Dạy học Toán ở Tiểu học nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học: số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lợng thông dụng; dạy các yếu tố hình học; một số y
Trang 1phòng giáo dục & đào tạo huyện tiên yên
Tr ờng PTCS đại Dực
sáng kiến kinh nghiệm
Một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán
có lời văn cho học sinh lớp 5 vùng cao
Ngời thực hiện: Đàm Lệ Quyên
Tổ: 4+5
Năm học: 2009 - 2010
Trang 2mục lục
II.2.1 Tìm hiểu những dạng toán có lời văn ở lớp 5 6
IV Phần danh mục tài liệu tham khảo- Phụ lục 31
I.Phần mở đầu I.1 Lí do chọn đề tài
I.1.1 Cơ sở lí luận
Trang 3Dạy học Toán ở Tiểu học nhằm giúp cho học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu về số học: số tự nhiên, phân số, số thập phân; các đại lợng thông dụng; dạy các yếu tố hình học; một số yếu tố thống kê và đặc biệt là kĩ năng giải Toán Mặt khác chơng trình SGK Toán mới đã có nhiều điểm khác biệt với chơng trình cũ Các mạch kiến thức toán học từ lớp 1 đến lớp 5 đợc thống nhất chặt chẽ với nhau theo cấu trúc đồng tâm nên nó giúp cho học sinh không những đợc học
mà còn đợc củng cố lại kiến thức ở các lớp trên Học tốt môn Toán là điều kiện để học tốt các môn học khác
I.1.2 Cơ sở thực tiễn.
Trong thực tế giảng dạy ở các trờng tiểu học nhất là các trờng vùng cao, yếu
tố giải toán có lời văn là yếu tố tơng đối khó, nó đợc xen kẽ với các mảng kiến thức của số học, hình học, đại lợng và đo đại lợng Hơn nữa, các bài toán có lời văn cũng có nhiều dạng khác nhau nh bài toán đơn, bài toán hợp…
Qua thăm lớp, dự giờ tôi thấy rằng kĩ năng giải Toán có lời văn của học sinh
từ lớp 1 đến lớp 5 vùng cao rất lúng túng, đặc biệt là cách tìm ra hớng giải và câu trả lời cho phép tính cha nhanh và cha chính xác Điều này đã làm mất thời gian trong các giờ học và không tạo đợc hứng thú học toán cho học sinh
Vậy làm thế nào để giúp học sinh lớp 5 vùng cao giải toán nhanh và chính xác đồng thời tạo đợc hiệu quả tốt trong giờ học? Câu hỏi này đòi hỏi các nhà làm công tác giáo dục và những ngời trực tiếp giảng dạy phải lu tâm Trong bài viết này, tôi mạnh dạn đa ra “một số biện pháp dạy học rèn kỹ năng giải Toán cho học sinh lớp 5 vùng cao” mà tôi đã đa vào thực nghiệm và có hiệu quả
I.2 Mục đích nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu đề tài nhằm đạt đợc những mục đích sau:
1- Tìm hiểu những dạng toán có lời văn ở lớp 5.
2- Tìm hiểu thực trạng giải toán của học sinh
3- Đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng giải toán cho học sinh.
I.3 Thời gian- địa điểm.
I.3.1 Thời gian.
- Đề tài đợc tiến hành nghiên cứu từ tháng 10/2009 đến tháng 4/2010
I.3.2 Địa điểm
- Tại trờng PTCS Đại Dực
I.3.3 Phạm vi đề tài.
I.3.3.1 Giới hạn đối tợng nghiên cứu.
Một số biện pháp rốn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 vùng cao
I.3.3.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu.
- Trờng PTCS Đại Dực - huyện Tiên Yên
Trang 4I.3.3.3.Giới hạn về khách thể khảo sát
- 36 HS khối 5 trờng PTCS Đại Dực
I.4 Phơng pháp nghiên cứu
I.4.1 Phơng pháp lí luận: Su tầm tài liệu, đọc tài liệu, tra cứu thông tin liên quan
đến đề tài nghiên cứu
I.4.2 Phơng pháp điều tra: Làm phiếu điều tra trắc nghiệm qua việc giảng dạy và
dự giờ đồng nghiệp I.4.3 Phơng pháp thực nghiệm: Đa biện pháp đề xuất vào giảng dạy trực tiếp tại
lớp 5A
I.4.4 Phơng pháp quan sát: Qua dự giờ và dạy học có thể quan sát trực tiếp tình
hình học tập của học sinh trong một tiết họcđể biết đợc khả năng tiếp thu bài, nắm kiến thức bài giảng và vận dụng thực hành của học sinh
II.PHần NộI DUNG II.1.Chơng1: Tổng quan
Một số biện pháp rốn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 vùng cao
Trang 5II.1.1 Lịch sử - vấn đề nghiên cứu
II.1.2 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài nghiên cứu
1 Cơ sở lí luận:
Dạy Toán ở Tiểu học nhằm giúp cho học sinh vận dụng những kiến thức về toán vào các tình huống thực tiễn đa dạng, phong phú, những vấn đề thờng gặp trong cuộc sống Nhờ giải toán, học sinh có điều kiện phát triển năng lực t duy, rèn luyện phơng pháp suy luận và những phẩm chất cần thiết của ngời lao động mới Vì giải toán là một hoạt động bao gồm những thao tác: xác lập mối quan hệ giữa các dữ liệu, giữa cái đã cho với cái cần tìm, trên cơ sở đó chọn đợc phép tính thích hợp và trả lời đúng câu hỏi của bài toán
Dạy giải Toán giúp học sinh tự giải quyết vấn đề, tự nhận xét, so sánh, phân tích, tổng hợp, rút ra quy tắc ở dạng khái quát nhất định…
Các bài toán số học ở Tiểu học đợc phân chia thành các bài toán đơn và khối các bài toán hợp Để giải quyết đợc những bài toán này, giáo viên đã biết kết hợp các phơng pháp dạy học: Phơng pháp nêu vấn đề, phơng pháp giảng giải - minh hoạ, phơng pháp thực hành - luyện tập…
2 Cơ sở thực tiễn
Tình hình dạy học giải toán của giáo viên hiện nay đang đợc áp dụng phơng pháp nêu vấn đề để rồi học sinh tự tìm hớng giải quyết Song học sinh lại rất lúng túng với phơng pháp này vì các em không biết tìm “khoá”để mở bài toán (đặc biệt
là toán hợp) Nếu giáo viên giảng giải nhiều sẽ bị coi là không đổi mới phơng pháp
và cũng đồng thời không phát huy đợc tính tích cực trong học tập của học sinh Bản thân học sinh không biết cách trình bày bài giải thế nào hoặc không xác định
đợc dạng toán điển hình để có những bớc tính phù hợp Đó chính là những khó khăn khi dạy giải toán ở Tiểu học
II.2.Chơng 2: nội dung vấn đề nghiên cứu II.2.1- Tìm hiểu những dạng toán có lời văn ở lớp 5.
I- Mục tiêu của dạy học Giải toán có lời văn ở lớp 5“ ” .
Trang 6Dạy học giải toán có lời văn trong Toán 5 nhằm giúp cho học sinh biết giải các bài toán có đến 4 bớc tính, trong đó có:
+ Các bài toán liên quan đến tỉ số(ôn tập đầu năm)
+ Các bài toán liên quan đến quan hệ tỉ lệ ( bổ sung ở phần ôn tập đầu năm)
+ Các bài toán về tỉ số phần trăm
+ Các bài toán về chuyển động đều
+ Các bài toán có nội dung hình học
II- Nội dung dạy Toán ở Tiểu học.
1 Nội dung dạy giải Toán ở Tiểu học có 5 mạch kiến thức gồm:
+ Yếu tố số học
+ Yếu tố đại lợng và đo đại lợng
+ Yếu tố hình học
+ Yếu tố thống kê
+ Yếu tố giải toán có lời văn
Môn Toán ở Tiểu học là một môn thống nhất, không chia thành phân môn Hạt nhân của nội dung môn Toán là số học (bao gồm các số tự nhiên,phân số, số thập phân) Những nội dung về đại lợng cơ bản, yếu tố đại số, yếu tố hình học, giải toán có lời văn đợc gắn bó chặt chẽ với hạt nhân số học, tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các nội dung đó của môn Toán
Sự sắp xếp các nội dung trong mối quan hệ gắn bó, hỗ trợ nhau với hạt nhân
số học không làm mất đi hoặc mờ nhạt đi đặc trng của từng nội dung Vì vậy, dạy các yếu tố đại số, các yếu tố hình học, các đại lợng cơ bản vừa giúp cho việc…chuẩn bị dạy học các nội dung có liên quan ở trung học cơ sở, vừa phục vụ cho dạy học nội dung trọng tâm của môn Toán ở Tiểu học Đó là sự thể hiện bớc đầu quan
điểm tích hợp cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu học
Cấu trúc nội dung môn Toán ở Tiểu học quán triệt các t tởng của toán học hiện đại và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh tiểu học
Sự phối hợp hợp lí giữa số học với các đại lơng cơ bản, yếu tố đại số, yếu tố hình học, giải toán có lời văn là thể hiện t tởng coi trọng tính thống nhất của toán học.Việc hình thành khái niệm số tự nhiên theo tinh thần của lí thuyết tập hợp và dần dần hình thành các tính chất, đặc điểm của các phép tính Căn cứ vào tâm…sinh lí của học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh:
- Giai đoạn đầu ( các lớp 1,2,3) chủ yếu gồm các nội dung gần gũi với cuộc sống của trẻ em, sử dụng kinh nghiệm đời sống của trẻ em để giúp các em nhận thức các kiến thức toán học ở dạng tổng thể và nhanh chóng hình thành kĩ năng đo lờng, tính toán, giải toán…
- Giai đoạn cuối (các lớp 4,5) chủ yếu gồm các nội dung có tính khái quát cao hơn (so với giai đoạn trớc) nhng vẫn dựa vào các hoạt động đo, tính trên cơ…
sở đó mà bớc đầu khái quát hoá, tập suy luận Chẳng hạn, sau khi học song phép cộng, các em phải khái quát đợc phép cộng có những tính chất gì?
Trang 7Các kiến thức kĩ năng của môn Toán ở Tiểu học đợc hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thờng xuyên đợc ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống Thông qua thực hành toán học các em có thể bớc
đầu hình thành đợc các khái niệm toán học, các quy tắc tính toán, bằng thực hành toán học sẽ giúp củng cố tri thức mới, rèn luyện các kĩ năng cơ sở, phát triển t duy, phát triển trí thông minh Công tác thực hành toán là cơ hội giúp cho học sinh làm quen với cách vận dụng kiến thức, kĩ năng môn Toán để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong học tập và trong cuộc sống
2- Nội dung dạy giải toán ở lớp 5.
So với những chơng trình cải cách giáo dục, mức độ giải toán có lời văn của Toán 5 hiện nay có một điểm sau:
- Số lợng các bài toán có lời văn trong SGK giảm đi đáng kể (nhìn chung sau mỗi tiết lí thuyết không quá 3 bài tập, trong đó thờng có không quá một bài toán có lời văn; trong mỗi tiết thực hành có không quá 4 đến 5 bài tập, trong đó th-ờng có không quá 2 bài toán có lời văn( trừ một số tiết giải toán có lời văn)
- Các bài toán khó có cách giải phức tạp (mang tính chất đánh đố) hầu nh không có Thay vào đó, có một số bài (số lợng không nhiều) mang tính chất “ phát triển” đòi hỏi học sinh phải “suy nghĩ” độc lập để giải
- ở mỗi bài toán giải không quá 4 bớc tính
- Nội dung các bài toán có tính “cập nhật” hơn trớc, gần với đời sống xung quanh của trẻ, gắn liền với các “tình huống” cần giải quyết trong thực tế Chẳng hạn:
* Các bài toán về quan hệ tỉ lệ gắn với mức tăng dân số hằng năm (bài 3 trang
19 ; bài 2 trang 21)
* Các bài toán có nội dung hình học thờng liên quan đến tính diện tích ruộng đất với các “tình huống” có thực trong thực tế (bài1 trang 105; bài 2 trang 106) hoặc tính diện tích, thể tích các hộp, bể cá, khối gỗ có trong thực tế (bài 3 trang 121; bài
3 trang 122; bài 1 trang 128)
* Các bài toán về tỉ số phần trăm thờng gắn liền với “tiền lãi gửi tiết kiệm” (bài
2 trang 77), liên quan đến “lỗ lãi” trong buôn bán ( bài 3 trang 76; bài 4 trang 80 ), liên quan đến “dân số” (bài 3 trang 79), liên quan đến “tăng năng suất vợt mức kế hoạch” (bài 2 trang 76)…
* Các bài toán về số đo thời gian liên quan đến các sự kiện phát minh khoa học, các danh nhân thế giới (bài 4 trang 134; bài 1 trang 130)
* Các bài toán về chuyển động đều liên quan đến việc tính vận tốc của ô tô, xe máy, ngời đi xe đạp, ca nô, của đà điểu, ong mật, ốc sên, Căng-gu-ru, cá heo,… …với những “hình ảnh” minh hoạ hấp dẫn, sinh động tạo hứng thú học tập cho học sinh và gần gũi với các em(bài 2 trang 146;bài 4 trang 144;bài 2 trang 143;bài 4 trang 142;bài 1 trang 139, )…
Toán 5 mới đã tăng cờng các bài toán với hình thức thể hiện đa dạng, phong phú hơn trớc Chẳng hạn ngoài các dạng bài toán có tính chất quen thuộc, truyền thống (nh bài toán đơn, bài toán hợp về các quan hệ số học, đo lờng, hình học) trong Toán 5 mới còn có các bài toán “ Trắc nghiệm 4 lựa chọn”(bài 1,2,3 trang
Trang 889; bài 4 trang 99 ), bài toán điền “đúng, sai”(bài 3 trang110;bài 3 trang112 ),… …bài toán “Điền thế” (bài 1 trang 156 ), bài toán liên quan đến “biểu đồ, hình vẽ,…sơ đồ, biểu bảng” cần giải quyết,…
Tóm lại: Trong môn Toán 5, nội dung dạy giải toán có lời văn đợc sắp xếp hợp lí, đan xen phù hợp với quá trình học tập các mạch kiến thức số học Các yếu
tố hình học; Đại lợng và đo đại lợng của học sinh Chẳng hạn, khi học tới số thập phân, trong sách có nhiều bài toán có lời văn liên quan đến các phép tính với số thập phân; khi học các đơn vị đo khối lợng, diện tích, thời gian, thể tích, vận tốc trong sgk Toán 5 có nhiều bài toán thực tế liên quan đến các đơn vị đo đại lợng đó; khi học về hình tam giác, hình thang, hình tròn, hình hộp chữ nhật, hình lập phơng trong sách có những bài toán liên quan đến tính chu vi, diện tích,…
Tiếp tục nh lớp 1,2,3 nội dung dạy học “Giải toán có lời văn ở lớp 5” đợc xây dựng theo định hớng chủ yếu giúp học sinh rèn luyện phơng pháp giải toán (phân tích đề toán, tìm cách giải quyết và trình bày bài giải) giúp học sinh có khả năng diễn đạt (nói và viết) khi muốn nêu “tình huống” trong bài toán, trình bày đ-
ợc “cách giải” bài toán, biết viết “câu lời giải” và “phép tính giải” …
Các bài toán có lời văn ở lớp 5 có xu hớng giảm tính “phức tạp” và “độ khó” quá mức đối với học sinh, đồng thời hạn chế các bài toán mang tính “đánh đố” hoặc cách giải áp đặt, phải cần đến nhiều “mẹo” mới giải đợc
III- Phơng pháp dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5
1- Về mức độ, yêu cầu của giải toán có lời văn ở lớp 5
Cũng nh các lớp khác, yêu cầu của dạy học giải toán có lời văn ở lớp 5 chủ yếu
là rèn kĩ năng về”phơng pháp” giải toán (cách đặt vấn đề, tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề); rèn khả năng diễn đạt (trình bày vấn đề bằng lời nói, bằng chữ viết) Không yêu cầu học sinh phải làm những bài toán khó, phức tạp (mức độ giải toán không quá 4 bớc tính) và học sinh không phải làm quá nhiều bài toán (mỗi tiết học thơng chỉ có từ 1,2 bài toán có lời văn)
2- Dạy học giải toán về quan hệ tỉ lệ“ ”
Trong Toán 5, các bài toán về quan hệ tỉ lệ đợc xây dựng từ những bài toán liên quan đến tỉ số mà cách giải chủ yếu dựa vào phơng pháp “rút về đơn vị” (học
ở lớp 3) và phơng pháp “tìm tỉ số” (học ở lớp 4) Chẳng hạn:
Bài toán: Muốn đắp xong nền nhà trong 2 ngày cần có 12 ngời Hỏi muốn đắp
xong nền nhà đó trong 4 ngày thì cần có bao nhiêu ngời ?
Cách 1: “ Rút về đơn vị”:
Bài giảiMuốn đắp nền nhà xong trong 1 ngày, cần số ngời là:
12 x 2 = 24 (ngời)Muốn đắp nền nhà xong trong 4 ngày ,cần số ngời là:
24 : 4 = 6 (ngời)
Cách 2: “ Tìm tỉ số”
Bài giải
Trang 94 ngày gấp 2 ngày số lần là :
4: 2 = 2 (lần)Muốn đắp xong nền nhà trong 4 ngày cần số ngời là:
12: 2 = 6 (ngời) Đáp số : 6 ngời
Trong Toán 5 có xây dựng hai dạng quan hệ tỉ lệ của 2 đại lợng (dạng quan
hệ tỉ lệ thứ nhất : “ Nếu đại lợng này tăng (giảm) bao nhiêu lần thì đại lợng kia cũng tăng (giảm) đi bấy nhiêu lần”; dạng quan hệ thứ hai: “Nếu đại lợng này tăng (giảm ) bao nhiêu lần thì đại lợng kia giảm (tăng) bấy nhiêu lần” Thực chất của dạng toán này chính là các bài toán mà các em sẽ đợc học ở bậc học sau, gọi tên
là : bài toán về “tỉ lệ thuận”, “tỉ lệ nghịch” nhng ở Toán 5 không dùng thuật ngữ này để gọi tên
ở mỗi bài toán cụ thể đối với mỗi dạng quan hệ tỉ lệ, SGK Toán 5 đa ra
đồng thời cả hai cách giải Khi làm bài học sinh chọn 1 trong 2 cách giải để làm song phải tuỳ thuộc vào “tình huống” của bài toán đặt ra
Ví dụ : Bài 1 trang 21: 10 ngời làm xong một công việc phải hết 7 ngày Nay muốn làm xong công việc đó trong 5 ngày thì cần bao nhiêu ngời? (Mức làm của mỗi ngời nh nhau) Đối với bài tập này, học sinh chỉ có thể làm bằng cách “rút về
đơn vị” để tìm ra số ngời làm xong công việc trong 5 ngày Bài giải đợc trình bày
nh sau:
Muốn làm xong công việc trong 1 ngày cần :
10 x 7 =70 (ngời)Muốn làm xong công việc trong 5 ngày cần :
70 : 5 =14 (ngời) Đáp số : 14 ngời
3- Dạy học các bài toán về tỉ số phần trăm“ ”
Các bài toán về “tỉ số phần trăm” thực chất là các bài toán về “tỉ số” Do đó, trong Toán 5, các bài toán về tỉ số phần trăm đợc xây dựng theo ba bài toán cơ bản về tỉ số
Bài toán 1: Cho a và b Tìm tỉ số phần trăm của a và b
* VD ( SGK /175): Trờng Tiểu học Vạn Thọ có 600 HS, trong đó có 315 HS nữ Tính tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS toàn trờng?
Bài giải
Tỉ số phần trăm số HS nữ và số HS toàn trờng là :
315 : 600 = 0,5250,525 = 52,5 % Đáp số : 52,5 %
Bài toán 2: Cho b và tỉ số phần trăm của a và b Tìm a
* VD (SGK / 76): Một trờng Tiểu học có 800 HS,trong đó số HS nữ chiếm 52,5
% Tính số HS nữ của trờng đó
Bài giải
Số HS nữ của trờng đó là :
Trang 10800 : 100 x 52,5 = 420 ( học sinh) Đáp số : 420 học sinh.
Bài toán 3 : Cho a và tỉ số phần trăm của a và b Tìm b
* VD ( SGK/78): Số HS nữ của một trờng là 420 em và chiếm 52,5 % số HS toàn trờng Hỏi trờng đó có bao nhiêu HS?
Bài giải
Số học sinh của trờng đó là :
420 : 52,5 x 100 = 800 ( học sinh ) Đáp số : 800 học sinh
4- Dạy học giải toán về chuyển động đều
* Trong Toán 5 có 3 bài cơ bản về chuyển động đều của một chuyển động.
a Bài toán 1 : Biết quãng đờng (s) và thời gian (t) Tìm vận tốc
HS sẽ thực hiện bài toán này theo công thức :
v = s : t
Ví dụ : một ô tô đi quãng đờng dài 120 km hết 3 giờ Tìm vận tốc của ô tô
Bài giảiVận tốc của ô tô là :
Ví dụ : Một ô tô đi quãng đờng 120 km với vận tốc 40 km / giờ Tính thời gian ô tô
đi đợc quãng đờng đó.
Bài giảiThời gian ô tô đi là :
120 : 40 = 3 ( giờ )
Đáp số : 3 giờ
* Các bài toán về chuyển động ng“ ợc chiều , chuyển động cùng chiều ” “ ”
Trong Toán 5 có giới thiệu 2 bài toán chuyển động đều của 2 vật chuyển động,
đó là :
Trang 11a, Hai động tử chuyển động ngợc chiều gặp nhau, khởi hành cùng một lúc:
S
t = V1 + V2
s: Quãng đờng (khoảng cách hai vật khi bắt đầu cùng chuyển động)
t: thời gian đi để gặp nhau
54 + 36 = 90 (km)Thời gian để ôtô gặp xe máy là :
180 : 90 = 2 (giờ)
Đáp số : 2 giờ
b Hai động tử hoạt động cùng chiều gặp nhau, khởi hành cùng lúc:
s : quãng đờng ( khoảng cách hai vật khi bắt đầu cùng chuyển động )
t : thời gian đi để gặp nhau
v1 , v2 : vận tốc của hai vật
Ví dụ : SGK/ 145
Một ngời đi xe đạp từ B đến C với vận tốc 12km/h, cùng lúc đó một ngời đi xe máy từ A cách B là 48 km/h với vận tốc 36 km/h và đuổi theo xe đạp Hỏi kể từ lúc bắt đầu đi, sau mấy giờ xe máy đuổi kịp xe đạp ?
S
t = ( V1 > V2 )
V1 – V2
Trang 12B
Xe máy: 36 km/ h Xe đạp:12 km/ h
Bài giảiSau mỗi giờ xe máy tiến gần đến xe đạp là :
36 – 12 = 24 ( km )Thời gian để xe máy đuổi kịp xe đạp là :
48 : 24 = 2 ( giờ )
Đáp số : 2 giờ
Hai bài toán này chỉ đợc giới thiệu ở phần luyện tập, không học thành bài “lí thuyết” Trọng tâm của giải toán chuyển động đều là giải ba bài toán cơ bản của một vật chuyển động ( mục 4.1 )
5 Dạy học giải toán có nội dung hình học.
Trong Toán 5, các bài toán có nội dung hình học thờng là các bài toán về tính chu vi các hình( chu vi hình vuông, chu vi hình chữ nhật, chu vi hình tròn); Tính diện tích các hình( hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình thang, hình tròn; tính diện tích xung quanh, diện tích toàn phần, thể tích, hình hộp chữ nhật, hình lập phơng) Đặc biệt là các bài toán về tính diện tích ruộng đất thực tế liên quan đến việc phân chia một hình thành các hình khác để tính đợc diện tích Với nội dung này, Toán 5 đã giúp học sinh hình thành cách tính chủ yếu dựa vào trực quan, cắt ghép hình
Chẳng hạn: dạy diện tích hình thang thông qua cắt ghép hình để chuyển về dạng hình tam giác
A B
M
D C NHoặc dạy diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật bằng cách triển khai trên đồ dùng trực quan để học sinh nhận thấy diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật chính là diện tích của một hình chữ nhật lớn vừa triển khai đợc
Khi áp dụng công thức để tính diện tích hoặc thể tích thì phép tính giải trong mỗi bớc tính thờng là phải tính “ giá trị của biểu thức chữ”, do đó khi trình bày bài giải học sinh không phải viết kết quả của phép tính trung gian mà ghi ngay kết quả của biểu thức
Ví dụ: Một hình hộp chữ nhật có chiều dài 20 cm, chiều rộng 12 cm, chiều cao 10 cm Tính diện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật đó
Trang 13Bài giảiDiện tích xung quanh của hình hộp chữ nhật là:
( 20 + 12 ) x 2 x 10 = 640 (cm2)
Đáp số: 640 cm2Học sinh không phải viết kết quả phép tính:
20 + 12 = 32; 32 x 2 = 64; 64 x 10 = 640
Khi viết bài giải các bài toán có nội dung hình học, thông thờng HS không phải vẽ hình đối với những bài mà khi tính (chu vi, diện tích, thể tích) chỉ áp dụng công thức để tính Đối với những bài toán mà yêu cầu theo đề bài cần phải vẽ hình thì HS cần phải vẽ hình khi làm bài
Cách 1:
Bài giảiChia mảnh đất thành 1 hình chữ nhật và 2 hình vuông bằng nhau (nh hình vẽ )
3,5m 3,5m 3,5m
6,5m
4,2 m
Diện tích của mảnh 1 và mảnh 2 là:
3,5 x 3,5 x 2 = 24,5 (m2)Diện tích của mảnh 3 là:
( 6,5 + 3,5 ) x 4,2 = 42 (m2)Diện tích của mảnh đất là:
24,5 + 42 = 66,5 (m2) Đáp số: 66,5 m2
Cách 2:
Bài giải
1 2
3
Trang 14Chia mảnh đất thành 2 hình chữ nhật( nh hình vẽ)
3,5 cm
3,5m 3,5m 6,5 m
4,2 mChiều dài của mảnh 1 là:
3,5 + 4,2 + 3,5 = 11,2 (m)Diện tích mảnh 1 là:
11,2 x 3,5 = 39,2 (m2)Diện tích mảnh 2 là:
6,5 x 4,2 = 27,3 (m2)Diện tích của mảnh đất là:
39,2 + 27, 3 = 66,5 (m2) Đáp số: 66, 5 m2
6 Dạy học ôn tập, hệ thống một số dạng toán.
Trong Toán 5, phần ôn tập cuối năm HS đợc ôn tập, hệ thống củng cố cách giải một số dạng bài toán đã học
+ Tìm số trung bình cộng
+ Tìm hai số biết tổng và tỉ số của hai số đó
+ Tìm hai số biết hiệu và tỉ của hai số đó
+ Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
+ Bài toán về tỉ số phần trăm
+ Bài toán về chuyển động đều
+ Bài toán có nội dung hình học
Cũng nh SGK Toán ở các lớp 1,2,3,4 các bài luyện tập này đợc sắp xếp theo thứ tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Mỗi tiết học, hệ thống các bài th-ờng theo 1 hoặc 2 dạng cơ bản chứ không lồng ghép nhiều dạng toán Khi làm các bài tập này đòi hỏi HS đọc kĩ đề bài, phân tích yêu cầu để tìm ra dạng toán cơ bản đã học và nhớ lại các bớc giải
II.2.2.Thực trạng việc tổ chức việc dạy giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 vùng cao
Qua 2 năm dạy học trên vùng cao tôi đã dự giờ của giáo viên và học sinh lớp
2 lớp 5B, 5C và theo dõi kết quả các bài kiểm tra định kì của học sinh bản thân tôi nhận thấy việc tổ chức dạy giải toán có lời văn cho học sinh nh sau:
1
2
Trang 15* Theo dõi kết quả các bài tập có trong chơng trình, các bài kiểm tra định kì, các bài tập trắc nghiệm do giáo viên soạn thảo, kết quả thu đợc ở khối lớp 5 năm học 2008-2009:
- Những bài toán đơn và những bài toán làm theo mẫu đợc các em giải quyết tơng
đối tốt và đạt kết quả cao( 80% đạt từ trung bình trở lên trong đó có 35% đạt khá giỏi)
- Những bài toán hợp học sinh làm kém hơn, đa số các em không giải đợc do không xác lập đợc phép tính đúng
A Kiểm tra bài cũ
- Gọi 2 HS lên bảng yêu cầu HS làm bài tập VN
- GV nhận xét ghi điểm
B Dạy học bài mới
1 Giới thiệu bài
- GV giới thiệu bài: Trong tiết học toán hôm nay chúng ta làm một số bài toán luyện tập về tỉ số phần trăm
Trang 16Nhẩm 60 : 5 = 12; Viết kí hiệu % vào kết quả đợc 12%
- HS đổi chéo vở để kiểm tra bài lẫn nhau
- GV gọi HS nhận xét bài làm của bạn trên bảng, sau đó nhận xét và cho điểm HS
Bài 2
- GV gọi HS đọc đề toán
? Bài tập cho chúng ta biết gì ? Bài toán hỏi gì ?
+Bài tập cho biết: Kế hoạch năm : 20 ha ngô
? Em hiểu "Đến hết tháng 9 thôn Hoà An thực hiện đợc 90% kế hoạch "nh thế nào ?
- GV hớng dẫn HS trình bày lời giải bài toán
Bài giải
a, Theo kế hoạch cả năm, đến hết tháng 9 thôn Hoà An đã thực hiện đợc là:
18 : 20 = 0,90,9 = 90%
b, Đến hết năm thôn Hoà An đã thực hiện đợc kế hoạch là :
23,5 : 20 = 1,1751,175 = 117,5%
Trang 17- GV nêu: 17,5% chính là số phần trăm vợt mức kế hoạch.
Bài 3
- Gọi HS đọc đề toán
? Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ?
- Bài toán cho biết :
? Muốn biết tiền bán rau bằng bao nhiêu phần trăm tiền vốn em làm thế nào ?
- Tính tỉ số phần trăm của tiền bán rau và tiền vốn
? Tỉ số tiền bán là 125% cho ta biết điều gì ?
+ Tỉ số này cho biết coi số tiền vốn là 100% tiền bán là 125%
? Thế nào là tiền lãi ?
+ Tiền lãi là số tiền d ra của tiền bán so với tiền vốn
? Thế nào là phần trăm lãi ?
+ Coi tiền vốn là 100% thì số phần trăm d ra của tiền bán so với 100% chính là phần trăm tiền lãi? Vậy ngời đó lãi bao nhiêu phần trăm tiền vốn ?
+ Ngời đó lãi 125% - 100% = 25% (tiền vốn)
- GV hớng dẫn HS trình bày lời giải bài toán
Bài giải
a, Tỉ số phần trăm của tiền bán rau và tiền vốn là :
52500 : 42000 = 1,251,25 = 125% (tiền vốn)
b, Coi tiền vốn là 100% thì bán rau là 125%
Do đó, phần trăm tiền lãi là :
124% - 100% = 25%(tiền vốn)
Đáp số : a, 125% ; b, 25%
3 Củng cố dặn dò
- GV tổng kết tiết học, dặn dò HS về nhà làm các bài tập hớng dẫn luyện tập thêm
và chuẩn bị bài sau
Trang 18* Biªn b¶n dù giê sè 2: §/c NguyÔn V¨n To¶n ( líp 5C- 10 hs)
Ngµy d¹y: 16/12/2009
Toán Tiết 82 LUYỆN TẬP CHUNG
A Kiểm tra bài cũ
- Gọi 2 HS lên bảng yêu cầu HS làm bài tập VN
- GV nhận xét ghi điểm
B Dạy học bài mới
1 Giới thiệu bài: trùc tiÕp
2 Luyện tập
Bài 1
- GV yêu cầu HS đọc đề bài và tìm cách chuyển hỗn số thành số thập phân
- GV nhận xét cách HS đưa ra, nếu HS không đưa ra được cách chuyển thì GV hướng dẫn cho HS cả lớp
- GV yêu cầu HS làm bài
- 2 HS lên bảng làm bài 1,2- HS dưới lớp theo dõi nhận xét
- 4 HS lên bảng làm 4 phần a,b,c, d - HS làm bài vào vở bài tập
- GV chữa bài và ghi điểm HS
Bài 3
- GV Yêu cầu HS đọc đề bài toán
? Thế nào là hút được 35% lượng nước trong hồ ?
Trang 19+ Nghĩa là coi lượng nước trong hồ là 100% thì lượng nước đã hút là 35%.
- GV yêu cầu HS tự làm bài
- 1 HS lên bảng làm bài, HS cả lớp làm bài vào vở bài tập Có thể làm theo hai cách sau :
* Cách 1 :
Hai ngày đầu máy bơm hút được là :35% + 40% = 75% (lượng nước trong hồ)Ngày thứ ba máy bơm hút được là :100% - 75% = 25% (lượng nước trong hồ)
Đáp số : 25% lượng nước trong hồ
* Cách 2 :
Sau ngày thứ nhất, lượng nước trong hồ còn lại là :100% - 35% = 65% (lượng nước trong hồ)Ngày thứ ba máy bơm hút được là :65% - 40% = 25% (lượng nước trong hồ)
Đáp số : 25% lượng nước trong hồ
- GV yêu cầu HS nhận xét bài làm của bạn trên bảng
- GV chữa bài và ghi điểm
Trang 20* Ưu điểm: Giáo viên chuẩn bị kỹ lỡng bài dạy, thể hiện tốt bớc phân tích
khi chuẩn bị trong bài dạy Giáo viên giảng dạy nhiệt tình chú ý đến nhiều đối ợng trong lớp, có ý thức và trách nhiệm cao với nghề nghiệp
t-* Nhợc điểm:
- Thời gian giành cho nghiên cứu bài dạy cha nhiều hầu hết đội ngũ giáo viên là những ngời trẻ mới ra trờng thời gian công tác còn ít Chính vì thế kinh nghiệm tích luỹ trong giảng dạy cha cao Trong tiết dạy giáo viên giảng hơi nhanh Câu hỏi đa ra thiếu súc tích
- Giáo viên cha chú ý nhiều đến câu lời giải và cách trình bày bài giải
- Giáo viên cha hớng dẫn đợc nhiều cách giải một bài toán cho học sinh
2 Đối với học sinh
- Một số em đọc bài toán hiểu chậm dẫn đến không hiểu nội dung bài toán
và cũng có em không kiểm tra lại kết quả do đó làm sai cũng không biết
- Các em phân biệt các điều kiện và dữ kiện cha rõ ràng trả lời câu hỏi cha gãy gọn chính xác Cách trả lời cho câu lời giải nhiều khi cha phù hợp với phép tính vì khả năng hiểu đề bài và vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế
- Cách sử dụng danh số( đơn vị) của kết quả phép tính đôi khi cha phù hợp
Ví dụ: Câu lời giải là tìm số ngời làm xong đoạn đờng nhng khi đơn vị của phép tính lại ghi là mét( m)…
- Những học sinh trung bỡnh hoặc học sinh yếu cha tự giải đợc một bài toán gồm 3, 4 phép tính mà cần phải có sự hỗ trợ của các bạn học sinh khá, giỏi hoặc hỗ trợ của giáo viên do các em cha nắm vững đợc cách giải toán
- Lỗi chính tả trong bài giải nhiều
* Còn mắc phải những vấn đề trên qua tìm hiểu để nâng cao chất lợng dạy học, tôi nhận thấy do những nguyên nhân sau:
- Các em cha đọc kỹ bài toán cha nắm chắc 3 yếu tố cơ bản của bài toán: