số giải pháp xoá đói, giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số nớc ta
Trang 5Chơng 1Cơ sở lý luận và thực tiễn về nghèo đói
và Xoá Đói Giảm Nghèo
1.1 Vấn đề đói nghèo và tầm quan trọng của công tác xoá đói giảm nghèo 1.1.1 Vấn đề nghèo đói và tiêu chí xác định nghèo đói.
Các quốc gia trên hành tinh chúng ta khác nhau về nhiều mặt : trình độ phát triển kinh tế, điều kiện địa lý tự nhiên, dân số và trình độ dân trí, bản sắc văn hoá, tín ngỡng và tập tục, hệ t tởng và chế độ chính trị Nhng dù có sự khác biệt đến mấy, vẫn có những điểm chung, những vấn đề bức xúc cần đợc quan tâm, một trong những vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu là nạn đói nghèo, trình độ lạc hậu
Nhiều diễn đàn khu vực và thế giới đã khảng định, đói nghèo là vấn đề nổi cộm của xã hội, đồng thời cũng cảnh báo rằng vấn đề đói nghèo không chỉ ở phạm
vi quốc gia, quốc tế sẽ đa đến mất ổn định chính trị trong và ngoài nớc, sẽ tạo ra những hậu quả khôn lờng; di dân quốc tế ồ ạt, phá huỷ môi trờng, tiêu cực xã hội lan rộng, ảnh hởng chung đến cả nhân loại
Vì vậy, nghèo đói không còn là vấn đề riêng của một quốc gia, mà là vấn đề quốc tế Hội nghị thợng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, họp tại Copehagen Đan Mạch tháng 3/1995, những ngời đứng đầu các quốc gia, đã trịnh trọng tuyên bố
“Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây nh đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị kinh tế của nhân loại”
Để hình thành các giải pháp xoá đói giảm nghèo, cần thiết phải có quan niệm đúng về đói nghèo Tuy vậy, cho đến nay quan niệm về đói nghèo và tiêu chí xác định có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khác nhau
Đến nay nhiều nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế đã đa ra nhiều khái niệm khác nhau về đói nghèo Có những tác giả chỉ nêu những đặc trng nào đó của nghèo đói nh là “thiếu ăn”, “thiếu dinh dỡng”, “nhà ở tạm bợ” hoặc thậm chí là sự
Trang 6“thất học” Theo tôi, những quan niệm trên chỉ mới nêu những biểu hiện riêng nào
đó của nghèo đói trong xã hội mà thôi Khái niệm về nghèo đói đợc nêu ra tại hội nghị bàn về xoá đói giảm nghèo ở khu vực Châu á Thái Bình Dơng do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 : Nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không
đợc hởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngời mà những nhu cầu này đã đợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phơng là phù hợp Khái niệm trên có những u điểm : làm rõ
đợc bộ phận dân c nghèo đói là “không đợc hởng” hoặc “không thoả mãn” những nhu cầu cơ bản ; làm rõ tính chất động của nghèo đói là “tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán từng địa phơng”
Khi xác định tiêu chí và mức nghèo đói, các công trình nghiên cứu quốc tế thờng chia làm hai cấp độ : phận định giữa các quốc gia và giữa các nhóm dân c, từ
đó xác định các quốc gia giàu, nghèo trên thế giới và phân chia dân c của mỗi quốc gia hoặc từng địa phơng thành nhóm giàu, nghèo
Đối với các quốc gia, hiện nay Ngân hàng thế giới (WB) đa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng thu nhập bình quân đầu ngời theo hai cách tính:
- Phơng pháp ATLAS tức là tỷ giá hối đoái và tính theo USD
- Phơng pháp PPP là phơng pháp sức mua tơng đơng tính theo USD
Từ đó ở cấp quốc gia, WB chia các quốc gia trên thế giới thành 4 nhóm:Nhóm các nớc nghèo nhất
Nhóm các nớc có trình độ trung bình
Nhóm các nớc có thu nhập khá cao
Nhóm các nớc có thu nhập cao và rất cao
Theo phơng thức thứ nhất (lấy theo mức thu nhập năm 1990) từ 600USD/ ngời/ năm đến dới 2500USD/ ngời/ năm là nớc nghèo Dới 600USD/ ngời/ năm là nớc cực nghèo
Đối với đối tợng nghèo đói trong dân c, hiện nay trên thế giới các nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đa ra một số phơng pháp xác định giới hạn
Trang 7khác nhau Hai phơng pháp đợc quan tâm nhất là phơng pháp của nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội Rowntree và phơng pháp của World Bank.
Phơng pháp của Rowntree: Để xác định mức nghèo đói, Rowtree đã tiến hành điều tra về thu nhập và chi tiêu của các gia đình lao động tại thành phố York (nớc Anh) Qua thu nhập thông tin, Rowntree cho rằng mức nghèo đói là mức thu nhập không đủ để mua sắm các sản phẩm cần thiết để duy trì các hoạt động cơ thể bao gồm cả lơng thực, tiền thuê nhà và một số nhu cầu tối cần thiết khác Ông cho rằng, mỗi gia đình 5 ngời (gồm 3 ngời con và cha mẹ), cần phải chi tiêu tối thiểu mỗi tuần là 21 xilinh 8 xu Từ đó, ông cho rằng gia đình có mức thu nhập 1 tuần d-
ới 21 xilinh 8 xu là gia đình thuộc diện nghèo đói ở thời kỳ nghiên cứu, trên cơ sở thông tin thu nhập của các gia đình và mức chuẩn nêu trên, Rowntree cho rằng thành phố York có 10% số dân thuộc diện nghèo đói
Phơng pháp của Ngân hàng thế giới: Phơng pháp này nhằm tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới Phơng pháp chủ yếu của Ngân hàng thế giới nhằm thực hiện 2 yêu cầu: Xác định đợc múc thu nhập có thể so sánh giữa các quốc gia và định ra mức (chuẩn) nghèo đói chung cho toàn thế giới Để so sánh thu nhập, thực hiện phơng pháp tính “rổ hàng hoá”, sức mua tơng đơng để tính đợc mức thu nhập dân c giữa các quốc gia có thể so sánh Về giới hạn nghèo đói, Ngân hàng thế giới đa ra mức năm 1985 là 1USD/ ngời/ ngày Với mức trên, Ngân hàng thế giới ớc tính, có khoảng 1,2 tỷ ngời đang phải sống trong nghèo đói Ngoài hai phơng pháp trên, xác định tiêu chí nghèo đói giữa các quốc gia và nội bộ dân c, một số công trình nghiên cứu đa ra chỉ tiêu “chất lợng cuộc sống”, “chỉ số phát triển con ngời”, “mức dinh dõng năng lợng do bữa ăn mang lại trong ngày” Chỉ tiêu “chất lợng cuộc sống”, “chỉ số phát triển con ngời” thờng đợc phân biệt nghèo
đói, trình độ phát triển giữa các quốc gia, còn “mức dinh dỡng, năng lợng do bữa
ăn mang lại trong một ngày” thờng dùng để phân biệt nghèo đói trong nội bộ dân
c Hoặc ở Việt Nam, khi xác định tiêu chí nghèo đói Tổng Cục thống kê đa ra mức thu nhập nhằm đáp ứng nhu cầu bữa ăn hàng ngày mang lại, còn Bộ LĐ - TB và
XH chỉ đa ra mức thu nhập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu tối thiểu về lơng thực Nh
Trang 8vậy, những căn cứ để xác định tiêu chí và định chuẩn nghèo đói từng thời kỳ đang
là vấn đề có nhiều ý kiến khác nhau
Trong quá trình nghiên cứu nghèo đói và thực hiện hỗ trợ chơng trình XĐGN ở Việt Nam, Ngân hàng thế giới đa ra mức chuẩn nghèo đói cho Việt Nam Căn cứ cơ bản để Ngân hàng thế giới xác định ngỡng nghèo đói ở Việt Nam là l-ợng Calo tối thiểu cho 1 ngời trong 1 ngày Từ đó, so sánh thu nhập của gia đình mua sắm thức ăn đủ số Calo cần thiết theo yêu cầu Ngân hàng thế giới đa ra mức yêu cầu lợng calo của ngời Việt Nam là 2100Cl/ngời/ ngày Căn cứ vào giá cả các loại thức ăn cần thiết, Ngân hàng thế giới đa ra mức chi phí cần cho 1 ngời ở nớc ta vào thời kỳ 1992 - 1993 là 729.000 đồng/năm
Dựa vào số liệu điều tra mức sống dân c tại nớc ta năm 1993 và năm 1998, Ngân hàng thế giới phân loại nghèo đói thành 2 loại: nghèo đói chung và nghèo
đói lơng thc, thực phẩm ứng với mỗi loại nghèo đói trên, Ngân hàng thế giới nêu
ra ngỡng đói nghèo cho từng loại ở Việt Nam
Nghèo có 2 dạng: nghèo tơng đối và nghèo tuyệt đối Nghèo tuyệt đối là
tình trạng một bộ phận dân c không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Nghèo tơng đối là sự nghèo khổ thể hiện ở sự bất bình đẳng
Trang 9trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân c, các vùng địa lý Nh vậy, nghèo đói là quan niệm mang tính chất tơng đối cả về không gian và thời gian Về nghèo tuyệt đối, biểu hiện chủ yếu thông qua tình trạng một bộ phận dân c không đợc thoả mãn các nhu cầu tối thiểu - trớc hết là ăn gắn liền với dinh dỡng Ngay nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia Phạm trù “nhu cầu tối thiểu” cũng đợc mở rộng dần Còn về nghèo tơng đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân c so với mức sống trung bình của địa phơng ở một thời kỳ nhất định Vì những lẽ đó, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xoá dần nghèo tuyệt đối là công việc có thể làm, còn nghèo tơng đối là hiện tợng thờng có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, và hạn chế sự phân hoá giàu nghèo.
Đói nghèo là một khái niệm động, phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế xã hội, lịch sử, mức độ tăng trởng kinh tế và nhu cầu phát triển của con ngời ở một thời điểm, một vùng, một quốc gia là đói nghèo nhng một thời điểm khác, vùng khác, một quốc gia khác thì chỉ số đó mất ý nghĩa Do đó, rất khó quy định hợp lý một chuẩn mực chung về đói nghèo cho tất cả mọi quốc gia, ngay trong một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, giữa các thời kỳ
1.1.2 Nghèo đói trên thế giới và nguyên nhân.
1.1.2.1 Về nghèo đói trên thế giới.
Thế giới ngày nay đã và đang phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, do sự tác động và ảnh hởng to lớn của cách mạng khoa học - kỹ thuật - công nghệ, cùng nhiều nhân tố khác của thời đại Tuy vậy, toàn thế giới hiện có hơn 1,2 tỷ ngời nghèo đói chiếm 25% dân số thế giới sống dới mức tối thiểu Khu vực Châu á, Châu Phi, Mỹ La Tinh có số lợng ngời nghèo đói lớn nhất (Châu á gần 800 triệu ngời, Châu Phi gần 500 triệu ngời)
Theo nhận định của các nhà nghiên cứu và tổ chức quốc tế, ở một số vùng trên thế giới, số ngời nghèo có thể tăng và có thể lên tới 1,5 tỷ ngời vào năm 2025
Trang 10Ngời nghèo đói không chỉ ở nông thôn mà ở thành thị cũng chiếm một tỷ lệ
đáng kể, xu hớng chung đang tăng dần, bởi vì ngoài dân nghèo thành thị còn có ngời nghèo đói từ nông thôn tràn vào thành thị tìm việc làm, họ không có nhà ở, không có việc làm và thu nhập không ổn định, không đợc hởng dịch vụ y tế, văn hoá Đối với nhiều quốc gia, đây còn là môi trờng làm cho tiêu cực xã hội phát triển Điều đáng chú ý là đa số ngời nghèo đói là phụ nữ, trẻ em, tình trạng suy dinh dỡng, thất nghiệp mù chữ, dịch bệnh lây lan, môi trờng sinh thái ô nhiễm nghiêm trọng, tuổi thọ và trí lực giảm sút Tệ nạn xã hội và những rối loạn làm mất
ổn định xã hội thờng xảy ra Sự chênh lệch giàu nghèo giữa các nớc giàu chi phối,
lệ thuộc, bất bình đẳng trong quan hệ quốc tế Bên cạnh một bộ phận dân c nghèo,
điều đáng quan tâm là chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các nớc giàu với nớc nghèo, giữa các nhóm dân c ở hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày càng gia tăng
ở các nớc t bản phát triển, mặc dầu năng suất lao động đạt ở mức cao, các thành tựu khoa học - công nghệ đợc ứng dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội nhng vẫn tồn tại một bộ phận dân nghèo khổ trong lúc một bộ phận khác sống thừa thãi, xa hoa ở Anh, chỉ 5% số ngời giàu đã chiếm 50% tổng thu nhập cá nhân của cả nớc ở Mỹ, trong thập kỷ tám mơi, có thêm 4 triệu trẻ em rơi vào cảnh nghèo đói, mặc dù mức thu nhập của nền kinh tế đã tăng lên hơn 20% ở Liên minh Châu Âu (EU), khu vực gồm hầu hết các nớc giàu thì số ngời nghèo khổ cũng tăng từ 38 triệu ngời năm 1975 lên 52 triệu ngời năm 1988 ở nhiều quốc gia, phân hoá giàu nghèo làm tăng bất công xã hội và chuyển thành đối kháng lợi ích Ngày nay, trong toàn bộ hệ thống t bản chủ nghĩa, chênh lệch thu nhập, bất công xã hội tăng lên: 20% số ngời giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập; 20% số ngời nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập
Nh vậy, nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo đã trở thành hiện tợng có tính chất toàn cầu, có nguồn gốc sâu xa từ sở hữu, bản chất chế độ, địa vị xã hội, sắc tộ,
tổ chức quản lý Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia rất quan tâm đến
Trang 11việc thiết lập một trật tự kinh tế mới, đang tìm kiếm các giải pháp rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia, giữa các nhóm dân c, tăng cờng sự giúp đỡ cho các nớc nghèo, các nhóm dân c nghèo là yêu cầu rất cơ bản.
1.1.2.2 Về nguyên nhân nghèo đói trên thế giới.
Nghèo đói là hiện tợng xuất hiện từ lâu trong xã hội Đã hàng trăm năm nay, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng lý giải hiện tợng nghèo đói, nhất là nguyên nhân
và cách khắc phục Có thể nói, tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo rất đa dạng Có những nhà nghiên cứu tiếp cận theo khía cạnh thuần tuý kinh tế, cũng có những nhà nghiên cứu tiếp cận nguyên nhân nghèo đói và phân hoá giàu nghèo chủ yếu từ khía cạnh nhân chủng học hoặc dân số học Đồng thời cũng xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận cả nguyên nhân về tự nhiên, kinh tế, chính trị - xã hội
Ngời có công trình nghiên cứu về nguyên nhân nghèo đói chủ yếu dựa vào dân số - xã hội thờng đợc nhắc đến đầu tiên đó là Mantuýt Theo Mantuýt, lợng của cải từ sản xuất tăng chậm - theo cấp số cộng Còn dân số thì tăng quá nhanh - theo cấp số nhân Do đó, nghèo đói là hậu quả tất yếu của nguyên nhân dân số tăng nhanh Từ đó, theo ông muốn giảm nghèo đói, tất yếu phải chấp nhận bệnh dịch, chiến tranh Tuy nhiên quan niệm của Mantuýt mang yếu tố phản động nhng cũng
đã cảnh báo cho loài ngời, nhất là các nớc đang phát triển phải chủ động trong việc phát triển dân số và phải xem hạ thấp tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là yêu cầu bắt buộc
để hạn chế nghèo đói Nhiều nhà nghên cứu nh Kudơnhét, Alơvít, Ôtsima cũng
đã có những tiếp cận đáng quan tâm về phân hoá giàu nghèo và nguồn gốc của nghèo đói Theo quan niệm của Kudơnhét (1971), mức độ phân hoá giàu nghèo phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển và quy mô tổng sản phẩm quốc dân Khi nghiên cứu quan hệ về di chuyển lao động và xu hớng biến đổi tiền công giữa công nghiệp và nông nghiệp (1955), Lơvít cho rằng tăng trởng kinh tế, nhất là tăng trởng của cả nông nghiệp, công nghiệp là điều kiện để giảm bất bình đẳng trong thu nhập của dân c Ngoài các nhà nghiên cứu trên, hai học giả : C.Mác (1818- 1883)
Trang 12và Mác Veibơ (1864 - 1920) đợc xem nh là “hai nhời khổng lồ về lý thuyết phân tầng xã hội” Lý giải về nguyên nhân phân tầng xã hội và giàu nghèo giữa C.Mác
và Mácveibơ có những kết luận khác nhau Theo C.Mác, nguyên nhân cơ bản, sâu
xa nhất dẫn đến phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo là có hoặc không có quyền sở hữu đối với t liệu sản xuất, dùng t liệu sản xuất làm phơng tiện để bóc lột
và trở nên giàu có Còn giai cấp vô sản “trần nh nhộng”, chỉ có hàng hoá sức lao
động buộc phải bán để kiếm sống Do là chủ sở hữu t liệu sản xuất nên chủ t bản
có quyền quyết định việc phân phối sản phẩm và trở nên giàu có Còn ngời làm thuê thì bị bóc lột, trở nên nghèo tuyệt đối hoặc tơng đối Theo C.Mác, sự khác biệt
về thu nhập giữa những ngời lao động còn có sự khác nhau về trình độ nghề nghiệp
và hiệu quả lao động Khi phân tích nguyên nhân giàu nghèo và phân tầng xã hội, Mác Veibơ đặc biệt nhấn mạnh nguyên nhân uy tín và quyền lực Khác với C.Mác, Mác Veibơ cho rằng nguyên nhân cơ bản dẫn đến giàu nghèo và phân tầng xã hội
là khả năng thị trờng của từng thành viên trong xã hội Tuy thừa nhận những khía cạnh hợp lý về quan niệm của Mác Veibơ nhng nhiều nhà xã hội học t sản cũng phê phán, đánh giá : “Những tiếp cận của Mác Veibơ có xu hớng tập trung vào công việc mà coi nhẹ của cải nh một yếu tố cốt yếu của cấu trúc giai cấp” và nếu
“chúng ta quan tâm đến tập trung lợi thế và quyền lực, chúng ta không thể quên giai cấp t sản của C.Mác với độc quyền sở hữu các tài sản sản xuất”
Cùng tham gia tìm kiếm các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã phân tích khá toàn diện các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Tuy vậy, cách tiếp cận phân tích các nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo
và phân hoá thu nhập rất đa dạng Nhiều nhà xã hội học hiện đại khái quát 3 nhóm nhân tố liên quan đến giàu nghèo là tài sản, trí tuệ, uy tín và quyền lực
Thông thờng, ở nớc ta, nguyên nhân dẫn đến nghèo đói thờng đợc tiếp cận thành hai nhóm ; nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan Khi phân tích nguyên nhân khách quan thờng nhấn mạnh lý do chung, môi trờng, những tác nhân “bên ngoài” ngời nghèo đói nh hậu quả chiến tranh, thiếu t liệu sản xuất, thiên tai, mặt trái của kinh tế thị trờng, thiếu sót trong chính sách của Nhà nớc, gặp
Trang 13rủi ro Về nguyên nhân chủ quan là do thiếu vốn, thiếu khả năng kinh doanh, sinh
đẻ nhiều, chi tiêu không có kế hoạch Một số cá nhân và tổ chức, khi nghiên cứu nguyên nhân nghèo đói đã xem xét nguyên nhân ở 2 cấp độ : cấp cộng đồng và cấp
hộ gia đình ở cấp cộng đồng, các nguyên nhân thờng đợc nhắc đến là : khí hậu khắc nghiệt, sự cách biệt về địa lý, hậu quả chiến tranh Còn cấp độ hộ gia đình gồm những nguyên nhân nh thiếu vốn, bị rủi ro riêng, thiếu đất đai Cũng có thể tiếp cận trực diện, gọi “đích danh” từng nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Dù tiếp cận nguyên nhân nh thế nào chúng ta đều thấy sự phân biệt các nguyên nhân có tính chất tơng đối và giữa các nguyên nhân có quan hệ chặt chẽ với nhau, khảng
định nguyên nhân của đói nghèo rất đa dạng và giải quyết chúng phải có quá trình lâu dài
Từ việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của các học giả trên thế giới và ở nớc ta có thể thấy việc phân hoá giàu nghèo, nghèo đói do các nhóm nguyên nhân chủ yếu sau đây;
- Chiến tranh thế giới, cục bộ, sắc tộc
- Khủng hoảng kinh tế, mất ổn định về chính trị Trong những thập kỷ gần
đây trào lu mở cửa, hội nhập diễn ra ồ ạt trên thế giới bên cạnh mặt tích cực cũng gây nên những hậu quả xấu cho nhiều quốc gia do xem nhẹ nội lực, quá nhấn mạnh nguồn lực từ bên ngoài, (nh Inđônesia, ở áchemtina )
- Bản chất của Nhà nớc chi phối các chính sách liên quan đến phục vụ lợi ích cho các nhóm dân c trong xã hội
- Các cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo
- Các nguồn lực và điều kiện tự nhiên nh : khí hậu thời tiết, đất đai, tài nguyên, khoáng sản
- Các khả năng lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội, hoạt động kinh doanh nh : quản lý vĩ mô, quản lý các nguồn lực, quản trị kinh doanh
- Hoàn cảnh riêng và sự cố gắng của bản thân của từng ngời nghèo, vùng nghèo và của cả quốc gia (nh vốn, đất đai và tài nguyên khác, ý thức, kỹ năng )
Trang 14- Sự quan tâm của cộng đồng quốc tế hoặc cộng đồng trong phạm vi từng quốc gia
Khi phân tích các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, có những nguyên nhân hầu hết đợc các học giả khảng định, nhng cũng có những nguyên nhân còn đợc tranh luận Sự khác biệt trong nhận dạng các nguyên nhân dẫn đến nghèo đói của các học giả không chỉ xuất phát từ trình độ hoặc phơng pháp tiếp cận mà còn phụ thuộc vào nhãn quan chính trị - giai cấp của từng học giả
Từ việc tiếp cận hàng loạt các quan niệm khác nhau về nguyên nhân nghèo
đói nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
- Nghèo đói, nhất là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là vấn đề đợc thế giới rất quan tâm Nhận diện chính xác nguyên nhân dẫn đến nghèo đói là điều kiện cơ bản để hoạch định chính sách, phơng pháp phù hợp cho công tác xoá đói giảm nghèo
- Dù theo cách tiếp cận nào thì nguyên nhân dẫn đến nghèo đói đều đợc thừa nhận là rất đa dạng, mức độ tác động với các quốc gia rất khác nhau Từ đó, các giải pháp thực hiện xoá đói giảm nghèo vừa mang tính phổ biến bao gồm cả những giải pháp về chính trị, kinh tế và xã hội, vừa mang tính đặc thù
- Nghèo đói là vấn đề liên quan đến quốc gia, quốc tế, cộng đồng và từng nhóm nghèo Do đó, chơng trình xoá đói giảm nghèo phải là sự cố gắng của nhiều cấp, nhiều nghành và nỗ lực chủ quan của ngời nghèo
- Nớc nghèo, ngời nghèo thờng chịu thua thiệt và thiếu lợi thế trong hoà nhập quốc tế và hoà nhập cộng đồng Sự giúp đỡ hỗ trợ của bên ngoài là rất quan trọng nhng quyết định là sự cố gắng tự vơn lên của từng quốc gia nghèo và từng gia đình nghèo
1.1.3 Những khó khăn thách thức đối với các nớc nghèo và nhóm dân c nghèo
đói.
Trong phạm vi một quốc gia, trong quá trình phát triển, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng có khoảng cách lớn, bộ phận ngời nghèo đói bị tụt hậu nhiều mặt,
Trang 15muốn vơn lên đủ ăn, khá giả là một quá trình đầy gian khổ Trên phạm vi quốc tế, các quốc gia nghèo muốn vơn lên cũng gặp phải những khó khăn thách thức không nhỏ Các nớc nghèo muốn cạnh tranh để đứng vững và phát triển phải chấp nhận mọi thử thách nghiệt ngã, vợt lên không phải dễ dàng, trong vòng xoáy của xu thế toàn cầu hoá hội nhập có nớc lên ngôi, có nớc tụt hậu, xuống cấp Những khó khăn thách thức bao gồm:
- Cạnh tranh không ngang sức giữa các nớc nghèo với các nớc giàu Phải khẳng định rằng hiện nay, hệ thống “luật chơi” quốc tế và hầu hết các tổ chức kinh
tế - xã hội trên thế giới đều do các nớc giàu, các tập đoàn xuyên quốc gia khống chế và bênh vực quyền lợi cho các nớc giàu Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, các nớc đang phát triển - nhất là các tổ chức các nớc không liên kết đã và
đang đấu tranh cho việc thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế mới, một hệ thống
“luật chơi” mới bình đẳng nhng kết quả còn thấp Vơn lên trong hoàn cảnh cạnh tranh không ngang sức với các nớc giàu là thách thức đối với các nớc nghèo Và thực tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay khoảng cách về trình đội phát triển, thu nhập, đời sống của các nớc thuộc nhóm nghèo với các nớc giàu không những không giảm mà còn gia tăng
- Toàn cầu hoá, khu vực hoá, hội nhập là xu hớng tất yếu buộc mọi nớc nghèo phải tham gia Nhng lý thuyết, thực tiễn đã chứng minh tính hai mặt của hội nhập quốc tế đối với các nớc nghèo Bên cạnh việc có thể tiếp nhận đợc vốn, công nghệ, mở rộng thị trờng lu thông hàng hoá thông thoáng, kinh nghiệm quản lý thì cũng vấp phải hàng loạt khó khăn, mức độ canh tranh gay gắt, do khả năng quản lý
có hạn dễ bị nguy cơ nh phải tiếp nhận kỹ thuật công nghệ lạc hậu, hàng hoá sản xuất trong nớc không có khả năng cạnh tranh, hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị mua sắm bằng vốn vay kém hiệu quả, nợ nần chồng chất
- Sức ép của dòng ngời di tản ra nớc ngoài, dòng ngời nông thôn vào đô thị,
đang làm cho đói nghèo tăng lên cả ở thành thị và nông thôn, cả trong nớc và liên quốc gia
Trang 16- Mức độ hởng thụ về văn hoá, giáo dục, y tế, thông tin và thị trờng, đối với ngời nghèo bị hạn chế đang là lực cản rất lớn đối với ngời nghèo, không chỉ trớc mắt mà hậu quả của nó còn lâu dài.
- Mâu thuẫn nội bộ về sắc tộc, tôn giáo, nớc mạnh tuỳ tiện dùng bạo lực ép nớc yếu, chiến tranh, xung đột luôn đẩy ngời nghèo đến bên bờ vực thẳm
- Chiến lợc, chính sách, hệ thống tổ chức quản lý cha đồng bộ và sự hạn chế
về nguồn lực cho xoá đói giảm nghèo ở các quốc gia kém phát triển, các nớc giàu cha đóng góp một cách tích cực để tăng nhanh phơng tiện vật chất thúc đẩy quá trình xoá đói giảm nghèo trên phạm vi toàn thế giới
Nhận rõ những thách thức nghiêm trọng trên, càng đặt trách nhiệm nghiêm túc trớc mọi quốc gia đối với hàng tỷ ngời nghèo khổ và cũng là sứ mệnh lịch sử của các quốc gia muốn phát triển bền vững để bớc vào thế kỷ XXI này
1.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về thực hiện XĐGN.
Trong mấy thập niên gần đây, nhiều nớc đang phát triển rất chú trọng việc XĐGN Các diễn đàn quốc tế và khu vực về đói nghèo ở Malaisia, Cophehagen (Đan Mạch), Bắc Kinh (Trung Quốc) đều đa vấn đề đói nghèo vào nội dung chính của chơng trình nghị sự Riêng các nớc Đông Nam á, đói nghèo đã đợc bàn bạc tranh luận thờng xuyên trong 2 thập niên nay Một quốc gia nh Philippin và Indonesia đã xây dựng chơng trình quốc gia về XĐGN, có cơ chế chính sách và tổ chức bảo đảm thực hiện, từ cấp vĩ mô xuống các ngành các cấp Trong hợp tác song phơng, Cộng hoà liên bang Đức đã rất chú trọng mục tiêu xoá đói giảm nghèo trong chính sách hợp tác quốc tế Nhiều tổ chức quốc tế, trong hoạt động của mình
đã và đang quan tâm đến các nớc nghèo và dân nghèo Ngoài việc giúp đỡ vốn, Ngân hàng thế giới có phân biệt trong chính sách dựa vào mức thu nhập của từng quốc gia Nhiều nớc có số dân đông nhất thế giới nh Trung Quốc, ấn Độ đã gắn phát triển kinh tế - xã hội với XĐGN và đã thành công trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, coi đó là yếu tố phát triển kinh tế bền vững Nhờ một số giải pháp tích cực trong hai thập kỷ 1970 - 1990, số ngời nghèo đói nói chung ở nhiều quốc gia đã
Trang 17giảm đáng kể nh Malaysia và Indonesia Ví dụ ở Indonesia, năm 1970 số ngời nghèo đói là 60% thì năm 1994 còn khoảng 25% Tuy vậy, trong 3 năm gần đay tỷ
lệ ngời nghèo ở một số quốc gia Châu á nh Thái Lan, Inđônêsia, Philippin lại tăng lên do khủng hoảng kinh tế, bất ổn về chính trị, xung đột sắc tộc Thậm chí,
có học giả nhận định rằng khủng hoảng kinh tế và bất ổn về mặt xã hội ở Indonesia trong 3 năm gần đây đã làm tiêu tan toàn bộ thành tựu về xoá đói giảm nghèo của quốc gia này trong hơn hai thập kỷ qua Vì vậy, phân hoá thu nhập, nghèo đói là hiện tợng đã tồn tại từ lâu trong lịch sử và phấn đấu giảm nghèo đói là việc mà nhiều quốc gia đã và đang quan tâm
Cần lu ý là XĐGN ở mỗi quốc gia không chỉ do Nhà nớc của quốc gia đó tiến hành mà còn do nhiều tổ chức quốc tế (nh Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Hội phụ nữ dân chủ quốc tế ), các tổ chức phi chính phủ thực hiện (nh OXFAM,
tổ chức thầy thuốc không biên giới ) ở tầm quốc gia, trên thế giới xuất hiện nhiều mô hình khác nhau ở đây không có điều kiện trình bày thực tiễn và kinh nghiệm XĐGN của tất cả các quốc gia và tổ chức quốc tế mà chỉ nêu cách làm, kinh nghiệm của một số quốc gia mà theo học viên là có những nét tiêu biểu, những kinh nghiệm quí có thể nghiên cứu XĐGN ở nớc ta Vì mỗi quốc gia có những kinh nghiệm đặc thù Vì vậy, để XĐGN phải có sự nỗ lực từ phía bản thân ngời nghèo, cộng đồng, quốc gia và quốc tế
a ở Vơng quốc Thuỵ Điển : Đã có một thời kỳ, Thuỵ Điển phát triển theo
mô hình Nhà nớc phúc lợi chung Đặc trng cơ bản của mô hình này là ở Thuỵ Điển
so với nhiều nớc t bản khác là Nhà nớc rất coi trọng và có vai trò quan trọng trong phân phối Năm 1995, chi tiêu của Chính phủ đạt mức 65% thu nhập quốc dân, trong lúc đó, ở các nớc khác chỉ tiêu trên chỉ ở mức 33 - 52% Có thể nói, Chính phủ Thuỵ Điển đã thực hiện hàng loạt các biện pháp để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu cho con ngời, chiếu cố thoả đáng đến nhóm có thu nhập thấp và cố gắng giảm dần mức chênh lệch thu nhập giữa các nhóm dân c Nhờ đó, ở những năm 80,
ở Thuỵ Điển, 20% số hộ gia đình có thu nhập cao nhất nhận đợc 26,9% thu nhập,
Trang 18còn 20% số gia đình có mức thu nhập thấp nhất đợc hởng 8% thu nhập Cùng thời gian trên, hai chỉ tiêu trên ở Mỹ là 41,9% và 4,7%.
Tuy vậy, sau nhiều năm thực hiện mô hình nhà nớc phúc lợi chung, nền kinh
tế Thuỵ Điển bớc vào giai đoạn trì trệ, tăng trởng thấp, tỷ lệ thất nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng đều tăng Nguyên nhân quan trọng đợc nhiều chuyên gia đánh giá là
động lực kinh tế giảm sút, sự ỷ lại của ngời dân vào phúc lợi xã hội Thuỵ Điển buộc phải điều chỉnh chính sách, tăng động lực kinh tế, sử dụng nhiều hơn các công cụ thị trờng Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây chính là biểu hiện thất bại của mô hình Nhà nớc phúc lợi chung
ở các nớc nghèo, các nớc đang phát triển cũng tiến hành nhiều biện pháp XĐGN, giảm khoảng cách giàu nghèo Cách làm của các nớc rất khác nhau, có những kết quả, thành công nhng nảy sinh không ít những vấn đề nan giải, có cả thành công và không thành công Sau đây là kinh nghiệm của một số nớc đang phát triển
b ở Trung Quốc: Từ khi cách mạng vô sản thành công (1949), có thể chia
quá trình phát triển kinh tế, phân hoá giàu nghèo và các hoạt động XĐGN làm hai giai đoạn, từ năm 1949 đến năm 1977 là thời kỳ xây dựng CNXH theo mô hình kế hoạch hoá tập trung và từ năm 1977 đến nay thực hiện cải cách kinh tế theo hớng nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc
So với nhiều nớc trong khu vực và trên thế giới, tuy ở Trung Quốc chênh lệch nghèo không lớn nhng số dân nghèo đói rất cao Từ 1985 - 1988, chênh lệch thu nhập giữa 20% nhóm dân c giàu nhất với 20% nhóm nghèo nhất chỉ 6,5 lần và
hệ số Gini chỉ là 0,3
Nhờ đổi mới nền kinh tế có hiệu quả và thực hiện một số chính sách trực tiếp để XĐGN nên số ngời nghèo ở Trung Quốc giảm xuống nhanh chóng Nếu theo mức chuẩn nghèo của Cục Thống kê Trung ơng Trung Quốc là có thu nhập
100 nhân dân tệ/ 1 ngời/ 1 năm thì số ngời nghèo ở nông thôn năm 1978 là 250 triệu ngời ( chiếm 30% dân số ), đến năm 1985 chỉ còn 125 triệu ngời và 1998 chỉ còn 42 triệu ngời Trong quá trình cải cách kinh tế, Trung Quốc đã thực hiện nhiều
Trang 19biện pháp để hạn chế phân hoá giàu nghèo và XĐGN Tuy vậy, dân nghèo nói chung và dân c nông thôn Trung Quốc không những thu nhập thấp mà mức hởng thụ của dịch vụ xã hội vẫn rất thấp kém Năm 1996, trong lao động nông thôn Trung Quốc, số ngời mù chữ chiếm 22,25%, số có trình độ tiểu học là 45,1%.
Có thể phân loại những biện pháp đợc thực hiện ở Trung Quốc thành hai nhóm: nhóm các biện pháp chung và nhóm các biện pháp trực tiếp XĐGN
- Nhóm các biện pháp chung: các biện pháp chung của Trung Quốc đợc thực hiện rất phong phú và thay đổi từng thời kỳ, những biện pháp chính đã thực hiện:
+ Duy trì ổn định chính trị: Trung Quốc quan niệm rằng giữa ổn định chính trị và nghèo đói có quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu không ổn định chính trị, các mục tiêu kinh tế - xã hội không thể thực hiện, ngời dân không yên ổn làm ăn, sinh sống, nếu làm cho ngời nghèo tăng, bị bần cùng hoá còn bộ phận khác lại giàu có,
sẽ dẫn đến xung đột chính trị, xã hội Từ đó, cùng với chính sách cải cách mở cửa, Trung Quốc không ngừng củng cố quốc phòng, an ninh, sẵn sàng trấn áp các hành
vi chống lại chính quyền, đe doạ an ninh quốc gia và trật tự xã hội
+ Thúc đẩy tăng trởng kinh tế nhằm tạo thêm việc làm, thu nhập cho mọi ngời: Hai thập kỷ gần đây, Trung Quốc là quốc gia có tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất thế giới Bên cạnh việc hình thành những khu công nghiệp, khu chế xuất hiện
đại ở vùng ven biển, vùng hấp dẫn đầu t nớc ngoài, Trung Quốc chú ý đến thúc đẩy tăng trởng kinh tế nông thôn Đến nay, sản phẩm của công nghiệp hng trấn, công nghiệp địa phơng với hầu hết là quy mô vừa và nhỏ đã tạo ra việc làm và thu nhập cho hàng chục triệu nông dân
+ Điều tiết hợp lý thu nhập, phân phối: Trung quốc đã thực hiện kiên quyết việc chống tham nhũng, kinh doanh trái pháp luật đồng thời thực hiện bảo hiểm xã hội, áp dụng nhiều biện pháp để điều tiết vĩ mô về thu nhập
+ Tạo việc làm thông qua thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhất là cơ cấu kinh tế nông thôn Ngoài thúc đẩy phát triển xí nghiệp hơng trấn, việc hình thành
Trang 20các thị tứ, thị trấn, hoàn thiện dần hệ thống giao thông nông thôn đã thú đẩy dịch
vụ nông thôn phát triển
+ Chú ý thích đáng đến phát triển vùng: Trớc hết, Trung Quốc thúc đẩy việc hình thành những vùng động lực, trọng điểm, đồng thời khuyến khích bố trí công nghiệp theo lãnh thổ để góp phần cải biến nông thôn Chính sách thu ngân sách và
điều tiết ngân sách có phân biệt để u tiên cho các vùng khó khăn có điều kiện tài chính để vơn lên
- Các giải pháp, chính sách XĐGN ở Trung Quốc khá đa dạng, linh hoạt Sau đây là những giải pháp đợc khuyến khích thực hiện:
+ Xây dựng các mô hình, chỉ đạo điểm cho từng vùng, từng địa phơng để làm hình mẫu, đầu tàu “lan toả” Trung Quốc chú ý xây dựng các điểm “tiêu phú”, xây dựng các thị trấn, thị tứ ở nông thôn để từ đó làm tiền đề lan tỏa cho cả vùng
+ Huy động nhiều nguồn lực để thực hiện XĐGN: trớc hết, Trung Quốc khuyến khích các nhà đầu t nuớc ngoài đầu t vào những vùng đất hoang, đồi núi
Để giữ đất nông nghiệp trớc yêu cầu cao của công nghiệp hoá, đô thị hoá, chính phủ Trung Quốc quy định: việc chuyển mục đích quyền sử dụng đất nông nghiệp phải thực hiện theo nguyên tắc “lấy bao nhiêu khai hoang bù bấy nhiêu” và hình thành quỹ riêng để khai hoang bù đắp cho việc chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp Ngoài vốn của nhà nớc, của cộng đồng, Trung Quốc tranh thủ tối đa vốn cho mục tiêu XĐGN từ Ngân hàng thế giới, và các tổ chức phi chính phủ.Cùng với
sự trợ giúp vốn để tạo việc làm, tăng thu nhập, Trung Quốc còn có sự hỗ trợ tích cực về truyền thông, giáo dục, y tế cho các hộ nghèo và vùng khó khăn Đặc biệt Trung Quốc đã yêu cầu và khuyến khích các vùng giàu, địa phơng giàu giúp đỡ các vùng, địa phơng nghèo nh đã hình thành các cặp địa phơng sau: Bắc Kinh - Nội Mông, Thiên Tân - Cám Túc, Hà Bắc - Quỳ Châu, Thợng Hải - Vân Nam
Từ sự phân tích trên cho thấy, các biện pháp hạn chế phân hoá giàu nghèo và XĐGN của Trung Quốc rất đa dạng, ngoài những biện pháp chung còn có những biện pháp trực tiếp tác động đến ngời nghèo, vừa có những biện pháp kinh tế giúp
Trang 21vốn, mở mang sản xuất vừa có những biện pháp xã hộ nh giáo dục, y tế, đào tạo, kế hoạch hoá gia đình.
c ở cộng hoà Inđônêxia: Inđônêxia là quốc gia đông dân nhất khối Đông
Nam á, với hơn 7 ngàn đảo lớn nhỏ với những tính đa dạng về điều kiện sinh thái, dân tộc, chia cắt về địa hình, phát triển kinh tế và thực hiện xoá đói giảm nghèo là công việc rất phức tạp
ở thời kỳ đầu sau khi giành đợc độc lập, nền kinh tế và chiến lợc phát triển kinh tế rất khó khăn, lúng túng Kinh tế chậm tăng trởng, dân số tăng nhanh nên thu nhập bình quân của dân c có xu hớng giảm sút Nếu nh năm 1957, thu nhập bình quân 1 ngời dân còn đạt 131 USD thì đến năm 1961 giảm xuống chỉ còn 83 USD
Sau đó, Nhà nớc Inđônêxia có hàng loạt các biện pháp nhằm khôi phục và phát triển kinh tế Inđônêxia thực hiện chiến lợc mở của, tăng xuất khẩu - nhất là xuất khẩu khoáng sản, sản phẩm nông lâm thuỷ sản Đến năm 1996, kim ngạch xuất khẩu của Inđônêxia đạt 55 tỷ USD Nhờ kinh tế tăng trởng và bớc đầu nhận thức đợc tác hại của phân hoá giàu nghèo và cuộc sống khó khăn của ngời nghèo, trong suốt thập kỷ 80 và nửa đầu thập kỷ 90, Inđônêxia đã thực hiện nhiều biện pháp xoá đói giảm nghèo, đa mục tiêu xoá đói giảm nghèo thành mục tiêu quốc gia Chính phủ đã trợ cấp ngân sách hỗ trợ tín dụng cho ngời nghèo, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Nhờ những biện pháp tích cực, nên số…ngời nghèo của Inđônêxia từ những năm 70 đến đầu những năm 90 liên tục giảm xuống Năm 1976, số ngời sống dới mức nghèo khổ là 54 triệu ngời nhng đến năm
1987 chỉ còn 30 triệu ngời Năm 1996, Inđônêxia đợc giải thởng của Liên hợp quốc về thực hiện chơng trình xoá đói, giảm nghèo
Nhng từ cuối năm 1996, kinh tế - xã hội và chính trị Inđônêxia lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng Các nhà lãnh đạo tham nhũng, xung đột về lãnh thổ, bạo động, khủng hoảng kinh tế, đặc biệt thực thi cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu t thiên về hớng ngoại, khi có chấn động khủng hoảng kinh tế xuống dốc, đời sống của nhân dân - nhất là tầng lớp nghèo bị giảm sút nghiêm trọng Có nhà nghiên
Trang 22cứu đã khảng định rằng, khủng hoảng kinh tế - xã hội và bất ổn về chính trị đã làm tiêu tan thành quả xoá đói giảm nghèo của gần 20 năm trớc đó.
Ngoài Inđônêxia, Philippin, Thái Lan và nhiều nớc trong khu vực đều nảy sinh tình trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng, bất bình đẳng, một bộ phận dân c sống nghèo khổ Dù ít nhiều và mức độ, cách làm khác nhau nhng các nớc khu vực châu á nh : Thái Lan, Philippin đều có những biện pháp để cố gắng giảm mức chênh lệch và giúp đỡ ngời nghèo
Qua nghiên cứu thực tế phân hoá giàu nghèo, thực hiện các chính sách xã hội và chống đói nghèo của các nớc đã nêu trên và một số quốc gia khác trên thế giới, chúng ta rút ra những nội dung sau:
- Phân hoá thu nhập, chênh lệch giàu nghèo là hiện tợng phổ biến ở các quốc gia Đó là kết quả của nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về sự quan tâm của Nhà nớc trong việc hoạch định và thực thi chiến lợc, chính sách phát triển, gắn tăng trởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, xoá đói, giảm nghèo
- Nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo quá mức là một trong nguyên nhân gây mất ổn định chính trị - xã hội làm cho kinh tế tăng chậm hoặc suy thoái, phá
vỡ tính bền vững của quá trình phát triển
- Vai trò của Chính phủ trong việc điều tiết thu nhập, thực hiện các chính sách xã hội và thực hiện xoá đói giảm nghèo rất quan trọng từ chiến lợc, chính sách cho đến các giải pháp XĐGN
- Sự kết hợp giữa tính tích cực của kinh tế thị trờng, tạo động lực tăng trởng kinh tế và XĐGN là vấn đề rất phức tạp và nhạy cảm Quá thiên lệch về nhu cầu tăng trởng hoặc u tiên thiếu tính toán các vấn đề về xã hội đều dẫn đến hậu quả xấu
- Nghèo đói là vấn đề toàn cầu và đợc nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế quan tâm nh cách làm, mô hình thực hiện XĐGN rất đa dạng, trong đó, một số quốc gia vẫn cha tìm ra mô hình lý tởng cho kết hợp giữa tăng trởng kinh tế với giải quyết vấn đề tiến bộ, công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo
Trang 23- Xoá đói giảm nghèo phải đợc thực hiện đồng thời với các chơng trình phát triển kinh tế - xã hội khác và là nỗ lực từ nhiều phía: Nhà nớc, cộng đồng và bản thân ngời nghèo, phát huy nguồn lực bên trong đồng thời khai thác nguồn lực bên ngoài để XĐGN.
Từ sự phân tích về nguyên nhân nghèo đói, kinh nghiệm giải quyết vấn đề nghèo đói, kế thừa những kết quả nghiên cứu đã công bố, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
1 Nghèo đói và phân hoá thu nhập giữa nhóm giàu và nghèo đang là hiện ợng toàn cầu Giải quyết nghèo đói phải là mối quan tâm chung của các quốc gia
t-và quốc tế, trong đó có trách nhiệm của những nớc giàu
2 Nghèo đói liên quan đến tổng hợp nhiều nhân tố, điều kiện nh nhân tố chính trị - xã hội, dân số, tài nguyên môi trờng, quản lý Do đó xoá đói giảm nghèo
là chơng trình rất tổng hợp
3 Hiện tợng chênh lệch thu nhập cao, bất bình đẳng và nghèo đói là hiện ợng có thể hạn chế có sự nỗ lục từ nhiều phía, quốc gia, quốc tế, cộng đồng và bản thân ngời đói nghèo
t-4 Toàn cầu hoá kinh tế là xu hớng tất yếu mà mỗi nớc nghèo phải tham gia Nhng hậu quả, mặt trái của toàn cầu hoá rất lớn Do đó, tìm ra cách thức để hội nhập chủ động, tự vơn lên để thoát nghèo là thách thức, khó khăn rất lớn đối với các nớc nghèo
1.3 Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam.
1.3.1 Các quan điểm xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam.
Ngay từ khi mới thành lập (1945) Nhà nớc ta đã rất quan tâm đến XĐGN Lúc bấy giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhà nớc non trẻ Việt Nam đã coi đói nghèo
là một loại “giặc” cần phải chống nh giặc ngoại xâm Từ khi hoà bình lặp lại ở Miền Bắc (1954) và thống nhất đất nớc, Đảng và Nhà nớc đã có nhiều quyết sách
để xoá dần nghèo đói nh cải cách ruộng đất, xây dựng các công trình thuỷ lợi, miễn giảm thuế để giúp các tầng lớp dân nghèo Làm cho dân bớt nghèo, vơn lên
Trang 24giàu không phải là những chính sách nhất thời có tính chất đối phó mà là chủ trơng chiến lợc, là mục tiêu trong hoạt động của Đảng và Nhà nớc ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định sau khi giành đợc độc lập mà nhân dân vẫn nghèo đói thì
độc lập, tự do cha đợc trọn vẹn, cha đạt đến mục đích cuối cùng
Từ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), đất nớc ta bớc vào công cuộc đổi mới toàn diện, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, sau này lả kinh tế thị trờng định hớng XHCN, giải phóng sức sản xuất, kinh tế phát triển, thu nhập, đời sống của đa số nhân dân từng bớc đợc cải thiện Tuy vậy, do điểm xuất phát thấp lại chịu hậu quả
to lớn của thiên tai và chiến tranh, kèm theo tác động mạnh mẽ của cơ chế thị ờng nên phân hoá thu nhập, đời sống giữa nông thôn, thành thị, giữa các vùng ngày càng tăng nhanh Trong tiến trình đổi mới, bộ phận dân nghèo - kể cả những gia
tr-đình có công với cách mạng chịu nhiều thua thiệt Do đó, rút ngắn chênh lệch giàu nghèo và trợ giúp ngời nghèo đã trở thành yêu cầu bức thiết, là một trong những biểu hiện bản chất của chế độ XHCN Lúc đầu, phong trào xuất hiện là sáng kiến của các địa phơng Dần dần, XĐGN đợc Đảng và Nhà nớc ta khẳng định là chơng trình quốc gia
Nghiên cứu đờng lối và các chủ trơng của Đảng và Nhà nớc có thể rút ra các quan điểm cơ bản sau đây của hoạt động XĐGN ở nớc ta
a/ Xoá đói giảm nghèo phải đợc giải quyết trong tổng thể chiến lợc phát triển của nớc ta là kết hợp hài hoà giữa tăng trởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội trong suốt quá trình phát triển và ngay trong từng giai đoạn của quá trình phát triển
XĐGN, khuyến khích làm giàu chính đáng, lành mạnh hoá xã hội là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trởng kinh tế bền vững, là cơ sở kinh tế để thực hiện quá trình XĐGN Việt Nam là quốc gia kinh tế cha phát triển Nguồn lực của Nhà nớc, của cộng đồng còn hạn chế và bản thân ngời nghèo càng hết sức khó khăn Trong những năm thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, kinh tế tăng trởng, bớc
đầu tạo việc làm, nguồn vốn và cơ hội vơn lên cho ngời nghèo
Trang 25Trong hơn 15 năm vừa qua, nền kinh tế nớc ta có những bớc phát triển vợt bậc Từ năm 1991-1995, bình quân hàng năm tốc tộ tăng trởng theo GDP là 8,2%,
3 năm 2001 - 2003, mức tăng trởng bình quân trên 7%, đứng hàng thứ hai tại Châu
á (sau Trung Quốc) Nhờ đó, mỗi năm nớc ta đã giải quyết đợc nhiều việc làm mới Nhờ kinh tế tăng trởng, thu ngân sách tăng, Nhà nớc có điều kiện đầu t nhiều hơn cho các chơng trình xã hội và XĐGN Số hộ nghèo giảm mỗi năm trên 2% Tuy nhiên, từ năm 1997 - 1998 do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực, tăng trởng kinh tế giảm sút, một số hoạt động kinh tế lâm vào trì trệ, nhiều loại sản phẩm tồn đọng với số lợng lớn Hơn nữa trong những năm gần đay, thiên tai liên tục xảy ra trên diện rộng Do đó, tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn đang có xu hớng gia tăng Theo đánh giá của Bộ LĐ, TB & Xã Hội năm
2003, tính theo chuẩn mới, cả nớc còn khoảng 2 triệu hộ nghèo đói, chiếm khoảng 10,86% tổng số hộ trong cả nớc Trong đó, gần 300.000 hộ thờng xuyên thiếu đói (chiếm khoảng 2%) Thậm chí, còn 1870 xã trong gần 9.000 xã ở nớc ta thuộc diện
đăc biệt khó khăn với 40% số hộ trong xã là nghèo Nh vậy, đối với nớc ta, giữa tăng trởng kinh tế, phát triển xã hội và xoá đói giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng với nhau Tăng trởng kinh tế là điều kiện vật chất, nội lực để XĐGN; XĐGN
là mục tiêu, động lực của phát triển kinh tế - xã hội, là tiền đề cơ bản đảm bảo cho
sự ổn định, chính trị - xã hội để phát triển kinh tế Do đó, giải pháp cơ bản là phải làm cho chơng trình XĐGN trở thành một bộ phận cơ bản trong chiến lợc, chơng trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc gắn liền với tăng trởng bền vững và hạn chế tác động của thiên tai
b/ Xoá đói giảm nghèo là vấn đề kinh tế - xã hôị sâu rộng cho nên mọi lúc, mọi nơi đều phải thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội
Đói nghèo do kinh tế thấp kém, và bởi trình độ thấp kém, lạc hậu về mọi mặt, chúng tác động lẫn nhau và hệ quả của nó là đói nghèo, không những từng hộ mà xã nghèo, huyện nghèo Từ sau những ngày cách mạng tháng 8/1945 mặc dù còn phải đối phó thù trong giặc ngoài Chính phủ Việt Nam đã từng chủ trơng phải chống “giặc đói, giặc dốt” Chủ trơng đó đã mang lại kết quả góp phần vào sự
Trang 26nghiệp cách mạng của dân tộc Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nớc Việt Nam đang
cố gắng thực hiện chủ trơng nhất quán “kết hợp giữa tăng trởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội trong suốt quá trình phát triển và trong từng giai đoạn phát triển” Nghèo đói theo cách biện chứng là vấn đề xã hội Nghèo đói và mất ổn định xã hội thờng có quan hệ chặt chẽ với nhau Hơn nữa nghèo đói có nguồn gốc từ các nhân tố xã hội: Tập quán, các hủ tục , tệ nạn, khả năng gắn bó của cộng
đồng Nguyên nhân nghèo và xoá đói giảm nghèo mang tính tổng hợp Thậm chí
có vùng nhiều rừng, nhiều đất nhng phơng thức canh tác lạc hậu nên đất xấu dần
đến mức không canh tác đợc v.v Tính tổng hợp của nguyên nhân nghèo đói buộc phải kết hợp giữa các chính sách kinh tế - xã hội trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, sự kết hợp này phải đợc thể hiện trong chiến lợc chính sách, các chơng trình dự án về giải pháp
c/ Thực hiện chơng trình xoá đói giảm nghèo gắn với khuyến khích làm giàu chính đáng, thờng xuyên củng cố thành quả xoá đói giảm nghèo
Nghèo đói vừa thể hiện ở sự thiếu thốn về vật chất và mức hởng thụ văn hoá tinh thần với hoàn cảnh, điều kiện rất đa dạng theo từng hộ, từng vùng Do đó, đòi hỏi chủ tơng chính sách phải sát hợp, vừa có sức thuyết phục, vừa gợi mở vấn đề, nâng cao tính sáng tạo của cá nhân và cộng đồng, thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ: “ Giúp ngời nghèo vơn lên khá, ai khá vơn lên giàu, ai giàu vơn lên giàu thêm” nhằm làm cho dân giàu nớc mạnh
Nh vậy, thực hiện chủ trơng xoá đói giảm nghèo không triệt tiêu động lực làm giàu, có ngời giàu ở vùng nghèo, càng có sức thuyết phục lớn nếu làm giàu chính
đáng là bằng tài năng, học vấn, khoa học, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, trên nền tảng đạo đức và pháp luật từ đó mới có điều kiện giúp đỡ ngời nghèo, nhất là giải quyết việc làm, nâng cao chất lợng cuộc sống Hơn nữa, thực tế ở Việt Nam rất nhiều gia đình giàu, nhất là ở nông thôn đang có vai trò rất tích cực trong chơng trình xoá đói giảm nghèo Họ giúp ngời nghèo giải quyết việc làm, chia sẻ kinh nghiệm làm ăn, cách thức chi tiêu, cho vay mợn với phơng thức u đãi
Trang 27Trong cơ chế thị trờng, dù muốn hay không đều diễn ra tình trạng có bộ phận giàu lên và khó tránh ngời nghèo đói, vùng nghèo đói Vấn đề đặt ra là kiên trì chủ trơng XĐGN, bằng các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp, để luôn có khoảng cách giàu nghèo hợp lý, số hộ nghèo đói giảm, số hộ giàu tăng lên.
d/ Xoá đói giảm nghèo gắn với phát triển kinh tế bằng chủ động, tự lực, vơn lên của ngời nghèo, cộng đồng, các cấp và Nhà nớc cùng với sự tranh thủ giúp đỡ của bạn bè quốc tế
Quan điểm này thể hiện xoá đói giảm nghèo phải bằng sức mạnh tổng hợp, sức sáng tạo với các nguồn lực của ngời nghèo, của cộng đồng, của Nhà nớc và toàn xã hội Trớc hết, làm cho ngời nghèo, vùng nghèo không ỷ lại, thụ động, chờ cứu giúp, mà tự cứu mình bằng vơn lên chính bằng lao động, đất đai tài nguyên thiên nhiên và đổi mới cung cách làm ăn, có sự hỗ trợ của cộng đồng và Nhà nớc Thực tế ở nớc ta có nhiều vùng nghèo, hộ nghèo đợc chính phủ và cộng đồng trợ giúp rất nhiều nhng vẫn khó khăn trong việc thoát nghèo Điều đó có nguyên nhân quan trọng từ phía ngời nghèo Hoặc là khả năng làm ăn, hoặc là thiếu nghị lực để loại bỏ những thói h tật xấu, tập tục lạc hậu Vì thế, trong việc trợ giúp ngời nghèo, Việt Nam đã tổng kết đợc phơng trâm rất xác đáng là “ cho mợn cần câu hơn là cho xâu cá “
Chính phủ và chính quyền các cấp cần dành các nguồn lực về vốn, kỹ thuật tạo môi trờng pháp lý, tâm lý xã hội, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, coi
đó là trách nhiệm, tình cảm, không chỉ đối với ngời nghèo mà là sự phát triển bền vững của đất nớc Những năm gần đây nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã thực
sự giúp đỡ tiền bạc và kinh nghiệm cho Việt Nam xoá đói giảm nghèo Sự giúp đỡ, tài trợ của Ngân hàng thế giới, Hội phụ nữ quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ của Anh, CHLB Đức, Thuỵ Điển đã có đóng góp thiết thực trong việc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
1.3.2 Tiêu chí xác định nghèo đói ở nớc ta.
Trang 28Nghèo đói là quan niệm rộng Quan niệm nghèo đói có thể thay đổi theo không gian và thời gian Do đó, mỗi quốc gia cần xác định tiêu chí nghèo đói cụ thể cho từng thời kỳ.
ở Việt Nam, ngoài gợi ý về cách xác định chuẩn nghèo đói theo mức thụ ởng calo do bữa ăn mang lại hàng ngày qui đổi ra thu nhập của Ngân hàng thế giới, các nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý Nhà nớc có liên quan đã nêu ra các mức xác định tiêu chí nghèo đói ở đây, luận văn chỉ trình bày cách xác định tiêu chí nghèo đói của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã Hội
h-ở nớc ta, Bộ Lao động - Thơng binh và Xã Hội là cơ quan thờng trực trong việc tổ chức thực hiện XĐGN Cơ quan này đã đa ra các mức xác định khác nhau
về nghèo đói tuỳ theo thời kỳ phát triển của đất nớc
- Trớc năm 1995, với yêu cầu cấp bách về chỉ đạo XĐGN, Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội đa ra ngỡng nghèo đói ở nớc ta là có thu nhập 1 ngời 1 tháng bằng tiền, tơng đơng với giá trị 15 kg gạo tẻ thờng
- Đến năm 1995, Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội đã đa ra tiêu chí chi tiết hơn cho từng mức độ nghèo đói và từng khu vực Các tiêu chí đợc qui định nh sau:
* Hộ đói là hộ có bình quân thu nhập 1 ngời 1 tháng bằng tiền là 40.000 đ, tơng đơng với giá trị 13kg gạo tẻ thờng
* Hộ nghèo đợc phân biệt cho thành thị, nông thôn
+ ở thành thị, là hộ có thu nhập bình quân 1 ngời/1 tháng bằng tiền 90.000
đồng, tơng đơng với giá trị 25 kg gạo tẻ thờng
+ ở nông thôn, chuẩn nghèo cho vùng đồng bằng, trung du thu nhập 1 ời/1 tháng, bằng tiền 70.000 đồng, tơng đơng với giá trị 20 kg gạo tẻ thờng ở nông thôn miền núi, hải đảo có mức thu nhập 1 ngời/1 tháng, bằng tiền 50.000
ng-đồng, tơng đơng với giá trị 15 kg gạo thờng
Cách phân định trên của Bộ Lao động - Thơng binh và Xã hội tuy tạo thuận lợi cho điều tra, thu nhập thông tin giàu nghèo nhng có một số điểm cha thoả đáng
Trang 29Bởi vì trong thực tế giá gạo cũng thờng xuyên thay đổi Hơn nữa, chuẩn trên là quá thấp, bởi vì dù nghèo mấy thì ăn uống không phải là nhu cầu duy nhất Hơn nữa theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, trong đó các nhà nghiên cứu của Tổng cục Thống kê, việc điều tra thu nhập có thể không chính xác trong từng ngời đợc
điều tra không nói đúng thu nhập của mình
Theo Quyết định số 1443/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 1/11/2000 của Bộ Lao
động - Thơng binh và Xã hội, hộ nghèo đói nớc ta giai đoạn 2001 -2005 đợc điều chỉnh theo mức chuẩn mới với thu nhập bình quân đầu ngời trong hộ cho từng vùng nh sau:
+ Vùng nông thôn, miền núi, hải đảo 80.000đ/tháng
+ Vùng nông thôn đồng bằng 100.000đ/tháng
+ Vùng thành thị 150.000đ/tháng
Theo cách định chuẩn mới, đầu năm 2001, số hộ nghèo của nớc ta tăng lên
Điều đó là hợp lý vì có tính đến nhu cầu ăn và sinh hoạt, nhng cũng đặt ra nhiệm
vụ nặng nề hơn cho công tác xoá đói giảm nghèo
1.3.3 Khái quát về thực trạng đói nghèo và vấn đề XĐGN ở Việt Nam.
1.3.3.1 Khái quát về thực trạng đói nghèo.
Việt Nam là một quốc gia có tỷ lệ nghèo đói cao Nhà nớc và nhân dân đã có
ý thức xoá đói, giảm nghèo khá sớm Từ năm 1991 đến nay, công tác XĐGN ở nớc
ta đã đợc tăng cờng Chính phủ đã xây dựng chơng trình XĐGN và trở thành một trong những chơng trình quốc gia Trải qua hơn 10 năm thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Trong những năm đổi mới, bình quân thu nhập của đa số dân c Việt Nam
đều đợc tăng lên Riêng ở khu vực nông thôn từ năm 1990 - 2000, thu nhập bình quân 1 đầu ngời tăng hơn 1,5 lần Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Việt nam
đã có tiến bộ vợt bậc trong việc xoá đói giảm nghèo Nếu lấy 2 tiêu chí cơ bản để
đánh giá là nghèo về lơng thực, thực phẩm và nghèo đói chung thì ở nớc ta đã có
sự thay đổi đáng kể Về tỷ lệ nghèo lơng thực, thực phẩm, nếu nh năm 1993 có
Trang 3024,9% số hộ thì đến năm 1998 tỷ lệ trên của cả nớc giảm xuống chỉ còn 13,8% Nếu theo tỷ lệ nghèo nói chung thì cả nớc năm 1993 tỷ lệ trên là 58,2%, đến năm
1998 giảm xuống còn 44,9% Điều đáng quan tâm là tỷ lệ giảm nghèo chung biểu hiện ở tất cả các vùng của đất nớc kể cả vùng khó khăn ở vùng núi và trung du Bắc Bộ năm 1993 tỷ lệ nghèo chung là 78,6% đến năm 1998 giảm xuống còn 65,2% Cùng thời gian trên mức giảm của vùng Tây Nguyên từ 70% xuống chỉ còn 52,4% Số hộ nghèo đói của cả nớc năm 1999 là 13,1%, năm 2000 còn 11%, năm
2003 còn 10,86% (khoảng 2 triệu hộ) ở ba vùng nghèo nhất của cả nớc là miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Tây Nguyên tỷ lệ hộ nghèo đói cũng giảm đáng kể Năm 1995, ở miền núi phía Bắc tỷ lệ hộ nghèo đói là 28,16%, đến năm 1999 thì tỷ
lệ chỉ còn 16,13%, cùng hai thời gian trên, các chỉ số tơng ứng ở Tây Nguyên là 30,88% và 14,57%, Bắc Trung bộ là 32,5% và 20,5%
- Mức chênh lệch về giàu nghèo, thu nhập giữa các nhóm dân c ở nông thôn, giữa nông thôn và thành thị có xu hớng gia tăng ở các vùng đô thị, nơi chiếm khoảng 24% dân số đã tạo ra hơn 60% GDP với mức tăng trởng kinh tế hàng năm trên 10% ở nông thôn, nơi chiếm khoảng 76% dân số chỉ tạo ra khoảng 40% GDP tăng trởng chậm (gần 5%/năm) Về mức chênh lệch giàu nghèo, nếu dựa theo mức chuẩn nghèo là 13 kg gạo ngời/tháng (năm 1993 ở vùng nông thôn) thì có khoảng 4,4% số hộ gia đình thiếu đói Với mức bình quân 1 ngời 1 tháng của cả nớc năm
1993 là 119.010 đồng thì số hộ giàu chiếm 4,1% Khoảng cách giữa nhóm giàu với nhóm nghèo tới 13 lần và giữa nhóm giàu với nhóm rất nghèo là 20 lần Kết quả
điều tra những năm gần đây đều cho thấy, tuy thu nhập bình quân tăng lên nhng khoảng cách về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân c trong từng khu vực tiếp tục tăng lên Theo nhiều nhà nghiên cứu, mức chênh lệch trên mới chủ yếu dựa vào thu nhập hàng năm, nếu tính thêm cả tài sản thì mức chênh lệch trên còn lớn hơn rất nhiều
- Mức nghèo khổ của từng gia đình có liên quan chặt chẽ với tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng hộ Theo điều tra, bình quân số nhân khẩu phải nuôi trên 1 lao động chính của các hộ nghèo thờng cao hơn các hộ giàu Nh
Trang 31vậy, phải chăng nghèo đói, dân trí thấp dẫn đến sinh đẻ nhiều và đến lợt nó, sinh
đẻ nhiều lại càng làm cho đời sống khó khăn Kết quả điều tra về thu nhập của các
hộ gia đình nông dân ở các vùng gắn liền với cơ cấu kinh tế chó thấy nguyên nhân nghèo thờng gắn liền với cơ cấu sản xuất của từng hộ gia đình Sau đây là kết quả thu nhập bình quân đầu ngời của các hộ gia đình nông thôn nớc ta phân loại theo cơ cấu kinh doanh
của hộ nông thôn Việt Nam theo nghề năm 1998
- Hầu hết ngời nghèo ở nớc ta tập trung ở khu vực nông thôn, đặc biệt là trung
du, miền núi Hiện nay, 90% số hộ nghèo ở nớc ta tập trung ở nông thôn ở nhiều
địa phơng không chỉ tồn tại lẻ tẻ những hộ nghèo mà tồn tại cả những xã nghèo, vùng nghèo rất rộng lớn Trong 1870 xã đặc biệt khó khăn ở nớc ta hiện nay, hầu hết đều tập trung ở trung du miền núi Trong các hộ nghèo thờng có 2 nhóm: Nhóm có những điều kiện tơng đối thuận lợi và nhóm đặc biệt khó khăn thờng đợc gọi là những "lô cốt" rất khó công phá (thiếu lao động, lời biếng, thiếu vốn, lâm vào các tệ nạn xã hội ) Đây là điểm rất đáng lu ý trong triển khai nhiệm vụ xoá
đói, giảm nghèo ở nớc ta Không ít địa phơng, trong khi chỉ hoạch định kế hoạch xoá đói, giảm nghèo dài hạn, thờng đa ra một tỷ lệ số hộ thoát nghèo năm sau cao
Trang 32hơn năm trớc điều đó, dễ sa vào chủ quan duy ý chí, bởi vì càng những hộ đi sau trong việc thoát nghèo là những hộ yếu kém, khó khắc phục: lời biếng, tệ nạn
- Kết quả xoá đói, giảm nghèo ở nớc ta tuy nhanh nhng cha vững chắc Có nhiều lý do để khảng định điều này Thứ nhất là chuẩn để phân định nghèo thờng chủ yếu dựa vào thu nhập hàng năm, lại ở chuẩn rất thấp Thứ hai là rủi ro kinh doanh trong kinh tế thị trờng và phòng chống thiên tai của các hộ rất yếu kém Nh vây, chỉ cần những rủi ro nhỏ trong hoạt động kinh tế, biến đổi của thị trờng, khí hậu thời tiết không thuận lợi, ốm đau là hàng loạt hộ thoát nghèo cách đây không lâu trở lại nghèo đói
- Nhiều hộ nghèo ở nớc ta tập trung vào vùng dân tộc ít ngời, một số thuộc diện chính sách phải u tiên trong những năm gần đây một số vấn đề về chính trị, xã hội ở một số vùng miền núi, rẻo cao diễn biến phức tạp Tình trạng một số tổ chức phản động đợc khôi phục, dân theo đạo bất hợp pháp gia tăng, nếu gắn với nghèo đói thờng xuyên thì sẽ có nguy cơ tạo nên sự mất ổn định Chơng trình 135 của Chính phủ nhằm giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn, vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít ngời là quyết định phù hợp nhng cha đáp ứng đợc yêu cầu của các vùng trên Điều đó có ý nghĩa là chơng trình XĐGN ở nớc
ta không đơn thuần là một chơng trình kinh tế mà còn là chơng trình manh ý nghĩa
ổn định chính trị, xã hội, là niềm tin của nhân dân vào chế độ
1.3.3.2 Các nguyên nhân ảnh hởng đến nghèo đói ở nớc ta.
Nh đã phân tích ở trên, nghèo đói là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân
ở nớc ta, các điều tra của nhiều cơ quan nhà nớc, tổ chức chính trị - xã hội và cá nhân đã cố gắng luận giải các nguyên nhân ảnh hởng đến nghèo đói Tuy cách tiếp cận khác nhau, nhng thông thờng các nhóm nguyên nhân cơ bản sau đây thờng đợc khảng định:
- Nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: Khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, sâu bệnh, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó
Trang 33khăn đã kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, một khu vực.
- Nguyên nhân do hậu quả chiến tranh tàn khốc: Hàng triệu ngời hy sinh hoặc tàn phế, một số vùng tài nguyên môi trờng bị huỷ diệt gây ra những hậu quả nặng
nề và lâu dài nh chất độc màu da cam, tai nạn chiến tranh, đồng ruộng hoang hoá
do bom mìn
- Nguyên nhân chủ quan của ngời nghèo: Thiếu kiến thức làm ăn, thiếu vốn, thiếu t liệu sản xuất, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lời lao động
- Nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu t xây dựng kết cấu hạ tầng cho vùng nghèo, chính sách khuyến khích sản xuất, tín dụng, hớng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, phát triển ngành nghề, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất đai, định canh, định c, kinh
tế mới Nguồn lực đầu t còn hạn chế và quản lý phân tán, kém hiệu quả
1.3.3.3 Những kinh nghiệm bớc đầu ở nớc ta về thực hiện XĐGN.
Phong trào XĐGN trớc hết là sáng kiến của các địa phơng, các tổ chức quần chúng đợc bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh năm 1991 đến năm 1998 (ngày 23/7), Thủ tớng Chính phủ chính thức ký quyết định đặt xoá đói, giảm nghèo thành
1 trong 7 chơng trình mục tiêu quốc gia
Qua hơn 10 năm thực hiện công tác XĐGN ở nớc ta đã đạt đợc những thành tựu bớc đầu, có thể rút ra những kinh nghiệm chủ yếu sau:
- Trớc hết đó là đã có sự chuyển biến lớn lao trong nhận thức về XĐGN Đây
là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân, từ Trung ơng đến địa phơng phải xác
định XĐGN là một bộ phận cấu thành trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc và từng điạ phơng nhằm mục tiêu: "dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" để từ đó có định hớng thích hợp trong việc chỉ đạo thực hiện chơng trình, bằng việc hỗ trợ giúp một phần của Nhà nớc và huy động cộng
đồng nhằm hỗ trợ để chính ngời nghèo tự vơn lên Quan tâm đến ngời nghèo, giúp
Trang 34họ vơn lên còn là phơng thức hữu hiệu củng cố và nâng cao lòng tin của ngời nghèo và các tầng lớp nhân dân đối với Đảng và Nhà nớc, một trong những biểu hiện cụ thể về tính u việt của chế độ
b Có những giải pháp thích hợp để huy động nguồn lực và tạo cơ chế chính sách cho XĐGN
Từ kết quả công tác XĐGN trong những năm qua cho thấy gắn công tác XĐGN với chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội, các địa phơng và cơ sở phải chủ
động trong điều tra, khảo sát, đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân đói nghèo,
đề ra các giải pháp thích hợp để từ đó có sự vận hành và triển khai đúng đối tợng,
đúng mục tiêu Tự tạo nguồn lực tại chỗ là chính với sự hỗ trợ một phần của Nhà
n-ớc, cộng đồng khơi dây tiềm năng trong dân theo hớng vơn lên "tự cứu" Từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua, XĐGN luôn luôn gắn với việc khuyến khích làm giàu chính đáng, từ đó mà tạo công ăn việc làm Vì chính những
hộ dân có vốn, có kinh nghiệm làm ăn chính là nơi giải quyết việc làm, tăng thu nhập dân c theo phơng ngôn "là lành đùm lá rách" Đồng thời, tạo lập đợc các mô hình, tổ chức bộ máy và cán bộ để triển khai thực hiện đến các xã nghèo, hộ nghèo, hình thành nguồn vốn XĐGN và ngân hàng ngời nghèo để hỗ trợ vốn một cách thiết thực có hiệu quả
c Có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành, đoàn thể từ Trung ơng đến địa phơng, cơ sở và lồng ghép các chơng trình XĐGN với các chơng trình phát triển kinh tế - xã hội khác
Đói nghèo là vấn đề xã hội, song nguyên nhân cơ bản lại bắt nguồn từ kinh tế Vì vậy, XĐGN phải dựa trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc và từng
địa phơng, cơ sở Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa chơng trình XĐGN với các
ch-ơng trình phát triển kinh tế xã hội khác, tạo môi trờng kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển kinh tế, đảm bảo tính bền vững và là yếu tố quyết định để mục tiêu XĐGN đạt kết quả Đó cũng chính là hiệu quả về xã hội hoá công tác XĐGN
d Phát huy nội lực là chính với việc không ngừng mở rộng hợp tác quốc tế nhằm mục tiêu xóa đói, giảm nghèo Đói nghèo đã trở thành vấn đề mà các quốc
Trang 35gia, khu vực và trên thế giới đặc biệt quan tâm Vì vậy, cần tranh thủ và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế về kỹ thuật và tài chính, nhất là cho
đầu t kết cấu hạ tầng và giáo dục, đào tạo để thực hiện mục tiêu đề ra Một mặt mở rộng quan hệ trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế các vùng để phát triển kinh
tế - xã hội; mặt khác, khai thác tối đa sự tài trợ của các Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ và cá nhân thực hiện các chơng trình XĐGN
e Phát huy vai trò của các tổ chức Đoàn thể quần chúng trong triển khai thực hiện các chơng trình Thông qua các tổ chức để vận động làm chuyển biến nhận thức, hành động đến từng hội viên và nhân dân; huy động nguồn lực, chuyển giao khoa học công nghệ; hớng dẫn cách làm ăn cho ngời nghèo, bảo lãnh để tín chấp trong việc vay vốn, trao đổi kinh nghiệm làm ăn Đây là một yếu tố quan trọng quyết định tới việc thực hiện thành công chơng trình XĐGN
Trang 36Chơng 2Thực trạng đói nghèo và công tác xoá đói,
giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số
2.1 Một số đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng dân tộc thiểu số của nớc ta có ảnh hởng đến đói nghèo và công tác xoá đói, giảm nghèo.
Trớc đây, cách nhìn nhận về các vùng lãnh thổ thờng đợc phân chia theo thói quen về độ cao địa lý một cách đơn thuần: miền núi, trung du và đồng bằng hoặc vùng cao, vùng đệm và vùng thấp Điều đó dờng nh là hợp lý trong tình hình đất n-
ớc dới thời bao cấp và giai đoạn đầu bớc vào đổi mới theo cơ chế thị trờng định ớng xã hội chủ nghĩa
h-Song, vào những năm cuối thế kỷ XX, do yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của đất nớc bớc vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nên các nhà hoạch định kinh tế thấy rõ cơ cấu kinh tế là khâu then chốt có vai trò đột phá của nền kinh tế nớc ta Việc chuyển dịch cơ cấu và tỷ trọng phát triển có liên quan mật thiết với kinh tế vùng Kinh tế vùng có ý nghĩa quan trọng đến mục tiêu tăng trởng kinh tế, xoá đói, giảm nghèo, đồng thời còn có mối liên hệ hữu cơ tới sự quản lý của Nhà nớc Kinh tế vùng sẽ phát huy đợc lợi thế để phát triển, phát huy đợc các tiềm năng thế mạnh trong phát triển kinh tế theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Tuy cha tính đợc một cách khoa học và chính xác theo tiêu chuẩn quốc tế, nhng ba vùng động lực có thể coi là hạt nhân cho 3 miền Bắc - Trung - Nam:
+ ở miền Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh
+ ở miền Trung: Quảng Nam - Đà Nẵng, Thừa Thiên - Huế, Khánh Hoà.+ ở miền Nam: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 37Ba vùng động lực này đang có tốc độ phát triển nhanh nhất, đạt giá trị GDP cao nhất Vị thế ba vùng động lực này phải đợc coi nh “bà đỡ” trên nhiều khía cạnh giúp các vùng xung quanh sớm tăng trởng kinh tế theo "quy luật vết dầu loang”.
Ngoài ba vùng động lực, bảy vùng kinh tế cũng đợc xác định chính thức sau
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII Đó là các vùng:
Điều thấy rõ từ năm 1990 tới nay là sự tăng trởng kinh tế đã giúp các vùng
đang có yếu tố tích cực, giảm dần sự chênh lệch về chỉ số GDP giữa các vùng Các vùng kinh tế hiện nay đang chứa đựng nhiều nhân tố tích cực cần sớm đợc khai thác và phát huy
Theo số liệu Điều tra dân số của Tổng cục Thống kê cho thấy dân số các dân tộc thiểu số của nớc ta là hơn 10 triệu ngời Trừ vùng đồng bằng Bắc Bộ, những thành phố lớn và phần đất màu mỡ nhất ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long còn lại đều có đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác hoặc tập trung theo mật
độ khác nhau Trong luận văn này, chỉ đề cập đến vấn đề xoá đói, giảm nghèo trong phạm vi vùng dân tộc thiểu số, nên cần phải căn cứ vào sự phân vùng địa lý, kinh tế - xã hội nhằm đạt tới sự cụ thể hơn làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội cũng nh đề ra các kế hoạch, chơng trình, dự án phù hợp, tăng thêm tính hiệu quả trong thực thi Toàn bộ lãnh thổ có đồng bào dân tộc thiểu số ctrú, có thể chia thành các vùng nh sau:
* Vùng dân tộc thiểu số, miền núi và trung du Bắc Bộ, gồm 2 vùng đặc trng:
+ Vùng núi đá cao, vùng giáp biên giới và vùng sâu, vùng xa
Trang 38+ Vùng núi đất và trung du, đất trống đồi trọc.
* Vùng dân tộc thiểu số miền Trung-Nam Trung Bộ, gồm các vùng đặc trng:
+ Dải bán sơn địa phía Đông dãy Trờng Sơn
+ Vùng duyên hải ven biển miền Trung
+ Vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên
+ Vùng dân tộc thiểu số Nam Bộ, gồm 2 vùng đặc trng:
a) Vùng Tây Nam Bộ có đồng bào Khơme
b) Vùng Đông Nam Bộ (từ Bình Phớc đến Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Thuận)Tất nhiên, việc phân chia theo các vùng trên cũng dựa trên 7 vùng lãnh thổ kinh tế đã đợc xác định và không thể tránh khỏi sự chồng lẫn nhất định về cả đặc
điểm kinh tế tự nhiên cũng nh nhân văn xã hội Song dù áp dụng cách phân chia nào cũng không đợc xa rời nguyên tắc là phát huy mọi tiềm năng thế mạnh của vùng nhằm vào mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, tăng trởng kinh tế và các mục tiêu văn hoá - xã hội
2.1.1 Vùng dân tộc thiểu số ở miền núi và trung du Bắc bộ
Trong số 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam thì có khoảng 30 dân tộc có mặt ở vùng núi và trung du phía Bắc Đây là khu vực tập trung số lợng đông nhất đồng báo các dân tộc, toàn vùng chiếm trên dới 50% dân số của 53 dân tộc thiểu số
Là nơi đầu nguồn những con sông lớn và dài nh sông Hồng, sông Gâm, sông
Đuống, sông Lô, sông Đà có nguồn thuỷ lực dồi dào, có tiềm năng lớn về thuỷ
điện Đồng thời đây cũng là nơi tập trung nhiều tài nguyên khoáng sản, đa dạng về chủng loại, có nhiều khoáng sản quý hiếm có thể thoả mãn phần lớn nhu cầu cho công nghiệp nếu đợc khai thác đầu t thoả đáng Do cấu tạo địa chất phức tạp, địa tầng đứt gãy đột ngột trên đồi núi, đã tạo nên mùa ma từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm Sinh thái gồm nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, nhng Tây Bắc mùa
ma đến muộn hơn, thờng bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm Sự khác biệt về khí hậu dẫn đến việc tạo ra các chủng loại thực vật và sinh vật phong phú và độc đáo Nơi đây có nhiều loại gỗ quý nh: đinh, lim, sến, táu, v.v và cũng
Trang 39là kho thuốc quý bởi các loại cây dợc liệu nh: tam thất, sa nhân, đỗ trọng v.v.; là quê hơng của những loại cây ăn quả đặc sản nh: mận, táo hoa, lê, đào mèo, cam Bắc Quang, bởi Đoan Hùng Vùng núi trung du phía Bắc cũng là nơi có tiềm năng…
về du lịch sinh thái bởi các hang động và thiên nhiên hoang dã, bởi sắc thái văn hoá phong phú đa dạng của các dân tộc thiểu số
Vùng núi và trung du phía Bắc là chiếc nôi của lịch sử dân tộc ta, nơi đây có quá trình đấu tranh anh dũng hàng nghìn năm chống ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền
lở núi, hoả hoạn, bệnh dịch và môi trờng bị ô nhiễm
Nhìn chung vùng cao miền núi vẫn cha thoát khỏi tình trạng kinh tế tự cấp
tự túc, vùng thấp và trung du cha có tác động mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật, các loại giống mới cha đa vào sản xuất Vấn đề lơng thực vẫn là nỗi lo lắng kinh niên của ngời dân miền núi, vùng cao
Sự tồn tại nhiều phong tục tập quán lạc hậu, phi khoa học, bất lợi cho sức khoẻ và sự tiến bộ xã hội cũng là một trở ngại không nhỏ cho sự phát triển của các dân tộc thiểu số Sự bất đồng ngôn ngữ, mặt bằng dân trí thấp của đồng bào dân tộc thiểu số cũng gây không ít khó khăn cho việc xoá đói giảm nghèo Điều đó ảnh h-ởng trực tiếp tới các chơng trình dự án thực hiện trên địa bàn , đặc biệt là việc bảo
vệ môi trờng sinh thái đảm bảo cho sự phát triển lâu dài, bền vững
2.1.2 Vùng dân tộc thiểu số ở miền Trung và Nam Trung Bộ
Trang 40Đây là dải đất dài nhất nớc chạy theo đờng lợn cong của dãy Trờng Sơn hùng
vĩ Thiên nhiên của khu vực này mang nhiều sắc thái khác nhau về khí hậu cũng
nh tiềm năng kinh tế Do bị che chắn bởi dãy Trờng Sơn nên khí hậu khô nóng, ảnh hởng gió Lào khắc nghiệt nên hàng năm nơi đây chịu nhiều bão lụt, thiên tai đe doạ
Sông ngòi nơi đây thờng ngắn, độ dốc cao, chảy theo hớng Tây Đông rồi đổ
ra biển Đông; mật độ sông ngòi dày, chia cắt dải đất hẹp có bề ngang từ 42 km -
100 km ra nhiều chỗ Do đó, lũ tràn về nhanh chóng, nhng sau lũ lại là khô hạn kéo dài Do bị tớc đoạt, thiếu sự bồi bổ nên nguy cơ lớn nhất vùng này là “trọc hoá
và sa mạc”
Sinh thái vùng này gồm những dải rừng ở phía Tây giáp dãy Trờng Sơn, một vài nơi có cấu tạo đất đỏ bazan Tuy bị tàn phá trong chiến tranh và sự khai thác thiếu kế hoạch của con ngời, nhng nhìn chung thảm động thực vật ở đây còn khá phong phú đa dạng: có nhiều loại gỗ quý nh: trắc, gõ kiến, lim, dạ hơng, sao; có nhiều loại động vật hoang dã nh: voi, hổ, gấu, bò tót, công Nơi dây có nhiều cây dợc liệu quý nh: sâm, kỳ, nam, trầm, quế, hà thủ ô, đặc biệt gần đây phát hiện ra những loài hơu sao và mang lớn, những loài cá lạ ở sông suối khu vực Trờng Sơn
Có đợc sinh thái nêu trên là do hai nguyên nhân chủ yếu: thảm động thực vật khu vực Trờng Sơn gắn liền với những thảm động thực vật nguyên sinh bên đất Lào và
sự tái sinh của môi trờng qua 20 năm từ khi kết thúc chiến tranh
Miền sinh thái thứ hai là vùng duyên hải ven biển với những đầm phá: tổng diện tích mặt nớc lên tới vài chục héc ta Đó là một môi trờng tốt cho các loại động vật nh: tôm, cua, cá, rau câu chỉ vàng có giá trị dinh dỡng và xuất khẩu
Khu vực miền Trung, Nam Bộ gồm khoảng 12 dân tộc c trú xen kẽ nhau: đó
là các dân tộc thiểu số HRê, Raglai, XTiêng, Bru - Vân Kiều, Cơ Tu, Gié Triêng,
Tà Ô, Chứt, Chàm Giữa các dân tộc này có quan hệ từ lâu đời, trong mối tơng giao thân thiện cùng chung một vận mệnh lịch sử, có tinh thần đoàn kết và đấu tranh anh dũng chống các thế lực xâm lăng Đặc biệt đồng bào khu vực Trờng Sơn có